[Download] Vấn đề ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tình trạng khẩn cấp: Tham chiếu từ dịch bệnh Covid-19 – Tải về File Docx, PDF

Vấn đề ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tình trạng khẩn cấp: Tham chiếu từ dịch bệnh Covid-19

Vấn đề ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tình trạng khẩn cấp: Tham chiếu từ dịch bệnh Covid-19
Nội dung Text: Vấn đề ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tình trạng khẩn cấp: Tham chiếu từ dịch bệnh Covid-19

Download


Tình trạng khẩn cấp là trạng thái xã hội đang lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân tác động, đe dọa sự sống còn của quốc gia. Bài viết phân tích hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tình trạng khẩn cấp và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Bạn đang xem: [Download] Vấn đề ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tình trạng khẩn cấp: Tham chiếu từ dịch bệnh Covid-19 – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Vấn đề ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tình trạng khẩn cấp: Tham chiếu từ dịch bệnh Covid-19 File Docx, PDF về máy

Vấn đề ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tình trạng khẩn cấp: Tham chiếu từ dịch bệnh Covid-19

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Vấn đề ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tình trạng khẩn cấp: Tham chiếu từ dịch bệnh Covid-19

  1. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    VẤN ĐỀ BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
    CỦA CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG TÌNH TRẠNG
    KHẨN CẤP: THAM CHIẾU TỪ DỊCH BỆNH COVID-19

    PROMULGATION OF LEGAL NORMATIVE DOCUMENTS OF STATE
    AGENCIES IN A STATE OF EMERGENCY: REFERENCE FROM
    COVID’S EPIDEMIC-19

    TS. Cao Vũ Minh1

    Tóm tắt – Tình trạng khẩn cấp là trạng thái xã hội đang lâm vào khủng
    hoảng nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân tác động, đe dọa sự sống còn của quốc
    gia. Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong tình trạng khẩn cấp có ý
    nghĩa to lớn nhằm kích hoạt mọi biện pháp cần thiết để ứng phó với tình trạng
    cực kì khó khăn, nguy hiểm mà đất nước đang gánh chịu. Bài viết phân tích hoạt
    động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tình
    trạng khẩn cấp và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
    Từ khóa: dịch bệnh Covid-19, tình trạng khẩn cấp, văn bản quy phạm
    pháp luật.
    1. THẨM QUYỀN BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT
    TRONG TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
    Xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật là hình thức chủ yếu
    nhất trong các hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước. Nói cách khác, văn bản
    quy phạm pháp luật là phương tiện không thể thiếu để thực hiện chức năng, nhiệm
    vụ của các cơ quan nhà nước. Theo Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
    luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), thẩm quyền ban hành văn bản quy
    phạm pháp luật ở nước ta như sau:
    Văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành: Hiến pháp, Bộ luật,
    Luật (gọi chung là Luật), Nghị quyết;
    Văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành:
    Pháp lệnh, Nghị quyết;
    Văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch nước ban hành: Lệnh, Quyết định;

    1
    Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; Email: cvminh@hcmulaw.edu.vn
    349

  2. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ ban hành: Nghị định;
    Văn bản quy phạm pháp luật do Thủ tướng Chính phủ ban hành:
    Quyết định;
    Văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối
    cao ban hành: Nghị quyết;
    Văn bản quy phạm pháp luật do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện
    trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
    ban hành: Thông tư;
    Văn bản quy phạm pháp luật do Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành:
    Quyết định;
    Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch: Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban
    Thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc
    Việt Nam; Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
    Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Thông tư liên tịch
    giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối
    cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Không
    ban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
    Văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân các cấp ban hành:
    Nghị quyết;
    Văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân các cấp ban hành:
    Quyết định.
    Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành
    chính – kinh tế đặc biệt.
    Dưới góc độ pháp lí, “tình trạng khẩn cấp” (state of emergency) là tình
    huống cho phép chính quyền có thể ban hành những chính sách hoặc thực hiện
    những hành động mà thông thường không được phép thực hiện, nhân danh lợi ích
    công cộng. Tình trạng khẩn cấp có thể được tuyên bố khi đất nước lâm vào hoàn
    cảnh chiến tranh, xung đột vũ trang, thiên tai, thảm họa, dịch bệnh hoặc những
    nguyên nhân khác đe dọa sự sống còn của quốc gia. Khi tuyên bố tình trạng khẩn
    cấp, chính quyền sẽ thiết lập một hệ thống các biện pháp ứng xử nhằm ứng phó
    với tình huống cực kì nguy hiểm hoặc khó khăn.
    Hiện nay, ở nước ta, văn bản quy định cụ thể về tình trạng khẩn cấp là
    Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban
    hành. Trên cơ sở Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000, Chính phủ đã ban
    hành Nghị định số 71/2002/NĐ-CP ngày 23/7/2002 quy định chi tiết tình trạng
    khẩn cấp trong trường hợp có thảm họa lớn, dịch bệnh nguy hiểm. Như vậy, theo
    Nghị định số 71/2002/NĐ-CP thì có tình trạng khẩn cấp về thảm họa lớn và tình
    trạng khẩn cấp về dịch bệnh nguy hiểm.
    350

