[Download] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật Việt Nam – Tải về File Docx, PDF

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật Việt Nam

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật Việt Nam
Nội dung Text: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật Việt Nam

Download


Các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra là nội dung quan trọng trong chế định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng và trong hệ thống pháp luật dân sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Trong bài viết này, tác giả phân tích, đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam, nhằm đưa ra những kiến hoàn thiện.

Bạn đang xem: [Download] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật Việt Nam – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật Việt Nam File Docx, PDF về máy

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật Việt Nam

  1. TRÁCH NHIỆM BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI DO TÀI SẢN GÂY RA THEO
    PHÁP LUẬT VIỆT NAM
    Nguyễn Văn Hợi*
    Người phản biện: TS. Hồ Thị Vân Anh
    Tóm tắt: Các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản
    gây ra là nội dung quan trọng trong chế định trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài
    hợp đồng và trong hệ thống pháp luật dân sự của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở
    mỗi quốc gia khác nhau, việc ghi nhận các quy định có liên quan đến trách nhiệm bồi
    thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra đƣợc thể hiện ở mức độ khác nhau.
    Tại Việt Nam, các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài
    sản gây ra đã đƣợc sửa đổi, bổ sung qua các lần ban hành Bộ luật dân sự. Trong quá
    trình xây dựng những quy định này, Việt Nam cũng tham khảo kinh nghiệm lập pháp
    của nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, do có nhiều nguyên nhân (cả chủ quan và
    khách quan) khiến cho những quy định hiện hành của Việt Nam vẫn còn tồn tại những
    điểm bất cập, hạn chế nhất định. Ví dụ, chƣa có quy định khái quát về nguồn nguy
    hiểm cao độ và chƣa có hƣớng dẫn cụ thể nên còn có sự đồng nhất thiệt hại do hành vi
    gây ra có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ với thiệt hại do tự thân nguồn nguy
    hiểm cao độ gây ra. Điều này dẫn đến việc áp dụng không thống nhất ở các địa
    phƣơng và các cấp Toà trong việc giải quyết tranh chấp. Trong bài viết này, tác giả
    phân tích, đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam, nhằm đƣa ra những kiến hoàn
    thiện.
    Từ khoá: trách nhiệm, bồi thƣờng, thiệt hại.
    Résume: Les dispositions relatives à la responsabilité du fait des choses
    occupent une place importante dans la responsabilité extracontractuelle et ceci dans le
    système juridique de plusieurs Etats. L’encadrement de la responsabilité du fait des
    choses est différent dans chaque pays.
    Au Vietnam, les dispositions sur la responsabilité du fait des choses ont été
    révisées et complétées grâce à la publication du Code civil. Au cours de l’élaboration
    de ces dispositions, Vietnam s‟est inspiré de la législation de nombreux pays dans le
    monde.

    *
    TS., Giảng viên trƣờng Đại học Luật Hà Nội

    83

  2. Cependant comme il existe de nombreuses causes (à la fois subjectives et
    objectives), les dispositions au Vietnam comportent encore certaines lacunes et
    limites. Par exemple, il n‟existe pas de dispositions générales sur les choses
    contiennent des dangers extrêmes, ni de directives spécifiques. Il existe donc une
    homogénéité des dommages causés par des actes liés à ce type de chose et ceux causés
    par la chose elle-même. Cette réalité conduit à des incohérences dans l‟application des
    dispositions pour trancher des litiges aux différents Cours. C‟est la raison pour laquelle
    l’auteur analyse et évalue les dispositions de la législation vietnamienne dans cet
    article, afin de formuler des commentaires parfaits.
    Mots-clés: la responsabilité, indemnité, dommage.
    1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra
    Theo quan điểm lập pháp dân sự hiện hành ở Việt Nam, các “Quy định về căn cứ
    phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại theo hƣớng không dựa trên cơ sở lỗi nhƣ
    trong quy định của Bộ luật dân sự năm 2005. Trƣờng hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ
    sở hữu, ngƣời chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại hoặc do có
    thoả thuận, luật có quy định khác”81. Tác giả cho rằng quy định theo hƣớng tiếp
    cận hiện tại của Việt Nam trong Bộ luật dân sự năm 2015 là phù hợp hơn so với Bộ
    luật dân sự năm 2005 bởi vì:
    Thứ nhất, “xét về hình thức, lỗi là thái độ tâm lý của ngƣời có hành vi gây ra
    thiệt hại, lỗi đƣợc thể hiện dƣới dạng cố ý hay vô ý”82. Nhƣ vậy, lỗi là yếu tố gắn liền
    với hành vi gây thiệt hại trái pháp luật của con ngƣời. Do đó, khi tài sản gây thiệt hại
    thì bản thân tài sản không thể bị coi là có lỗi. Bởi vì hoạt động của tài sản không thể
    coi là một hành vi. Đồng thời, “sẽ là không hợp lý khi một tài sản gây thiệt hại lại xét
    đến yếu tố hành vi …, … gắn lỗi cho tài sản khi chúng gây thiệt hại là không thể xảy
    ra”83.
    Thứ hai, trong rất nhiều trƣờng hợp, tài sản có thể gây thiệt hại mà ngay bản thân
    chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử dụng tài sản cũng không thể kiểm soát đƣợc. Đây là

