Tải Báo cáo thực tập Công nhân – ĐH Vinh – Download File Word, PDF

Báo cáo thực tập Công nhân – ĐH Vinh

Báo cáo thực tập Công nhân – ĐH Vinh
Nội dung Text: Báo cáo thực tập Công nhân – ĐH Vinh

Download


Báo cáo thực tập công nhân nhằm tìm hiểu về các loại vữa xây dựng, tỷ lệ pha trộn các loại vữa, phương pháp trộn các loại mác vữa trong khi xây móng xây tường, vữa xây những nơi ẩm ướt và sự khác nhau giữa các loại vữa này; phương pháp xây tường 110mm, 220mm,…; cách bắt mỏ các loại tường này, kỹ thuật xây các tường và mạch vữa; khối xây đúng kỹ thuật, cách kiểm tra các khối xây; phân biệt các loại gạch đá.

Bạn đang xem: Tải Báo cáo thực tập Công nhân – ĐH Vinh – Download File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải luận văn báo cáo kiến trúc xây dựng, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Báo cáo thực tập Công nhân – ĐH Vinh File Word, PDF về máy

Báo cáo thực tập Công nhân – ĐH Vinh

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Báo cáo thực tập Công nhân – ĐH Vinh

  1. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    LỜI NÓI ĐẦU
    Đối  với  các  trường  khoa  học  kĩ  thuật  nói  chung,  và  trường  Đại  học  Vinh 
    nói  riêng (đặc  biệt  là  khoa  Xây  Dựng),  việc  học  lý  thuyết  luôn đi  đôi  với  thực 
    hành, thí nghiệm. Nên công tác thực hành ở các nghành kỹ thuật đối với sinh viên 
    là rất quan trọng.
      Qua  công  tác  thực  hành  khoảng  cách  giữa  thực  tế  công  việc  và  lý  thuyết 
    trừu tượng được giảm bớt. Công tác thực tập công nhân giúp sinh viên có cái nhìn 
    khái quát về công việc trên công trường, trực tiếp tham gia một số công việc của 
    người công nhân. Bên cạnh đó.quá trình thực tập, sinh viên được làm việc, học hỏi 
    kinh nghiệm của những người thợ lành nghề, giàu kinh nghiệm thực thế. Sinh viên 
    được  làm  quen  với  các  trang  thiết  bị  máy  móc,  các  dụng  cụ  làm  việc.  Nếu  sinh 
    viên không dược  va chạm thực tế trong quá trình học thì sau khi ra trường thì  sẽ 
    gặp nhiều khó khăn trong công việc.
    Qua  quá  trình  thực  tập,  em  đã  được  học  và  thực  hành  các  nghề  chính của 
    người  công nhân trên  công trường.Các thầy đã  giúp em nắm bắt  được khá nhiều 
    công việc của người công nhân xây dựng trên công trường. Việc thực tập giúp em 
    bổ  sung  thêm  nhiều  kiến  thức  trên  thực  tế,  liên  hệ  giữa  lý  thuyết  học  được  và 
    thực tế trên công trường. Điều đó cực kì quan trọng cho hành tranh vào nghề sau 
    này của chúng em .
    Ngoài  ra,  công  tác  thực  tập  giúp  em  hiểu  biết  về  những  biện  pháp  đảm 
    bảo an toàn và vệ sinh lao động trong khi làm việc.
    Mặc  dầu  đã  cố  gắng  hết  sức  nhưng  vì  thời gian  thực  tập  có  hạn  nên  em 
    chưa có  thời  gian  đi  sâu  và  tìm  hiểu  kĩ  vào  thực  tế  nên  báo  cáo  này  không  thể 
    tránh được những sai sót về mặt chuyên môn.
    Em xin chân thành cảm  ơn Thầy Nguy ễ n Duy Khánh  đã tạo điều kiện và 
    trực tiếp hướng dẫn trong thời gian em thực tập.

    Vinh, ngày 02 tháng  01 năm 2014
    Sinh Viên

    PHAN VĂN THÔNG

    1Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  2. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    A.CÔNG TÁC XÂY  
    I. Mục đích
    ­ Nắm được các loại vữa xây dựng, tỷ  lệ  pha trộn các loại vữa, phương pháp 
    trộn các loại mác vữa trong khi xây móng xây tường, vữa xây những nơi ẩm ướt và  
    sự khác nhau giữa các loại vữa này.
    ­ Phương pháp xây tường 110mm, 220mm,…. Biết cách bắt mỏ  các loại tường  
    này, kỹ  thuật xây các tường và mạch vữa. Khối xây đúng kỹ  thuật, cách kiểm tra  
    các khối xây,…
    ­ Phân biệt các loại gạch đá

    II.Khái niệm chung 
    ­Khối xây gạch đá là tập hợp của những viên gạch đá riêng lẻ, được gắn chặt 
    với nhau bằng vữa và được xếp thành hàng, thành lớp, nhưng toàn bộ  tập hợp đó 
    phải chịu lực như  một thể thống nhất mà không có sự  dịch chuyển của mọi viên  
    thành phần.
    ­ Thành phần khối xây bao gồm các lớp gạch đá nằm chồng lên nhau. Lớp vữa 
    nằm giữa hai lớp gạch đá kề  nhau, gọi là mạch vữa nằm. Các mạch vữa giữa các 
    viên gạch đá trong một lớp gọi là các mạch vữa đứng. Mỗi lớp gạch đá gồm một 
    hay nhiều hàng, là một dãy các viên gạch đá nối tiếp nhau. Viên gạch đá có bề dài 
    được xếp dọc theo chiều dài của hàng, gọi là viên dọc. Hàng gồm toàn viên dọc, 
    gọi là hàng dọc (đối với gạch chỉ, gọi là hàng dầy nửa gạch, do bề  dài gạch gấp 
    đôi bề  ngang). Viên gạch đá có bề  ngang được xếp dọc theo chiều dài của hàng, 
    gọi là  viên ngang. Hàng gồm toàn viên ngang, gọi là  hàng ngang  (hay hàng một 
    gạch, đối với gạch chỉ). Hàng nằm giáp mặt bên khối xây gọi là hàng ngoài. Hàng 
    nằm bên trong lõi khối xây gọi là hàng trèn. Mạch vữa đứng giữa các hàng là mạch 
    đứng dọc (gọi tắt là mạch dọc). Mạch vữa đứng giữa các viên trong hàng là mạch 
    đứng ngang (gọi tắt là mạch ngang).
    ­ Các loại khối xây:
    +Theo vật liệu: khối xây đá hộc, khối xây gạch 
    + Theo kết cấu: khối xây móng, khối xây tường, khối xây trụ