  3. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Ngoài tình trạng khẩn cấp về thảm họa lớn và tình trạng khẩn cấp về dịch
    bệnh nguy hiểm, Luật Quốc phòng năm 2018 có quy định tình trạng khẩn cấp về
    quốc phòng. Luật An ninh quốc gia năm 2004 quy định tình trạng khẩn cấp về an
    ninh quốc gia. Tương tự, Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 và Nghị định số
    160/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số
    điều của Luật phòng, chống thiên tai xác định thêm tình trạng khẩn cấp về thiên
    tai. Như vậy, căn cứ vào nguyên nhân, mục đích, nguồn gốc thì có thể chia tình
    trạng khẩn cấp thành 05 dạng: i. tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; ii. tình trạng
    khẩn cấp về an ninh quốc gia; iii. tình trạng khẩn cấp về thiên tai; iv. tình trạng
    khẩn cấp về thảm họa; v. tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh.
    Qua phân tích trên, chúng ta có thể thấy, tình trạng khẩn cấp là trạng thái
    xã hội đang lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân tác động,
    đe dọa sự sống còn của quốc gia. Do đó, nhằm bảo vệ đất nước; bảo đảm lợi ích
    công cộng; bảo vệ tính mạng, tài sản của cá nhân, tổ chức, các cơ quan có thẩm
    quyền đã thiết lập những biện pháp, quy tắc ứng xử đặc biệt mà trong điều kiện
    thông thường không được phép thực hiện. Khi xảy ra tình trạng khẩn cấp, các cơ
    quan, chủ thể có thẩm quyền sẽ ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm điều
    chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong tình trạng khẩn cấp.
    Theo Khoản 13, Điều 70 Hiến pháp năm 2013 và Khoản 3, Điều 17 Luật
    Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Quốc hội Việt Nam là
    chủ thể duy nhất có quyền ban hành văn bản quy định về tình trạng khẩn cấp. Khi
    quy định về tình trạng khẩn cấp thì Quốc hội sẽ sử dụng hình thức văn bản quy
    phạm pháp luật là nghị quyết [1]. Căn cứ vào quy định về tình trạng khẩn cấp của
    Quốc hội, khi có những tình huống đã được dự liệu phát sinh trên thực tế, Ủy ban
    Thường vụ Quốc hội sẽ ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa
    phương (Khoản 10, Điều 74 Hiến pháp năm 2013) theo đề nghị của Thủ tướng
    Chính phủ [2]. Khi ban bố tình trạng khẩn cấp, Ủy ban thường vụ Quốc hội sẽ sử
    dụng hình thức văn bản quy phạm pháp luật là nghị quyết [1]. Trên cơ sở nghị
    quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước sẽ ban hành văn bản quy
    phạm pháp luật để công bố tình trạng khẩn cấp.
    Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trên thực tế Ủy Ban thường
    vụ Quốc hội có thể không kịp thời ban bố tình trạng khẩn cấp. Điều này làm cho
    khả năng ứng phó của đất nước trở nên chậm chạp. Dự liệu được khả năng trên,
    Hiến pháp năm 2013 quy định cho Chủ tịch nước có quyền ‘công bố tình trạng
    khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương trong trường hợp Ủy ban
    Thường vụ Quốc hội không thể họp được’ (Khoản 5, Điều 88 Hiến pháp năm
    2013). Đáng tiếc, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi,
    bổ sung năm 2020) không quy định cụ thể Chủ tịch nước sẽ sử dụng hình thức văn
    bản là lệnh hay quyết định [1].

    351

  4. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Khi Chủ tịch nước đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật để công bố tình
    trạng khẩn cấp, Chính phủ sẽ ban hành văn bản quy phạm pháp luật là nghị định
    để ‘thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần
    thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của Nhân dân’ (Khoản
    3, Điều 96 Hiến pháp năm 2013). Đến lượt mình, những chủ thể khác như Thủ
    tướng Chính phủ; Bộ trưởng; Hội đồng nhân dân các cấp, Ủy ban nhân dân các
    cấp… sẽ ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền nhằm điều
    chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong tình trạng khẩn cấp.
    2. THỰC TRẠNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA
    CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG TÌNH TRẠNG KHẨN CẤP
    Thứ nhất, các văn bản quy phạm pháp luật quy định về tình trạng khẩn cấp
    không thống nhất, còn mang tính tản mạn.
    Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa đổi, bổ sung
    năm 2020), Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ
    sung năm 2020) chỉ quy định về “tình trạng khẩn cấp” nói chung mà không có sự
    phân chia thành các lĩnh vực của tình trạng khẩn cấp. Tuy nhiên, sự không nhất
    quán về tư duy lập pháp phát sinh khi các văn bản pháp luật khác như Luật Quốc
    phòng năm 2018, Luật An ninh quốc gia năm 2004, Luật Phòng, chống thiên tai
    năm 2013, Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007, Pháp lệnh Tình trạng
    khẩn cấp năm 2000 lại phân chia thành “tình trạng khẩn cấp về quốc phòng”,
    “tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia”, “tình trạng khẩn cấp về thảm họa
    lớn”, “tình trạng khẩn cấp về thiên tai”, “tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh”.
    Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) dường như cũng
    có sự phân biệt đó khi chỉ thừa nhận “tình trạng khẩn cấp về quốc phòng”. Cụ
    thể, Khoản 4, Điều 18 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm
    2019) quy định ‘Chính phủ tổ chức thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên
    cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết để bảo vệ Tổ
    quốc, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhân dân’. Khoản 4 này nằm trong Điều
    18 mà tên của Điều 18 là Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lí về
    quốc phòng. Như vậy, “ngụ ý” của nhà làm luật tại Khoản 4, Điều 18 là chỉ hướng
    đến nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong tình trạng khẩn cấp về quốc
    phòng.
    Trên thực tế phải nhận thấy rằng tình trạng khẩn cấp có nguyên nhân từ
    nhiều lí do khác nhau như chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh. Do đó, việc phân chia
    thành các loại tình trạng khẩn cấp khác nhau là có cơ sở. Tuy nhiên, pháp luật
    Việt Nam thiếu hẳn những căn cứ cụ thể để phân chia tình trạng khẩn cấp thành
    những loại khác nhau. Hiện nay, việc phân chia tình trạng khẩn cấp mang tính cơ
    học, thiếu sự nghiên cứu, đầu tư bài bản, từ đó dẫn đến sự chồng lấn, mâu thuẫn
    giữa các quy phạm điều chỉnh.