    81
    Đinh Trung Tụng (chủ biên, 2016), Bối cảnh xây dựng và một số nội dung mới chủ yếu của Bộ luật dân sự
    năm 2015 (so sánh với Bộ luật dân sự năm 2005), Nxb Tƣ pháp, Hà Nội, tr.55.
    82
    Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 2), Nxb Công an nhân dân, Hà
    Nội, tr.286;
    83
    Trần Thị Huệ (chủ biên, 2013), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật dân sự Việt
    Nam, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị – Hành chính, Hà Nội, tr.20-21;

    84

  3. những trƣờng hợp mà chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử dụng tài sản đã tuân thủ mọi
    quy định liên quan đến việc quản lý tài sản, nhƣng thiệt hại vẫn xảy ra. Điều đó cũng
    có nghĩa là chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, ngƣời sử dụng tài sản không có lỗi trong
    việc quản lý tài sản (không có yếu tố lỗi). Nếu nhƣ coi lỗi là một điều kiện phát sinh
    trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại thì trong những trƣờng hợp này, chủ sở hữu, ngƣời
    chiếm hữu, ngƣời sử dụng tài sản sẽ không phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại.
    Điều này là rất vô lý và không công bằng đối với ngƣời bị thiệt hại. Trong trƣờng hợp
    này nên coi thiệt hại xảy ra là một rủi ro mà tài sản mang lại và ai hƣởng lợi từ tài sản
    sẽ phải gánh chịu rủi ro đó. Do đó, để đảm bảo nguyên tắc công bằng thì chủ sở hữu,
    ngƣời chiếm hữu, sử dụng tài sản phải gánh chịu rủi ro mà tài sản mang lại, tức là phải
    bồi thƣờng thiệt hại cho ngƣời bị thiệt hại ngay cả khi không có lỗi.
    2. Những quy định cụ thể về bồi thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra
    2.1. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
    * Về cơ sở pháp lý:
    Ở Việt Nam, cơ sở pháp lý của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy
    hiểm cao độ gây ra đƣợc quy định tại điều 601 bộ luật dân sự năm 2015. Song tại
    khoản 1 Điều này chỉ liệt kê các loại nguồn nguy hiểm cao độ mà chƣa ghi nhận cụ thể
    khái niệm mang tính bao quát về nguồn nguy hiểm cao độ. Cách quy định này tƣởng
    sẽ dễ áp dụng, nhƣng thực tế cho thấy việc quy định riêng biệt nhƣng chƣa rõ ràng đã
    khiến cho việc áp dụng pháp luật không thống nhất. Một số Toà án đã đồng nhất
    trƣờng hợp hành vi gây thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao độ với trƣờng
    hợp thiệt hại do tự thân nguồn nguy hiểm cao độ gây ra dẫn đến việc vận dụng cơ sở
    pháp lý không chính xác. Ví dụ, tại Bản án số 14/2019/DS-ST ngày 18/4/2019 của Toà
    án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử tranh chấp về bồi thường
    thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm, Hội đồng xét xử đã nhận định có “hành vi lái xe
    lấn sang bên trái đường” nhưng lại áp dụng Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 (bồi
    thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra) để giải quyết vấn đề bồi thường84.
    Điều này khiến cho giá trị của việc quy định riêng biệt đối với nguồn nguy hiểm cao
    độ không đạt đƣợc giá trị nhƣ mong muốn.

    84
    Xem toàn văn bản án trên trang thông tin điện tử của Toà án nhân dân tối cao về công bố bản án, quyết định
    của Toà án tại website: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta280076t1cvn/chi-tiet-ban-an (truy cập ngày
    16/6/2019)

    85

  4. Không giống nhƣ Việt Nam, trong Bộ luật dân sự Đức không có quy định riêng
    về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra, đồng thời cũng
    không đƣa ra nguyên tắc chung để xác định trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản
    gây ra. Theo đó, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
    (nếu có) chỉ đƣợc lồng ghép trong các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thƣờng
    thiệt hại do động vật gây ra (Điều 833 và Điều 834), trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại
    do nhà cửa, công trình xây dựng khác (Điều 836 và Điều 837).
    * Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng:
    Theo quy định tại Điều 601 Bộ luật dân sự 2015 của Việt Nam, khi nguồn nguy
    hiểm cao độ gây thiệt hại, ngƣời phải bồi thƣờng có thể là chủ sở hữu, ngƣời đƣợc
    giao chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ hoặc ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái
    pháp luật. Trong đó, khoản 3 Điều 601 quy định chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử
    dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thƣờng ngay cả trong trƣờng hợp không có lỗi
    bất kể những những chủ thể này là ngƣời đƣợc hƣởng lợi hoặc không đƣợc hƣởng lợi
    ích từ nguồn nguy hiểm cao độ mà mình quản lý. Điều này cho thấy, pháp luật đặc biệt
    đề cao trách nhiệm của chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, ngƣời sử dụng trong việc quản
    lý nguồn nguy hiểm cao độ. Tuy nhiên, điều này chỉ thực sự phù hợp với chủ sở hữu
    nguồn nguy hiểm cao độ. Bởi vì chủ sở hữu là ngƣời đƣợc thực hiện các quyền năng
    đối với tài sản, trong đó có quyền khai thác công dụng và hƣởng hoa lợi, lợi tức từ tài
    sản. Theo lẽ công bằng, khi tài sản mang lại lợi ích, chủ sở hữu đƣợc hƣởng, thì khi tài
    sản gây ra thiệt hại, chủ sở hữu phải bồi thƣờng là hoàn toàn phù hợp. Song, khi nguồn
    nguy hiểm cao độ gây thiệt hại mà ngƣời đƣợc giao chiếm hữu, sử dụng không có lỗi
    trong quản lý, đồng thời họ không đƣợc hƣởng lợi ích từ việc quản lý nguồn nguy
    hiểm cao độ mà vẫn phải bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra là
    chƣa phù hợp với lẽ công bằng mà Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam đã ghi
    nhận.
    Trách nhiệm của ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật có thể là trách nhiệm
    độc lập hoặc trách nhiệm liên đới. Theo quy định tại khoản 4 điều 601 Bộ luật dân sự
    2015, trách nhiệm liên đới sẽ phát sinh nếu chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử dụng có
    lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật. Chính
    sự kết hợp giữa hành vi bất cẩn của chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử dụng với hành vi