    2Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  3. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    ­ Phân đoạn xây là đơn vị thành phân của một khối xây chia theo phương mặt bằng, 
    đảm bảo cho các tổ đội công nhân làm việc độc lập, không ảnh hưởng đến nhau. 
    ­ Đợt xây là đơn vị  thành phần của khối xây chia theo chiều cao. Khối xây cần 
    chia nhỏ theo chiều cao vì hai lý do sau:
    ­ Chiều cao của con người là có hạn. Tầm cao công tác của người thợ đứng xây  
    tối đa là khoảng 1,5 m. Tầm cao công tác hiệu quả nhất của người thợ là 0,2   1,2 
    m. nếu muốn xây ở độ cao >1,5 m thì phải bắc giáo công tác để thợ đứng lên xây.
    ­ Khối xây là sự kết hợp giữa hai loại vật liêu là gạch đá, đã có khả năng chịu 
    lực từ trước, và vữa xây, khi xây chưa có khả năng chịu lực mà sẽ phát triển theo 
    thờigian sau khi đông cứng. Cho nên nếu xây cao quá khối xây sẽ mất khả năng 
    chịu lực, cần phải hạn chế chiều cao xây để chờ vữa xây đông cứng. 
    Chiều cao của một đợt xây khoảng 1,5 m. Trong đợt xây có nhiều phân đoạn. 
    Xây hết các phhân đoạn trong một đợt thì mới quay về xây tiếp phân đoạn đầu tiên  
    của đợt tiếp trên, sau khi đã bắc giáo công tác.
       ­Mỏlà gián đoạn kỹ  thuât trong khối xây theo phương mặt bằng, giữa hai phân 
    đoạn xây trước­sau. Có 3 kiểu mỏ  là  mỏ  dật, mỏ  nanh và mỏ  hốc, cấu tạo của 
    chúng như sau:

         + Mỏ  dật có chất lượng tốt, xóa được sự  khác biệt sau­trước, khối xây được  
    đồng nhất, nhưng xây lên cao diện xây giảm, nên năng xuất xây kém. Mỏ nanh, mỏ 
    hốc thì ngược lại, các mạch đứng tại vị trí mỏ thường không no đầy, các lớp gạch 
    3Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  4. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    đồng mức của hai phần cũ­mới có thể  không ngang bằng, nên chất lượng các mỏ 
    này kém, tuy nhiên,  ưu điểm của chúng là diện xây không đổi, nên năng xuất đạt  
    tối đa.
    Dựa theo  ưu nhược điểm của từng loại mỏ  mà việc áp dụng chúng có khác 
    nhau:
    Mỏ  dật chất lượng tốt nên được khuyến khích dùng, đặc biệt là  ở  tầm trung  
    bình hoặc thấp. Chỉ khi không thể xây được loại mỏ này mới dùng các loại còn lại  
    kia.   
    Khi phân đoạn xây mới nối tiếp thẳng hàng với phân đoạn trước thì sử dụng kết 
    hợp mỏ dật với mỏ nanh, mỏ dật cho những lớp xây thấp bên dưới, các mỏ  nanh  
    cài vào nhau, cho những lớp xây bên trên. Khi phân đoạn xây mới nối vuông góc với 
    phân đoạn cũ, trên tầm cao lớn, thì ở phân đoạn cũ để mỏ hốc còn phân đoạn mới 
    được nối vào đó bằng mỏ nanh, tầm trung bình và thấp vẫn để mỏ dật liên kết với 
    nhau.

    III.Các yêu cầu kỹ thuật chung của công tác xây
    1.Không trùng mạch(tạo liên kết của khối xây)
    Hiện tượng trùng mạch là hiện tượng các mạch đứng trong các lớp xây liên tiếp 
    nối liền với nhau thành dải theo phương của tác dụng của tải trọng.
    Hiện tượng này làm khối xây tách làm 2 phần nằm hai bên dải mạch đứng làm 
    phá vỡ khối xây. Muốn khắc phục ta phải tạo ra các viên khóa nằm trong các lớp  
    xen kẽ, để liên kết hai phần khối xây  ở hai bên dãy mạch đứng và phá vỡ  sự  liên 
    tục của dãy mạch này.
         Chiều sâu liên kết của các viên khóa vào mỗi phần khối xây bằng 1/2cạnh  
    vuông góc với dãy mạch đứng, của viên này. Nếu một bên cắm nông hơn thì viên 
    này sẽ  không thành viên khóa dẫn tới liên kết này không đảm bảo nên vẫn coi là 
    trùng mạch. Đối với gạch chỉ, chiều sâu liên kết của các viên khóa là 1/4 gạch (= 
    1/2 bề ngang) khi viên khóa nằm dọc theo mạch đứng, 1/2 gạch khi viên khóa nằm  
    ngang mạch đứng.
       Độ không trùng mạch là tỷ lệ các lớp xây có liên kết khóa mạch trên chiều dài 
    mạch đứng. Độ  không trùng mạch (   1/2) càng lớn càng tốt (tốt nhất =1/2, một 
    lớp hàng doc chỉ  kèm một lớp hàng ngang và ngược lại). Đối với mạch  đứng 
    4Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  5. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    ngang, độ  không trùng mạch phải là 1/2. Đối với mạch đứng dọc, độ  không trùng 
    mạch cho phép tối thiểu là 1/6 (trường hợp xây tường 220: tối đa 5 lớp dọc phải có  
    1 lớp ngang kèm theo).
    2.Mạch vữa đông đặc(tăng kết dính của khối xây)
        Vữa xây làm nhiệm vụ  kết dính các viên gạch đá trong khối xây. Tất cả  các  
    mạch vữa trong khối xây phải được chèn đầy và ép ngoài cho chặt, nhất là mạch 
    đứng. Nếu không đầy mạch sẽ  làm giảm yếu cụ  bộ  khối xây. Tuy nhiên, cường 
    độ  vữa thường thấp hơn gạch đá và phải phát triển dần theo thời gian, nên mạch  
    vữa quá dầy cũng làm yếu khối xây. Theo quy phạm, mạch vữa thường dầy 0,8­1,2 
    cm.
    3.Khối xây thẳng đứng (để khối xây chịu nén đúng tâm, ổn định tổng thể)
       Khối xây chịu kéo và uốn kém, nó chịu nén tốt nhất theo phương vuông góc với 
    các lớp xây của nó. Do chịu nén, nên khối xây càng thẳng đứng thì chịu nén càng 
    đúng tâm và càng đỡ  mất  ổn định hơn. Độ  nghiêng các mặt và các góc khối xây, 
    theo chiều cao, không vượt quá 10 mm cho một tầng nhà (cao 3­4 m), nhưng cho 
    toàn nhà thì không quá 30 mm. Kiểm tra độ nghiêng bằng dọi.
    4.Mặt bên khối xây phẳng (ổn định cục bộ)
       Mặt biên khối xây phẳng không lồi lõm cục bộ làm khối xây chịu lực tốt hơn,  
    đẹp hơn và tiết kiệm vật liệu và nhân công hoàn thiện.
    5.Từng lớp xây ngang bằng (trong lớp không xuất hiện lực trượt)
    Nếu lớp xây nằm nghiêng, mỗi viên gạch trong lớp đó sẽ chịu tác động bởi một 
    tải trọng xiên so với mặt trên viên gạch. Tải trọng này, phân thành hai lực 
    thànhphần, một theo phương vuông góc với mặt trên viên gạch, tạo nén tốt lên 
    mạch vữa nằm và các lớp dưới (phát huy hết được ưu điểm của kết cấu xây gạch 
    đá), nhưng thành phần còn lại, hướng dọc theo mạch vữa nằm, gây hiện tượng 
    trượt tách giữa các lớp xây, ảnh hưởng sấu tới kết cấu thống nhất của khối xây. 
    Nếu các lớp xây ngang bằng thì tải trọng chỉ còn có thành phần thứ nhất, phát huy 
    hết được ưu điểm của kết cấu xây gạch đá, mà không phát sinh lực trượt không tốt 
    giữa các lớp xây.    
    6.Góc tường thật vuông

