[Download] XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT – Tải về File Docx, PDF

XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT

XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT
Nội dung Text: XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT

Download


Khái niệm chung về bản đồ đất Theo Lê Quang Trí (1996), bản đồ đất là một bản đồ chỉ cho thấy sự phân bố các loại đất hoặc các đơn vị bản đồ đất liên quan đến những đặc tính môi trường tự nhiên và nhân tạo chính yếu của bề mặt trái đất.

Bạn đang xem: [Download] XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT File Docx, PDF về máy

XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT

  1. 7

    XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT

  2. 8

    PHẦN 2: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ THỰC HIỆN
    CHƯƠNG 1
    LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
    1.1. BẢN ĐỒ ĐẤT
    1.1.1. Khái niệm chung về bản đồ đất
    Theo Lê Quang Trí (1996), bản đồ đất là một bản đồ chỉ cho thấy sự phân bố
    các loại đất hoặc các đơn vị bản đồ đất liên quan đến những đặc tính môi trường tự
    nhiên và nhân tạo chính yếu của bề mặt trái đất. Những đơn vị đất đo được chỉ ra
    cho thấy một cách riêng biệt hoặc kết hợp với nhau và được đặt tên theo đơn vị
    phân loại đất.
    Định nghĩa trên bao gồm một bản đồ đất phải chỉ cho thấy được những đặc
    tính riêng biệt của đất như: sa cấu, độ dốc, độ sâu, màu sắc,…hoặc những tính chất
    chung được kết hợp với nhau từ hai hay nhiều yếu tố. Ngoài ra, bản đồ đất còn chỉ
    cho thấy những chất lượng của đất như: độ phì nhiêu, khả năng xói mòn hoặc cho
    thấy những tính chất về nguồn gốc phát sinh riêng biệt hoặc kết hợp của chúng.
    Bản đồ đất với nhiều đặc tính đất khác nhau được xây dựng dựa trên sự quan
    sát trực tiếp ngoài đồng kết hợp với phòng phân tích thông qua sự chọn lọc và tổng
    quát hóa nó ra thành riêng biệt hoặc kết hợp từng đặc tính với nhau, đồng thời xác
    định tên của từng loại đất hay đơn vị đất theo hệ thống phân loại mô tả đã chọn
    trước. Ngoài ra, từ bản đồ đất ta có thể xây dựng lên thành nhiều bản đồ đơn tính
    đơn giản để mô tả cho thấy những tính chất đất riêng biệt cần thiết thí dụ như: khả
    năng xói mòn, tiềm năng tưới tiêu, sự biến động của tầng phèn và tầng sinh phèn
    trên đất phèn…
    Một bản đồ đất có độ chính xác cao sẽ được sử dụng lâu dài theo thời gian
    mặc dù có một số thay đổi nhỏ trong canh tác nông nghiệp. Ngược lại, bản đồ đất
    có độ chính xác thấp hay bản đồ có tỷ lệ quá nhỏ so với điều kiện nghiên cứu có thể
    chính xác thì bất cứ một sự thay đổi nào trong việc phát triển nông nghiệp đều đưa
    đến sự thay đổi một số đặc tính của đất do đó cần thiết phải điều tra dã ngoại trở lại.
    Bản đồ đất được sử dụng một cách có hiệu quả khi trên bản đồ có chú dẫn rõ
    ràng và có thể biểu thị một số tính chất quan trọng của đất, đồng thời kèm theo đó
    phải có tập thuyết minh về bản đồ đất, bên trong mô tả chi tiết các tính chất của đất
    đồng thời cũng cho thấy rõ sự phân bố theo quy luật của đất, các yếu tố môi trường

  3. 9

    ảnh hưởng lên trên các loại đất khác nhau và đề xuất hướng sử dụng đất theo các
    mức độ từ loại đất tốt nhất đến loại đất xấu nhất.
    Theo Hoàng Văn Mùa (2007), bản đồ đất là một loại bản đồ chuyên đề. Bản
    đồ đất thể hiện sự phân bố theo không gian các loại đất có trong một vùng lãnh thổ
    hay một đơn vị hành chính (Xã, Huyện, Tỉnh, Vùng, Quốc gia, Châu lục, Thế giới).
    Bản đồ đất được xây dựng trên bản đồ địa hình thường gọi là bản đồ nền ở các tỷ lệ
    khác nhau từ kết quả điều tra, nghiên cứu phân loại đất. Bản đồ đất là tài liệu cơ bản
    quan trọng, là căn cứ xây dựng kế hoạch phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi
    trồng thủy sản. Đánh giá đất, phân hạng đất, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch thiết
    kế nông nghiệp, lâm nghiệp đều phải dựa vào cơ sở bản đồ đất.
    1.1.2. Mục đích xây dựng bản đồ đất
    Theo Hội khoa học đất Việt Nam (2000), việc điều tra khảo sát lập bản đồ
    đất là một công trình khoa học nhằm mục đích:
    – Xác định rõ tài nguyên về các mặt:
    + Loại hình khác nhau của đất.
    + Những đặc tính quan trọng của đất.
    – Thành lập các đơn vị đất đai (contour) đất hay ranh giới giữa các loại đất
    khác nhau.
    – Tiên đoán khả năng ứng dụng của đất thông qua các loại cây trồng khác
    nhau để tạo ra các sản phẩm dưới những hệ thống quản lý khác nhau để từ đó:
    + Đề xuất các biện pháp sử dụng đất hợp lý.
    + Khai hoang mở rộng diện tích.
    + Thâm canh tăng vụ.
    + Bảo vệ, bồi dưỡng và cải tạo đất.
    1.1.3. Ứng dụng của bản đồ đất
     Quản trị đất
    Theo Võ Quang Minh (2005), sự phân biệt các loại đất khác nhau trên bản
    đồ dựa vào các tính chất quan trọng để phân loại giúp ta có những dữ kiện cần thiết
    để phát triền nông nghiệp. Đồng thời các thí nghiệm phân bón cũng được thực hiện
    trên các loại đất khác nhau và từ kết quả thí nghiệm đó có thể khuyến cáo cho các
    loại đất giống nhau dựa trên cơ sở các yếu tố môi trường không thay đổi. Cũng vì lý
    do này, trước khi lựa chọn vị trí các trại thực nghiệm cần phải có bản đồ đất của