    86

  5. của ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật nguồn nguy hiểm cao độ đó là nguyên
    nhân dẫn đến nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại nên việc họ phải chịu trách nhiệm
    liên đới bồi thƣờng thiệt hại là hoàn toàn phù hợp.
    Theo quy định trong Bộ luật dân sự Đức, khi các tài sản đƣợc coi là nguồn nguy
    hiểm cao độ gây thiệt hại, việc xác định chủ thể cũng không có điểm gì đặc biệt so với
    trƣờng hợp các tài sản khác gây thiệt hại. Theo đó, trách nhiệm bồi thƣờng đặt ra với
    chủ sở hữu và ngƣời chiếm hữu tài sản. Ngoài ra, Bộ luật dân sự Đức cũng không đề
    cập đến trách nhiệm của ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật, và đây cũng là điểm
    khác biệt so với Bộ luật dân sự Việt Nam. Song khái niệm ngƣời chiếm hữu tài sản
    cũng có thể bao hàm khái niệm ngƣời chiếm hữu trái pháp luật nhƣ Bộ luật dân sự
    Việt Nam đã đề cập.
    2.2. Bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra
    * Về cơ sở pháp lý
    Ở Việt Nam, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do súc vật gây ra đƣợc quy định cụ
    thể tại Điều 603 Bộ luật dân sự năm 2015 và hoàn toàn tách biệt với trách nhiệm bồi
    thƣờng thiệt hại do các loại gia cầm hoặc thú dữ gây ra. Trong đó, nếu gia cầm gây
    thiệt hại, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đƣợc giải quyết theo quy định chung về
    trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra tại khoản 3 Điều 584 Bộ luật dân sự
    năm 2015. Nếu thú dữ gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đƣợc giải quyết
    theo quy định về bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra tại Điều 601
    Bộ luạt dân sự năm 2105.
    Tác giả cho rằng, sự tách biệt các trƣờng hợp bồi thƣờng thiệt hại do động vật
    gây trong bộ luật dân sự của Việt Nam đảm bảo việc xác định căn cứ phát sinh trách
    nhiệm bồi thƣờng trong các trƣờng hợp khác nhau một cách chi tiết hơn. Tuy nhiên,
    việc tách biệt sẽ rơi vào việc liệt kê các trƣờng hợp bồi thƣờng thiệt hại do động vật
    gây ra, mà việc liệt kê sẽ không thể bao quát đƣợc tất cả các trƣờng hợp động vật gây
    thiệt hại, dẫn đến việc khi giải quyết tranh chấp về bồi thƣờng thiệt hại sẽ phải viện
    dẫn quy định tƣơng tự pháp luật để giải quyết. Hơn nữa, nhà làm luật không đƣa ra bất
    cứ cách giải thích nào về các khái niệm nhƣ súc vật, gia súc, gia cầm, bò sát, … dẫn
    đến thực thế có thể xảy ra tình trạng không thống nhất trong việc áp dụng. Ví dụ, tại
    Bản án số 100/2005/DS-PT ngày 07/6/2015 của Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Hội