    352

  5. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Đơn cử, Luật Quốc phòng năm 2018 không chỉ quy định tình trạng khẩn cấp
    về quốc phòng mà còn điều chỉnh cả tình trạng khẩn cấp về thảm họa với tính chất
    là hệ quả của tình trạng khẩn cấp về quốc phòng. Luật An ninh quốc gia năm 2004
    điều chỉnh tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia nhưng lại có nhiều nét tương
    đồng, trùng lắp với tình trạng khẩn cấp về quốc phòng. Cụ thể, một tình huống
    xảy ra trên thực tế có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng khẩn cấp về quốc
    phòng hoặc tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia (tình trạng bạo loạn có vũ
    trang). Cả tình trạng khẩn cấp về quốc phòng hoặc tình trạng khẩn cấp về an ninh
    quốc gia đều có thể có tính chất nguy hiểm và đều có thể ảnh hưởng nghiêm trọng
    đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Một điều
    không thể phủ nhận là khi đất nước ‘có nguy cơ trực tiếp bị xâm lược hoặc đã xảy
    ra hành vi xâm lược hoặc bạo loạn có vũ trang’ (tình trạng khẩn cấp về quốc
    phòng) đều dẫn đến hệ quả là ‘đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
    lãnh thổ của Tổ quốc trong tình trạng khẩn cấp về an ninh quốc gia’ (tình trạng
    khẩn cấp về an ninh quốc gia). Như vậy, xét về nguyên nhân, hậu quả, tính chất,
    hai loại tình trạng khẩn cấp này có sự tương đồng nhau. Tuy nhiên, như đã trình
    bày, đây lại là hai loại tình trạng khẩn cấp được phân loại khác nhau.
    Ngoài Luật Quốc phòng năm 2018, tình trạng khẩn cấp về thảm họa lớn
    cũng được điều chỉnh trong Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 và Nghị
    định số 71/2002/NĐ-CP. Tương tự, tình trạng khẩn cấp về thiên tai tuy được quy
    định trong Luật Phòng, chống thiên tai năm 2013 và Nghị định số 160/2018/NĐ-
    CP nhưng cũng được điều chỉnh một phần trong Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp
    năm 2000 và Nghị định số 71/2002/NĐ-CP. Cụ thể, Nghị định số 71/2002/NĐ-CP
    có nội dung điều chỉnh vấn đề phân lũ, chậm lũ để giảm bớt hậu quả thảm họa
    (Điều 11). Rõ ràng, lũ hay lũ quét là những hiện tượng tự nhiên bất thường có thể
    gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và các hoạt động kinh
    tế, xã hội – tức là thiên tai. Hậu quả của lũ, lũ quét gây ngập lụt, sạt lở đất, sụt lún
    đất – tức gây ra thảm họa. Như vậy, tình trạng khẩn cấp về thảm họa lớn cũng có
    thể là hậu quả phát sinh từ rủi ro thiên tai ở cấp độ 5 – tức là tình trạng khẩn cấp
    về dịch. Bên cạnh đó, tình trạng khẩn cấp về dịch không chỉ được điều chỉnh trong
    Luật Phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm năm 2007 và Nghị định số
    101/2010/NĐ-CP mà còn được quy định trong Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp
    năm 2000 và Nghị định số 71/2002/NĐ-CP với nhiều nội dung khác biệt.
    Theo Hiến pháp năm 2013, chỉ có Quốc hội mới có quyền ban hành văn bản
    quy định về tình trạng khẩn cấp. Như vậy, việc tiếp tục duy trì hiệu lực của Pháp
    lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 là không hợp pháp và cũng không hợp lí xét
    cả ở góc độ nhận thức lẫn quá trình tổ chức thực hiện. Bất hợp lí vì pháp lệnh do
    Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành sẽ không phản ánh đầy đủ tâm tư, nguyện
    vọng của công dân bằng luật – văn bản do cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân
    dân cả nước ban hành. Bất hợp pháp vì Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000
    lại quy định những vấn đề liên quan trực tiếp đến việc hạn chế quyền con người,
    353

  6. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    quyền công dân. Quốc hội không được giao và cũng không được duy trì các quy
    định hạn chế quyền con người, quyền công dân trong các văn bản pháp luật khác
    ngoài luật vì chỉ có luật mới là hình thức văn bản được quy định về vấn đề này.
    Cũng cần nói thêm là Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 được ban hành
    trên cơ sở Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) nên vấn đề hạn chế
    quyền con người, quyền công dân bằng quy định của luật chưa được chú trọng
    [3]. Hiện nay, Hiến pháp năm 2013 đã thừa nhận nguyên tắc hạn chế quyền con
    người, quyền công dân bằng quy định của luật nên không thể tiếp tục duy trì hiệu
    lực pháp lí của Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 – một văn bản có tính
    chất hạn chế quyền con người, quyền công dân nhưng lại không thể hiện dưới
    hình thức luật.
    Thứ hai, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để ban bố, công
    bố tình trạng khẩn cấp không được quy định khoa học, có sự nhầm lẫn nghiêm
    trọng.
    Theo Hiến pháp năm 2013, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban bố tình trạng
    khẩn cấp. Sau đó, Chủ tịch nước sẽ công bố tình trạng khẩn cấp. Trong trường
    hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể họp để ban bố tình trạng khẩn cấp,
    Chủ tịch nước được quyền chủ động công bố tình trạng khẩn cấp. Như vậy, công
    bố tình trạng khẩn cấp là thủ tục bắt buộc và thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước.
    Trong khi đó, thẩm quyền ban bố tình trạng khẩn cấp của Ủy ban thường vụ Quốc
    hội lại không phải là thủ tục mang tính bắt buộc.
    Dưới góc độ ngôn ngữ, ban bố (ban: cấp cho, bố: truyền báo) là báo cho
    biết để thi hành vấn đề đã được quyết định [4], còn công bố (công: chung, bố:
    truyền báo) là báo cho mọi người, báo cho công chúng biết [5]. Như vậy, ban bố
    có nghĩa là quyết định một vấn đề nào đó rồi báo cho chủ thể khác để thi hành.
    Trong khi đó, công bố chỉ là việc báo tin đến chủ thể khác để biết. Cả ban bố và
    công bố đều là báo cho một hay một số chủ thể nào đó biết. Tuy nhiên, sự khác
    biệt giữa ban bố và công bố còn ở phạm vi báo tin. Theo đó, ban bố là báo tin
    nhưng trong phạm vi hẹp, mang tính nội bộ giữa các cơ quan, tổ chức có mối liên
    hệ với nhau. Trong khi đó, công bố là báo tin ở phạm vi rộng, công khai cho mọi
    người cùng biết [6].
    Về ý nghĩa pháp lí, hai thuật ngữ còn khác nhau ở chỗ, ban bố là thẩm
    quyền quyết định, còn công bố chỉ là thẩm quyền mang tính nghi thức. Trong một
    số trường hợp không có thủ tục ban bố thì công bố cũng có thể được xem là đã
    bao hàm luôn quyền quyết định. Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban bố tình trạng
    khẩn cấp, có nghĩa quyền quyết định thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chủ
    tịch nước công bố tình trạng khẩn cấp, có nghĩa Chủ tịch nước chỉ báo tin một
    cách công khai đến mọi cá nhân, tổ chức về tình trạng khẩn cấp do Ủy ban
    Thường vụ Quốc hội đã quyết. Ngoại lệ, có trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc
    hội không thể họp để ban bố thì Chủ tịch nước sẽ công bố tình trạng khẩn cấp.