    IV. Các dụng cụ và vật liệu dùng trong công tác xây
    1. Dụng cụ
    5Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  6. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    Dây lèo dùng để  xác định các cạnh và mặt bên khối xây. Có 3 loại dây lèo: lèo 
    đứng, lèo xiên, lèo ngang. Lèo ngang, thường căng  ở  độ  cao 1,5­2,0 m so với mặt 
    sàn công tác, trên đó buộc các dây lèo đứng. Lèo đứng cùng lèo ngang xác định mặt  
    thẳng đứng của các khối xây: mặt tường, trụ… Lèo xiên để xây những khối xây có 
    một mặt biên nằm nghiêng như: tường thu hồi, tường và bậc thang, mái đê, đập… 
    Dây xây (dây cữ), căng ở mép biên hàng ngoài của một lớp gạch, dùng để chỉnh  
    phẳng lớp gạch và độ phẳng cục bộ trong từng lớp xây của mặt bên khối xây.
    Cữ xây là độ dầy trung bình tiêu chuẩn của một lớp xây. Đối với khối xây gạch  
    chỉ thường cữ xây là khoảng 75   77 mm (khoảng 65+(8   12) mm).
    Dọi dùng để xác định, điều chỉnh, kiểm tra độ thẳng đứng của khối xây. 
    Dao xây (bai) dùng để dải vữa (khi xây tường nửa gạch), gõ trèn và chỉnh gạch, 
    chặt gạch, vét và trèn đầy mạch vữa.
    Ni vô (dạng ống hay thước) dùng để đánh thăng bằng các lớp gạch.
    Xẻng dùng để trộn, xúc và dải vữa (khi bề dầy tường   một gạch).
    Xô dùng để đựng vữa trong khi vận chuyển gần.
    Hộc chứa vữa đựng vữa trước lúc xây tại nơi xây.
    Hộc đong vật liệu  là hộp chữ  nhật đóng bằng gỗ, để  đong đếm thể  tích vật  
    liệu.
    Thước cữ, làm bằng gỗ hay kim loại trên có gắn hoặc khắc vạch cữ xây, dùng  
    để  điều chỉnh độ  dầy của các lớp xây (cữ  xây là bề  dầy tiêu chuẩn của mỗi lớp  
    xây). Ngoài ra, nếu thước cữ dài và thật thẳng thì có thể dùng nó thay cho dây lèo  
    đứng.
     Cải tiến từ  thước cữ, lèo đứng và dọi là cột lèo, làm từ  thép góc có hàn thêm 
    bản đế  để dựng thẳng đứng thật vững. Trên cột lèo có gắn thước cữ  di động lên  
    xuống, gắn dọi để kiểm tra độ đứng thẳng của cột và móc buộc lèo ngang. Cột lèo 
    thường được dùng  ở  những mặt bằng chống chải, tại hai góc biên của một phân 
    đoạn khối xây tường, dùng kết hợp các loại dây lèo: ngang, đứng, xiên.
    Thước tầm, làm bằng gỗ hay hợp kim nhôm dài 2,0­ 2,5 m, dùng để kiểm tra độ 
    phẳng của mặt bên khối xây.
    Thước thợ (thước vuông) dùng để bắt góc khối xây (kiểm tra độ vuông của góc  
    tường).
    6Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  7. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    2. Vật liệu
         ­ Vữa: có 3 loại 
    + Vữa vôi cát: chỉ là vôi và cát (mỏc ≤ 25)
    + Xi măng cát: cát và xi măng (mác 50 ÷ 100)
    + Vữa tam hợp: cát, vôi, xi măng (mác 

