[Download] Tổng luận Tương lai của năng suất – Tải về File Docx, PDF

Tổng luận Tương lai của năng suất

Tổng luận Tương lai của năng suất
Nội dung Text: Tổng luận Tương lai của năng suất

Download


Tổng luận trình bày quá khứ và tương tai của năng suất; tư duy về năng suất; gia tăng năng suất trong thế giới toàn cầu hóa; vai trò của chính sách công.

Bạn đang xem: [Download] Tổng luận Tương lai của năng suất – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Tổng luận Tương lai của năng suất File Docx, PDF về máy

Tổng luận Tương lai của năng suất

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Tổng luận Tương lai của năng suất

  1. Tổng luận số 4/2016

    TƯƠNG LAI CỦA NĂNG SUẤT

    1

  2. CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
    Địa chỉ: 24, Lý Thường Kiệt, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Tel: (04)38262718, Fax:
    (04)39349127
    Ban biên tập: TS. Lê Xuân Định (Trưởng ban), ThS. Trần Thị Thu Hà (Phó ban),
    KS. Nguyễn Mạnh Quân, ThS. Phùng Anh Tiến.

    2

  3. MỤC LỤC
    Giới thiệu ……………………………………………………………………………………………………………. 3
    I. Quá khứ và tương lai của năng suất …………………………………………………………………..7
    1.2. Tác động của khủng hoảng …………………………………………………………………………….9
    1.2.1. Đầu tư vô hình gặp khó khăn trong khủng hoảng ………………………………………..10
    1.2.2. Đầu tư vào KBC và kỹ năng sôi động hơn …………………………………………………. 10
    1.2.3. Tái phân bổ nguồn lực để nâng cao năng suất trong thời kỳ khủng hoảng ………11
    1.3. Các nguồn tăng trưởng tương lai ………………………………………………………………….11
    II. Tư duy về năng suất ………………………………………………………………………………………12
    2.1. Khu vực tiên phong năng suất toàn cầu ………………………………………………………..14
    2.2. Sự phổ biến của đổi mới sáng tạo ………………………………………………………………….16
    2.2.1. Tính mở và di động yếu tố toàn cầu …………………………………………………………..16
    2.2.2. Nâng cấp quy mô …………………………………………………………………………………….17
    2.2.3. Vốn tri thức và cạnh tranh ………………………………………………………………………..17
    2.3. Tính không đồng nhất của các công ty và sự tái phân bố nguồn lực ……………….18
    III. Gia tăng năng suất trong thế giới toàn cầu hóa………………………………………………20
    3.1 Tạo điều kiện cho sự lan tỏa học hỏi toàn cầu………………………………………………… 20
    3.2. Hỗ trợ sự phát triển của các công ty năng suất cao ………………………………………..23
    3.2.1. Lợi ích năng suất to lớn nhờ cải thiện hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
    tiên phong quốc gia ………………………………………………………………………………………….23
    3.2.2. Sự chọn lọc thị trường và tăng trưởng sau khi gia nhập thị trường …………………24
    3.3. Khai thác hiệu quả nguồn nhân lực ………………………………………………………………27
    IV. Vai trò của chính sách công …………………………………………………………………………..31
    4.1. Chính sách công và nhóm tiên phong năng suất toàn cầu ………………………………32
    4.1.1. Điều phối chính sách quốc tế…………………………………………………………………….34
    4.1.2. Các chính sách thúc đẩy thử nghiệm ………………………………………………………….35
    4.2. Chính sách hướng đổi mới là quan trọng nhưng có sự đánh đổi ……………………. 35
    4.2.1 Khuyến khích tài chính cho NC&PT…………………………………………………………..35
    4.2.2. Tính ưu việt của nghiên cứu cơ bản …………………………………………………………..37
    4.2.3. Hợp tác NC&PT giữa doanh nghiệp và trường đại học ………………………………..39
    4.2.4. Vai trò của bảo vệ sáng chế ………………………………………………………………………40
    4.3. Khung chính sách hỗ trợ các công ty năng suất phát triển……………………………..41
    4.3.1. Quy định thị trường sản phẩm chống cạnh tranh có các hiệu ứng rộng khắp …..41
    4.3.2. Các cơ chế để đảm bảo việc làm trước rủi ro của thị trường lao động …………….42
    4.3.3. Quy định phá sản và hiệu ứng pháp lý định hình cho cách dừng hoạt động …….43
    4.3.4. Thị trường vốn mạo hiểm …………………………………………………………………………43
    4.4. Các chính sách tạo nguồn nhân lực kỹ năng cao ……………………………………………44
    4.4.1. Chính sách khung tốt có thể làm giảm sự không phù hợp kỹ năng …………………44
    4.4.2. Rào cản cho sự di chuyển trên thị trường nhà ở có thể làm tăng sự không phù
    hợp kỹ năng …………………………………………………………………………………………………….46
    4.4.3. Thị trường lao động và chính sách giáo dục có thể cải thiện sự phù hợp của kỹ
    năng đối với việc làm ……………………………………………………………………………………….47
    4.4.4. Chất lượng quản lý tốt hơn có thể làm giảm sự không phù hợp kỹ năng …………47
    4.4.5. Chính sách hỗ trợ tái phân bổ có thể tạo đòn bẩy cho những lợi ích của chất
    lượng quản lý. ………………………………………………………………………………………………….48
    Kết luận
    3
  4. CÁC CHỮ VIẾT TẮT
    CNTT-TT: Công nghệ thông tin và truyền thông
    EPL: Luật bảo vệ việc làm
    GDP: Tổng sản phẩm trong nước
    GVC: Chuỗi giá trị toàn cầu
    ILO: Tổ chức Lao động Quốc tế ILO
    IPR: Quyền sở hữu trí tuệ
    KBC: Vốn tri thức
    MNE: Tập đoàn đa quốc gia
    MFP: Năng suất đa yếu tố
    NC&PT: Nghiên cứu và phát triển
    NSLĐ: Năng suất lao động
    OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
    PMR: Quy định thị trường sản phẩm