    354

  7. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Trong trường hợp này, quyền công bố của Chủ tịch nước đã hàm chứa luôn quyền
    quyết định về tình trạng khẩn cấp.
    Đáng tiếc, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực hiện nay
    không quan tâm đến vấn đề này. Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000 và
    Nghị định số 71/2002/NĐ-CP sử dụng chung công thức ‘Ủy ban thường vụ Quốc
    hội hoặc Chủ tịch nước ban bố tình trạng khẩn cấp’. Luật Phòng, chống bệnh
    truyền nhiễm năm 2007 cũng đi vào “vết xe đổ” ấy khi quy định: ‘trong trường
    hợp Ủy ban thường vụ Quốc hội không thể họp ngay được thì Chủ tịch nước ra
    lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp’.
    Như đã trình bày, ban bố và công bố là hai thủ tục khác nhau, có nội hàm
    pháp lí khác nhau, do những chủ thể khác nhau và được thể hiện trong những văn
    bản quy phạm pháp luật khác nhau nên không thể có sự nhầm lẫn. Chủ tịch nước
    không có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật để ban bố mà chỉ có quyền
    công bố tình trạng khẩn cấp. Do đó, Khoản 3, Điều 96 Hiến pháp năm 2013 cũng
    có điểm không chính xác khi quy định: ‘Chính phủ có nhiệm vụ thi hành lệnh
    động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp’. Lẽ ra phải là “lệnh công bố tình
    trạng khẩn cấp” bởi lệnh là hình thức văn bản do Chủ tịch nước ban hành và công
    bố chứ không phải là ban bố tình trạng khẩn cấp mới là thủ tục mang tính
    bắt buộc.
    Thứ ba, hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước để công
    bố tình trạng khẩn cấp không được quy định cụ thể trong hệ thống pháp luật Việt
    Nam.
    Như đã trình bày, khi ban bố tình trạng khẩn cấp, Ủy ban Thường vụ Quốc
    hội sẽ ban hành văn bản quy phạm pháp luật với tên gọi là nghị quyết. Tuy nhiên,
    pháp luật hiện hành không quy định cụ thể Chủ tịch nước sẽ sử dụng hình thức
    văn bản quy phạm pháp luật là lệnh hay quyết định để công bố tình trạng khẩn
    cấp. Do đó, có ý kiến cho rằng, Chủ tịch nước ban hành hình thức văn bản là
    quyết định để công bố tình trạng khẩn cấp [7].
    Trái ngược với ý kiến này, chúng tôi cho rằng, để công bố tình trạng khẩn
    cấp, Chủ tịch nước phải ban hành hình thức văn bản là lệnh. Theo Khoản 5, Điều
    88 Hiến pháp năm 2013, ‘căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
    Chủ tịch nước ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình
    trạng khẩn cấp’. Khoản 6, Điều 19 Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: ‘căn cứ
    vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước ra lệnh bãi bỏ
    lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ’. Như vậy, căn cứ vào Điều 88 Hiến
    pháp năm 2013, khi công bố tình trạng khẩn cấp, tất nhiên, Chủ tịch nước phải
    ban hành văn bản quy phạm pháp luật với hình thức lệnh mới có thể đạt hiệu quả
    cao. Tuy nhiên, cách giải thích như trên chỉ mang ý nghĩa về mặt học thuật,
    nghiên cứu chứ không phải quy định chính thức trong các văn bản pháp luật [8].

    355

  8. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    3. THỰC TRẠNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA
    CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC TRONG DỊCH BỆNH COVID-19
    Tính đến 6h sáng ngày 10/10/2020, trên thế giới đã có 215 quốc gia, vùng
    lãnh thổ ghi nhận ca mắc Covid-19 (có 37.736.120 triệu người mắc bệnh và cướp
    đi sinh mạng của khoảng 1.081.246 triệu bệnh nhân trên thế giới) [9]. Để ứng phó
    với dịch bệnh Covid-19, nhiều quốc gia trên thế giới đã tuyên bố tình trạng khẩn
    cấp, đồng thời ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lí cao
    để quy định các biện pháp mạnh mẽ nhằm phòng, chống dịch bệnh nguy
    hiểm này.
    Tại Việt Nam, ngay sau khi phát hiện ca nhiễm bệnh đầu tiên tại Bệnh
    viện Chợ Rẫy, TP. Hồ Chí Minh (ngày 23/01/2020), Thủ tướng Chính phủ đã ban
    hành Công điện số 121/CĐ-TTg về việc phòng, chống dịch bệnh hô hấp cấp do
    chủng mới của virus Corona gây ra. Liên tiếp các ngày 28/01/2020, 30/01/2020,
    Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-TTg, Chỉ thị số 06/CT-TTg,
    trong đó quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”, huy động cả hệ thống
    chính trị vào cuộc để phòng, chống dịch. Tại thời điểm đó, hàng loạt các quy tắc
    “khuôn mẫu” trong Chỉ thị số 16/CT-TTg được nghiêm chỉnh thực hiện nhằm bảo
    đảm cho công tác phòng, chống dịch Covid-19 [10].
    Để bảo đảm quyền của cộng đồng trong hoạt động phòng, chống dịch,
    quyền tự do kinh doanh của con người cũng bị hạn chế [11]. Trong bối cảnh đó,
    ngày 15/4/2020, Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) ban hành Công văn số 4162/QLD-
    KD về việc tạm dừng xuất khẩu thuốc phòng, chống Covid-19 với nội dung: ‘để
    đảm bảo nguồn cung, có dự trữ thuốc phòng, chữa bệnh cho Nhân dân, Cục Quản
    lý Dược yêu cầu các đơn vị sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc tạm dừng việc
    xuất khẩu thuốc theo Danh mục thuốc sử dụng trong điều trị Covid-19 ban hành
    kèm theo Công văn này từ ngày 16/4/2020 đến khi có thông báo mới của Cục
    Quản lý Dược’. Ngoài ra, để ngăn chặn, phòng ngừa, răn đe các vi phạm như:
    chống đối, không tuân thủ quy định về cách li; trốn khỏi nơi cách li; từ chối, trốn
    tránh việc áp dụng biện pháp cách li, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
    ban hành Công văn số 45/TANDTC-PC ngày 30/3/2020 hướng dẫn xét xử tội
    phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19.
    Ở địa phương, việc ban hành văn bản pháp luật nhằm áp dụng các biện
    pháp phòng, chống dịch Covid-19 cũng rất da dạng, như “trăm hoa đua nở”. Đơn
    cử, Ủy ban nhân dân tỉnh Hải Dương ban hành Quyết định số 2332/QĐ-UBND
    ngày 13/8/2020 quy định cả một loạt biện pháp áp dụng tình trạng khẩn cấp trong
    phòng, chống dịch Covid-19.
    Với sự quyết tâm cả hệ thống chính trị, Việt Nam đã đạt được những kết
    quả quan trọng trong việc triển khai phòng, chống dịch Covid-19. Không thể phủ
    nhận những giá trị tích cực mà các văn bản pháp luật, văn bản chỉ đạo của các cơ