  8. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    ­ Dải thứ nhất, là dải sản phẩm, là vị trí mà phân đoạn tường sau khi xâyxong 
    sẽ nằm trên đó. Hệ thống dây lèo, cột lèo và dây xây được căng ở đây, về phía mặt  
    tường bên kia, đối xứng với mặt tường gần người thợ xây. Như  vậy, để  khi xây 
    người thợ  không chạm vào làm lệch hệ  định hướng gồm: cột lèo, các dây lèo và  
    dây xây, để tường không bị khuyết tật.
    ­ Dải  ở  giữa, là dải công tác, là nơi người thợ  đứng để  thao tác xây, nơi để 
    vật liệu gạch và vữa xây ngay. Thường thì gạch và vữa, mỗi thứ  để   ở  một bên  
    người xây (vữa đặt  ở  phía tay cầm dao xây), nhằm giản tiện các thao tác xây.  
    Không gian thao tác tối thiểu cho mỗi người thợ xây là . Khi xây những đợt xây trên 
    cao, hệ thống giáo công tác được lắp dựng trong dải không gian này để người thợ 
    đứng lên trên xây.  
    ­ Dải ngoài cùng, là dải vận chuyển, tạo thành tuyến đường vận chuyển gạch 
    từ nơi tập kết và vữa từ chỗ trộn, về để xây.
    2. Căng hệ thống định hướng cho công tác xây 
    hệ lèo để xác định các bề mặt tường. Trên một trục định vị tường thường ở hai  
    đầu có hai góc tường, làm đổi hướng hoàn toàn trục tường này. Trên mỗi trục 
    tường có thể chia làm một hay nhiều phân đoạn xây nối nhau thẳng hàng. 
    Tại hai điểm góc biên của trục tường, được xác định sẵn (giác) trên mặt nền, ta  
    dựng hai cột lèo, góc cột lèo trùng với hai điểm trên. Dùng dọi chỉnh cho hai cột lèo 
    này đứng thật thẳng  đứng theo cả  hai phương: phương trục tường và phương 
    vuông góc với tường. Khi trục tường được chia thành nhiều phân đoạn tường, để 
    các phân đoạn xây nối nhau thẳng hàng trên cùng một trục, qua hai đầu trên của hai  
    cột lèo, dọc theo mép biên tường định xây, ta buộc một dây lèo ngang bằng thép. 
    Trên dây lèo ngang có treo các lèo đứng trung gian, được dọi đứng theo cả  hai 
    phương giống như  với cột lèo và ghim đầu dưới vào mạch vữa nằm dưới cùng.  
    Nếu phân đoạn tường trung gian có các góc tường, góc trụ liền tường, thì chân các 
    điểm góc này trên nền phải nằm trên hình chiếu của lèo ngang trên nền, do các  
    phân đoạn cùng trên một trục, và tại các điểm này ta  ghim đầu dưới cácdây lèo 
    đứng trung gian hay thước cữ góc vào đó. Đầu trên của các dây lèo đứng hay thước 
    cữ  góc này được treo buộc vào lèo ngang và được điều chỉnh bằng dọi cho thẳng 
    đứng với đầu dưới theo cả hai mặt: mặt tường và mặt vuông góc. Tại mỗi đầu mỏ 
    của một phân đoạn phải có một dây lèo đứng. Khoảng cách giữa các lèo đứng  
    8Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  9. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    không quá 12 m, để dây xây không bị võng. Sau khi xây xong những viên góc hoặc 
    mỏ  của một, hai lớp dưới cùng, đầu dưới của tất cả các dây lèo đứng được ghim  
    vào mạch vữa ngang dưới cùng và được kiểm tra lại bằng dọi. 
     Hệ thống lèo trên sẽ định hướng cho cả một đợt xây cho nên sau khi dựng xong  
    phải giữ ổn định không xê dịch hệ này cho đến khi xây đợt mới.
    Dây xây: Là hệ  thống định hướng cho từng lớp xây, được dựng và thay đổi cho 
    từng lớp xây và được điều chỉnh theo hệ thống lèo, thước cữ và nivô. Dây xây luôn 
    nằm trong mặt phẳng dây lèo dứng và lèo ngang, nhưng do luôn phải thay đổi vị trí 
    theo từng lớp xây (lên dây), nên nó phải được căng vào bên trong lèo đứng, nằm 
    cùng phía với tường và người xây so với hệ lèo, để tránh va chạm làm sai lệch dây 
    lèo đứng trong khi lên dây.
    Nếu dùng thước cữ  góc hay cột lèo, ta móc mỗi đầu dây xây vào vạch cữ  trên 
    thước cữ  hay thước cữ di động trên cột lèo. Trường hợp chỉ  dùng lèo đứng trong 
    phân đoạn xây, thì tại hai mỏ góc hai đầu phân đoạn phải định vị trước và xây tạm 
    trước một, hai lớp tường tại vị trí này gọi là xây bắt mỏ, để lấy chỗ  cắm dây lèo  
    đứng và dây xây. Khi xây tường dùng lèo đứng luôn phải xây bắt mỏ góc trước một 
    đến hai lớp trên để lấy chỗ ghim dây xây. Sau khi đã căng ngang bằng dây xây vào  
    hai mỏ góc hai đầu, thì phải chỉnh chính xác mép biên các viên mỏ  góc trong cùng 
    một lớp xây bắt mỏ cho song song với dây xây (bám dây xây).   
    Nền nhà thường không bằng, để các lớp xây được ngang bằng, ngay tại lớp xây 
    đầu tiên ta dùng ni vô để kiểm tra độ thăng bằng nhau của cả hai mỏ góc hai đầu,  
    và điều chỉnh chúng bằng độ dầy mỏng của lớp gạch và mạch vữa nằm dưới cùng 
    (nếu độ chênh lệch giữa hai đầu lớn thì đối với tường dầy   220 có thể dựng bề 
    ngang các viên gạch tại đầu thấp  trong lớp này lên, gọi là xây vỉa). Các lớp xây bên 
    trên thì có thể  không cần đánh thăng bằng bằng nivô, nhưng được điều chỉnh độ 
    ngang bằng bằng chiều cao như nhau: 75   77 mm, của vạch cữ hay thước cữ di 
    động ở mỏ góc hai đầu và độ thăng bằng của lớp xây ngay bên dưới.
    Tại các mức độ cao đặc biệt như: bậu cửa sổ, lanh tô cửa, góc tường và trần, để 
    đảm bảo độ ngang băng chính xác ta dùng ni vô để kiểm tra.
    3. Giải vữa và đặt gạch
    Khi giải vữa cần phải đủ lượng vữa, diện dải ít nhất là phải lớn hơn chiều dài 
    viên gạch để  đảm bảo cho mạch vữa nằm no vữa. Chiều dầy của dải v ữa tạo  
    9Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  10. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    mạch nằm khi dải thường khoảng 15 mm. Dùng dao vét gọn hai bên dải vữa để nó 
    có tiết diện hình thang, nhằm làm giảm vữa thừa phè sang hai bên tường, khi gõ  
    chỉnh gạch. Để  đảm bảo no mạch vữa đứng dọc và ngang, cần kết hợp các thao 
    tác sau:
    ­  Sau khi dải vữa mạch nằm xong, thì dùng dao vét vữa từ  mạch này lên đầu 
    viên gạch đã xây trước trong hàng, nhằm tạo một phần mạch ngang.
    ­ Cầm viên gạch dúi mạnh vào dải vữa vừa dải của mạch nằm ngang theo  
    hướng dọc theo hàng gạch, với một góc nghiêng 5   10 độ  so với mặt bằng, để 
    đẩy vữa từ mạch vữa nằm lên mạch vữa đứng ngang giữa viên đang xây và viên đã  
    xây trước.
    ­ Sau khi đặt, gõ và chỉnh gạch xong vữa thừa từ  mạch nằm phè sang hai bên  
    tường phải vét gọn và đổ  vào các mạch vữa ngang và dọc để  làm đầy các mạch 
    này.  
    Trong quá trình xây, sau khi đặt viên gạch và vị trí, dùng dao xây gõ trên mặt trên  
    viên gạch sao cho mặt trên lớp xây (cũng là mặt trên mỗi viên gạch trong lớp) được  
    chỉnh ngang bằng độ  cao dây xây. Các viên gạch  ở  hàng biên của mỗi lớp luôn 
    được chỉnh mặt bên song song cách đều với dây xây một khoảng hở bằng bề ngang 
    thân dây xây (1 mm). Khi chỉnh các viên gạch trong hàng biên bám dây xây cũng chỉ 
    dùng dao xây gõ vào mặt trên viên gạch nhưng theo một góc nghiêng hướng vào  
    phía cần chỉnh ngang. Không được phép gõ ngang tường làm long mạch vữa, đặc  
    biệt là đối với tường 110, vì tường đang xây thường không được chịu lực sô ngang. 
    Các mạch vữa nằm, ngang và dọc, sau khi đặt, gõ và chỉnh gạch xong, thường dầy  
    khoảng 8   12 mm.
     Trong khi xây, để  tránh trùng mạch đôi khi cần những mẩu gạch 1/2, 1/4 xây 
    trèn trong lớp xây thì dùng dao xây để chặt gạch. Khi bắt mỏ luôn phải dùng thước 
    thợ để kiểm tra và điều chỉnh các góc tường. Tại các góc tường mép của góc tường 
    phải luôn bám dây lèo đứng, tức là luôn song song cách đều dây lèo đứng một khe 
    hở bằng một thân dây, khoảng 1 mm.
    VI. Các kỹ thuật xây tường
    1. Kĩ thuật xây tường gạch chỉ dày 110

