Lớp 10Ngữ Văn

Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy) – Văn 10

Khái quát Tác giả – Tác phẩm: Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam bao gồm hoàn cảnh sáng tác, thể loại, bố cục, tóm tắt, giá trị nội dung, đặc sắc nghệ thuật tác phẩm Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam – SGK Văn 10 Chân trời sáng tạo.

Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam

I. Khái quát tác phẩm Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam

1. Xuất xứ

– Văn bản được nhóm biên soạn tổng hợp từ Tranh dân gian Đông Hồ – Đông Hồ Folk Paintings của An Chương, NXB Mỹ thuật, 2010, trang 13-22 và Tranh Đông Hồ – Nét tinh hoa văn hóa dân gian Việt Nam của Khánh An

Bạn đang xem: Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy) – Văn 10

2. Bố cục

– Phần 1: Từ đầu đến “gìn giữ, phát huy”: Tóm tắt nội dung chính đề cập trong bài.

– Phần 2: Tiếp theo đến “Hứng dừa, đánh ghen”: Đề tài dân dã, hình tượng sinh động, ngộ nghĩnh

– Phần 3: Tiếp theo đến “in tranh Đông Hồ”: Chất liệu tự nhiên, sắc màu bình dị, ấm áp

– Phần 4: Tiếp theo đến “in bấy nhiêu lần”: Cách chế tác khéo léo công phu và tỉ mỉ.

– Phần 5: Tiếp theo đến “dùng tranh mới”: Rộn ràng tranh Tết

– Phần 6: Đoạn còn lại: Lưu giữ và phục chế

3. Giá trị nội dung

Văn bản cung cấp cho người đọc những thông tin Tranh Đông Hồ – Nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam, sự hấp dẫn, độc đáo ở màu sắc, bố cục, khuôn hình. Với những chất liệu hoàn toàn tự nhiên, tranh Đông Hồ có màu sắc gần gũi, ấm áp rất đặc biệt mà có lẽ chỉ riêng Việt Nam mới có.

Cho thấy thái độ trân trọng của tác giả đối với tranh Đông Hồ và những nghệ nhân làm ra nó. Từ đó kêu gọi sự gìn giữ và phát huy của mọi người đối với những giá trị văn hóa của dân tộc

4. Giá trị nghệ thuật

– Ngôn từ rõ ràng, mạch lạc..

– Kết hợp giữa thuyết minh và miêu tả, tự sự.

– Có sự sưu tầm và tìm tòi thông tin từ nhiều nguồn.

Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy) – Văn 10

5. Tác phẩm Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam

Tranh dân gian Đông Hồ hấp dẫn người xem ở màu sắc, bố cục, khuôn hình với các chất liệu hoàn toàn tự nhiên. Vẻ đẹp của tranh Đông Hồ gần gũi, ấm áp nhưng cũng rất độc đáo. Đó là một di sản quÝ giá cần được gìn giữ, phát huy. 

1. Đề tài dân đã, hình tượng sinh động, ngộ nghĩnh

Từ Những hình ảnh mộc mạc, bình dị của làng quê như gà, lọn, trâu, bò, tôm, cá,… các nghệ nhân Đông Hồ đã vẽ nên những bức tranh ngộ nghĩnh, tràn đầy sức sống và gửi gắm nhiều tóc mong. Khi vào tranh, gà thì thành Gà đại cát, Gà tr hùng trâu thành Trâu sề, lợn thành Lợn đàn, Lợn độc”; em bé âu yếm, đùa nghịch với con gà, con tôm thì thành các hình tượng Bé ôm gà, Bé ôm tôm,… Những mặt trái, những góc khuất của đời sống nông thôn vào tranh trở thành những câu chuyện hài hước kể bằng đường nét màu sắc trong Đám cưới chuột, Trạng chuột 0inh qu, Thầy đồ Cóc, Truyện Trê – Cóc, Hứng dừa, Đánh ghen”,,…

2. Chất liệu tự nhiên, sắc màu bình dị, ấm áp

Phong vị dân gian của tranh Đông Hồ thấm nhuần trong ý tưởng, cảm hứngnghệ thuật, đường nét, bố cục cũng như chất liệu giấy, màu sắc, quá trình chế tác,…

Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp: vỏ con điệp (sò biển) được nghiền nát, trộn với hồ! rồi dùng chổi lá thông quét lên mặt giấy đó. Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên lấy từ cây cỏ: màu đen từ than xoan hay than lá tre; màu xanh từ gỉ đồng, lá chàm; màu vàng từ hoa hoè màu đỏ từ sỏi son, gỗ vang„… Bốn gam màu cơ bản này tương ứng với một bộ thường gồm bốn bản khắc gỗ để in tranh Đông Hè.