  4. 10

    vùng rộng lớn để chọn đặt một trung tâm thực nghiệm ở tại một vị trí có đất tương
    đối đại diện cho toàn vùng.
     Sử dụng đất và quy hoạch đất đai cho sản xuất nông nghiệp
    Theo Đỗ Nguyên Hải và Hoàng Văn Mùa (2007), bản đồ đất là cơ sở cần thiết
    không thể thiếu đối với việc đánh giá khả năng sử dụng đất cũng như các hoạt động
    quy hoạch, quản lý đất đai cho phát triển sản xuất nông nghiệp. Bản đồ đất là cơ sở
    xây dựng các hệ thống cây trồng thích hợp dựa trên nguyên lý “đất nào cây đó”,
    cũng như việc xây dựng các biện pháp canh tác để tăng năng suất và sản lượng cây
    trồng nhằm thu được hiệu quả cao trong sản xuất nông lâm nghiệp. Bên cạnh đó,
    người ta còn dựa vào bản đồ đất để bố trí khảo sát các thí nghiệm về sử dụng phân
    bón trên những loại đất khác nhau đã được xác định để từ đó có thể khuyến cáo cho
    người sử dụng về hiệu quả, liều lượng và mức bón thích hợp nhằm thu được hiệu
    quả kinh tế cao đồng thời duy trì bảo vệ được độ phì của đất.
     Mở rộng diện tích đất khai hoang, canh tác
    Theo Đỗ Nguyên Hải và Hoàng Văn Mùa (2007), trước khi tiến hành xây
    dựng các dự án khai hoang mở rộng diện tích đất canh tác trên những vùng đất mới
    thì việc tiến hành điều tra nghiên cứu về điều kiện đất đai và thổ nhưỡng của vùng
    dự án phát triển sản xuất là bước đi không thể thiếu. Để làm được vấn đề này bắt
    buộc phải tiến hành điều tra xây dựng bản đồ đất để xác định khả năng mở mang,
    khai thác đất về diện tích cho mục đích sử dụng. Do đó, phải điều tra tìm hiểu về
    các đặc tính như khí hậu, độ dốc, độ dày thì việc đi sâu tìm hiểu các tính chất lý,
    hóa học của đất có liên quan tới độ phì như thành phần cơ giới, độ xốp, khả năng
    giữ nước, độ chua, lượng mùn,v.v… ở những vùng đất xác định khai hoang để phục
    vụ mục tiêu phát triển để từ đó có cơ sở cho việc bố trí các cây trồng một cách hợp
    lý.
    Theo Võ Quang Minh (2005), những vùng còn bỏ hoang, với bản đồ đất ta
    có thể biết khu vực vùng đất nào tốt xấu để có thể mở rộng diện tích đất canh tác
    trước theo thứ tự ưu tiên và mục đích khai thác. Vì nếu không có bản đồ đất thì khó
    có thể để quyết định chọn khu vực khai thác cho các yêu cầu sử dụng đất đai khác
    nhau, nhất là các đề án có kinh phí giới hạn, cần sự ưu tiên.
     Thủy nông

  5. 11

    Để xây dựng các hệ thống thủy lợi cho sản xuất nông nghiệp, người ta thường
    tiến hành khảo sát về điều kiện, đặc tính đất đai, thổ nhưỡng cho việc xây dựng
    chúng, nhằm cân nhắc, xem xét tính khả thi của các việc xây dựng các hệ thống
    công trình. Những vấn đề liên quan đến các đặc tính và hiệu quả sử dụng ở những
    vùng hay diện tích đất định xây dựng đưa hệ thống tưới tiêu vào như: điều kiện địa
    hình, độ dốc, kết cấu và thành phần cơ giới đất, khả năng thất thoát nước,v.v… phải
    được xem xét trước khi xác định lựa chọn các giải pháp xây dựng hệ thống tưới nào
    cho phù hợp. Ví dụ: người ta có thể lựa chọn hệ thống tưới bằng mương thích hợp
    cho các loại đất có nguồn nước tưới phong phú và thành phần cơ giới đất từ thịt
    trung bình đến nặng. Tuy nhiên, ở những vùng có tài nguyên nước hạn chế đất chủ
    yếu là đất cát thì việc lựa chọn hệ thống tưới phun đôi khi là thích hợp hơn. Cũng
    tương tự như người ta muốn xây dựng hệ thống mương tưới tháo chua rửa mặn cho
    vùng ven biển người ta cũng phải cân nhắc đến độ mặn của đất, khả năng thấm, giữ
    nước của đất để xác định mức độ hòa tan và rửa mặn cho đất,v.v… Tất cả những
    thông tin trên chỉ có thể thu lượm được sau khi tham khảo các kết quả điều tra bản
    đồ đất (Đỗ Nguyên Hải và Hoàng Văn Mùa, 2007).
    Theo Võ Quang Minh (2005), trước khi muốn dẫn thủy vào một vùng, ít ra
    cũng cần biết xem trong vùng ấy có nơi nào đang dẫn thủy để trồng trọt, các hiện
    trạng này đều được mô tả trong thuyết minh của bản đồ đất. Ngoài ra, một vấn đề
    rất quan trọng là xây dựng một hệ thống thủy nông phải còn tùy thuộc vào các loại
    đất khác nhau như đất cát thì có hệ thống thủy nông khác với loại đất thịt cát khác
    với loại đất phèn…..
    Trong vùng đất khả năng cung cấp nước kém, thì căn cứ vào bản đồ đất có thể
    ưu tiên cung cấp nước cho các vùng có khả năng cho sản phẩm cao và hiệu quả kinh
    tế cao. Các loại đất phèn sét trương nở, có nhiều khe hở, hoặc đất có tầng phèn ở độ
    sâu cạn đều ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống thủy nông cho đồng ruộng.
     Phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp
    Bản đồ đất giúp cho việc xây dựng định hướng phát triển mở mang diện tích
    trồng rừng và quy hoạch rừng. Xác định khả năng sản xuất gỗ (m3) trên các đơn vị
    diện tích rừng, khoanh vùng cho các mục đích trồng rừng chống xói mòn, bảo vệ
    rừng đầu nguồn và bảo vệ cảnh quan môi trường (Võ Quang Minh 2005).
     Đánh giá, phân hạng khả năng sử dụng đất