    10Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  11. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    Tường 110, còn cách gọi khác theo bề  dầy là tường 1/2 gạch, hay tường con  
    kiến. Loại tường này khả  năng chịu lực thấp nên thường được sử  dụng làm vách 
    ngăn chia phòng bên trong công trình hay tường bao của các công trình tạm. Các yêu  
    cầu kỹ thuật, các bước tiến hành xây tường 110 tuân thủ hoàn toàn mà không có bổ 
    sung thêm so với yêu cầu và các bước tiến hành chung đã nêu ở  trên. Trong tường  
    110   đa   số   các   mạch   vữa   đứng   ngang   lệch   nhau   1/2   viên   gạch,trừ   trường   hợp  
    khoảng cách giữa hai góc tường không chẵn với chiều dài viên gạch kèm một  
    mạch ngang, khi đó co dãn nhỏ bề ngang mạch ngang để có thể  trèn các mẩu 1/2,  
    1/4 vào hàng nhưng vẫn phải đảm bảo khoảng cách tối thiểu của mọi mạch ngang  
    là 1/4 viên gạch. 

    Kĩ thuật xây tường gạch chỉ dày 110 bổ trụ liền tường
    Để tăng khả năng chịu lực của tường 110 biến tường này thành tường chịu lực, 
    người ta thường xây kèm vào tường 110 các trụ cách nhau  3 m (2,5   3,0 m). Kỹ 
    thuật xây loại tường này tuân thủ hoàn toàn các yêu cầu kỹ thuật chung, các bước 
    tiến hành cơ bản của công tác xây. Ngoài ra, có thêm một số kỹ thuật bổ sung sau:
    +  Trong tường 110 bổ trụ, để  đảm bảo các lớp xây luôn bám dây xây làm cho  
    lớp xây được ngang bằng, thì trụ phải xây đồng thời với tường theo từng lớp một.
    11Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  12. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    +  Tại vị trí trụ, để  đảm bảo trụ  được thẳng đứng để  chịu lực tốt và mỹ  quan, 
    phải cắm thêm ít nhất một dây lèo đứng ở góc trụ, để định hướng trụ.
    +   Tại vị  trí trụ  dễ  xẩy ra hiện tượng trùng mạch trụ, nên ta phải xử  lý hiện  
    tượng này bằng cách xây trèn vào đó các viên 3/4 để  khoảng cách giữa các mạch  
    đứng là 1/4 viên. Trường hợp tường 110 bổ trụ  220×220 có cách xây tại vị  trí trụ 
    như sau:

    2.Kỹ thuật xây tường gạch chỉ 220(còn gọi là tường đôi hay tường một gạch). 
    Là loại tường chịu lực. Kỹ thuật xây loại tường này cũng tuân thủ hoàn toàn các  
    yêu cầu kỹ thuật chung, các bước tiến hành cơ bản của công tác xây. Ngoài ra, có 
    thêm một số kỹ thuật bổ sung sau:
     +  Tường 220 bao gồm 2 tường 110 đăt song song liền kề và được liên kết lại  
    với nhau. Giữa chúng có mạch vữa dọc liên kết chúng. Tuy nhiên để  tránh trùng 
    mạch đứng dọc này, cần phải có các lớp ngang chỉ gồm một hàng ngang để  khoá 
    mạch này và liên kết hai phần tường 110 với nhau. Thường có 3 cách để  các lớp 
    ngang này trong khối xây: 
    ­  Cách để  một lớp dọc kèm một lớp ngang. Cách này chất lượng tường là tốt 
    nhất (coi là chất lượng đạt 100%), nhưng năng xuất xây thấp (coi là đạt 100%).
    ­ Cách xây 3 lớp dọc liên tiêp phải đến một lớp quay ngang liền kề. Cách xây 
    này chất lượng khối xây tường có giảm (khoảng 95%), nhưng năng xuất thì tăng 
    (đạt khoảng 110%).

