Tải Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông – Download File Word, PDF

Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông

Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông
Nội dung Text: Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông

Download


Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông xây dựng cung cấp kiến thức cơ bản về thể loại công trình từ phân loại, lịch sử phát triển, công năng, thành phần, xu hướng phát triển. Ngoài ra tài liệu cũng cung cấp một số công trình tiêu biểu, tác giả tiêu biểu cho thể loại này. Tập tài liệu trình bày rõ ràng có kèm theo hình ảnh minh hoạ bởi ngôn ngữ có sức biểu cảm và hàm súc nhất của kiến trúc là ở đường nét và hình khối. Những kiến thức sẽ giúp ích rất nhiều cho sinh viên trong việc hiểu biết một cách hệ thống tiến hành thiết kế thể loại công trình này.

Bạn đang xem: Tải Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông – Download File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải luận văn báo cáo kiến trúc xây dựng, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông File Word, PDF về máy

Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông

  1. TẬP TÀI LIỆU NHÀ CÔNG CỘNG

    CÔNG TRÌNH
    GIAO THÔNG

  2. LỜI MỞ ĐẦU
    Là một trong những thể loại của công trình công cộng, việc thiết kế, xây dựng các
    công trình giao thông đòi hỏi kiến trúc sư phải có những hiểu biết nhất định về hạng mục
    này. Để đáp ứng yêu cầu đó, nhóm sinh viên kiến trúc Bách Khoa XD11KT xin giới thiệu tập
    tài liệu nhà công công nhóm công trình giao thông.
    Tập tài liệu được soạn với hệ thống như sau:
    Phần 1:Công trình giao thông đường bộ.
    Phần 2: Công trình giao thông sắt.
    Phần 3: Công trình giao thông thuỷ.
    Phần 4: Công trình giao thông hàng không.
    Phần 5: Giới thiệu tác giả tiêu biểu.
    Mục tiêu cơ bản của tập tài liệu công cộng này nhằm xây dựng kiến thức cơ bản về
    thể loại công trình từ phân loại, lịch sử phát triển, công năng, thành phần, xu hướng phát
    triển.…Ngoài ra tài liệu cũng cung cấp một số công trình tiêu biểu, tác giả tiêu biểu cho thể
    loại này.Tập tài liệu trình bày rõ ràng có kèm theo hình ảnh minh hoạ bởi ngôn ngữ có sức
    biểu cảm và hàm súc nhất của kiến trúc là ở đường nét và hình khối. Những kiến thức sẽ
    giúp ích rất nhiều cho sinh viên trong việc hiểu biết một cách hệ thống tiến hành thiết kế
    thể loại công trình này.
    Dù đã cố gắng tìm kiếm nghiêm túc nhưng trong quá trình biên soạn, tổng hợp tài liệu
    không tránh khỏi những sai xót. Rất mong được sự góp ý từ độc giả để tập tài liệu được
    hoàn thiện hơn.
    Nhóm sinh viên XD11KT
  3. LỊCH SỬ 65 NĂM PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH GIAO
    THÔNG VẬN TẢI VIỆT NAM
    Kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ký quyết định thành lập Bộ Giao thông công chính đến nay
    (28.8.1945), Ngành GTVT Việt Nam đã trải qua hơn 65 năm tồn tại và phát triển, gắn liền
    với sự nghiệp cách mạng của đất nước với nhiều thời kỳ sôi nổi, hào hùng. Sinh thời, Chủ
    tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Giao thông là mạch máu của tổ chức. Giao thông tốt thì mọi việc
    dễ dàng. Giao thông xấu thì các việc đình trệ”. Câu nói giản dị của Bác không chỉ nhấn
    mạnh đến vai trò quan trọng của GTVT trong sự nghịêp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, mà
    còn là lời nhắc nhở nhiệm vụ đối với những người làm công tác GTVT trong quá khứ, hiện tại
    và tương lai sau này. Có thể nói lịch sử hình thành, phát triển và trưởng thành của mình, lớp
    lớp thế hệ cán bộ, công nhân, lao động Ngành GTVT Việt Nam đã luôn theo lời chỉ dạy của
    Bác Hồ, luôn nỗ lực phấn đấu, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
    tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.

    Giai đoạn 1945 – 1954: GTVT phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp
    30 năm đầu tiên của thế kỷ XX, để thực hiện chính sách khai thác triệt để thuộc địa, thực
    dân Pháp đã xây dựng một hệ thống giao thông từ Bắc vào Nam nhưng chủ yếu nhằm phục
    vụ công cuộc cai trị và bóc lột. Ngay sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, ngày
    28.8.1945, Hồ Chủ Tịch đã chính thức ký quyết định thành lập Bộ Giao thông Công chính
    thuộc Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà và giao cho nhân sĩ yêu nước Đào Trọng
    Kim làm Bộ trưởng. Cũng từ đây, hệ thống giao thông đã thực sự trở thành tài sản của
    người Việt Nam, phục vụ người dân nước Việt.