    87

  6. đồng xét xử đã xác định “ngỗng là súc vật” nên đã áp dụng quy định về bồi thường
    thiệt hại do súc vật gây ra để giải quyết.
    Trong khi đó ở Đức, Bộ luật dân sự quy định chung về trách nhiệm bồi thƣờng
    của ngƣời nuôi giữ và ngƣời giám sát động vật khi động vật gây thiệt hại mà không
    tách biệt thành súc vật, gia cầm, thú dữ nhƣ ở Việt Nam. Tác giả cho rằng việc quy
    định thống nhất nhƣ Bộ luật dân sự Đức sẽ giúp cho việc áp dụng thống nhất trong
    thực tiễn, tránh những trƣờng hợp vận dụng cơ sở pháp lý không chính xác.
    * Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng:
    Theo quy định của Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015, khi súc vật gây thiệt hại,
    trách nhiệm bồi thƣờng có thể thuộc về chủ sở hữu, ngƣời đƣợc giao chiếm hữu, sử
    dụng súc vật, ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật hoặc là ngƣời thứ ba.
    Trong đó, chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm khi trực tiếp quản lý súc vật tại thời điểm
    súc vật gây thiệt hại hoặc không trực tiếp quản lý súc vật gây thiệt hại nhƣng có lỗi
    làm cho súc vật bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật hoặc để ngƣời thứ ba tác động
    làm cho súc vật gây thiệt hại. Ngoài ra, ngay cả khi chủ sở hữu chuyển giao quyền
    chiếm hữu, sử dụng súc vật cho chủ thể khác thì chủ sở hữu vẫn phải bồi thƣờng thiệt
    hại do súc vật gây ra nếu có thoả thuận. Ngƣời chiếm hữu, sử dụng súc vật phải bồi
    thƣờng thiệt hại trong thời gian chiếm hữu, sử dụng súc vật bất kể có lỗi hay không có
    lỗi trong việc quản lý súc vật, trừ trƣờng hợp có thỏa thuận với chủ sở hữu về việc chủ
    sở hữu phải bồi thƣờng thiệt hại. Ngoài chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, sử dụng hợp
    pháp súc vật phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thì ở Việt Nam, ngƣời chiếm hữu, sử
    dụng trái pháp luật phải bồi thƣờng thiệt hại do súc vật gây ra trong thời gian chiếm
    hữu, sử dụng trái pháp luật súc vật. Trong khi đó, Bộ luật dân sự của Pháp không quy
    định riêng về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại của ngƣời chiếm hữu, sử dụng trái pháp
    luật động vật mà chỉ quy định trách nhiệm của chủ sở hữu hoặc ngƣời sử dụng.
    Đặc biệt theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam, trƣờng hợp
    ngƣời thứ ba hoàn toàn có lỗi làm cho súc vật gây thiệt hại cho ngƣời khác thì ngƣời thứ
    ba phải bồi thƣờng thiệt hại; nếu ngƣời thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới
    bồi thƣờng thiệt hại. Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, điều này là không hợp lý
    bởi vì trách nhiệm bồi thƣờng của ngƣời thứ ba đƣợc đề cập trong Bộ luật dân sự năm
    2015 của Việt Nam thực chất là trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do hành vi trái pháp

    88

  7. luật gây ra mà không phải do súc vật gây ra. Cách quy định chủ thể chịu trách nhiệm bồi
    thƣờng thiệt hại nhƣ Bộ luật dân sự Việt Nam khiến cho các quy định trở nên mâu thuẫn
    với nhau. Các quy định chung thì thể hiện quan điểm lập pháp theo hƣớng không coi lỗi
    là một trong các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra.
    Nhƣng chính các quy định cụ thể có thể dẫn đến cách hiểu rằng lỗi vẫn là một trong các
    điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do súc vật (một trong các loại tài
    sản) gây ra. Với những phân tích này có thể thấy việc quy định trách nhiệm bồi thƣờng
    chỉ thuộc về chủ sở hữu hoặc ngƣời sử dụng động vật nhƣ trong Bộ luật dân sự Pháp sẽ
    hạn chế đƣợc sự mâu thuẫn giữa các quy định mà Việt Nam đang gặp phải. Còn ở Đức,
    Bộ luật dân sự quy định khá đơn giản về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại
    do động vật gây ra. Theo đó, khi động vật gây thiệt hại thì chủ sở hữu phải bồi thƣờng,
    trƣờng hợp chủ sở hữu đã chuyển giao cho ngƣời khác giám sát thì ngƣời giám sát
    phải bồi thƣờng. Song trách nhiệm bồi thƣờng không đặt ra nếu các chủ thể đã tuân
    theo sự cẩn trọng cần thiết khi giám sát động vật hoặc thiệt hại vẫn xảy ra kể cả khi đã
    vậng dụng sự cẩn trọng này85.
    2.3. Bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra
    * Về cơ sở pháp lý:
    Ở Việt Nam, bồi thƣờng thiệt hại do cây cối gây ra đƣợc quy định cụ thể tại Điều
    604 Bộ luật dân sự 2015. Theo đó “Chủ sở hữu, ngƣời chiếmh, ngƣời đƣợc giao quản
    lý phải bồi thƣờng thiệt hại do cây cối gây ra”. Theo quy định này, nếu cây cối gây
    thiệt hại (bất kể do đổ, gẫy, cháy, độc tố phát ra, hoặc do bất cứ nguyên nhân nào) mà
    đủ các điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng thì chủ sở hữu hoặc các chủ thể có
    liên quan phải bồi thƣờng thiệt hại. Quy định này bao quát đƣợc toàn bộ các trƣờng
    hợp bồi thƣờng thiệt hại do cây cối gây ra, giúp cho Tòa án có cơ sở pháp lý rõ ràng để
    giải quyết các vụ việc tranh chấp phát sinh trên thực tiễn.
    Theo quan điểm của tác giả, việc ghi nhận cơ sở pháp lý riêng biệt nhƣ Bộ luật
    dân sự Việt Nam sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc áp dụng vào thực tiễn, tránh
    tình trạng mâu thuẫn trong việc đánh giá mức độ phù hợp của quy định chung đối với
    từng trƣờng hợp cụ thể. Bởi vì, cây cối và các loại tài sản khác có sự khác biệt về cơ

    85
    Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (dịch, 2014), Bộ luật dân sự Đức (Chế định nghĩa vụ), Nxb Lao động, tr.684-
    685.