    356

  9. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương ban hành trong thời gian qua, tuy
    nhiên, hoạt động này vẫn cần được nhìn nhận thận trọng dưới góc độ pháp lí.
    Thứ nhất, tính đến nay, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chưa ban bố tình
    trạng khẩn cấp, Chủ tịch nước cũng chưa công bố tình trạng khẩn cấp nhưng hầu
    như tất cả biện pháp được áp dụng trong tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh đã được
    thực thi. Cụ thể, biện pháp huy động người, huy động cơ sở vật chất, thiết bị y tế,
    thuốc, hóa chất, vật tư y tế, cơ sở dịch vụ công cộng, phương tiện giao thông và
    các nguồn lực khác để chống dịch đã được thực hiện ở nhiều nơi như Hà Nội, TP.
    Hồ Chí Minh [12]. Các biện pháp đặc biệt khác như yêu cầu kiểm tra và xử lí y tế
    đối với phương tiện vận tải trước khi ra khỏi vùng có dịch [13]; tổ chức tẩy uế,
    khử độc trên phạm vi rộng [14]; tạm đình chỉ các hoạt động, dịch vụ tại nơi công
    cộng tại vùng có dịch [15]; cấm tập trung đông người và các hoạt động khác có
    nguy cơ làm lây truyền bệnh dịch tại vùng có dịch [16]; tạm đình chỉ hoạt động
    của cơ sở dịch vụ ăn uống công cộng có nguy cơ làm lây truyền bệnh dịch tại
    vùng có dịch [17]… đều đã được áp dụng đồng bộ ở nhiều địa phương. Như vậy,
    việc áp dụng các biện pháp trong tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh tuy mang lại
    hiệu quả nhưng vẫn chưa thỏa mãn tính chính đáng.
    Thứ hai, việc ban hành các văn bản không chứa đựng quy tắc xử sự chung –
    tức không mang tính quy phạm đã dẫn đến nhiều tranh cãi trong việc áp dụng
    pháp luật.
    Theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số
    2601/VPCP-KGVX của Văn phòng Chính phủ, người dân được yêu cầu ở nhà,
    hạn chế tối đa ra ngoài trừ các trường hợp thật sự cần thiết. Tuy nhiên, Chỉ thị số
    16/CT-TTg chỉ là văn bản cá biệt nên không chứa đựng quy tắc xử sự chung.
    Từ “cái sảy nảy cái ung”, do không có chuẩn mực pháp lí để tuân theo từ
    Trung ương nên các cơ quan nhà nước ở địa phương đã áp dụng pháp luật không
    thống nhất, thậm chí là tùy tiện. Có thể kể đến trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân
    dân xã Vụ Bổn (huyện Krông Pắk, Đắk Lắk) xử phạt vi phạm hành chính đối với
    người ngồi trên cabin xe tải chở hàng vì lí do tụ tập quá 02 người [20] (trong
    cabin xe có 03 người) [19]; chính quyền Thành phố Hà Nội xử phạt cả người điều
    khiển xe ô tô không đeo khẩu trang [20].
    Thứ ba, trong thời gian phòng, chống dịch bệnh Covid-19, một số cơ quan
    nhà nước đã ban hành văn bản cá biệt, công văn hành chính thông thường để hạn
    chế quyền của công dân. Việc làm này vi phạm thẩm quyền hình thức trong việc
    ban hành văn bản quy phạm pháp luật và ảnh hưởng đến nguyên tắc thượng tôn
    pháp luật trong hoạt động của các cơ quan nhà nước [21]. Cụ thể, Công văn số
    4162/QLD-KD của Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) ban hành về việc tạm dừng xuất
    khẩu thuốc phòng, chống Covid-19 là một văn bản mang tính quy phạm – tức là
    trực tiếp làm thay đổi hệ thống quy phạm pháp luật hành chính. Những quy định
    như ‘tạm dừng việc xuất khẩu thuốc theo Danh mục thuốc sử dụng trong điều trị
    357

  10. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Covid-19’, ‘từ ngày 16/4/2020 đến khi có thông báo mới của Cục Quản lý
    Dược’… rõ ràng chứa đựng các quy tắc xử sự chung – tức là mang tính quy phạm.
    Trên thực tế, chính tính quy phạm trong Công văn số 4162/QLD-KD đã tạo ra
    những tác động mạnh mẽ, mang tính hạn chế quyền tự do kinh doanh của các đơn
    vị sản xuất, xuất khẩu, nhập khẩu thuốc.
    Điểm b, Khoản 2, Điều 22 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 quy
    định: ‘Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết hướng
    dẫn các Tòa án áp dụng thống nhất pháp luật’. Điều 21 Luật Ban hành văn bản
    quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) cũng quy định: ‘Hội
    đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết để hướng dẫn việc
    áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử thông qua tổng kết việc áp dụng pháp
    luật, giám đốc việc xét xử’. Với tư duy đó, có thể thấy, việc Hội đồng thẩm phán
    Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 45/TANDTC-PC hướng dẫn xét
    xử tội phạm liên quan đến phòng, chống dịch bệnh Covid-19 cũng có phần không
    chính xác bởi hình thức thể hiện phải là nghị quyết chứ không phải là công văn.
    4. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
    Thứ nhất, Quốc hội cần sớm ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp để thay thế
    cho Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm 2000.
    Theo Hiến pháp năm 2013, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền quy định
    về tình trạng khẩn cấp. Khi tình trạng khẩn cấp được công bố, các cơ quan nhà
    nước có thể hạn chế một số quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
    Nguyên tắc hiến định là quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế
    theo quy định của luật. Do đó, sự tồn tại của Pháp lệnh Tình trạng khẩn cấp năm
    2000 với nhiều quy định hạn chế quyền con người, quyền công dân là không phù
    hợp với nguyên tắc pháp quyền. Để giải quyết vấn đề này, thiết nghĩ Quốc hội cần
    sớm ban hành Luật Tình trạng khẩn cấp để thay thế cho Pháp lệnh Tình trạng
    khẩn cấp năm 2000.
    Hiện nay, theo Khoản 2, Điều 15 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
    luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020),’Quốc hội ban hành nghị quyết để quy
    định về tình trạng khẩn cấp’. Quy định này có phần không hợp lí bởi phạm vi điều
    chỉnh của nghị quyết trong đa số trường hợp là các nhóm quan hệ xã hội tuy quan
    trọng nhưng không thực sự cơ bản và bao trùm như luật. Luật là văn bản điều
    chỉnh các quan hệ xã hội có ảnh hưởng đến toàn xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến
    toàn dân. Trong khi đó, rất nhiều trường hợp, nghị quyết của Quốc hội là văn bản
    cho việc ổn định công tác, hoạt động có tính tổ chức bộ máy của Quốc hội, vì vậy
    chủ yếu ảnh hưởng gián tiếp tới người dân [22]. Đối với cá nhân, tổ chức, sử dụng
    luật là hình thức chủ yếu để điều chỉnh quan hệ xã hội sẽ tạo điều kiện thuận lợi
    cho việc tiếp cận luật pháp [23]. Tình trạng khẩn cấp ảnh hưởng trực tiếp đến toàn
    xã hội, hạn chế quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức nên cần phải được
    quy định trong văn bản luật chứ không phải nghị quyết.
    358