    Tuyến đường goòng bắc qua sông ở Bồng Sơn (Bình Định)
    để phục vụ kháng chiến chống Pháp

    Thời kỳ mới thành lập Bộ Giao thông Công chính đứng trước những khó khăn rất nặng nề
    với 6 nhiệm vụ rất căn bản: (1) Vận tải quân, lương phục vụ cho kháng chiến Nam Bộ và
    các chiến trường khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra (12.1946); (2) Phá hoại cầu đường
    ngăn chặn quân địch tiến quân đánh chiến các vùng tự do, các căn cứ kháng chiến với âm
    mưu đánh nhanh thắng nhanh; (3) Thiết lập các đường dây giao liên, giữ giao thông liên lạc
    thông suốt các miền Bắc – Trung – Nam phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng,

  4. Chính phủ; (4) Sửa chữa, mở đường các vùng tự do, vùng kháng chiến và đi sâu vào các
    vùng hậu cứ của địch để phục vụ các chiến dịch đánh địch trên khắp các chiến trường đồng
    thời gia tăng phục vụ sản xuất; (5) Vận tải hàng hoá, hành khách, vận chuyển lương thực,
    quân đội tham gia các chiến dịch tấn công giai đoạn 1945 – 1954; (6) Làm nhiệm vụ quốc tế
    chi viện cho Lào, Campuchia v.v.

    Đoàn xe vận tải phục vụ chiến dịch Đông Xuân (1953 – 1954)

    Thành tựu nổi bật của Ngành giao thông công chính thời kỳ này là đã cùng toàn dân tham
    gia thực hiện các phong trào do Chính phủ phát động và chỉ đạo như “Tiêu thổ kháng
    chiến”: Phá đường, cầu, cống và các hệ thống giao thông khác để ngăn chặn địch vận
    chuyển lương thực, thực phẩm, súng đạn.. Hàng ngàn các đoạn, các cung đường bộ, hàng
    trăm cầu lớn đã bị phá huỷ và trở thành vật cản ngăn chặn sự xâm lược của địch. Một thành
    công lớn của ngành giao thông thời kỳ này là công tác mở đường phục vụ các chiến dịch tiến
    tới chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Tuy không được đầu tư nhiều về tài chính nhưng sức
    dân, sự đoàn kết và dũng cảm của toàn quân, toàn dân đã mở ra những kỳ tích của ngành
    giao thông

    Giai đoạn 1954 – 1964: GTVT xây dựng CNXH ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam
    Trong thời kỳ này, do nhiệm vụ mới của đất nước là khôi phục phát triển kinh tế miền Bắc
    để chi viện cho chiến trường miền Nam, Chính phủ đã quyết định đổi tên Bộ Giao thông
    Công chính thành Bộ Giao thông và Bưu điện do ông Nguyễn Văn Trân làm Bộ trưởng. Cơ
    cấu, bộ máy tổ chức của Bộ cũng được nâng lên ngang tầm với nhiệm vụ, chức năng cụ thể
    được Chính phủ giao. Cơ cấu của Bộ bao gồm: Văn phòng Bộ, Tổng cục Đường sắt, Tổng cục
    Bưu điện, Nha Giao thông; Ngành vận tải Đường thuỷ; Sở Vận tải, Ty Công chính phi trường
    và Trường Cao đẳng giao thông công chính.

  5. Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Hữu Mai
    cắt băng khánh thành cầu Việt Trì (1957)

    Nhiệm vụ lớn nhất của Ngành GTVT trong thời kỳ này là khôi phục lại hệ thống giao thông
    đã phá hỏng trong kháng chiến chống Pháp để phục vụ phát triển kinh tế miền Bắc và chi
    viện cho chiến trường miền Nam. Trong 10 năm (1954 – 1964) hệ thống đường sắt miền
    Bắc đã được xây dựng và khôi phục lại với những tuyến đường chính là Hà Nội – Lào Cai; Hà
    Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Lạng Sơn. Những tuyến đường này đã có vai trò quan trọng phục
    vụ đi lại, khôi phục kinh tế miền Bắc trong nhều năm thời điểm đó và còn phát huy tác dụng
    đến bây giờ. Một tuyến đường sắt khác được xây dựng là Hà Nội – Thái Nguyên cũng hoàn
    thành trong giai đoạn này. Về giao thông đường bộ, đường thuỷ cũng được Nhà nước đầu tư
    xây dựng mới nhiều tuyến quốc lộ phía Bắc và một số cảng sông cũng hình thành, trong đó
    cảng Hải Phòng có vai trò lớn nhất trong vận chuyển hàng hoá phía Bắc và giao thương với
    nước ngoài. Nhiều cây cầu mới, con đường mới có tính huyết mạch cũng đã được mở mang
    xây dựng vừa bằng sức dân, vừa có sự đầu tư của Nhà nước. Ngành GTVT còn tham gia thi
    công các sân bay như: Nội Bài (trước đây gọi là Đa Phúc), Hoà Lạc (Hà Tây), Vinh (Nghệ
    An) và sân bay Kép (Bắc Giang). Nhìn chung, thời kỳ này Việt Nam đã hình thành một mạng
    lưới giao thông tuy không hiện đại nhưng bước đầu phục vụ tốt nhịêm vụ của thời kỳ cách
    mạng mới.