3. Chế tác khéo léo, công phu

Các nghệ nhân đã lấy để tài và ý tưởng ngày trong cuộc sống hằng ngày hoặc từ các truyện dân gian (truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười,…) để vẽ mẫu. Khi đã hoàn chỉnh bản thảo, người sáng tác cán lại rõ ràng, mạch lạc từng nét, từng bảng màu bằng mực nho lên giấy bản móng và sắp xếp đưa vào bản khắc gỗ. Mỗi màu được tách riêng thành một bản khắc, một tranh có bao nhiều màu là có bấy nhiêu bản khắc.

Khi in, người làm tranh đặt cả xấp giấy in thành từng chồng trước mặt, tay phải cảm “tay co” đóng sau lưng ván in, úp ván xuống “bìa” đã quét đẫm màu, được làm theo kiểu hộp mực dấu để lấy màu vào bản khắc, rồi úp mặt ván khắc đã thấm màu đỏ lên mặt giấy như cách đóng triện, xong lật ngửa ván khắc lên, tờ giấy đã dính vào ván khắc vì màu được pha bằng hỗ nếp đặc quánh.

Thợ in lấy xơ mướp xoa đều lưng mặt giấy để mực màu thấm đều mặt giấy, sau đó nhẹ nhàng bóc tờ giấy khỏi ván in, sẽ được một lần in. Tranh bao nhiêu màu, in bấy nhiêu lần.

4. Rộn ràng tranh Tết

Cứ khoảng tháng 7, tháng 8 hằng năm, là cả làng đã tất bật để chuẩn bị cho mùa tranh Tết, khắp làng rực rỡ sắc màu của giấy điệp, không một mảnh đất trống nào không được người dân làng Hồ tận dụng để phơi giấy: từ sân nhà, sân đình, ven các ngõ xóm, đường làng, dọc theo triền đê cho đến các nóc nhà, nóc bếp,… Mỗi năm một lần, chợ tranh họp vào tháng Chạp trong các ngày 6, 11, 16, 21, 26. Chợ tranh đông vui, sầm uất được tổ chức ngày trong đình làng. Người buôn tranh mua ở chợ và còn vào từng gia đình đặt và chọn mua. Họ mang cả những đặc sản địa phương tới bán và đổi tranh. Người dân thôn quê mua tranh về dán trên tường, hết năm lại lột bỏ, dùng tranh mới.

5. Lưu giữ và phục chế

Làng tranh Đông Hồ từng có một thời cực thịnh: vào khoảng cuối thế kỉ XIX đến những năm 40 của thế kỉ XX. Tuy nhiên, xu thế thương mại hoá thời kinh tế thị trường gần đây đặt dòng tranh Đông Hồ cũng như các dòng tranh dân gian khác trước nguy cơ mai một, thất truyền. Rất may là ở Đông Hồ, còn có những nghệ nhân, những dòng họ vẫn giàu tâm huyết! với nghề. Họ đã cố gắng vượt qua nhiều khó khăn, chật vật của đời sống thường ngày để duy trì, nuôi dưỡng nghề tranh mà bao thế hệ đã góp công gây dựng. Đặc biệt, việc kịp thời thu mua lại, lưu giữ cả trăm bản khắc cổ, đồng thời phục chế hàng trăm bản khắc gỗ khác,… là một trong những cách đầu tiên và hiệu quả để cứu nghề tranh Đông Hồ. 

(Nhóm biên soạn tổng hợp từ Tranh dân gian Đông Hồ – Đông Hồ Folk Paintings

của An Chương, NXB Mĩ thuật, 2010, tr. 13 – 22, và Tranh Đôn Hồ –

Nét tinh hoa văn hoá dân sinn Việt Nam của Khánh An)

6. Sơ đồ tư duy 

Tranh Đông Hồ - nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam (Tóm tắt, hoàn cảnh st, nội dung, nghệ thuật, sơ đồ tư duy)

II. Câu hỏi vận dụng kiến thức tác phẩm Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam

Câu 1: Theo bạn, thế nào là một di sản văn hóa? Hãy nói về giá trị một di sản văn hóa của địa phương hoặc đất nước mình mà bạn quan tâm.

Lời giải:

– Di sản văn hóa là di sản của các hiện vật vật thể và các thuộc tính phi vật thể của một nhóm hay xã hội được kế thừa từ các thế hệ trước, đã duy trì đến hiện nay và dành cho các thế hệ mai sau. Di sản văn hóa bao gồm tài sản văn hóa (như các tòa nhà, cảnh quan, di tích, sách, tác phẩm nghệ thuật và các hiện vật), văn hóa phi vật thể (như văn hóa dân gian, truyền thống, ngôn ngữ và kiến thức) và di sản tự nhiên (bao gồm cảnh quan có tính văn hóa quan trọng và đa dạng sinh học).