  11. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    Theo tác giả, khi xây dựng Luật Tình trạng khẩn cấp, nhà làm luật cần
    thống nhất việc điều chỉnh tình trạng khẩn cấp trong một luật chung chứ không
    nên tách riêng thành các đạo luật khác nhau, mỗi luật lại điều chỉnh một lĩnh vực
    tình trạng khẩn cấp khác nhau. Tuy nhiên, mỗi loại tình trạng khẩn cấp khác nhau
    sẽ có nguyên nhân làm phát sinh khác nhau. Do đó, nếu xây dựng thành một luật
    chung về tình trạng khẩn cấp thì trong đạo luật này vẫn nên phân loại tình trạng
    khẩn cấp để thiết kế các quy phạm đặc thù tương ứng điều chỉnh. Theo tác giả,
    căn cứ vào nguyên nhân làm phát sinh tình huống nguy hiểm cho xã hội, Luật
    Tình trạng khẩn cấp có thể phân chia thành các loại như: i. tình trạng khẩn cấp về
    quốc phòng, ii. tình trạng khẩn cấp về thiên tai; iii. tình trạng khẩn cấp về dịch
    bệnh. Do những tương đồng về nguyên nhân, tính chất, hậu quả nên tình trạng
    khẩn cấp về an ninh quốc gia cần được tích hợp để trở thành một nội dung nằm
    trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng. Trong khi đó, tình trạng khẩn cấp về
    thiên tai có nguyên nhân từ rủi ro thiên tai ở cấp độ 5 và tình trạng khẩn cấp về
    dịch có nguyên nhân từ dịch bệnh nguy hiểm nên có thể phân thành các dạng tình
    trạng khẩn cấp độc lập với tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.
    Thứ hai, pháp luật cần quy định cụ thể hình thức văn bản quy phạm pháp
    luật để công bố tình trạng khẩn cấp.
    Ban hành văn bản quy phạm pháp luật là một hình thức quản lí quan trọng
    trong thẩm quyền của Chủ tịch nước [24]. Điều 91 Hiến pháp năm 2013 quy định:
    ‘Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của
    mình’. Căn cứ vào thẩm quyền quy định tại Điều 88 Hiến pháp năm 2013, Chủ
    tịch nước có quyền ban hành lệnh, quyết định để quy định các vấn đề như: công
    bố luật, pháp lệnh; phê chuẩn hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế; công
    bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; ra lệnh tổng động viên hoặc
    động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp.
    Khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, có ý kiến cho rằng nên bỏ lệnh
    của Chủ tịch nước ra khỏi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật mà chỉ nên xác
    định lệnh là văn bản cá biệt vì trên thực tế, lệnh chỉ được Chủ tịch nước ban hành
    để công bố luật, pháp lệnh [26]. Tuy nhiên, Luật Ban hành văn bản quy phạm
    pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) vẫn tiếp tục quy định lệnh của
    Chủ tịch nước là văn bản quy phạm pháp luật. Đây là một quy định hợp lí bởi lệnh
    luôn gắn liền với luật, pháp lệnh mà nó công bố. Luật, pháp lệnh là văn bản quy
    phạm pháp luật nên “văn bản chở luật, pháp lệnh vào cuộc sống” tất nhiên cũng
    phải là văn bản quy phạm pháp luật [26]. Việc công bố và thực hiện quy định của
    pháp luật về tình trạng khẩn cấp có ý nghĩa rất quan trọng đối với mỗi quốc gia,
    dân tộc. Do đó, để tạo ra cách áp dụng pháp luật thống nhất, nhà làm luật cần quy
    định cụ thể Chủ tịch nước ban hành lệnh để công bố tình trạng khẩn cấp.
    Thứ ba, để thực hiện chức năng quản lí nhà nước, Thủ tướng Chính phủ –
    trong phạm vi thẩm quyền của mình – sẽ thể hiện ý chí đến đối tượng quản lí

    359

  12. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    thông qua những hoạt động quản lí nhất định. Những hoạt động ấy được thể hiện
    ra bên ngoài dưới một hình thức quản lí nào đó. Trong các hình thức quản lí mà
    Thủ tướng Chính phủ sử dụng, quan trọng nhất là ban hành các quyết định quản lí
    nhà nước. Khoản 2, Điều 25 Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung
    năm 2019) quy định: ‘Chính phủ hướng dẫn và kiểm tra Hội đồng nhân dân trong
    việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết
    của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị quyết,
    nghị định của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ’. Từ quy
    định pháp luật này, có thể suy luận rằng: ‘Thủ tướng Chính phủ được quyền ban
    hành quyết định, chỉ thị’.
    Quyết định, chỉ thị là những quyết định quản lí nhà nước do cá nhân Thủ
    tướng Chính phủ ban hành để giải quyết những vấn đề quan trọng thuộc thẩm
    quyền của mình. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để phân biệt sự khác nhau giữa hai
    hình thức văn bản “quyết định” và “chỉ thị”, khi nào thì Thủ tướng Chính phủ
    dùng hình thức văn bản “quyết định” và khi nào dùng hình thức văn bản “chỉ thị”.
    Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ
    sung năm 2020), chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ không được xem là văn bản
    quy phạm pháp luật – tức không đặt ra quy tắc xử sự chung và không trực tiếp làm
    thay đổi hệ thống quy phạm pháp luật hành chính [27]. Xét về tính chất pháp lí,
    chỉ thị thường được ban hành để cơ quan cấp trên đề ra các mệnh lệnh, yêu cầu
    buộc cấp dưới thực hiện [28]. Một quyết định được ban hành ra có phạm vi tác
    động rộng hơn so với chỉ thị. Nó bao gồm mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội, trong
    khi đó, chỉ thị được sử dụng để tác động đến các cơ quan, tổ chức và cá nhân có
    mối liên hệ với cơ quan ra chỉ thị đó về mặt cơ cấu, tổ chức, nhân sự. Trong thực
    tiễn, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ được sử dụng nhằm buộc các cơ quan, đơn
    vị, cá nhân cấp dưới có mối quan hệ trực thuộc trong cùng hệ thống phải tuân theo
    mệnh lệnh, yêu cầu của mình. Với những nội dung này, chỉ thị của Thủ tướng
    Chính phủ là văn bản cá biệt, được sử dụng trong quá trình lãnh đạo, điều hành
    cấp dưới [29]. Hiện nay, ngoài Quyết định số 07/2020/QĐ-TTg ngày 26/2/2020
    [30], Thủ tướng Chính phủ vẫn chỉ ban hành văn bản pháp luật dưới hình thức chỉ
    thị [31] nên hiệu lực pháp lí của các văn bản này không cao và cũng không tạo ra
    quy tắc xử sự chung. Do đó, trong tương lai, khi xảy ra tình trạng khẩn cấp về
    dịch bệnh thì Thủ tướng Chính phủ cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật với
    hình thức văn bản là quyết định để quy định về các biện pháp ứng phó.
    Thứ tư, Điều 28 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa
    đổi, bổ sung năm 2020) quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định
    để quy định “biện pháp thực hiện chức năng quản lí nhà nước ở địa phương”. Về
    tính chất, tình trạng khẩn cấp có thể gây ra những hậu quả tức thời, trực tiếp
    nhưng cũng có thể để lại những hậu quả lâu dài đối với con người và xã hội. Tình
    trạng khẩn cấp ảnh hưởng đến trật tự, sự ổn định của xã hội. Ở mức độ thấp, tình
    trạng khẩn cấp làm giảm tốc độ phát triển của xã hội. Ở mức độ cao hơn, tình
    360