  6. Hồ Chủ Tịch đến thăm công trường khôi phục
    đường sắt Hà Nội – Mục Nam Quan và
    cầu Phủ Lạng Thương (Bắc Giang) (25/1/1955)

    Trong lĩnh vực vận tải, các ngành vận tải đường bộ, đường sông, đường sắt đều có nhiều
    bước phát triển vượt bậc so với trước năm 1954. Vận tải đường sắt trong 10 năm (1954 –
    1964) đã đảm nhận trên 20% khối lượng vận chuyển toàn ngành, thực hiện sản lượng luân
    chuyển hàng hoá trên 50%. Vận tải đường bộ đã đảm nhiệm từ 30 – 40% khối lượng vận
    chuyển hàng hoá và hành khách cả nước với đội ngũ các xí nghiệp vận tải hành khách và
    hàng hoá quốc doanh. Công nghiệp GTVT được hình thành với một số chuyên ngành tuy còn
    hạn hẹp nhưng đã tự túc sản xuất được một số mặt hàng phục vụ ngành. Trong công nghiệp
    GTVT thời kỳ này, nổi bật nhất là Nhà máy toa xe lửa Gia Lâm đã đã hình thành được nhiều
    phân xưởng quan trọng làm tiền đề cho công nghiệp đóng tàu đường sắt sau này như phân
    xưởng sửa chữa đầu máy, đóng mới toa xe, rèn, đúc v.v.

    Ngày 18/12/1965, Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị cắt băng
    khánh thành đầu máy Tự Lực mang tên “Nguyễn Văn Trỗi”

  7. Đoàn tàu qua cầu Hàm Rồng trong ngày khánh thành 19/5/1964

    Nhân dân các dân tộc Mai Châu (Hòa Bình) làm
    đường mới phục vụ phát triển kinh tế – xã hội miền núi

    Giai đoạn 1964 – 1975: GTVT chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của đế quốc Mỹ
    và chi viện cho giải phóng miền Nam.
    Đây là thời kỳ đầu đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của Ngành GTVT kể từ khi thành
    lập. Hai đặc điểm nổi bật của Ngành thời kỳ này là GTVT phục vụ sự nghiệp củng cố và phát
    triển kinh tế miền Bắc và chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ ở chiến trường miền Nam.
    Cũng trong giai đoạn này, Ngành GTVT đã nhận được một sự đầu tư đáng kể của Nhà nước
    và viện trợ giúp đỡ của bạn bè quốc tế, đặc biệt là sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ) và Trung
    Quốc.

  8. San lấp hồ bom bảo đảm giao thông thông suốt

    Những sự kiện nổi bật ghi dấu ấn của Ngành trong giai đoạn này là đường mòn Hồ Chí Minh
    lịch sử với phong trào “Tất cả vì miền Nam thân yêu” do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động.
    Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu, Ngành GTVT Việt Nam đã lập nên những kỳ
    tích huy hoàng, góp phần quan trọng vào chiến thắng của dân tộc trong cuộc kháng chiến
    chống Mỹ oanh liệt. Ngành GTVT đã đi đầu trong cuộc kháng chiến với tất cả những con
    đường có thể mở được, từ đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ đến đường đường mòn Hồ Chí
    Minh trên biển. Những “con đường mòn” này về cơ bản vẫn dựa vào sức dân là chủ yếu
    song đã đóng vai trò quan trọng, nhất là trong việc vận chuyển lương thực, thực phẩm, vũ
    khí cho chiến trường miền Nam. Lịch sử sẽ còn nhắc lại những chiến công dũng cảm của cán
    bộ chiến sĩ, nhân viên Ngành GTVT với các sáng kiến đã đi vào huyền thoại trong cả vận tải
    đường bộ, đường thuỷ và hàng không.

    Đội thanh niên xung phong 759, đơn vị anh hùng
    sửa chữa đường bảo đảm giao thông ở Quảng Bình

    Với ngành đường sắt, trong giai đoạn 1964 – 1975 đã liên tục đảm bảo giao thông suốt

  9. trong điều kiện địch đánh phá dữ dội. Ngành đường sắt đã làm 3.915 mét cầu tạm, 82km
    đường và 274,5km dây thông tin và vận chuyển được 4,16 triệu tấn hàng hoá. Cán bộ, nhân
    viên và tự vệ ngành đường sắt đã bắn rơi hàng chục máy bay các loại và dò phá được hàng
    ngàn quả bom nổ chậm ở các chiến trường trọng điểm miền Nam. Với ngành vận tải ô tô đã
    hình thành 5 công ty vận tải hỗn hợp có tổng 1.271 xe phục vụ chủ yếu chiến trường miền
    Nam. Ngành vận tải đường biển với những con tàu “không số” trên đường mòn Hồ Chí Minh
    trên biển đã lập hàng trăm kỳ tích mà cho đến tận bây giờ vẫn chưa được nhiều người biết
    tới.