Ví dụ di sản văn hóa ở quê hương: Ca chù, chèo, di tích cố đô Huế…

Câu 2: Đã bao giờ bạn xem tranh Đông Hồ và tìm hiểu về cách thức, quá trình chế tác nên những bức tranh ấy chưa? Kể tên một số bức tranh và chia sẻ những điều bạn biết với bạn cùng nhóm.

Lời giải:

Quy trình làm tranh Đông Hồ

Sáng tác mẫu và tạo bản khắc gỗ: Mỗi mẫu sẽ có 2- 5 bản khắc gỗ khác nhau tùy theo màu sắc của từng mẫu. Đây là công đoạn khó nhất đòi hỏi người thợ phải có kỹ thuật cao.

Chuẩn bị giấy Dó: Để có được tờ giấy dó hoàn chỉnh, người ta phải chọn lựa từng loại vỏ Dó được lấy từ trên rừng về, rồi trải qua nhiều công đoạn phơi, ngâm, giã nhuyễn, hòa bột vào bể seo, seo giấy, ép kiệt nước, phơi khô, đóng xén thành phẩm. Cuối cùng là quét hồ điệp.

In tranh: Màu sắc trong tranh Đông Hồ có 5 màu chủ đạo hoàn toàn tự nhiên: Màu đỏ lấy từ gạch non, vàng từ hoa hòe, đen từ than lá tre, xanh từ lá tràm, trắng từ vỏ sò điệp. Thường để in một tranh cần phải có 5 bản khắc, in trong 5 lần.

Phơi tranh: Sau khi tranh đã in xong sẽ được phơi cho khô.

Ví dụ: Bức họa Nhảy đầm, có lẽ là đề tài không mấy quen thuộc với người Đông Hồ và nông dân Việt Nam nói chung, nhưng nó là một cảnh có thực khi người phương Tây sang Việt Nam, không có lý do gì mà những họa sĩ dân gian từ chối không miêu tả lại. Bức họa cho thấy trong một quán bar, có treo đèn điện và quạt trần, cạnh bàn chủ quán có máy hát quay tay. Một chú bé hầu bàn đang bưng rượu, một đôi trai gái người Việt đang tán tỉnh nhau, còn hai cặp nam nữ Tây đang nhảy đầm.

Câu 3: Trong số những màu sắc được nhắc tới đoạn này,  tranh “‘Lợn đàn” đã sử dụng những màu sắc nào?

Lời giải:

Màu xanh từ gỉ đồng, lá chàm

Màu vàng từ hoa hòe

Màu đỏ từ sói son, gỗ vang

Câu 4: Xác định đề tài của văn bản trên. Chỉ ra một số đoạn, mục có lồng ghép yếu tố miêu tả hoặc biểu cảm trong văn bản và nêu mục đích của việc lồng ghép ấy

Lời giải:

Đề tài: Nói về tranh Đông Hồ- một nét văn hóa dân gian của Việt Nam

Những đoạn có yếu tố miểu tả hoặc biểu cảm

”Cả làng tất bật, chuẩn bị cho mùa tranh Tết, khắp làng rực rỡ sức màu của giấy điệp.”

”Chợ tranh đông vui, sầm uất.”

”Chế tác khéo léo, công phu”

”Rộn ràng tranh Tết”

Mục đích: Bày tỏ cảm xúc, sự công nhận, thán phục của người viết đối với nghệ thuật tranh Đông Hồ

>>> Xem trọn bộ: Tác giả – Tác phẩm Văn 10 Chân trời sáng tạo

—————————–

Trên đây Sài Gòn Tiếp Thị đã cùng các bạn Khái quát về Tác giả – Tác phẩm: Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam trong bộ SGK Văn 10 Chân trời sáng tạo theo chương trình sách mới. Chúng tôi hi vọng các bạn đã có kiến thức hữu ích khi đọc bài viết này. Sài Gòn Tiếp Thị đã có đầy đủ các bài giới thiệu về tác giả tác phẩm các bộ sách mới Cánh Diều, Chân trời sáng tạo, Kết nối tri thức. Mời các bạn hãy click ngay vào trang chủ Sài Gòn Tiếp Thị để tham khảo và chuẩn bị bài cho năm học mới nhé. Chúc các bạn học tốt!

Đăng bởi: Sài Gòn Tiếp Thị

Chuyên mục: Lớp 10,Ngữ Văn 10

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button