    12Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  13. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    ­ Cách xây thứ 3, năm dọc một ngang, cách này tạm chấp nhận vì năng xuất cao  
    (tới 115   120%), nhưng chất lượng khối xây kém nhất (khoảng 90%). Trong thực 
    tế  hai cách sau được áp dụng phổ  biến do năng tăng mạnh mà chất lượng vẫn 
    chấp nhận được.
    +  Tại góc tường 220 dễ xảy ra hiện tượng trùng các mạch ngang và dọc. Để xử 
    lý hiện tượng này tại góc tường 220 ta xử dụng các viên gạch 3/4 để xây góc. Cách 
    xây như sau:

    +   Tường 220 có hai mặt bên không liên quan chặt chẽ  với nhau, để  đảm bảo 
    bề  dầy tường đồng nhất, hai mặt bên tường đều phẳng, độ  dày mạch dọc đồng 
    đều, khi xây các lớp dọc ta phải căng thêm một hay một hệ dây xây phía mặt tường  
    trong. Do bề  dầy tường đủ  lớn, nên từ  tường 220 trở  lên có thể  dải vữa bằng 
    xẻng, làm tăng năng xuất xây, và căng thêm dây xây trong mà không bị vướng víu. 
    Tường 220 các mạch đứng ngang thường cách nhau 1/4 viên gạch.  
    VII. An toàn lao động trong công tác xây
    1. Trước khi xây tường phải xem xét tình trạng của móng hoặc phần tường đã 
    xây cũng như tình trạng của đà giáo và giá đỡ, đồng thời kiểm tra lại việc sắp xếp 

    13Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  14. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    bố trí vật liệu và vị trí công nhân đứng làm việc trên sàn công tác theo sự huớng 
    dẫn của cán bộ kỹ thuật hoặc đội trưởng.
    2. Khi xây tới độ cao cách mặt sàn 1,5m phải bắc đà giáo hoặc giá đỡ.
    Khi xây tường 330mm trở lên (ba hàng gạch) phải bắc đà giáo cả hai bên.
    3. Chuyển vật liệu (gạch, vữa … ) lên sàn công tác ở độ cao từ 2m trở lên phải 
    dùng các thiết bị cẩu chuyển. Bàn nâng gạch phải có thành chắn bảo đảm không bị 
    rơi, đổ khi nâng. Cấm chuyển gạch bằng cách tung gạch lên cao quá 2m.
    4. Khi làm sàn công tác bên trong nhà để xây, thì bên ngoài nhà phải đặt rào ngăn 
    hoặc biển cấm cách chân tường 1,5m khi xây ở độ cao không lớn hơn 7m, hoặc 
    cách chân tường 2m khi xây ở độ cao lớn hơn 7m.
    Những lỗ tường từ tầng hai trở lên nếu hai người có thể lọt qua phải cho chắn 
    lại
    5. Cấm không được :
    ­ Đứng trên mặt tường để xây.
    ­ Đi lại trên mặt tường.
    ­ Đứng trên mái để xây.
    ­ Dựa thang vào tường mới xây để lên xuống.
    6. Cấm xây tường quá hai tầng khi các tầng giữa chưa gác dầm sàn hoặc sàn 
    tạm.
    7. Khi xây tường bằng đá nếu ngừng xây phải siết mạch cẩn thận các viên đá ở 
    hai đầu và trên mặt.
    8. Khi xây nếu có mưa to, giông hoặc gió cấp 6 trở lên phải che đậy, chống đỡ 
    khối xây cẩn thận để giữ cho khối xây khỏi bị xói lở hoặc bị sập đổ và công nhân 
    phải đến nơi ẩn nấp an toàn.
    9. Khi xây dựng xong trụ độc lập hoặc tường đầu hồi, về mùa mưa bão phải 
    làm mái che.
    10. Không để bất cứ một vật gì trên mặt tường đang xây.
    11. Đặt và cố định linteau hoặc các cấu kiện đúc sẵn khác phảl đúng thiết kế thi 
    công.

    14Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  15. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    12. Khi vừa xây vừa cố định các tấm ốp, chỉ được ngừng xây khi đã xây quá độ 
    cao mép trên của các tấm ốp đó.
    13. Xây các mái hất nhô ra khỏi tường quá 20cm phải có giá đỡ console. Chiều 
    rộng của giá đỡ console phải lớn hơn chiều rộng của mái hất.
    Chỉ được tháo giá đỡ console khi kết cấu mái hất đã đạt cường độ thiết kế.
    14. Xây vòm cuốn hoặc vỏ mỏng phải có thiết kế thi công riêng.
    15. Tháo ván khuôn vòm phải tuân theo sự hướng dẫn trực tiếp của cán bộ kỹ 
    thuật chỉ huy thi công.
    16. Trát bên trong và bên ngoài nhà cũng như các bộ phận chi tiết kết cấu khác 
    của công trình phải dùng đà giáo hoặc giá đỡ theo “qui định về an toàn sử dụng lắp 
    dựng và tháo dỡ đà giáo, giá đỡ”.
    17. Cấm dùng các chất màu độc hại như : minimum chì, bột crôm chì, … để làm 
    vữa trát màu.
    18. Khi đưa vữa lên mặt sàn công tác cao không quá 5m, phải dùng các thiết bị cơ 
    giới nhỏ hoặc công cụ cải tiến.
    Khi đưa vữa lên mặt sàn công tác cao hơn 5m phải dùng máy nâng hoặc phương 
    tiện cẩu chuyển khác.
    Không với tay đưa các thùng xô đựng vữa lên mặt sàn công tác cao quá 2m.
    19. Trát các cuộn vòm, gò cửa sổ ở trên cao, phải dùng, các kiểu, loại đà giáo 
    hoặc giá đỡ theo “Qui đinh về an toàn sử dụng, lắp dựng và tháo dỡ đà giáo, giá 
    đỡ”.
    Cấm đứng trên bệ cửa sổ để làm các víệc đâ nêu trên.
    20. Thùng, xô đựng vữa cung như các dụng cụ đồ nghề khác phải để ở vị trí 
    chắc chắn để tránh rơi, trượt đổ.
    Khi ngừng việc phải thu dọn vật liệu đồ nghề vào một chỗ.
    Sau mỗi ca phải rữa sạch vữa bám dính vào các dụng cụ đồ nghề.
    Cấm vứt vật liệu đồ nghề từ trên cao xuống.
    21. Công nhân điều khiển máy phun vữa phải có ủng, găng tay, kính bảo vệ mất.
    22. Điện dùng cho công tác trát trong bể và hầm kín phải có điện áp không lớn 
    hơn 36 vôn.