  6. 12

    Theo Đỗ Nguyên Hải và Hoàng Văn Mùa (2007), những kết quả điều tra về
    đặc tính chất đất đai và những nghiên cứu sâu về hình thái và các tính chất lý, hóa
    học của đất được sử dụng làm cơ sở cho đánh giá tiềm năng và phân hạng khả năng
    sử dụng đất thích hợp. Thực tế đã chỉ ra cho thấy ở những vùng đất bằng phẳng ít
    dốc, đất có độ dày lớn và có độ phì, kết cấu của đất tốt có ít những hạn chế trong sử
    dụng là những loại đất có khả năng thâm canh cao ít bị thoái hóa và mất khả năng
    sử dụng. Trong khi đó, ngược lại ở những vùng đất có độ dốc lớn hay địa hình cao,
    tầng đất nông, có nhiều đá lẫn, khả năng giữ ẩm thấp,v.v… thì khả năng sử dụng
    chúng cũng sẽ có nhiều mặt hạn chế.
     Xây dựng
    Theo Võ Quang Minh (2005), trên bản đồ đất người kỹ sư xây dựng có thể
    biết được các tính chất lý học khác nhau đề có thể chọn khu vực cho xây dựng nhà
    cửa và đường sá, hoặc có thể cho thấy được một số vật liệu xây dựng, lót đường
    như khi làm đường cần nhiều đá laterite, do đó có thể biết khu vực nào có thể khai
    khác vật liệu này.
    Theo Đỗ Nguyên Hải và Hoàng Văn Mùa (2007), ngoài những mục đích
    chính phục vụ cho sản xuất nông nghiệp trong một số lĩnh vực khác như xây dựng,
    giao thông và công nghiệp,v.v… cũng có thể tham khảo bản đồ đất cho việc tìm
    hiểu nền móng xây dựng nhà cửa, đường xá, sân bay và quy hoạch cảnh quan,v.v…
    sau khi đã tham khảo bản đồ đất về loại đất kết hợp với những nghiên cứu sâu về
    một số đặc tính cơ lý của đất và những tính chất đất có liên quan.
     Nghiên cứu khoa học và giảng dạy
    Theo Võ Quang Minh (2005), những công việc nghiên cứu đất ngoài đồng
    giúp ta có thêm những kiến thức căn bản về sự phân loại đất, nguồn gốc phát sinh,
    các đặc tính lý hóa học của đất, đồng thời với các nhà sinh thái học có thể liên hệ để
    tìm hiểu các môi trường sinh thái thiên nhiên và những hệ sinh thái có sự tác động
    của con người. Ngoài ra, các giáo viên dạy Đại học, Phổ thông trung học có thể tìm
    thấy trong bản đồ và các bản thuyết minh về đất những chi tiết cần dùng trong việc
    giảng dạy về kinh tế, sinh kỹ thuật nông nghiệp….
    Theo Đỗ Nguyên Hải và Hoàng Văn Mùa (2007), trên cơ sở phân loại, xây
    dựng bản đồ đất việc tiến hành những nghiên sâu ngoài thực địa đối với các loại đất
    sẽ giúp cho việc bổ sung những kiến thức cơ bản về lĩnh vực hình thái, phân loại,

  7. 13

    tính chất, sử dụng, cải tạo đất cũng như việc đánh giá các tác động ảnh hưởng của
    việc sử dụng đất đến môi trường sinh thái, v.v…

    1.1.4 Phương pháp khảo sát xây dựng bản đồ đất
    Theo Hoàng Văn Mùa (2007), bản đồ đất xây dựng trên bản đồ địa hình (tỷ lệ
    của bản đồ địa hình cũng là tỷ lệ của bản đồ đất). Tỷ lệ càng lớn mức độ chính xác
    càng cao. Trên nền bản đồ địa hình, xác định mạng lưới phẫu diện cần nghiên cứu
    gồm có phẫu diện chính, phẫu diện phụ và phẫu diện thăm dò (định ranh giới). Kết
    quả nghiên cứu phẫu diện và phân loại đất là cơ sở để biên vẽ xây dựng bản đồ đất.
    Ranh giới của các loại đất là những đường cong khép kín (còn gọi là dùng contour),
    mỗi loại được ký hiệu bằng màu sắc và ký tự riêng. Các loại đất, địa hình, địa vật,
    v.v… được chú dẫn đầy đủ để giúp cho người đọc bản đồ nhanh chống, thuận tiện.
    Hiện nay sử dụng rộng rãi công nghệ GPS trong việc xây dựng bản đồ đất với các
    phần mềm riêng (như Mapinfo, Acview,…).
    Toàn bộ kết quả phân loại và xây dựng bản đồ đất còn được thể hiện ở thuyết
    minh đất kèm theo bản đồ. Sản phẩm đầy đủ của điều tra, nghiên cứu phân loại và
    xây dựng bản đồ đất là bản đồ đất và thuyết minh kèm theo.
    1.1.4.1 Phương pháp khảo sát theo mạng lưới ô vuông
    Theo Võ Quang Minh (2004), Trong phương pháp này tất cả các điểm khảo
    sát cách đều nhau và cùng nằm trên mạng lưới ô vuông, Thường phương pháp này
    áp dụng cho những bản đồ tỉ lệ lớn, hoặc trên các khu vực mà không ảnh không hữu
    dụng cho việc giải đoán. Tuy nhiên sự bất tiện của phương pháp này cũng cho thấy
    nhiều như: kéo dài thời gian khảo sát, tốn kém kinh phí, đồng thời vị trí quan sát đôi
    khi chưa đại diện do cự ly đi ngoài đồng có thể sai lệch và giữa các ranh giới của
    các đơn vị đất khác nhau. Đồng thời trong quá trình dã ngoại thường rất vất vả do
    sự cắt ngang của các kênh rạch, lùm bụi, đê, đường sá, nhà cửa, do đó vị trí chính
    xác ngoài đồng thì rất khó đạt được.
    1.1.4.2 Phương pháp khảo sát theo giải đoán không ảnh và ảnh vệ tinh
    Theo Võ Quang Minh (2004), Giải đoán không ảnh là xem ảnh của các vật
    trên không ảnh để biết các vật ấy là những vật gì và định mức quan trọng của vật
    đó. Yêu cầu chính trong việc giải đoán ảnh là sự đánh giá các đơn vị dạng đất. Với
    sự hữu dụng của kính xem nổi (stereoscope), khi nhìn lên ảnh máy bay ta có thể
    nhận biết được: địa hình (độ dốc), khả năng thoát nước (dòng chảy), sự xói mòn của
    đất, độ đậm lợt màu hay trắng đen, thực vật và đặc tính sử dụng đất, đồng thời cũng
    xác định thêm được về đặc tính của các dạng hình: sử dụng đất, đất hoang, đất và
    mặt nước hoang từ đó sắp xếp kế hoạch, chương trình cụ thể theo sự giải đoán mà
    chọn địa điểm và thực hiện các yêu cầu cần làm ở ngoài đồng.