    Bộ trưởng Bộ GTVT Phan Trọng Tuệ thăm tàu
    Hồng Hà sau chuyến mở luồng Nhật Bản thắng lợi trở về

    Đoàn xe tải chờ hàng chi viện cho miền Nam đang vượt qua ngã ba
    Đồng Lộc, một trong những địa điểm bị đánh phá ác liệt nhất

  10. Một đoàn xe đang vượt ngầm chuyển xăng dầu vào Nam (1971)

    Những người đứng đầu Ngành GTVT giai đoạn này là Bộ trưởng Dương Bạch Liên và Bộ
    trưởng Phan Trọng Tuệ – các Bộ trưởng đã ghi dấu ấn đậm nét trong Ngành với các chiến
    công làm rạng rỡ truyền thống Ngành GTVT sau này.
    Giai đoạn 1975 – 1985: GTVT trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam
    XHCN
    Sự tàn phá của chiến tranh trong một giai đoạn dài đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ
    thống giao thông cả hai miền Nam, Bắc. Năm 1975 không còn một tuyến đường bộ nào ở
    miền Bắc đạt cấp kỹ thuật đồng bộ. Phương tiện vận tải của tất cả các ngành giao thông
    miền Bắc đều thiếu thốn và lạc hậu. Đường bộ có 861 xe, máy và thiết bị các loại, trong đó
    chỉ có hơn 50% là còn sử dụng được. Đường biển mới có khoảng 4 vạn tấn phương tiện các
    loại nhưng đều cũ kỹ và không phù hợp với luồng tuyến. Các ngành kinh tế công nghiệp
    GTVT đều suy yếu bởi thiếu nguồn tài chính đầu tư trong một giai đoạn dài … Trước tình
    hình đó, Đại hội lần thứ 4 của Đảng (Tháng 12.1976) đã đề ra yêu cầu phải “tích cực mở
    mang GTVT và thông tin liên lạc vì thực tế không cân đối với sự phát triển của nền kinh tế
    quốc dân và không cân đối giữa các bộ phận trong nội bộ ngành….” Thực hiện chủ trương
    đó, Ngành GTVT đã chấn chỉnh và tổ chức lại bộ máy hoạt động và hình thành một bộ máy
    mới với các chức năng đầy đủ hơn, đáp ứng thực tế. Hàng loạt Sở GTCC ra đời trên toàn
    quốc và hàng trăm các doanh nghiệp quốc doanh của ngành đường sắt, đường bộ, hàng
    không, vận tải biển đã ra đời và giữ vững mô hình hoạt động đến năm 1986.

    Trên công trường xây dựng cầu Thăng Long (1984)

  11. Cục Công trình I tham gia khôi phục đường sắt Thống Nhất

    Toàn cảnh đèo Hải Vân sau khi đất nước thống nhất năm 1975

    Về hoạt động vận tải đường sắt: trong giai đoạn này đã khánh thành tuyến đường sắt Bắc –
    Nam với sự kiện ngày 13/12/1976 chuyến hàng từ TPHCM ra Hà Nội và chuyến tàu chở
    Apatít phục vụ nông nghiệp đã từ Hà Nội lên đường vào TPHCM. Vận tải đường sắt cũng đã
    khai thông tuy năng lực chuyên chở vẫn còn hạn chế. Trong giao thông đường bộ đã xây
    dựng mới hơn 2 vạn mét cầu, 520 cống, đặt mới 660km đường ray và 1.686 km dây thông
    tin. Các cảng quan trọng như cảng Hải Phòng, cảng Sài Gòn cũng được đầu tư nâng cấp
    thành 2 trung tâm giao nhận hàng hoá lớn nhất của cả nước cùng với hệ thống cảng sông,
    đội tàu được khôi phục và đầu tư mới tạo ra diện mạo khác hẳn thời kỳ chiến tranh chống
    Mỹ. Điều đặc biệt là hệ thống vận tải quốc doanh đã có bước phát triển mạnh với đội ngũ kỹ
    sư chế tạo, sửa chữa và lái xe được đào tạo trong những trường chuyên ngành Bộ GTVT

  12. Bộ Trưởng Bộ GTVT Phan Trọng Tuệ
    đi kiểm tra cầu đường sắt bắc qua sông Trà Khúc (1977)

    Tàu Thái Bình – con tàu đầu tiên của ngành vận tải biển mở luồng
    sang Cuba và thực hiện chạy vòng quanh trái đất (1982)

  13. Bộ trưởng Bộ GTVT Đồng Sĩ Nguyên và đại diện
    Chính phủ Phần Lan làm lễ bàn giao giai đoạn 1 – xây dựng
    Nhà máy sửa chứa tàu biển Phà Rừng (1984)

    Giai đoạn 1986 đến nay: GTVT góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển đất
    nước thời kỳ Đổi mới
    Ngay từ khi bắt đầu công cuộc ‘Đổi mới’, phát triển nền kinh tế đất nước theo kinh tế thị
    trường định hướng XHCN, Đảng CSVN đã chủ trương phải ưu tiên đầu tư phát triển GTVT để
    GTVT đi trước một bước tạo tiền đề và thúc đẩy kinh tế phát triển. Nghị quyết Đại hội Đảng
    toàn quốc lần thứ VI (1986) xác định: “GTVT là khâu quan trọng nhất của kết cấu hạ tầng’’
    và “GTVT phải đi trước một bước để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân’’.