  13. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    trạng khẩn cấp gây ra khủng hoảng xã hội, phá vỡ kết cấu của xã hội. Hệ quả của
    tình trạng khẩn cấp như thế nào còn phụ thuộc vào cách giải quyết cũng như tốc
    độ giải quyết nhanh hay chậm [32]. Chính vì vậy, trên cơ sở sự phân cấp của các
    cơ quan nhà nước ở Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải ban hành quyết
    định mang tính quy phạm (chứa đựng các quy tắc xử sự chung) mới có thể đạt
    hiệu quả cao trong hoạt động quản lí khi xảy ra tình trạng khẩn cấp. Với tư duy
    đó, khi xảy ra những trường hợp tương tự như dịch bệnh Covid-19, các cơ quan
    nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình cần ban hành văn bản quy
    phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội.
    Có ý kiến lo ngại rằng nếu điều chỉnh các vấn đề phát sinh trong tình trạng
    khẩn cấp bằng văn bản quy phạm pháp luật sẽ dẫn đến nguy cơ chậm trễ, không
    kịp thời bởi việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải mất
    nhiều thời gian hơn so với việc ban hành văn bản cá biệt. Theo chúng tôi, điều này
    không đáng lo ngại. Trong trường hợp này, các chủ thể như Thủ tướng Chính phủ,
    Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoàn toàn có thể quyết định áp dụng thủ tục rút
    gọn trong việc ban hành Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng
    chính phủ, Thông tư của Bộ trưởng, Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
    Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo thủ tục rút gọn một mặt vẫn
    trải qua những công đoạn quy củ nhằm bảo đảm tính hợp pháp, tính hợp lí nhưng
    mặt khác vẫn đáp ứng yêu cầu điều chỉnh kịp thời các quan hệ xã hội [1].
    Cuối cùng, theo Điều 17 Luật Tiếp cận thông tin năm 2016,’văn bản quy
    phạm pháp luật là thông tin phải được công khai rộng rãi’. Luật Tiếp cận thông
    tin năm 2016 không hề đưa ra ngoại lệ về việc không công khai văn bản quy phạm
    pháp luật. Thế nhưng Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp năm 2015 (sửa đổi,
    bổ sung năm 2020) lại đưa ra giới hạn về việc không công khai các văn bản quy
    phạm pháp luật có nội dung thuộc bí mật nhà nước [1]. Như vậy, giữa Luật Ban
    hành văn bản quy phạm pháp năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) và Luật Tiếp
    cận thông tin năm 2016 đã có những quy định khác nhau về việc công khai văn
    bản quy phạm pháp luật.
    Nhằm giải quyết xung đột trong vấn đề tiếp cận các quy định điều chỉnh tình
    trạng khẩn cấp, tác giả cho rằng cần quan tâm đến kĩ thuật lập pháp. Tình trạng
    khẩn cấp về quốc phòng ít nhiều liên quan đến bí mật quốc gia nên có thể áp dụng
    kĩ thuật lập pháp theo tiêu chí luật khung. Các nội dung cần hướng dẫn chi tiết thì
    sẽ được điều chỉnh trong các văn bản mật của các cơ quan nhà nước có liên quan
    như ngành quân đội, công an. Ngược lại, tình trạng khẩn cấp về thiên tai, tình
    trạng khẩn cấp về dịch bệnh thì không liên quan đến bí mật quốc gia nên cần áp
    dụng kĩ thuật xây dựng luật chi tiết. Nói cách khác, các quy phạm điều chỉnh tình
    trạng khẩn cấp về thiên tai, tình trạng khẩn cấp về dịch bệnh cần được quy định cụ
    thể, rõ ràng, bảo đảm tính công khai cũng như tính chi tiết khi áp dụng.