  8. 14

    Không ảnh có thể được sử dụng để làm căn bản cho các cuộc điều tra khảo sát
    đất. Trong các ngành thảo mộc học, lâm học, người ta có thể sử dụng không ảnh
    một cách trực tiếp vì thực vật, cây rừng có thể quan sát ngay trên ảnh, còn về đất,
    nghĩa là những trắc diện thì nằm sâu dưới đất không thể thấy ngay được trên không
    ảnh. Xây dựng bản đồ đất không chỉ dựa vào sự giải đoán không ảnh mà còn phải
    kèm theo sự quan sát đất ngoài đồng và số phẫu diện quan sát càng nhiều khi những
    điều kiện thổ nhưỡng càng thay đổi.
    Dùng không ảnh giải đoán để xây dựng các bản đồ dã ngoại bằng cách là xây
    dựng các ranh giới khác nhau dựa theo các đặc tính ảnh từ đó có thể chọn các vị trí
    khoan thích hợp đại diện cho các đặc tính khác nhau từ đó có thể tìm sự tương quan
    giữa giải đoán không ảnh và đất ngoài đồng. Dựa vào không ảnh có thể vạch được
    kế hoạch và chương trình khảo sát ngoài đồng bằng cách dựa vào các yếu tố thay
    đổi địa hình, ước đoán được số phẫu diện cần quan sát, các hướng đi khi xác định
    điểm ngoài đồng và xây dựng các lát cắt cụ thể theo sự thay đổi của quy luật phân
    bố đất, chọn lọc các khu vực cần lấy mẫu.
    Theo Võ Quang Minh (2005), trên cơ sở giải đoán ảnh đa phổ và ảnh trắng
    đen của vệ tinh Spot để bổ sung chỉnh lý bản đồ phân bố đất vùng ĐBSCL tỉ lệ
    1/250.000, cho thấy việc sử dụng ảnh viễn thám là phương pháp có nhiều ưu thế hổ
    trợ rất nhiều trong quá trình điều tra lập bản đồ đất so với phương pháp truyền
    thống, như hổ trợ trong việc xác định các ranh giới đất được chính xác, hạn chế
    được các điểm khảo sát ngoài thực địa so với phương pháp truyền thống.
    Theo Nguyễn Ngọc Thạch et al (1997), Viễn thám là phương pháp có nhiều
    ưu thế. Nhiều Nước Công nghiệp phát triển cũng như các nước trong quá trình điều
    tra đất so với phương pháp truyền thống đang phát triển đã sử dụng rộng rãi phương
    pháp này để thành lập bản đồ đất.
    Theo Võ Quang Minh (2004), sử dụng việc giải đoán không ảnh để đi dã
    ngoại làm bản đồ đất sẽ tiết kiệm được rất nhiều thời gian đi ngoài đồng, các vị trí
    khoan được chọn lựa cẩn thận và chính xác, các ranh giới về sự thay đổi của đất
    được khoanh theo dạng tự nhiên và rất rõ ràng.
    Tuy nhiên, việc giải đoán không ảnh để xây dựng bản đồ đất đòi hỏi người
    giải đoán phải có nhiều kiến thức và kinh nghiệm giải đoán, đồng thời người đi dã
    ngoại phải cần có nhiều kinh nghiệm khảo sát, biết nhận định khoanh và xác định
    ranh giới ngay ngoài đồng và ghi nhận những dữ kiện quan trọng liên quan cũng
    như những yếu tố của môi trường xung quanh.
    1.2. PHÂN LOẠI ĐẤT
    1.2.1. Định nghĩa

  9. 15

    Theo Kaurichev và Panov (1989), phân loại đất là sự sắp xếp đất có hệ thống
    vào từng nhóm theo những đặc tính quan trọng nhất, nguồn gốc và đặc điểm độ phì.
    Công việc để thiết lập hệ thống phân loại đất gồm:
    – Thiết lập, xây dựng các nguyên tắc phân loại.
    – Soạn thảo các đơn vị trong bản hệ thống phân loại.
    – Thiết lập sơ đồ phân loại.
    – Thiết lập hệ thống tên gọi, ký hiệu và dấu hiệu chẩn đoán đất.
    Theo Tôn Thất Chiểu và Lê Thái Bạt (2000), nghiên cứu phân loại đất là
    nghiên cứu đánh giá từng loại hình riêng lẻ, xác lập mối quan hệ giữa cá thể với
    quần thể trong một phạm vi chung với những kiến thức tổng quát nhất về đất hay
    phân loại đất là phân loại lớp thổ nhưỡng khác với phân hạng định giá đất đai.
    Theo David G. Rossister (2001), mục đích chính của bất kỳ hệ thống phân
    loại nào là tổ chức lại kiến thức về các đặc tính của các chủ thể mà có thể nhớ được
    và mối quan hệ của chúng có thể dể hiểu nhất cho các mục đích chuyên biệt. Quá
    trình bao hàm sự tạo thành các lớp qua việc tập hợp các chủ đề trên các đặc tính cơ
    bản thông thường của chúng. Trong bất kỳ hệ thống phân loại nào, các nhóm được
    tập hợp dựa trên các trạng thái có số lượng lớn nhất, chính xác nhất và quan trọng
    nhất, mà nó có thể được thực hiện cho các mục tiêu phục vụ cho mục đích tốt nhất.
    Theo Võ Tòng Anh và Lê Quang Trí (2003), phân loại đất là để sắp xếp lại
    các kiến thức, sự hiểu biết về đất, mối quan hệ giữa các cá thể trong quần thể được
    phân loại để nhớ các đặc tính của chúng, tìm mối quan hệ mới và cuối cùng là sắp
    chúng theo mục đích sử dụng.
    Tóm lại, phân loại đất là đặt tên cho các loại đất trong tự nhiên và sắp xếp
    chúng theo thứ tự theo hệ thống phân vị.
    1.2.2. Nguyên tắc xây dựng hệ thống phân loại đất
    Theo Glazovckaia và Genadive (1995), phân loại đất phải dựa trên những
    đặc điểm và các chế độ cơ bản của đất, phải kể đến những tiến trình, điều kiện hình
    thành đất. Trên nghĩa rộng hơn phân loại đất phải dựa trên đặc điểm sinh thái, hình
    thái tiến hoá của đất.
    Phân loại đất phải được tiến hành rất khắt khe theo hệ thống đơn vị phân loại
    đã được xây dựng một cách khoa học.