    Km0 – Quốc lộ 5 cửa ngõ giao thông phía Đông của Thủ đô Hà Nội

    Tiếp sau đó, Nghị quyết các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII (1991), lần thứ VIII (1996)
    đã xác định những mục tiêu lớn của Ngành GTVT. Đó là: “Khắc phục tình trạng xuống cấp
    của hệ thống giao thông hiện có; khôi phục, nâng cấp và mở rộng thêm một số tuyến giao
    thông trọng yếu, kết hợp giao thông với thuỷ lợi, tận dụng giao thông đường thuỷ; mở thêm

  14. đường đến các vùng sâu, vùng xa ; cải thiện giao thông ở các thành phố lớn. Cải tạo, nâng
    cấp một số cảng sông, cảng biển, sân bay; xây dựng dần cảng biển nước sâu’’.
    Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001), Nghị quyết Đại hội một lần nữa ghi rõ: “Kết
    cấu hạ tầng đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và có bước đi
    trước. Hệ thống giao thông bảo đảm lưu thông an toàn, thông suốt quanh năm và hiện đại
    hoá một bước. Mạng lưới giao thông nông thôn được mở rộng và nâng cấp”; “Phát triển
    mạnh và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ: thương mại, hàng không, hàng hải…”.

    Đường cao tốc Thăng Long – Nội Bài con đường đầu tiên do các kỹ sư
    Việt Nam thiết kế và thi công, được thông xe ngày 10/03/1994

    Thực hiện chủ trương và những mục tiêu mà Đảng đề ra, toàn Ngành GTVT đã có nhiều cố
    gắng, huy động và phát huy nhiều nguồn lực phục vụ công cuộc phát triển Ngành. Có thể
    chia ra 2 giai đoạn chính trong thời kỳ này :

    Từ 1986 đến 1995:
    Trong giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1995, do đất nước vẫn đang bị bao vây cấm vận,
    ngân sách Nhà nước hết sức khó khăn nên Ngành GTVT tập trung chủ yếu nguồn lực cho
    công tác duy tu bảo dưỡng để đảm bảo an toàn giao thông và triển khai xây dựng một số
    công trình thực sự cấp bách.

  15. Quốc lộ 5 Hà Hội – Hải Phòng

    Trong giai đoạn này, Bộ GTVT đổi tên thành Bộ GTVT và Bưu điện sau khi Tổng cục Bưu
    điện và Cục Hàng không dân dụng sáp nhập vào Bộ GTVT. Một số nhiệm vụ chính của Bộ
    GTVT và Bưu điện trong giai đoạn này là: (1) Về vận tải: Tập trung chỉ đạo các ngành vận
    tải kiên quyết thực hiện mục tiêu vận tải đối với các mặt hàng quan trọng trong nền kinh tế
    như than, phân bón, hàng xuất nhập khẩu; đồng thời phục vụ các nhu cầu đời sống xã hội
    như: lương thực, hàng tiêu dùng thiết yếu, hàng lên miền núi … (2) Trong sản xuất công
    nghiệp tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng tiến bộ kỹ thuật để nghiên cứu,
    thiết kế và sản xuất những mặt hàng mới như trạm trộn nhựa, lu bánh lốp, lu diezen và tập
    trung vào hai khâu lớn là sửa chữa tàu biển, phương tiện thiết bị công trình lắp ráp ô tô, sửa
    chữa đầu máy và đóng toa xe … (3) Về xây dựng cơ bản: kiên quyết dành vốn và các điều
    kiện khác cho những công trình trọng điểm và các công trình có khả năng hoàn thành để
    đưa vào khai thác. Công tác duy tu, quản lý đường bộ, chất lượng công trình được coi trọng.
    (4) Về thông tin liên lạc: Hoàn thành một số tuyến vi ba từ Hà Nội đi các tỉnh và nhất là
    công tác thông tin phục vụ hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các kỳ họp Quốc hội.

    Khánh thành cầu Phong Châu (Vĩnh Phú) ngày 28/7/1995

    Trong 10 năm đầu quá trình đổi mới, ngành đường bộ đã hoàn thành một số tuyến đường,
    cây cầu có tầm vóc lớn, góp phần phát triển kinh tế xã hội như: cầu Bến Thuỷ, Thái Bình,
    Yên Bái, Đò Quan, Việt Trì, Tràng Tiền, Phong Châu… ; các quốc lộ như QL1, QL5, QL80,
    QL24. Nhiều đô thị mới cũng đã mọc lên dọc theo các tuyến đường. Giao thông miền núi,
    giao thông nông thông trong giai đoạn này cũng bắt đầu khởi sắc. Nhờ sự đầu tư của Nhà
    nước kết hợp với ngân sách địa phương và sức dân, hàng ngàn con đường liên huyện, liên
    xã… đã được mở ở nhiều nơi từ Bắc – Trung – Nam, tạo ra mạng lưới giao thông trải rộng
    trên khắp đất nước