    89

  8. chế gây thiệt hại. Hầu hết hoạt động gây thiệt hại của các loại cây cối đều nằm trong
    sự kiểm soát của con ngƣời, trong khi đó hoạt động gây thiệt hại của súc vật hay
    nguồn nguy hiểm cao độ có thể nằm ngoài tầm kiểm soát của con ngƣời. Tuy nhiên,
    việc quy định này cũng dẫn đến những sự trùng lặp giữa quy định chung về bồi thƣờng
    thiệt hại do tài sản gây ra tại khoản 3 Điều 584 với quy định cụ thể về bồi thƣờng thiệt
    hại do cây cối gây ra tại Điều 604, đặc biệt là sự trùng lặp về các trƣờng hợp phải bồi
    thƣờng và chủ thể phải bồi thƣờng.
    * Chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng:
    Theo quy định tại Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam, khi cây cối
    gây thiệt hại, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại có thể là chủ sở hữu hoặc
    ngƣời chiếm hữu, ngƣời đƣợc giao quản lý cây cối. Nhà làm luật Việt Nam không quy
    định thứ tự chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại. Theo đó, việc xác định chủ sở
    hữu hay ngƣời chiếm hữu, ngƣời đƣợc giao quản lý phải bồi thƣờng thiệt hại phải xem
    xét tại thời điểm cây cối gây thiệt hại ai là ngƣời đang chịu trách nhiệm quản lý cây cối.
    Mặc dù việc xác định các chủ thể phải bồi thƣờng thiệt hại do cây cối gây ra trong Bộ
    luật dân sự năm 2015 đã có thay đổi tích cực hơn Bộ luật dân sự trƣớc đó, song rõ ràng
    việc sử dụng cả cụm từ “ngƣời chiếm hữu” và cụm từ “ngƣời đƣợc giao quản lý” để xác
    định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng là không cần thiết và thể hiện sự lặp đi lặp lại
    các thuật ngữ có cùng nội dung. Bởi vì chiếm hữu đƣợc hiểu là “nắm giữ và quản lý tài
    sản”86, tức là khái niệm “chiếm hữu” đã bao hàm cả khái niệm “quản lý”, nên khái niệm
    “ngƣời chiếm hữu” đã bao hàm cả khái niệm “ngƣời đƣợc giao quản lý”.
    2.4. Bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
    * Cơ sở pháp lý và các trƣờng hợp bồi thƣờng thiệt hại:
    Ở Việt Nam, bồi thƣờng thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
    vừa tuân theo quy định chung, vừa đƣợc quy định riêng tại Điều 605 Bộ luật dân sự
    năm 2015. Trong đó, nhà làm luật Việt Nam không còn xác định các trƣờng hợp bồi
    thƣờng thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra nhƣ trƣớc đó mà quy định
    theo hƣớng mọi trƣờng hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại thì trách nhiệm
    bồi thƣờng đều phát sinh nếu không thuộc các trƣờng hợp loại trừ trách nhiệm bồi
    thƣờng. Trong Bộ luật dân sự Đức, nhà làm luật ghi nhận cơ sở pháp lý riêng đối với

    86
    Viện khoa học pháp lý (2006), “Từ điển luật học”, Nxb từ điển Bách khoa – Nxb Tƣ pháp, tr.136.

    90

  9. trƣờng hợp thiệt hại do nhà cửa, công trình khác gắn liền với đất bị sụp đổ, rơi vỡ
    gây thiệt hại.
    Nhƣ vậy, vừa có sự tƣơng đồng vừa có sự khác biệt giữa Bộ luật dân sự Việt
    Nam và Bộ luật dân sự Đức. Sự tƣơng đồng thể hiện ở chỗ Bộ luật dân sự của hai
    quốc gia đều sử dụng thuật ngữ nhà cửa (toà nhà) và công trình xây dựng khác (công
    trình khác gắn liền với đất). Sự khác biệt thể hiện ở chỗ theo Bộ luật dân sự của Việt
    Nam thì nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng
    có thể làm phát sinh trách nhiệm bồi thƣờng. Trong khi đó, Bộ luật dân sự Đức lại
    ghi nhận hai trƣờng hợp bồi thƣờng thiệt hại đó là toà nhà hoặc công trình khác bị
    sụp đổ và trƣờng hợp các phần của toà nhà hoặc công trình khác bị vỡ ra.
    Theo cách quy định này, có thể nhận thấy rằng quy định về bồi thƣờng thiệt hại
    do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra trong Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam
    mang tính khái quát cao hơn. Quy định này là cơ sở để Toà án có thể giải quyết tranh
    chấp trong mọi trƣờng hợp nhà cửa, công trình xây dựng gây thiệt hại trên thực tế.
    Việc chỉ quy định hai trƣờng hợp bồi thƣờng thiệt hại do công trình xây dựng gây ra
    trong Bộ luật dân sự Đức nếu áp dụng tại Việt Nam có thể khiến cho Toà án sẽ thiếu
    cơ sở để giải quyết các tranh chấp liên quan đến công trình xây dựng gây thiệt hại
    nhƣng không do sụp đổ, vỡ ra (ví dụ nhà hoặc công trình khác bị cháy gây thiệt hại,
    …). Tuy nhiên, việc sử dụng cả hai cụm từ là nhà cửa (toà nhà) và công trình xây dựng
    khác (công trình khác gắn liền với đất) nhƣ cả hai Bộ luật dân sự của hai quốc gia lại
    chƣa thực sự phù hợp. Bởi vì, ở Việt Nam “nhà cửa cũng là một loại công trình xây
    dựng”87 và đều là bất động sản88.
    * Về chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại:
    Ở Việt Nam, theo quy định tại Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015, chủ thể chịu
    trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra có thể là chủ
    sở hữu, ngƣời chiếm hữu, ngƣời đƣợc giao quản lý, sử dụng hoặc có thể là ngƣời thi
    công. Trong đó, ngƣời thi công chỉ chịu trách nhiệm khi có lỗi, các chủ thể khác phải
    chịu trách nhiệm ngay cả khi không có lỗi. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự của Việt Nam
    không xác định cụ thể thứ tự chịu trách nhiệm của các chủ thể (ai trƣớc, ai sau). Khiến