  10. 16

    Trong phân loại phải tính đến những đặc điểm, tính chất mà đất có được
    trong quá trình canh tác và hoạt động của con người.
    Phân loại đất phải cho thấy được khả năng sản xuất của đất và giúp sử dụng
    đất đai có hiệu quả trong sản xuất nông – lâm nghiệp.
    1.2.3. Mục đích phân loại
    Theo Kaurichev và Panov (1989), mục đích phân loại bản đồ đất là:
    – Sắp xếp các kiến thức đã học, hiểu biết về đất có hệ thống.
    – Hiểu mối quan hệ giữa các đơn vị đất có hệ thống theo biểu loại đất.
    – Sắp xếp các đặc tính đất có hệ thống theo từng biểu loại đất.
    – Ước đoán khả năng sản xuất của đất và xếp nhóm chúng theo mục đích sử
    dụng đất.
    – Phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học từ nơi này đến nơi khác.
    – Đất theo quan điểm phân loại là một đối tượng phức tạp:
    + Thứ nhất là do sự khác biệt về đặc tính của đất không có đường phân chia
    rõ rệt trong tự nhiên.
    + Thứ hai là rất nhiều tính chất của đất thay đổi theo thời gian. Những tính
    chất quan trọng của đất như pH của dung dịch đất, lượng và thành phần của các
    muối hoà tan, nhiệt độ, độ ẩm… Thay đổi theo năm, mùa và thậm chí thay đổi trong
    ngày.
    Theo Đỗ Nguyên Hải và Phạm Văn Mùa (2007), phân loại đất là tài liệu cơ
    bản quan trọng phục vụ đánh giá, phân hạng đất, phân bố sử dụng đất, quy hoạch
    thiết kế nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản đều phải dựa vào phân loại
    đất. Tính chất các loại đất là căn cứ bố trí cơ cấu cây trồng, chuyển đổi cây trồng,
    đầu tư phân bón, xây dựng biện pháp bảo vệ hay cải tạo đất. Phân loại đất có nhiều
    mục đích khác nhau:
    – Xác định nguồn tài nguyên đất đai của một đơn vị hành chính.
    – Căn cứ để xây dựng bản đồ đất.
    – Phân loại đất là cơ sở để tiến hành những nghiên cứu tiếp theo về đất.
    1.2.4. Tên gọi và chẩn đoán đất
    Theo Kaurichev và Panov (1989), tên gọi đất trong hệ thống phân loại phải
    tương ứng với tính chất và vị trí của nó trong trong hệ thống phân loại.

  11. 17

    Tên gọi của đất bắt nguồn từ những đặc điểm của tầng trên mặt, màu sắc của
    nó đồng thời kể đến điều kiện sinh thái của vùng đất đó. Chẳng hạn như: đất xám
    bạc màu trên phù sa cổ, đất mặn, đất cát biển, đất vàng đỏ trên đá macma axit, đất
    đen, đất xám rừng. Trong một số trường hợp màu sắc của các loại đất giống nhau
    thì khi đặt tên gọi cho đất phải dựa thêm vào điều kiện sinh thái hình thành nên loại
    đất đó như: đất nâu rừng, đất nâu bán sa mạc. Hoặc điều kiện sinh thái là tên chính
    của đất đầm lầy, đất mặn ven biển.
    Tên gọi theo loại phụ gắn liền với tính tiêu biểu, tính chuyển tiếp của loại đất
    đó. Để biểu hiện nó người ta thêm vào tên của các tiến trình phụ trong hình thành
    đất hoặc những đặc tính tạo nên tiến trình đó. Chẳng hạn như: đất phèn nhiều, đất
    phèn trung bình, đất phèn ít, đất phèn tiềm tàng, đất phèn hoạt động v.v…đôi khi
    tên gọi loại phụ gắn liền với chế độ nước của đất hoặc chế độ nhiệt của đất.
    Tên của giống gọi theo đặc điểm của tính chất chất đặc trưng của đất như:
    mặn kiềm, thủy úng hoặc các dấu hiệu còn lại của giai đoạn trước quá trình hình
    thành đất, dấu hiệu của glây hoặc podzon.
    Tên của loại thể hiện về lượng các tính chất của đất được cường độ các tiến
    trình hình thành đất được sử dụng ở 3 mức độ như: ít, trung bình, nhiều đối với số
    lượng (mùn, carbonate v.v…) độ dày ít, độ dày trung bình, độ dày rất dày với tầng
    nào đó, độ sâu xuất hiện của một tính chất, dấu hiệu nào đó, mức độ thể hiện của
    một hiện tượng.
    – Tên thứ của đất gắn liền với thành phần cơ giới như: cát, cát pha thịt, thịt,
    sét v.v…
    – Tên của chi chỉ nguồn gốc của mẫu chất, đặc điểm của đá mẹ: trên phù sa
    cổ, trên đá macma axít.
    – Tên gọi hoàn chỉnh của đất phải bao gồm tên của tất cả các cấp bậc trong
    hệ thống phân loại.
    Theo Kaurichev và Panov (1989), chẩn đoán đất là tập hợp tất cả các đặc
    điểm của đất có thể có và có thể sắp xếp đất vào một loại đất nào đó rồi đặt tên đất
    hoàn chỉnh.
    Để chẩn đoán đất, ta sử dụng tất cả các xác định được trong quá trình khảo
    sát đất, nghiên cứu về hình thái phẫu diện đất (cấu tạo, độ sâu của các tầng, sự xuất
    hiện của những tầng đặc trưng và sắp xếp các tầng) và những phân tích đơn giản.

  12. 18

    Nhưng đôi khi những phân tích đó không đủ mà cần đến những phân tích phức tạp
    như: thành phần cation trao đổi, thành phần mùn, thành phần hoá học đất, thành
    phần cơ giới, chế độ nước, chế độ nhiệt.
    1.3. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI WRB-FAO 2006
    1.3.1. Mục tiêu của WRB 2006
    Theo FAO (2006), mục tiêu của phân loại:
    – Để phát triển một hệ thống có thể chấp nhận được trên toàn cầu để diễn đạt
    các tài nguyên đất mà các hệ thống phân loại ở cấp quốc gia có thể được kết hợp
    vào cũng như có quan hệ lẫn nhau, trong đó chú giải của FAO được sử dụng như
    một khung căn bản.
    – Để cung cấp cho khung phân loại này một nền tảng khoa học mà có liên
    quan như: nông nghiệp, địa chất, thuỷ văn và sinh thái…
    – Để nhận biết các quan hệ quan trọng trong phạm vi khung của hệ thống về
    mặt không gian của đất và các tầng đất mà nó được đặc tính hoá bằng những sự liên
    tục của địa hình và các tầng đất.
    – Để nhấn mạnh sự đặc tính hình thái của đất hơn là sự tiếp cận của các chỉ
    tiêu phân tích trong phòng thí nghiệm.
    – WRB cũng là một công cụ cho sự nhận biết các cấu trúc thổ nhưỡng và các
    ý nghĩa của chúng. Nó phục vụ như là một ngôn ngữ căn bản trong khoa học đất để
    tạo điều kiện cho:
    + Sự thông tin trong khoa học.
    + Sự thực hiện đầy đủ các cuộc kiểm tra tài nguyên đất và chuyển đổi các số
    liệu thổ nhưỡng, làm hoàn chỉnh các hệ thống phân loại khác nhau mà nó có cùng
    một nền tảng thông thường, cũng như sự diễn đạt các bản đồ.
    + Sự chấp thuận các mối quan hệ giữa các loại đất, sự phân bố các các tầng
    đất mà nó được đặc tính hoá bởi sự liên tục của địa hình và các tầng đất.
    – Việc sử dụng các số liệu thổ nhưỡng chung trên phạm vi quốc tế, không chỉ
    bởi các nhà khoa học về đất mà còn những người sử dụng đất khác như: các nhà địa
    chất học, thực vật học, nông học, thuỷ văn học, nông dân, các kỹ sư và kiến trúc sư
    với mục tiêu chuyên biệt trên cơ sở:
    + Sử dụng số liệu đất để phục vụ cho các lợi ích của các khoa học khác.