  16. Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Bộ trưởng Bộ GTVT Bùi Danh Lưu
    đến dự lễ thông xe cầu Việt Trì ngày 25/5/1995

    Đối với đường sắt, những kỳ tích đặc biệt về tần suất và thời gian chạy tàu cũng được lập
    nên trong giai đoạn này nhờ việc đầu tư nâng cấp, đóng mới phương tiện và cải thiện trình
    độ quản lý. Đặc biệt, ngành hàng không dân dụng từ năm 1990 đã có sự phát triển cực kỳ
    nhanh chóng. Từ chỗ chỉ có các máy bay thế hệ cũ của Liên Xô (trước đây) như TU, AN…,
    đội máy bay của Vietnam Airlines lần đầu tiên đã mạnh dạn thuê 10 chiếc máy bay Airbus
    A320 và mua các máy bay như ATR72, Fokker70 để đưa vào khai thác. Đây là những loại
    máy bay rất hiện đại lúc bấy giờ, làm thay đổi hẳn bộ mặt của hãng hàng không quốc gia
    Việt Nam. Cùng với việc đổi mới máy bay, các điểm đến của hàng không Việt Nam trong giai
    đoạn này cũng phát triển hết sức ấn tượng, cả trong nước và quốc tế. Thị trường hàng
    không Việt Nam trở nên sôi động và có tốc độ phát triển rất nhanh, có năm lên tới trên
    40%.

    Cầu Mỹ Thuận – cây cầu dây văng lớn nhất Đông Nam Á

    Các lĩnh vực quan trọng khác của Ngành GTVT như vận tải biển quốc tế, nội địa cũng được
    đầu tư hàng ngàn tỷ đồng để mở rộng các cảng; đóng mới và sửa chữa các tàu vận tải lớn.
    Hệ thống các doanh nghiệp thuộc Bộ có vai trò rất quan trọng trong việc sản xuất công
    nghiệp GTVT với việc hàng năm tạo ra hàng ngàn tỷ đồng lợi nhuận, không chỉ đóng góp và

  17. ngân sách Nhà nước mà còn góp phần vào tái đầu tư, mở rộng hoạt động của ngành trong
    chế tạo, lắp ráp, xây dựng công nghiệp GTVT.

    Hầm đèo Ngang do Tổng công ty tư vấn thiết kế GTVT
    tư vấn khảo sát và giám sát xây dựng.

    Về mặt tổ chức, năm 1992, ngành Bưu điện và ngành Hàng không tách ra khỏi Bộ GTVT.
    Tuy nhiên, đến năm 2003, Cục Hàng không dân dụng trở lại trực thuộc Bộ GTVT. Theo Nghị
    định 34/2003/NĐ – CP ngày 04/4/2003 của Chính phủ thì hiện nay tổ chức Bộ GTVT gồm có
    các Vụ, Văn phòng Bộ, Thanh tra Bộ ; các Cục: Đường bộ, Đường sắt, Đường sông, Hàng
    hải, Hàng không, Đăng kiểm, Giám định và Quản lý chất lượng công trình giao thông. Ngoài
    ra là một số đơn vị sự nghiệp (Viện, trường, báo, tạp chí, Sở Y tế…) và các doanh nghiệp.

    Đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ

    Từ năm 1996 trở lại đây, trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng giao thông, nhiều công trình giao
    thông đã được triển khai. Trong 10 năm (từ 1996 đến 2005) Ngành GTVT đã tiến hành cải
    tạo nâng cấp và làm mới hơn 16.000 km đường bộ; 1.400 km đường sắt; hơn 130.000 md
    cầu đường bộ; 11.000 m dài cầu đường sắt. Nâng cấp và xây dựng mới 5.400 m dài bến
    cảng; nạo vét 4,8 triệu m3 luồng lạch.
    Về đường bộ, Ngành GTVT đã hoàn thành cơ bản việc nâng cấp toàn tuyến trục dọc “xương
    sống” của đất nước là Quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến Cần Thơ, trong đó nổi lên 02 công trình
    qui mô và hiện đại là Hầm đường bộ đèo Hải Vân và cầu Mỹ Thuận. Cùng với trục dọc này,
    một trục dọc thứ hai cũng đã hình thành. Đó là đường Hồ Chí Minh đã hoàn tất giai đoạn 1