    15Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  16. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    23. Sấy khô vữa trát ở trong nhà bằng máy sấy dùng hơi đốt hoặc dầu phải do 
    công nhân chuyên môn điều khiển. Máy sấy phải được cố định chấc chắn. Công 
    nhân điều khiển máy sấy ở trong phòng không được làm việc liên tục quá 3 giờ.
    24. Công nhân làm các công việc có tiếp xúc với vữa pha chlore phải được trang 
    bị đầy đủ các phương tiện bảo vệ cá nhân và được bồi dưỡng độc hại theo chế độ 
    hiện hành.

    B.CÔNG TÁC VÁN KHUÔN, ĐÀ NGANG VÀ GIÁO CHỐNG
    I.Các khái niệm chung
    Hệ khuôn bê tông và bê tông cốt thép là hệ kết cấu có độ cứng lớn  làm từ các 
    loại vật liệu  chịu lực tốt, bao chứa vữa bê tông lỏng theo hình dạng như ý đ ược 
    thiết kế trước, định hình nên kết cấu bê tông sau khi vữa bê tông chứa trong nó tự 
    ninh kết và đông cứng. Sau khi bê tông ninh kết và đông cứng có thể  tháo dỡ  hệ 
    khuôn đem đi đúc kết cấu công trình bê tông khác, kết cấu bê tông vừa đúc mang 
    hình dạng và kích thước vừa được tạo bởi hệ  khuôn cho đến hết tuổi thọ  của  
    chúng. 
    Công tác khuôn đúc bê tông bao gồm các công đoạn thành phần: gia công, lắp  
    dựng, dịch chuyển và tháo dỡ hệ khuôn.
     Hệ  khuôn bê tông và bê tông cốt thép thường cấu tạo từ  một số  trong các hệ 
    thống thành phần sau:
    Hệ ván khuôn, hệ đà giáo (hệ đà ngang: hệ dầm đỡ ván khuôn dầm và sàn, hệ 
    giáo chống: hệ cột chống đứng kết hợp giằng), hệ văng chống định vị (văng ngang,  
    chống xiên, khung định vị  chân, cho các loại khuôn dạng thành đứng: khuôn cột, 
    móng, tường,  thành  dầm…), hệ  gông  (cột), hệ   (bánh  xe)  di  chuyển ngang,  hệ 
    khung giá đỡ  (ván khuôn trợt), hệ  sàn công tác, hệ  kích nâng theo phương đứng  
    (ván khuôn trợt), v.v…
    Giáo PAL (giáo tam giác, cột chống tổ hợp)
    Là một loại hệ  thống giáo chống, đỡ  ván khuôn dầm và sàn (những hệ  khuôn 
    chịu lực).
    Hệ thống giáo tam giác thường được lắp ghép thành các cột chống tổ hợp nhiều  
    tầng, mà mỗi tầng là một hệ  bất biến hình có bộ  phận chủ  yếu là ba hay bốn  

    16Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  17. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    khung giáo. Các đơn vị  cột chống này có thể  làm việc với chiều cao tầng nhà rất  
    lớn.

      II.Thành phần cấu tạo
    Khung giáo làm bằng thép ống hàn thành khung phẳng hình tam giác vuông. Kích 
    thước khung giáo như sau: chiều rộng 1,2 m, chiều cao 1,5 m (tiêu chuẩn), 1,0 m và 
    0,75 m (dẫn xuất bổ sung).
    Giằng giáo liên kết các khung thành hệ kết cấu không gian bất biến hình. Chúng 
    phân làm hai loại: giằng ngang dài 1,2 m và giằng chéo dài 1,45 m.
    Chốt liên kết đầu các khung giáo ở với nhau.
    Khoá chốt liên kết giữa khung giáo với chốt để chống tuột chốt khỏi khung, khi 
    khung giáo chịu kéo do ván khuôn đặt lệch tâm quá lớn gây ra.
    Kích giáo để điều chỉnh độ cao và độ thăng bằng của toàn bộ hệ giáo.
    Chúng gồm hai loại:kích đầu còn để đỡ hệ thống ván khuôn và tải trọng thi công 
    chuyền   xuốngkhung   giáo,   kích   chân   còn   chịu   toàn   bộ   tải   trọng   từ   khung   giáo 
    chuyền xuống đất.
    Tổng cộng phạm vi điều chỉnh của cả  hai loại kích đầu và chân có thể  trong 
    khoảng từ 0   0,6 m (mỗi loại kích từ 0   0,3 m), tuy nhiên để có thể tháo dỡ hệ 
    khuôn khi hệ khuôn nằm giữa hai tầng sàn bê tông đông cứng (có khe hở tháo kích),  
    thì tổng phạm vi điều chỉnh của cả  hai loại kích chỉ  là 0,05   0,6 m. Tổng chiều 
    cao của kích đầu và chân, kể cả các phần cố định của kích, là 0,2   0,75 m.

    17Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  18. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    Kích đầu và kích chân giáo PAL