  13. 19

    + Đánh giá tài nguyên đất và tiềm năng sử dụng các loại che phủ đất khác
    nhau.
    + Kiểm chứng các loại đất, chủ yếu cho sự phát triển của loại đất chuyên biệt
    nào đó tùy vào cách mà các đất được sử dụng bởi cộng đồng con người.
    + Chấp nhận các phương pháp thí nghiệm về sử dụng đất phục vụ cho sự
    phát triển bền vững, mà nó được tồn tại và nếu thích hợp thì nó có thể cải thiện tiềm
    năng của đất.
    + Chuyển đổi các kỹ thuật sử dụng đất từ vùng này sang vùng khác.
    1.3.2. Nguyên tắc phân loại
    Theo FAO (2006), Phân loại đất bao gồm 3 bước:
    Bước 1: Sơ lược về độ dày và chiều sâu của từng tầng trong mẫu đất cần
    phân loại sau đó kiểm tra lại với yêu cầu của tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán,
    vật liệu chẩn đoán trong WRB. Mà những tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán, vật
    liệu chẩn đoán này được định nghĩa thông qua hình thái và hoặc tiêu chí phân tích.
    Tầng nào mà có đầy đủ một hoặc nhiều hơn các đặc tính như trên mà nó giống với
    quy định của các đặc tính trong WRB thì được lưu ý tới.

    Bước 2: Kết hợp những mô tả về các tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán, vật
    liệu chẩn đoán để so sánh với chìa khóa phân loại của WRB để tìm ra nhóm đất
    chính, đây là cấp phân loại thứ nhất của WRB. Người phân loại sẽ thông qua hệ
    thống chìa khoá này để loại trừ những nhóm đất trong tất cả các nhóm đất của WRB
    mà các đặc tính trên không phù hợp với yêu cầu của những nhóm đất đó. Mẫu đất
    cần phân loại này sẽ thuộc về nhóm đất mà các đặc tính ở trên đáp ứng được yêu
    cầu quy định của nhóm đất đó.

    Bước 3: Đối với cấp phân loại thứ hai của WRB, các hạng định được sử
    dụng. Các hạng định này được liệt kê trong chìa khóa của mỗi nhóm đất tham khảo
    như những hạng định tiền tố và hậu tố. Những hạng định tiền tố bao gồm những đặc
    tính có liên quan một cách điển hình với nhóm đất tham khảo và tổng hợp vào các
    nhóm đất tham khảo khác.

    Tất cả những hạng định còn lại được liệt kê như những hạng định hậu tố. Đối
    với cấp phân loại thứ hai, tất cả những hạng định được ứng dụng thì được thêm vào
    tên của nhóm đất tham khảo. Những hạng định thừa (là những đặc tính mà đã được

  14. 20

    bao gồm những hạng định đã được đặt trước đây) thì không được thêm vào. Tiếp
    đầu ngữ có thể được sử dụng để chỉ ra mức độ biểu hiện của các hạng định. Những
    lớp chôn vùi có thể được chỉ ra bởi tiếp đầu ngữ Thapto cái mà được sử dụng đối
    với bất kỳ hạng định nào.

    Những đất bị chôn vùi dưới vật liệu mới, thì áp dụng nguyên tắc sau:

    Những vật liệu mới phủ bên trên và đất chôn vùi được phân loại như là một
    loại đất nếu cả hai có những hạng định chung với nhau như: Histosol, Technosol,
    Cryosol, Leptosol, Vertisol, Fluvisol, Gleysol, Andosol, Planosol, Stagnosol or
    Arenosol.

    – Mặt khác, vật liệu mới này được phân loại ở cấp đầu tiên nếu những vật
    liệu này ở trong vòng 50 cm hoặc dày hơn hoặc nếu vật liệu này đứng độc lập, phù
    hợp với yêu cầu của một nhóm đất tham khảo khác hơn là một Regosol.

    – Trong tất cả các trường hợp khác, đất chôn vùi được phân loại ở cấp đầu
    tiên. Nếu đất phủ bên trên được phân loại ở cấp đầu tiên, đất chôn vùi bên dưới
    được nhận dạng với tiếp đầu ngữ Thapto và –ic được thêm vào tên của nhóm đất
    tham khảo của nhóm đất chôn vùi. Toàn bộ được đặt trong dấu ngoặc đơn sau tên
    của đất phủ bên trên. Ví dụ Technic Umbrisol (Greyic) (Thapto-Podzolic). Nếu đất
    chôn vùi được phân loại ở cấp đầu tiên, vật liệu bao phủ bên trên được chỉ ra với
    hạng định Novic.

    Cẩm nang Hướng dẫn mô tả đất (FAO, 2006) được đề nghị sử dụng để mô tả
    đất và những đặc trưng của nó. Nó hữu dụng để liệt kê sự hiện diện và độ sâu của
    tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán, vật liệu chẩn đoán cũng được nhận dạng. Sự
    phân loại ngoài đồng cung cấp đánh giá sơ bộ bằng cách sử dụng tất cả sự quan sát
    hoặc các đặc tính và đặc trưng của đất được đo lường dễ dàng và kết hợp với địa
    hình.

    Sự phân loại cuối cùng được làm khi dữ liệu phân tích đã sẵn sàng. Theo
    Van Reeuwijk (2006), đề nghị sử dụng phương pháp phân tích đất để xác định các
    đặc tính lý hóa học đất.

    Ví dụ: phân loại đất theo WRB

  15. 21

    Một loại đất có tầng chẩn đoán Ferralic, sa cấu ở trên tầng Ferralic thay đổi
    từ cát pha thịt đến cát pha sét trong vòng 15cm. pH ở giữa 5.5 và 6, độ bão hòa base
    ở mức độ cao. Tầng B có màu đỏ đậm, ở dưới 50cm xuất hiện các vết. Sự phân loại
    ở ngoài đồng của loại đất này là Lixic Ferralsol (Ferric, Rhodic). Nếu phân tích tiếp
    trong phòng thí nghiệm mà sự thay đổi cation (CEC) của tầng Ferrlic nhỏ hơn 4
    cmol/kg sét, thì loại đất này cuối cùng phân loại như là Lixic Vetic Ferralsol (Ferric,
    Rhodic).