  18. (Đoạn từ Hoà Lạc đến Ngọc Hồi). Đường Hồ Chí Minh sẽ nối kết hơn 100 tuyến đường ngang
    trong đó có các trục hành lang Đông – Tây, nối liền với QL 1A ở phía Đông, gắn với hệ thống
    cảng biển nước sâu dọc bờ biển miền Trung, hệ thống các sân bay trên cao nguyên… hình
    thành một mạng lưới giao thông hoàn chỉnh từ Bắc vào Nam và liên thông với các nước láng
    giềng.
    Ngoài 02 trục dọc trên, Ngành GTVT đã hoàn thành các tuyến quốc lộ chính yếu nối đến các
    cảng biển và cửa khẩu quốc tế như QL5, QL18, QL10, QL22, QL51, QL14B… Đồng thời, đã
    và đang nâng cấp các tuyến quốc lộ hướng tâm và vành đai phía Bắc, phía Nam; các tuyến
    quốc lộ ở Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
    Trên các tuyến đường mới, hàng loạt các cầu đã được xây dựng như: cầu Kiền, cầu Tô Châu,
    Tạ Khoa, Bến Lức, cầu Tuần và tuyến tránh thành phố Huế, cầu Tân An và tuyến tránh Tân
    An, cầu Yên Lệnh; cầu Tuyên Nhơn (tuyến N2); các cầu thuộc dự án cầu QL1: Đà Rằng,
    Diêu Trì, Tam Giang; Sông Vệ, Câu Lâu, Trà Khúc, Cây Bứa, Bồng Sơn và Bàn Thạch; cầu
    Sông Rộ (dự án Đường HCM về quê Bác); cầu Gò Chai (dự án Đường xuyên Á) cầu Hoà Mạc,
    cầu Kênh Tiêu, cầu Hà Nha, cầu Giát (QL38)… Đặc biệt, hiện nay công trình cầu Cần Thơ đã
    được khánh thành và đưa vào sử dụng, đánh dấu sự hoàn tất các cầu trên Quốc lộ 1 – huyết
    mạch giao thông của đất nước.

    Các thợ lái đầu máy “Đổi mới” thực hiện kỷ cương
    an toàn chạy tàu để phục vụ vận tải tết Quý Mùi 2003

    Bên cạnh các dự án sử dụng vốn NSNN và tài trợ quốc tế, trong giai đoạn vừa qua đã nổi lên
    một số dự án BOT lần đầu tiên đã được hoàn thành và đưa vào sử dụng như BOT Đèo
    Ngang; BOT An Sương – An Lạc. Đây là tín hiệu rất đáng mừng về khả năng huy động tối đa
    các nguồn lực trong xã hội cho sự phát triển kết cấu hạ tầng giao thông.
    Về đường sắt, Ngành GTVT đã từng bước nâng cấp các tuyến đường sắt hiện có, nâng cao
    an toàn và rút ngắn đáng kể thời gian chạy tàu. Các cầu và ga trên đường sắt Thống Nhất
    đã được cải tạo và nâng cấp. Về đường sông, đã hoàn thành nâng cấp 2 tuyến đường thuỷ
    phía Nam (TP HCM – Cà Mau, TP HCM – Kiên Lương); đồng thời từng bước nâng cấp các
    tuyến sông chính yếu khác.
    Về hàng hải, Ngành GTVT trong giai đoạn vừa qua đã hoàn thành nâng cấp giai đoạn 1 các
    cảng biển tổng hợp quốc gia chủ yếu như: Cảng Cái Lân, Cảng Hải Phòng, Cảng Cửa Lò,
    Cảng Vũng áng, Cảng Tiên Sa, Cảng Quy Nhơn, Cảng Nha Trang, Cảng Sài Gòn, Cảng Cần
    Thơ và hoàn thành nâng cấp một số cảng địa phương cần thiết đáp ứng lượng hàng hoá
    thông qua.

  19. Tàu Tây Sơn

    Về hàng không, tất cả các cảng hàng không trên khắp cả nước đều được nâng cấp một
    bước, đáp ứng kịp thời nhu cầu đi lại bằng máy bay đang ngày càng gia tăng. Một số công
    trình quan trọng có thể kể ra như: Nhà ga T1và đường cất hạ cánh 1B Cảng hàng không
    quốc tế Nội Bài; đường cất hạ cánh 25L tại Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất; nhà ga,
    sân đỗ, đường hạ cất cánh sân bay Vinh, nhà ga sân bay Phú Quốc ; nhà ga hành khách
    Cảng hàng không Phù Cát (Bình Định), hoàn thành nâng cấp Cảng hàng không Vinh, đưa
    vào sử dụng Cảng hàng không Côn Sơn (Bà Rịa – Vũng Tàu); khánh thành nhà ga hành
    khách và đài kiểm soát không lưu Cảng hàng không Điện Biên Phủ; Cảng hàng không Chu
    Lai…
    Đối với hệ thống giao thông địa phương, đến nay hệ thống đường tỉnh đã được mở mang,
    nâng cấp một bước, tạo được sự kết nối tốt hơn với hệ thống quốc lộ. Giao thông nông thôn
    phát triển mạnh đã làm giảm số xã chưa có đường đến trung tâm từ 663 xã năm 1997
    xuống còn 219 xã năm 2004. Tuy nhiên đến nay, do có sự chia tách xã và nhiều tuyến
    đường giao thông nông thôn do không được quản lý, bảo trì và thiên tai phá hoại bị hư
    hỏng, xuống cấp nên số lượng xã chưa có đường về trung tâm tăng lên gần 400 xã.