    4

  5. GIỚI THIỆU
    Năng suất là công cụ cuối cùng của sự phát triển trong nền kinh tế toàn cầu.
    Do đó, tăng năng suất là một thách thức cơ bản để cho các nước tiến lên. Báo cáo
    mới của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) về Tương lai của năng
    suất cho thấy rằng chúng ta chưa hết các ý tưởng cho tăng năng suất. Trong thực
    tế, sự tăng trưởng của các doanh nghiệp hiệu quả nhất trên toàn cầu vẫn mạnh mẽ
    trong thế kỷ 21. Tuy nhiên, khoảng cách giữa những nước đi đầu toàn cầu và
    phần còn lại đã tăng lên theo thời gian, và đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ. Điều
    này ngụ ý rằng sự phổ biến kiến thức không diễn ra một cách tự nhiên.
    Trong những thập kỷ tới, sẽ có nhiều thách thức đối với sự phát triển toàn
    cầu, bất chấp sự gia tăng liên tục của các nền kinh tế mới nổi. Tăng trưởng toàn
    cầu sẽ bị ảnh hưởng bởi quá trình lão hóa dân số, giáo dục và sự tham gia của lực
    lượng lao động. Hơn bao giờ hết, năng suất sẽ là động lực chính của tăng trưởng
    và thịnh vượng trong tương lai. Tăng trưởng năng suất cao hơn cũng cần thiết để
    thích ứng với tác động của áp lực nhân khẩu học về ngân sách công, để thoát khỏi
    bẫy thu nhập trung bình đã tấn công nhiều nền kinh tế mới nổi và nuôi dưỡng một
    kỷ nguyên mới về hiệu quả và bảo vệ môi trường.
    Với xuất phát điểm thấp và năng suất lao động (NSLĐ) không có nhiều cải
    thiện, thu nhập của người Việt Nam đang thua xa các nước trong khu vực. NSLĐ
    của toàn nền kinh tế năm 2015 tính theo giá hiện hành đạt 79,3 triệu VND, tương
    đương 3.657 USD/lao động, tăng 6,42% so với năm 2014. Như vậy, bình quân
    giai đoạn 2005 – 2015 tăng 3,9%/năm. Tuy nhiên, nghiên cứu của Viện nghiên
    cứu và quản lý kinh tế Trung ương về NSLĐ chỉ ra từ năm 2005, tốc độ tăng
    NSLĐ của Việt Nam có xu hướng đi xuống đến mức thấp nhất là 2,57% vào năm
    2009. Cùng với quá trình tái cơ cấu kinh tế năm 2012, tốc độ tăng NSLĐ đã có sự
    bứt phá mạnh mẽ và lần đầu tiên vượt qua ngưỡng 6%/năm vào năm 2015.
    Như vậy, tính chung giai đoạn 1992-2014, NSLĐ tính theo sức mua tương
    đương năm 2011 của Việt Nam tăng trung bình 4,64%/năm, là mức tăng cao nhất
    trong số các nước ASEAN nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với Trung Quốc trong
    cùng kỳ (9.07%). Mặc dù tốc độ tăng NSLĐ hàng năm của người Việt khá ổn
    định nhưng không thể hiện sự vượt trội so với các nước Đông Á và Đông Nam Á.
    Thực tế này cũng phù hợp với nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế
    (ILO) đưa ra trong năm 2014 cho thấy, NSLĐ của Việt Nam năm 2013 thuộc
    nhóm thấp nhất châu Á – Thái Bình Dương (những nơi có thể thu thập số liệu) –
    thấp hơn Singapo gần 15 lần, thấp hơn Nhật Bản 11 lần và Hàn Quốc 10 lần.
    5
  6. NSLĐ của Việt Nam thấp và tăng chậm được cho là do lao động chủ yếu
    làm việc trong khu vực có năng suất lao động thấp; Phương tiện sản xuất chậm
    đổi mới; Chất lượng lao động thấp; và Môi trường kinh doanh thiếu cạnh tranh.