    Tầng chẩn đoán, đặc tính chẩn đoán, vật liệu chẩn đoán

    Bảng 1.1: Các tầng, đặc tính, vật liệu chẩn đoán đất theo WRB ( FAO, 2006)

    Tầng chẩn đoán Đặc tính chẩn đoán Vật liệu chẩn đoán
    Albic Natric Abrupt textural change Artefacts**
    Anthraquic Nitic Albeluvic tonguing Calcaric
    Anthric** Petrocalcic Andic** Colluvic**
    Argic Petroduric Aridic Fluvic
    Calcic Petrogypsic Continuous rock** Gypsiric
    Cambic Petroplinthic Ferralic Limnic**
    Cryic Pisoplinthic** Geric Mineral**
    Duric Plaggic Gleyic colour pattern Organic
    Ferralic Plinthic Lithological Ornithogenic**
    discontinuity**
    Ferric Salic Reducing conditions** Sulphidic
    Folic Sombric** Secondary carbonates Technic hard rock**
    Fragic Spodic Stagnic colour pattern Tephric
    Fulvic Takyric Vertic**
    Gypsic Terric Vitric**
    Histic Thionic **
    Hortic Umbric
    Hydragric Vertic
    Irragric Voronic**
    Melanic Yermic

  16. 22

    Mollic
    ** Tầng, đặc tính, vật liệu chẩn đoán mới (Nguồn: FAO, 2006)

    Theo WRB (FAO, 2006a), thì các tầng chẩn đoán: Andic, Chernic, Ochric,
    Sulfuric, Vitric; Đặc tính chẩn đoán: Alic, Continuous hard rock, Permafrost,
    Strongly humic; Vật liệu chẩn đoán: Anthropogeomorphic đã được lược bỏ. Các
    tầng, đặc tính, vật liệu chẩn đoán mới thêm vào so với hệ thống WRB (FAO, 1998),
    đó là: tầng chẩn đoán: Anthric, Pisoplinthic, Sombric, Thionic, Voronic; đặc tính
    chẩn đoán: Andic, Continuous rock, Lithological discontinuity, Reducing
    conditions, Vertic, Vitric; vật liệu chẩn đoán: Artefacts, Colluvic, Limnic, Mineral,
    Ornithogenic, Technic hard rock.

    Những nhóm đất tham khảo trong WRB (FAO, 2006)

    Bảng 1.2: Những nhóm đất tham khảo của WRB ( FAO, 2006)

    Ký Ký Ký Nhóm Ký
    Nhóm đất Nhóm đất Nhóm đất
    hiệu hiệu hiệu đất hiệu

    Acrisols AC Chernozems CH Kastanozems KS Podzols PZ

    Albeluvisols AB Cryosols CR Leptosols LP Regosols R

    Soloncha
    Alisols AL Durisols DU Lixisols LX SC
    ks

    Andosols AN Ferralsols FR Luvisols LV Solonetz SN

    Stagnosol
    Anthrosols AT Fluvisols FL Nitisols NT ST
    s***

    Technosol
    Arenosols AR Gleysols GL Phaeozems PH TC
    s***

    Calcisols CL Gypsisols GY Planosols PL Umbrisols UM

    Cambisols CM Histosols HS Plinthosols PT Vertisols VR

  17. 23

    *** Những nhóm đất mới giới thiệu (Nguồn: FAO, 2006)

    Theo WRB (FAO, 2006a) thì có 2 nhóm đất mới được thêm vào so với hệ
    thống WRB (FAO, 1998) đó là: nhóm Stagnosols, Technosols.

    1.3.3. Các nguyên lý cơ bản của WRB
    – Sự phân loại các đất dựa trên các đặc tính đất được định nghĩa dưới hình
    thức các tầng chẩn đoán và các đặc tính chẩn đoán, vật liệu chẩn đoán, với tính phù
    hợp ở phạm vi rộng lớn mà nó có thể đo lường và quan sát được ngoài thực địa.
    – Việc chọn lựa các tầng chẩn đoán và các đặc tính chẩn đoán lưu ý đến mối
    quan hệ với các quá trình hình thành đất.
    – Để mở rộng sự phù hợp ở cấp độ cao hơn của việc khái quát hóa mà nó lưu
    ý đến để chọn lựa các đặc điểm nổi bật của việc chẩn đoán mà nó có ý nghĩa cho
    các mục đích quản lý.
    – Các thông số khí hậu thì không được áp dụng trong phân loại đất.
    – WRB có ý nghĩa là một hệ thống phân loại dễ hiểu mà nó làm cho mọi
    người có thể thích ứng được với hệ thống phân loại của chính quốc gia của họ. Nó
    bao gồm hai thứ bậc của sự chi tiết các loại hạng sau:
    + Khái niệm “Nền tảng tham khảo (Reference Base) chỉ được giới hạn ở cấp
    thứ nhất, mà nó có 32 nhóm đất tham khảo.
    + Khái niệm “Hệ thống phân loại WRB” bao gồm sự kết hợp của một bộ các
    tiếp đầu ngữ như các hạng định (hoặc các bổ nghĩa) đồng nhất được thêm vào cho
    các nhóm đất tham khảo, cho phép sự đặc tính hóa và phân loại rất chính xác của
    các phẫu diện đất chuyên biệt.
    – Các đơn vị đất tham khảo trong WRB – FAO nên có tính đại diện cho các
    vùng đất chính mà nó cung cấp một khái quát mang tính dễ hiểu cho sự che phủ của
    đất thế giới.
    – Nền tảng tham khảo không có nghĩa là nó thay thế cho các hệ thống phân
    loại đất của quốc gia nhưng nó phục vụ như một mẫu thức cho sự liên lạc ở cấp
    quốc tế.
    – Chú giải bản đồ đất thế giới của FAO – UNESCO đã được sử dụng như là
    nền tảng cho sự phát triển của WRB – FAO để tạo sự thuận lợi cho công việc có
    tương quan đến đất ở phạm vi quốc tế mà nó đã được thực hiện qua dự án này.