    Cảng Hàng không quốc tế Tây Sơn Nhất – 2004

  20. Trong lĩnh vực vận tải, các dịch vụ vận tải đã và đang đáp ứng kịp thời những yêu cầu hết
    sức đa dạng của thị trường. Chưa bao giờ người dân lại đi lại dễ dàng và thuận tiện như hiện
    nay nay với nhiều tuyến vận tải đường bộ đi khắp nơi, tới mọi “hang cùng, ngõ hẻm” với
    nhiều loại ô tô hiện đại, phục vụ nhiều tiện nghi như điều hoà, tivi… Tàu hoả Bắc – Nam
    ngày càng nhiều chuyến hơn. Hàng không Việt Nam ngày một có thêm nhiều máy bay đời
    mới, hiện đại như Boeing B767, B777, Airbus A321… đưa vào khai thác nhiều tuyến bay mới
    cả trong nước và quốc tế. Các đội tàu biển, tàu sông của Việt Nam cũng vươn tới nhiều điểm
    đến trên toàn thế giới.
    Theo số liệu thống kê thì trong vòng 10 năm qua, hoạt động vận tải bình quân tăng
    8,6%/năm về tấn hàng hoá; 9,9% về T.Km; 8% về hành khách và 9,6% về HK.Km cao hơn
    chỉ tiêu Đại hội IX đặt ra là 9 – 10% T.Km và 5 – 6% HK.Km. Tốc độ tăng trưởng nói trên có
    thể nói là khá cao so với chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế chung 7,5% mà Đảng và Chính phủ đề
    ra. Điều này cũng có nghĩa là Ngành GTVT đã và đang đóng góp rất tích cực vào tốc độ tăng
    trưởng của kinh tế đất nước; giúp nền kinh tế đạt được mục tiêu tăng trưởng đã đặt ra.

    Khánh thành cầu Cần Thơ – 2010

    Chất lượng các dịch vụ vận tải cũng ngày càng được nâng cao với nhiều hình thức đa dạng,
    phong phú. Vận tải container có bước phát triển mạnh; vận tải đa phương thức đang từng
    bước được hình thành. Vận tải hành khách công cộng tại các thành phố, đặc biệt là Hà Nội
    và TP HCM phát triển mạnh, được xã hội chấp nhận, góp phần quan trọng làm giảm ùn tắc
    giao thông đô thị.
    Ngoài việc phát triển kết cấu hạ tầng giao thông và nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải,
    Ngành GTVT còn có những bước tiến rất nhanh trong lĩnh vực công nghiệp cơ khí, đặc biệt là
    ngành đóng tàu, sản xuất ô tô. Nhiều sản phẩm của các đơn vị công nghiệp trong Ngành
    GTVT đã nhận được sự tín nhiệm của khách hàng cả trong nước và quốc tế. Thời gian qua,
    một số sản phẩm xe buýt của VINAMOTOR, tàu thuỷ của VINASHIN đã xuất khẩu được ra
    nước ngoài, đánh dấu một bước phát triển quan trọng và có ý nghĩa của ngành công nghiệp
    cơ khí GTVT.
    Về công tác an toàn giao thông, trong những năm gần đây, Ngành GTVT đã thực thi một
    cách mạnh mẽ, quyết liệt và đồng bộ nhiều chính sách nhằm góp phần cùng toàn xã hội
    thực hiện mục tiêu “3 giảm” về TNGT mà Quốc hội và Chính phủ đề ra. Đó là giảm về số vụ
    tai nạn, giảm số người chết và giảm số người bị thương. Để làm được điều này, Ngành GTVT
    đã tập trung cải thiện kết cấu hạ tầng giao thông, xoá bỏ các “điểm đen” về TNGT; kiểm
    soát chặt chẽ phương tiện, từng bước loại bỏ các phương tiện cũ nát; tăng cường chất lượng
    công tác đào tạo, sát hạch và cấp phép người lái… Theo số liệu thống kê thì liên tục trong 3
    năm qua, số vụ TNGT, số người chết và số người bị thương tính trên 10.000 phương tiện
    đều giảm. Đây là kết quả rất đáng mừng, thể hiện sự nỗ lực không chỉ của Ngành GTVT mà
    còn của các địa phương và toàn bộ hệ thống chính trị.
    Về công tác quản lý Nhà nước của Bộ GTVT, từ năm 2001 trở lại đây, công tác xây dựng thể
    chế, văn bản qui phạm pháp luật trong lĩnh vực GTVT đã có bước chuyển biến quan trọng.
    Hàng loạt bộ luật và văn bản quy phạm pháp luật đã được ra đời. Năm 2001 Quốc hội ban
    hành Luật Giao thông đường bộ. Năm 2004 là Luật Giao thông đường thuỷ nội địa. Năm
    2005, Quốc hội đã thông qua thêm 02 luật nữa là Luật Đường sắt và Bộ luật Hàng hải (sửa
    đổi). Cuối năm 2005, Quốc hội đã xem xét và thông qua Luật Hàng không dân dụng (sửa
    đổi). Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử, Ngành GTVT đã có đủ 05 bộ luật điều chỉnh 05 lĩnh
    vực giao thông của Ngành: đường bộ, đường sông, đường sắt, hàng hải và hàng không.

Download tài liệu Báo cáo Tập tài liệu nhà công cộng: Công trình giao thông File Word, PDF về máy