    87
    Xem khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở năm 2015 và khoản 10 Điều 3 Luật Xây dựng năm 2014
    88
    Xem khoản 1 Điều 107 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015

    91

  10. cho thực tế có thể tồn tại nhiều quan điểm trái ngƣợc nhau liên quan đến việc xác định
    chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng, gây khó khăn cho việc áp dụng. Nếu dựa trên lập
    luận cho rằng tại thời điểm xảy ra thiệt hại chủ thể nào đang quản lý thì chủ thể đó
    phải bồi thƣờng thì sẽ giải quyết nhƣ thế nào nếu tại thời điểm đó cả chủ sở hữu và
    chủ thể khác cùng đang quản lý, sử dụng hoặc trƣờng hợp ngƣời quản lý là ngƣời
    “trông nhà hộ” mà không đƣợc hƣởng lợi. Nếu dựa trên lập luận cho rằng chủ thể nào
    đang hƣởng lợi từ việc khai thác nhà cửa, công trình xây dựng thì chủ thể đó bồi
    thƣờng thì sẽ giải quyết nhƣ thế nào nếu nhà cửa, công trình xây dựng mới bàn giao đã
    gây thiệt hại.
    Trong Bộ luật dân sự Đức, việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng
    thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng gây ra đƣợc thể hiện trong các quy định khác
    nhau. Trong đó, chủ thể chịu trách nhiệm bồi thƣờng bao gồm ngƣời chiếm hữu mảnh
    đất (Điều 836), ngƣời chiếm hữu tòa nhà hoặc công trình trên đất (Điều 837) và ngƣời
    bảo trì (Điều 838). Tuy nhiên, tùy từng trƣờng hợp cụ thể mà chủ thể phải bồi thƣờng
    thiệt hại đƣợc xác định cụ thể: Nếu nhà cửa, công trình khác gây thiệt hại mà liên quan
    đến hoạt động bảo trì thì ngƣời bảo trì bồi thƣờng; Nếu tòa nhà hoặc công trình đang
    thuộc sự chiếm hữu của ngƣời nào thì ngƣời đó phải bồi thƣờng thay cho ngƣời chiếm
    hữu mảnh đất; Nếu ngƣời chiếm hữu mảnh đất đồng thời là ngƣời chiếm hữu tòa nhà
    hoặc công trình khác gây thiệt hại thì ngƣời chiếm hữu mảnh đất bồi thƣờng. Tuy
    nhiên, trƣờng hợp ngƣời chiếm hữu mảnh đất đã thôi chiếm hữu mảnh đất thì trong
    vòng một năm kể từ ngày thôi chiếm hữu, nếu tòa nhà hoặc công trình khác gây thiệt
    hại thì họ vẫn phải bồi thƣờng thiệt hại.
    Nhƣ vậy, quy định của pháp luật Đức cũng có điểm tƣơng đồng nhất định với
    pháp luật Việt Nam. Điều đó thể hiện ở chỗ việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi
    thƣờng thiệt hại dựa trên nguyên tắc chủ thể nào có quyền chi phối đối với tài sản thì
    chủ thể đó phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra. Tuy nhiên, Bộ
    luật dân sự Việt Nam không buộc chủ thể đã chuyển quyền sở hữu ngôi nhà cho ngƣời
    khác phải chịu trách nhiệm trừ khi thời hạn bảo hành nhà vẫn còn. Ngoài ra, theo Bộ
    luật dân sự Đức thì ngƣời bảo trì toà nhà có thể phải chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt
    hại, trong khi Bộ luật dân sự Việt Nam lại quy định ngƣời thi công có thể phải bồi
    thƣờng thiệt hại nếu có lỗi trong thi công. Những sự khác nhau này cho thấy quan

    92

  11. điểm lập pháp của hai quốc gia có những điểm khác biệt cơ bản, xuất phát từ sự khác
    biệt về điều kiện kinh tế – xã hội và nền văn hoá ở mỗi quốc gia.
    2.5. Căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra
    Ở Việt Nam, căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đƣợc quy định
    chung tại khoản 2 Điều 584 Bộ luật dân sự năm 2015 bao gồm: (i) Thiệt hại xảy ra do
    sự kiện bất khả kháng; (ii) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của ngƣời bị thiệt hại. Đây
    là căn cứ đƣợc áp dụng với cả trƣờng hợp hành vi gây thiệt hại và tài sản gây thiệt hại.
    Tuy nhiên, đối với trƣờng hợp tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại, căn cứ
    loại trừ trách nhiệm đƣợc ghi nhận riêng tại khoản 3 Điều 601. Theo đó, trách nhiệm
    bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra đƣợc loại trừ trong ba trƣờng
    hợp: (i) Thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng; (ii) Thiệt hại xảy ra trong tình thế
    cấp thiết; (iii) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của ngƣời bị thiệt hại. Nhƣ vậy,
    mặc dù không ghi nhận lỗi là một trong các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi
    thƣờng thiệt hại, song ở Việt Nam việc xác định lỗi của ngƣời bị thiệt hại lại là một
    trong những căn cứ để xác định mức độ thiệt hại mà họ không đƣợc bồi thƣờng, thậm
    chí là căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thƣờng. Ngoài ra, Bộ luật dân sự Việt Nam còn
    quy định: “Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy
    ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại
    cho chính mình”. Quy định này là phù hợp bởi vì nó buộc ngƣời bị thiệt hại phải có ý
    thức tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trƣớc khi bị xâm phạm. Đồng thời,
    quy định này thể hiện sự phù hợp với một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
    dân sự đó là “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
    dân sự của mình một cách thiện chí”89.
    Ở Đức, nhà làm luật quy định vấn đề loại trừ và giảm nhẹ trách nhiệm tại Điều
    827. Song nội dung điều này chỉ hƣớng dẫn việc loại trừ trách nhiệm hoặc giảm nhẹ
    trách nhiệm trong trƣờng hợp thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra trong hai trƣờng
    hợp: (1) Khi ngƣời gây thiệt hại ở trong tình trạng rối loạn tâm thần bệnh lý làm không
    thể hình thành ý chí tự do; (2) Ngƣời dùng đồ uống có cồn hoặc các loại tƣơng tự mà
    tạm thời rơi vào tình trạng dạng nhƣ vậy, nhƣng không có lỗi khi rơi vào tình trạng