  18. 24

    – Theo phiên bản đầu tiên của WRB được xuất bản lần đầu tiên vào năm
    1998 gồm có 30 nhóm đất, phiên bản thứ hai của WRB được xuất bản vào năm
    2006 gồm 32 nhóm đất.
    – Các định nghĩa và mô tả các đơn vị đất phản ánh sự biến động các đặc tính
    đất ở cả hai chiều thẳng đứng và kề bên mà nó lưu ý đến sự liên hệ về mặt không
    gian trong cùng một phạm vi địa mạo.
    – Thuật ngữ “Nền tảng tham khảo (Reference Base)” có nghĩa của hàm mẫu
    thức thông thường mà WRB sẽ thừa nhận.
    – Thêm vào đó để phục vụ như là cầu nối giữa các hệ thống phân loại hiện
    tại.
    – Danh pháp được sử dụng để phân biệt các nhóm đất sẽ giữ được các thuật
    ngữ mà nó sử dụng phổ biến trước đây hoặc nó có thể dễ dàng đưa vào ngôn ngữ
    hiện tại.
    Mặc dù khung cơ bản của chú giải FAO với hai cấp loại hạng và các hướng
    dẫn cho việc phát triển các cấp ở mức độ thứ ba đã được biết, nó đã quyết định để
    hòa nhập các mức độ thấp hơn. Mỗi nhóm đất tham khảo của WRB – FAO cung cấp
    với một danh sách các hạn định phù hợp với trình tự ưu tiên, từ việc người sử dụng
    có thể xây dựng một số đơn vị ở cấp độ thấp hơn. Các nguyên tắc rộng mà nó chi
    phối sự phân biệt các cấp của WRB
    – Ở loại hạng cao hơn, các cấp được phân biệt chủ yếu tùy thuộc vào quá
    trình nguồn gốc thổ nhưỡng chính yếu mà nó đã hình thành nên các đặc tính nổi bật
    của đất, ngoại trừ ở những nơi có vật liệu đất gốc “Đặc biệt” là quan trọng hơn bất
    cứ nhận định nào khác.
    – Ở loại hạng thấp hơn, các cấp được phân biệt tùy vào bất kỳ quá trình hình
    thành đất thứ cấp chiếm ưu thế mà nó có đã ảnh hưởng có ý nghĩa đến các điểm nổi
    bật chính yếu của đất. Trong vài trường hợp chuyên biệt, các đặc tính đất mà nó ảnh
    hưởng có ý nghĩa cho việc sử dụng thì nó có thể được lưu ý đến.
    Qua đó cho thấy rằng một số nhóm đất tham khảo có thể xuất hiện dưới các
    điều kiện khí hậu khác nhau. Tuy nhiên, như đã quyết định là không đưa vào sự
    phân chia các đặc tính khí hậu mà sự phân loại đất không bị phụ thuộc vào tính hữu
    dụng của các dữ liệu khí hậu.

  19. 25

    1.4. HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA LÝ- GIS
    1.4.1. Định nghĩa GIS
    Theo Võ Quang Minh (1999), GIS là một kỹ thuật quản lý các thông tin dựa
    vào máy vi tính được sử dụng bởi con người vào mục đích lưu trữ, quản lý và xử lý
    các số liệu thuộc về địa lý hoặc không gian nhằm phục vụ cho các mục đích khác.
    Mặt khác, có thể hiểu “GIS là một tập thể có tổ chức của phần cứng máy
    tính, phần mềm, dữ liệu địa lý và các thủ tục của người sử dụng nhằm trợ giúp việc
    thu nhập, lưu trữ, quản lý, xử lý, phân tích và hiển thị các thông tin không gian từ
    thế giới thực để giải quyết các vấn đề tổng hợp thông tin cho các mục đích của con
    người đặt ra” (Nguyễn Thế Thận và Trần Công Yên, 2000).
    1.4.2. Sơ lược về tình hình phát triển và ứng dụng của công nghệ GIS trên
    thế giới và Việt nam
    Theo Đào Ngọc Cảnh (2003), trên thế giới công nghệ GIS ra đời vào năm
    1960 ở Canada và sau đó ở Mỹ. Từ những năm 80, công nghệ GIS đã phát triển hết
    sức nhanh chóng và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống. Hiện nay,
    GIS đã được ứng dụng mạnh mẽ hầu hết các nước trên thế giới như: Mỹ, Canada,
    Anh, pháp, Đức, Ôxtrâylia, Trung Quốc, Thái Lan, Bangladesh, Lào, Campuchia,
    Zimbawe,…
    Ở Việt Nam, sự phát triển của công nghệ GIS có thể chia thành những giai
    đoạn chính như sau:
    – Giai đoạn (1990-1992): công nghệ hình thành với quy mô nhỏ, mang
    tính chất thử nghiệm. Nhìn chung, các sản phẩm GIS giai đoạn này điều do người
    Việt nam tự thiết kế xây dựng và phát triển ứng dụng. Các sản phẩm thường mang
    tính chất phân tán, độc lập với nhau trên mọi phương diện nên mỗi sản phẩm chỉ
    phục vụ riêng cho một đơn vị, một ngành, một lĩnh vực cụ thể, việc chuẩn hoá các
    số liệu chưa được đặt ra.
    – Giai đoạn nghiên cứu, tìm tòi và tự hoàn thiện (1993 – 1995): một số phần
    mềm GIS Việt Nam hình thành trong giai đoạn trước tiếp tục phát triển và hoàn
    thiện: WINGIS, GEOMAP, KAMAP,… đồng thời xuất hiện khuynh hướng sử dụng
    các phần mềm GIS chuẩn của thế giới: ARE/INFO, INTERGRAPH, MAPINFO,…
    – Giai đoạn phát triển và bùng nổ (1996 đến nay): Cùng với những yêu cầu
    cao về công tác quản lý trong mọi lĩnh vực của đời sống, sự giảm giá nhanh chóng

  20. 26

    của phần mềm và thiết bị tin học làm cho thị trường GIS phát triển và bùng nổ
    mạnh mẽ. Bên các dự án quốc gia và dự án cho các tổ chức quốc tế tài trợ (UDNP,
    WB, IMF, ADB,…) cũng đã kích thích mạnh mẽ việc sử dụng công cụ hiện đại, tiên
    tiến của thế giới (ARE/INFO, INTERGRAPH, MAPINFO,..) vào việc xây và triển
    khai các ứng dụng GIS tại Việt Nam.
    Gần đây GIS cũng đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như:
    – Quản lý tài nguyên môi trường tỉnh Khánh Hoà.
    – Đánh giá tiềm năng đất cho sản xuất nông nghiệp tỉnh Đồng Nai.
    – Quy hoạch tổng thể vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long (DAVIE89/034)
    – Quản lý địa chính ở các tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Kiên Giang và
    Thành Phố Hồ Chí Minh.
    – Đánh giá hiện trạng đất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long.
    – Xây dựng bản đồ ngập lũ ở Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long.
    – Xây dựng ngân hàng dữ liệu Đông Bắc.
    – Xây dựng các điểm du lịch ở Hà Nội và phụ cận.
    – Điều tra quy hoạch và quản lý rừng.
    – Quy hoạch và quản lý đô thị.
    1.4.3. Các thành phần chính của công nghệ GIS
    Theo võ Quang Minh (1999), công nghệ GIS bao gồm 5 phần cơ bản:
    thiết bị (hardware), phần mềm (software), số liệu (georgaphic data), chuyên viên
    (expertise) chính sách và cách thức quản lý (policy and managemet).

    Phần Mềm
    thiết bị Số liệu

    GIS

    Chuyên Chính sách và
    Viên quản lý

    Hình 1.1: Sơ đồ các hợp phần thiết yếu của công nghệ GIS

Download tài liệu XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT File Docx, PDF về máy