    361

  14. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    [1] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp
    luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung). 2020
    [2] Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam. Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 (sửa
    đổi, bổ sung). 2020.
    [3] Vũ Hồng Anh và Nguyễn Thị Thủy. Bảo đảm quyền con người, quyền công
    dân trong tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật Việt Nam. Tạp chí
    Nghiên cứu Lập pháp. 2020; 10.
    [4] Nguyễn Lân. Từ điển từ và ngữ Việt Nam. 2006. TP.HCM: NXB Tổng hợp, tr.
    74.
    [5] Nguyễn Lân. Từ điển từ và ngữ Việt Nam. 2006. TP.HCM: NXB Tổng hợp, tr.
    419.
    [6] Bộ Tư pháp – Viện Khoa học Pháp lí. Từ điển Luật học. 2013. NXB Từ điển
    Bách khoa và NXB Tư pháp, tr. 173.
    [7] Bùi Thu Hằng. Ban hành văn bản trong tình trạng khẩn cấp nhìn từ dịch bệnh
    Covid-19. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2020;8.
    [8]. Cao Vũ Minh. Cơ sở chính trị và pháp lí của việc ban hành Luật về Hoạt động
    của Chủ tịch nước. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2016;1.
    [9]. Vietnamnet. Thế giới hơn một triệu người chết vì Covid-19, Ấn Độ hứng
    ngày bi thảm. Ngày đăng 10/10/2020. Truy cập từ
    https://vietnamnet.vn/vn/the-gioi/tin-tuc-covid-19-ngay-10-10-the-gioi-hon-
    1-trieu-nguoi-chet-an-do-lai-hung-ngay-bi-tham-679997.html. [Ngày truy cập
    12/10/2020].
    [10]. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam. Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày
    31/3/2020 về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch Covid-19. 2020.
    [11] Nguyễn Thị Thu Trang. Quyền con người trong đại dịch Covid 19. Tạp chí
    Nhà nước và Pháp luật. 2020;7.
    [12] VnExpress.net. Huy động ký túc xá trường học làm khu cách li. Ngày đăng
    21/3/2020. Truy cập từ https://vnexpress.net/huy-dong-ky-tuc-xa-truong-hoc-
    lam-khu-cach-ly-4072725.html [Ngày truy cập 12/10/2020].
    [13] Tuổi trẻ online. 62 chốt kiểm soát dịch TP.HCM nằm ở đâu? Truy cập từ
    https://tuoitre.vn/62-chot-kiem-soat-dich-tp-hcm-nam-o-dau-
    20200404141954529.htm [Ngày truy cập 12/10/2020].
    [14] Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. Binh chủng Hóa học phun khử trùng
    tiêu độc Bệnh viện Bạch Mai. http://dangcongsan.vn/thoi-su/binh-chung-hoa-

    362

  15. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    hoc-phun-khu-trung-tieu-doc-benh-vien-bach-mai-551472.html [Ngày truy
    cập 12/10/2020].
    [15]. Tuổi trẻ online. Đà Nẵng dừng các hoạt động tập trung đông người, không
    thiết yếu từ 13h trưa nay 26-7. Truy cập từ https://tuoitre.vn/da-nang-dung-
    cac-hoat-dong-tap-trung-dong-nguoi-khong-thiet-yeu-tu-13h-trua-nay-26-7-
    20200726100519258.htm [Ngày truy cập 12/10/2020].
    [16]. Báo điện tử Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (VGP). Khánh Hòa: Tạm
    dừng một loạt hoạt động; cơ sở kinh doanh không thiết yếu. Ngày đăng
    10/8/2020. Truy cập từ http://baochinhphu.vn/Hoat-dong-dia-phuong/Khanh-
    Hoa-Tam-dung-mot-loat-hoat-dong-co-so-kinh-doanh-khong-thiet-
    yeu/403738.vgp [Ngày truy cập 12/10/2020].
    [17]. Báo điện tử Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam (VGP). Đà Nẵng ra Chỉ
    thị mới phòng chống dịch COVID-19. Truy cập từ
    http://baochinhphu.vn/Hoat-dong-dia-phuong/Da-Nang-ra-Chi-thi-moi-
    phong-chong-dich-COVID19/402764.vgp [Ngày truy cập 12/10/2020].
    [18]. UBND tỉnh Đắk Lắk. Quyết định số 03/QĐ-XPVPHC ngày 02/4/2020 của
    Chủ tịch Ủy ban nhân dân xử phạt vi phạm hành chính xã Vụ Bổn (huyện
    Krông Pắk, Đắk Lắk). 2020
    [19]. Báo Giao thông. Ba người trên xe tải chở thực phẩm bị phạt 200 nghìn vì…tụ
    tập quá 2 người. Ngày đăng 03/04/2020. Truy cập từ
    https://www.baogiaothong.vn/3-nguoi-tren-xe-tai-bi-phat-200000-dong-vi-tu-
    tap-qua-2-nguoi-o-cabin-d459538.html [Ngày truy cập 12/10/2020].
    [20]. Báo an ninh thủ đô. Ngồi trong ô tô riêng có bắt buộc đeo khẩu trang?. Ngày
    đăng 30/03/2020. Truy cập từ https://anninhthudo.vn/doi-song/ngoi-trong-o-
    to-rieng-co-bat-buoc-deo-khau-trang/848679.antd [Ngày truy cập
    12/10/2020].
    [21]. Cao Vũ Minh. Công văn và những nhầm lẫn với quyết định quản lý nhà
    nước. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật. 2013;5.
    [22]. Phan Trung Hiền. Nghị quyết của Quốc hội là văn bản Luật hay văn bản
    dưới luật. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2011;18.
    [23]. Hoàng Thị Ngân. Hoạt động ban hành Nghị quyết của Quốc hội. Tạp chí
    Nghiên cứu Lập pháp. 2013;14.
    [24]. Cao Vũ Minh. Hiến pháp mới với vị trí, vai trò của nguyên thủ quốc gia –
    Chủ tịch nước. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2011;22.
    [25]. Nguyễn Thế Quyền. Hoàn thiện các quy định về xây dựng pháp luật. Tạp chí
    Nghiên cứu Lập pháp. 2009;142.

    363

  16. Hội thảo Khoa học
    “Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”

    [26]. Nguyễn Cửu Việt. Trở lại khái niệm văn bản quy phạm pháp luật. Tạp chí
    Nghiên cứu Lập pháp. 2007;4.
    [27]. Cao Vũ Minh. Một số điểm tiến bộ của Luật Ban hành văn bản quy phạm
    pháp luật năm 2015. Tạp chí Nhà nước và Pháp luật. 2016;2.
    [28]. Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam. Luật Ban hành văn bản quy phạm
    pháp luật năm 1996 (sửa đổi, bổ sung). 2020.
    [29]. Cao Vũ Minh. Hoàn thiện quy định về việc ban hành quyết định của Thủ
    tướng Chính phủ. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp. 2019;10.
    [30]. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam. Quyết định số 07/2020/QĐ-TTg ngày
    26/2/2020 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết
    định số 02/2016/QĐ-TTg ngày 28/01/2016 quy định điều kiện công bố dịch
    và công bố hết dịch bệnh truyền nhiễm.
    [31]. Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam. Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày
    27/3/2020 của Thủ tướng Chính phủ về quyết liệt thực hiện đợt cao điểm
    phòng chống dịch Covid 19; Chỉ thị số 19/CT-TTg ngày 24/4/2020 của Thủ
    tướng Chính phủ về tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid
    19 trong tình hình mới.
    [32]. Nguyễn Mạnh Kháng. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí xã hội
    trong những tình huống bất thường ở nước ta hiện nay. Tạp chí Nhà nước và
    Pháp luật. 2009,11.

    364

Download tài liệu Vấn đề ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước trong tình trạng khẩn cấp: Tham chiếu từ dịch bệnh Covid-19 File Docx, PDF về máy