    89
    Xem khoản 3 Điều 3 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015.

    93

  12. đó90. Tuy nhiên, các căn cứ này không áp dụng với trƣờng hợp tài sản gây thiệt hại mà
    nhà làm luật lại xây dựng căn cứ loại trừ trách nhiệm với từng trƣờng hợp tài sản gây
    thiệt hại. Ví dụ, Điều 833 quy định trách nhiệm bồi thƣờng của ngƣời nuôi giữ động
    vật đƣợc loại trừ nếu vật nuôi trong nhà nhằm phục vụ nghề nghiệp, hoạt động kinh tế
    hoặc sinh sống của ngƣời nuôi giữ, và ngƣời nuôi giữ đã tuân theo sự cẩn trọng cần
    thiết khi giám sát động vật hoặc thiệt hại vẫn xảy ra khi đã vận dụng sự cẩn trọng
    này91; Điều 836 quy định trách nhiệm bồi thƣờng do toà nhà, công trình xây dựng khác
    gây ra đƣợc loại trừ nếu ngƣời chiếm hữu đã tuân thủ sự cẩn trọng cần thiết nhằm mục
    đích phòng tránh nguy cơ92.
    3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi
    thƣờng thiệt hại do tài sản gây ra
    Thứ nhất, về bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra
    (i) Việc ghi nhận cụ thể quy định về bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm
    cao độ gây ra là phù hợp bởi nó tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng khi áp dụng. Tuy nhiên,
    để áp dụng hiệu quả thì nhà làm luật Việt Nam cần phải cân nhắc để cụ thể hoá hơn
    nữa quy định về bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra theo hƣớng
    tách biệt với trƣờng hợp hành vi gây thiệt hại có liên quan đến nguồn nguy hiểm cao
    độ. Đặc biệt, cần có một định nghĩa hoàn chỉnh mang tính bao quát về nguồn nguy
    hiểm cao độ thay vì liệt kê nhƣ khoản 1 Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt
    Nam.
    (ii) Bộ luật dân sự Việt Nam chƣa hoàn thiện khi quy định về chủ thể chịu trách
    nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Điểm hạn chế trong
    pháp luật Việt Nam là mặc dù có sự rõ ràng về cơ sở để buộc chủ thể phải chịu trách
    nhiệm bồi thƣờng, đặc biệt là ngƣời chiếm hữu nguồn nguy hiểm cao độ nhƣng lại
    buộc chủ thể không có lỗi và không đƣợc hƣởng lợi từ việc chiếm hữu mà vẫn phải bồi
    thƣờng thiệt hại. Theo đó, nhà làm luật của Việt Nam có thể khắc phục những hạn chế
    thông qua việc xác định rõ cơ sở áp dụng trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại do nguồn

    90
    Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (dịch, 2014), Bộ luật dân sự Đức (Chế định nghĩa vụ), Nxb Lao động, tr.679.
    91
    Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (dịch, 2014), Bộ luật dân sự Đức (Chế định nghĩa vụ), Nxb Lao động, tr.684.
    92
    Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (dịch, 2014), Bộ luật dân sự Đức (Chế định nghĩa vụ), Nxb Lao động, tr.685-
    686.