    II. Hình thức lắp dựng
    1. Hệ cột chống tổ hợp độc lập
    Mạng hình vuông (dạng điển hình)
    Là cách tổ hợp thông thờng. Mỗi cột chống tổ hợp có tiết diện ngang dạng hình  
    vuông cạnh 1,2 m. Trong cách này, khoảng cách giữa hai hàng đà ngang chính, trên 
    hai hành kích đầu của một hàng cột chống tổ hợp, là không đổi bằng 1,2 m. Nhưng  
    khoảng cách của hàng đà ngang chính trên hai hàng cột chống tổ hợp liền kề, thay  
    đổi tuỳ theo tính toán thiết kế hệ khuôn, trung bình khoảng 1,2 m.
    2. Mạng tam giác đều so le
    Cách này áp dụng cho các mặt bằng công trình nhỏ hẹp, ví dụ áp dụng cho hàng  
    cột chống dầm. Về khả năng chịu lực gần tương đương với cách trên, do số  chân 
    chống trong một cột chống giảm (từ  4 xuống 3) nhưng diện nhận tải lại cũng 
    giảm (kích thước thu gọn).
    Mỗi  cột  chống tổ  hợp  có  tiết diện ngang dạng hình tam giác  đều cạnh 1,2 
    m.Nhưng phải sắp xếp các cột chống tổ hợp sao cho tất cả các kích đầu, của các 
    cột chống trong một hàng, nằm trên hai tuyến song song theo một hớng, để  có thể 
    đặt hai hàng đà ngang chính lên trên.  Cách này, khoảng cách giữa hai hàng đà ngang 
    18Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  19. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    chính, trên hai hành kích đầu của một hàng cột chống tổ hợp, là không đổi bằng 
    1,0 m. Nhưng khoảng cách của hàng đà ngang chính trên hai hàng cột chống tổ hợp  
    liền kề, thay đổi tuỳ theo tính toán thiết kế hệ khuôn, trung bình khoảng 1,2 m.
    Hệ cột chống tổ hợp liên hoàn
    Khi tầng nhà có chiều cao lớn, lúc đó chỉ  có hệ  cột chống tổ  hợp mới đáp ứng  
    được, nhưng chúng sẽ  trở nên mảnh hơn vì chiều cao tính toán lớn. Để  làm giảm 
    chiều cao tính toán của cột chống tổ hợp, từ mặt trên tầng giáo thứ  hai trở lên, có 
    thể bố trí bổ sung một hay một số mặt phẳng giằng, tuỳ theo chiều cao tầng nhà, 
    để liên kết các cột chống tổ hợp độc lập với nhau. Khi đó hệ cột chống tổ hợp liên 
    hoàn. Khoảng không gian dưới hai tầng giáo dới cùng,  ở  giữa các cột chống tổ 
    hợp, để dành cho giao thông trong tầng vào giai đoạn hệ khuôn dầm sàn đang làm  
    việc.
    3. Mạng hình vuông liên hoàn
    Là mạng vuông nhưng có liên kết giằng ngang giữa các cột chống tổ  hợp, để 
    tăng khả năng chịu lực khi làm việc với độ cao tầng lớn, tải trọng nặng.
    4. Mạng tam giác đều so le liên hoàn
    Là mạng tam giác nhưng có liên kết giằng ngang giữa các cột chống tổ hợp, để 
    tăng khả năng chịu lực khi làm việc với độ cao tầng lớn, tải trọng nặng.
    Hệ đà ngang
    Lớp đà ngang chịu lực (lớp chính). Đợc đặt trên các kích đầu của các cột chống 
    tổ hợp.
    Lớp đà ngang đỡ ván (lớp phụ),

    Bộ ván khuôn bao gồm:
    Các tấm khuôn (tấm chính)
    Các tấm góc vuông: góc trong và góc ngoài, để lắp dựng tạo khuôn tại góc cạch 
    vuông của cột, tường, dầm và dầm liền sàn.
    Các tấm góc vát, tròn: góc trong và góc ngoài, để  lắp dựng tạo khuôn tại góc 
    cạch vát hoặc tròn.
    Tấm góc ngoài vuông 3 mặt, để lắp dựng tạo khuôn tại góc lõm 3 mặt: giao giữa  
    hệ tường hay dầm, trực giao, với sàn.
    Tấm điều chỉnh
    19Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

  20. Trường Đại Học Vinh – Khoa Xây Dựng

    Tấm để xuyên thanh giằng
    Chốt kẹp ván (khoá ván) chữ L

    III.Trình từ lắp dựng
    1. Đặt  bệ  kích chân (Gồm  đế  và kích), thành  từng cụm 4 kích chân (mạng  
    vuông) hay 3 kích chân (mạng tam giác đều so le), khoảng cách giữa các kích chân  
    trong mỗi cụm là 1,2 m. Các cụm kích chân (mỗi cụm sau này sẽ  dựng thành một 
    cột chống tổ  hợp) phải đợc đặt sơ  bộ  thành các hàng. Khoảng cách giữa các cột 
    chống tổ  hợp trong hàng và khoảng cách giữa các hàng cột chống tổ  hợp đợc xác 
    định theo thiết kế hệ khuôn (gồm: ván, đà ngang và giáo chống – cột chốngtổ hợp),  
    nhng trung bình khoảng 1,2m.
    2. Liên kết các bệ  kích chân trong mỗi cụm kích chân với nhau bằng các giằng 
    ngang, thành những hình vuông hoặc hình tam giác đều, và giằng chéo, sao cho các  
    thanh giằng của mỗi cụm tạo thành một miếng cứng (phát triển bộ đôi), nằm trong  
    mặt phẳng nằm ngang giằng chân các cột chống tổ hợp.
    3. Dùng dây căng (hoặc máy ngắm như máy kinh vĩ …v..v) để gióng thẳng hàng  
    các kích chân của các cột chống tổ hợp trong một hàng cột chống tổ  hợp, sao cho 
    mỗi kích chân của một cụm (một cột chống tổ hợp) trong hàng buộc phải nằm  ở 
    một trong hai hàng kích chân của hàng cột chống tổ hợp, việc này nhằm để sau này 
    các đà ngang (xà gồ) chính nối tiếp nhau thành hai hàng, song song, gối đúng vào 
    hai hàng kích đầucủa hàng cột chống tổ  hợp. Như v ậy, phương của  đà ngang 
    chính, quyết định (và chính là) phương của hàng cột chống tổ  hợp (mỗi hàng cột 
    chống tổ hợp đỡ hai hàng đà ngang chính).
    4. Lắp tầng thứ nhất của các cột chống tổ hợp gồm các thao tác sau:
    ­ Lắp 3 hay 4 khung tam giác vào từng bệ kích trong mỗi cụm kích chân, điều chỉnh 
    các bộ phận cuối của khung tam giác tiếp xúc với đai ốc cánh.
    ­ Lồng khớp nối vào mối nối hai khung liền kề  và làm chặt bằng chốt giữ  khớp  
    nối.
    ­ Lắp các thanh giằng chéo, trong trường hợp mạng vuông, để mặt nằm ngang bên 
    trên tầng khung này của mỗi cột chống tổ hợp tạo thành một mảng cứng bất biến  
    hình.

    20Báo CáoThực Tập Công Nhân
    GVHD: Nguyễn Duy Khánh

Download tài liệu Báo cáo thực tập Công nhân – ĐH Vinh File Word, PDF về máy