    94

  13. nguy hiểm cao độ gây ra dựa trên cơ sở những lợi ích mà họ đƣợc hƣởng từ việc khai
    thác nguồn nguy hiểm cao độ.
    (iii) Việc ghi nhận các căn cứ loại trừ trách nhiệm chung với mọi trƣờng hợp
    nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại nhƣ ở Bộ luật dân sự Việt Nam sẽ không phù
    hợp. Bởi vì, căn cứ thiệt hại xảy ra trong tình thế cấp thiết dƣờng nhƣ chỉ phù hợp với
    loại nguồn nguy hiểm cao độ là phƣơng tiện cơ giới vận tải mà không phù hợp với các
    loại nguồn nguy hiểm cao độ khác. Trong khi đó, việc ghi nhận riêng biệt các căn cứ
    loại trừ trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại nhƣ trong Bộ luật dân sự Đức sẽ phù hợp hơn
    bởi vì mỗi loại tài sản có những cơ chế hoạt động gây thiệt hại khác nhau nên các căn
    cứ loại trừ trách nhiệm cũng cần xác định một cách phù hợp. Các nhà làm luật của
    Việt Nam nên cân nhắc đến vấn đề này để có thể hoàn thiện pháp luật trong thời gian
    tới.
    Thứ ba, về bồi thƣờng thiệt hại do súc vật gây ra
    (i) Nhà làm luật Việt Nam cần cân nhắc đến việc ghi nhận quy định chung về bồi
    thƣờng thiệt hại do động vật gây ra nhƣ trong Bộ luật dân sự Đức, nhằm bảo đảm việc
    bao quát các trƣờng hợp động vật gây thiệt hại, tránh việc áp dụng không thống nhất
    trong thực tế.
    (ii) Việc Bộ luật dân sự Đức không ghi nhận trách nhiệm bồi thƣờng của ngƣời
    thứ ba là phù hợp hơn. Bởi vì xét về bản chất đây là trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại
    do hành vi trái pháp luật của con ngƣời gây ra mà không phải trách nhiệm bồi thƣờng
    do súc vật gây ra. Do đó, nhà làm luật Việt Nam cần cân nhắc để có những sửa đổi cho
    phù hợp với thực tế.
    Thứ tư, về bồi thƣờng thiệt hại do cây cối gây ra
    Việc sử dụng cả cụm từ “ngƣời chiếm hữu” và cụm từ “ngƣời đƣợc giao quản lý”
    trong Điều 604 Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam là không cần thiết và thể hiện
    sự lặp đi lặp lại các thuật ngữ có cùng nội dung. Bởi vì, ngƣời chiếm hữu bao gồm
    ngƣời chiếm hữu có căn cứ pháp luật và không có căn cứ pháp luật. Hơn nữa, căn cứ
    quy định tại khoản 1 Điều 165 Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2015 có thể xác định
    ngƣời đƣợc giao quản lý tài sản là ngƣời chiếm hữu có căn cứ pháp luật đối với tài sản
    đƣợc giao. Nên suy cho cùng khái niệm “ngƣời chiếm hữu” đã bao hàm cả khái niệm
    “ngƣời đƣợc giao quản lý”. Do đó, chỉ cần sử dụng khái niệm ngƣời chiếm hữu là đủ.

    95

  14. Theo đó, tác giả cho rằng cần loại bỏ cụm từ “ngƣời đƣợc giao quản lý” khỏi Điều 604
    Bộ luật dân sự 2015.
    Thứ năm, bồi thƣờng thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra
    (i) Việc sử dụng đồng thời các thuật ngữ “nhà cửa” và “công trình xây dựng
    khác” nhƣ trong Bộ luật dân sự Việt Nam mặc dù không gây ra sự nhầm lẫn, nhƣng
    thiết nghĩ rằng điều đó là không cần thiết. Nhà làm luật Việt Nam nên cân nhắc việc sử
    dụng thống nhất một cụm từ “bất động sản” nhƣ trong Bộ luật dân sự Pháp để tránh
    rƣờm rà và trùng lặp.
    (ii) Việc sử dụng quá nhiều thuật ngữ để xác định chủ thể chịu trách nhiệm bồi
    thƣờng thiệt hại nhƣ trong Điều 605 Bộ luật dân sự 2015 của Việt Nam dễ gây ra sự
    nhầm lẫn trong việc xác định chính xác chủ thể. Hơn nữa, các khái niệm này là trùng
    lặp với nhau về bản chất. Bởi vì khái niệm “ngƣời chiếm hữu” đƣợc bổ sung trong
    Điều 605 Bộ luật dân sự năm 2015 của Việt Nam có thể bao hàm cả ngƣời đƣợc giao
    quản lý, bởi vì chiếm hữu là nắm giữ và quản lý tài sản.Trong một số trƣờng hợp khái
    niệm “ngƣời chiếm hữu” cũng chính là ngƣời ngƣời đƣợc giao sử dụng, bởi vì thƣờng
    thì phải chiếm hữu đƣợc mới sử dụng đƣợc. Thậm chí, bản thân chủ sở hữu cũng thực
    hiện quyền chiếm hữu tài sản theo quy định pháp luật. Do đó, nhà làm luật Việt Nam
    nên cân nhắc sử dụng một số cụm từ nhƣ chủ sở hữu, ngƣời chiếm hữu, ngƣời sử dụng
    để bảo đảm tránh rƣờm rà và tạo sự nhất quán trong việc áp dụng.

    96

  15. TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Quốc hội, Bộ luật dân sự năm 2015.
    2. Bộ luật dân sự Pháp (sửa đổi năm 2016)
    3. Trần Thị Huệ (chủ biên, 2013), Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản
    gây ra theo pháp luật dân sự Việt Nam, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị – Hành
    chính, Hà Nội.
    4. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình Luật dân sự Việt Nam (tập 2),
    Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
    5. Trƣờng Đại học Luật Hà Nội (dịch, 2014), Bộ luật dân sự Đức (Chế định
    nghĩa vụ), Nxb Lao động.
    6. Đinh Trung Tụng (chủ biên, 2016), Bối cảnh xây dựng và một số nội dung mới
    chủ yếu của Bộ luật dân sự năm 2015 (so sánh với Bộ luật dân sự năm 2005), Nxb Tƣ
    pháp, Hà Nội.
    6. Nhà Pháp luật Việt – Pháp (2005), Bộ luật dân sự Pháp, Nxb Tƣ pháp, Hà
    Nội.

    97

Download tài liệu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra theo pháp luật Việt Nam File Docx, PDF về máy