    Từ kết quả khảo sát sơ bộ về năng suất lao động và môi trường làm việc tại
    một số doanh nghiệp của Việt Nam cùng với Viện Năng suất Việt Nam, ông
    Kuroda Kazuteru, chuyên gia về năng suất lao động từ Trung tâm Năng suất Nhật
    Bản, cho biết đối với các doanh nghiệp đã khảo sát, nhìn chung, năng suất lao
    động vẫn còn thấp. Các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào từng cá
    nhân trong một doanh nghiệp mà không có cái nhìn trên bình diện toàn hệ thống.
    Theo ông, có 5 yếu tố quyết định đến việc tăng năng suất lao động của Việt
    Nam. Thứ nhất là do yếu tố cá nhân của người lao động. Đây là yếu tố chính thể
    hiện sự hài lòng của nhân viên. Khi cá nhân đạt được thành tựu và kết quả nhất
    định thì họ sẽ có cảm giác hài lòng và muốn cam kết gắn bó với doanh nghiệp.
    Thứ hai, sự công nhận của mọi người về năng lực và trình độ của lao động. Đây
    là yếu tố rất quan trọng trong việc tạo mối quan hệ tốt với đồng nghiệp khác trong
    đơn vị. Đây cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới việc liệu người lao động đó
    có ý định chuyển sang đơn vị khác làm hay không. Thứ ba, niềm tin vào doanh
    nghiệp và định hướng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải có chiến lược định
    hướng rõ ràng sẽ làm tăng niềm tin của người lao động. Thứ tư, là vấn đề tiền
    lương. Rõ ràng tiền lương không phải là yếu tố quan trọng nhất nhưng doanh
    nghiệp nào có lương cao, chế độ đãi ngộ tốt sẽ là một lợi thế để giữ chân nhân
    viên và nhân viên sẽ cống hiến nhiều hơn. Thứ năm là vai trò của lãnh đạo, sự
    giám sát và theo dõi của lãnh đạo. Đây là yếu tố rất quan trọng nhưng cũng là
    thách thức nhất với lao động của Việt Nam. Trong bất cứ đơn vị hay doanh
    nghiệp nào, yếu tố lãnh đạo rất quan trọng, ngoài vấn đề tổ chức, điều hành, đưa
    ra quyết định, lãnh đạo còn giúp kết nối các nhân viên với nhau, đưa ra các đãi
    ngộ với nhân viên….
    Tổng luận “Tương lai của năng suất” được tổng hợp trên cơ sở Báo cáo của
    OECD đề cập đến triển vọng tăng năng suất và các vấn đề giúp tăng năng suất
    của một nền kinh tế hay một doanh nghiệp hy vọng sẽ là một nguồn tài liệu tham
    khảo bổ ích cho việc định hình các chính sách thúc đẩy tăng năng suất lao động
    của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế của nước ta nói chung.
    Xin trân trọng giới thiệu.
    CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ
    CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

    6

  7. I. QUÁ KHỨ VÀ TƯƠNG TAI CỦA NĂNG SUẤT
    1.1. Năng suất lao động toàn cầu
    Trên phạm vi toàn cầu, quỹ đạo tăng trưởng năng suất lao động đã đi lên từ
    năm 1990 cho đến khi xảy ra khủng hoảng, phản ảnh sự bứt phá trong tăng năng
    suất ở các nền kinh tế mới nổi cao hơn sự sụt giảm ở các nước trong khu vực
    OECD. Tuy nhiên, trong giai đoạn sau khủng hoảng, tăng trưởng năng suất đa
    yếu tố (MFP) tương đối yếu, điều này phản ánh hiệu quả của các đầu vào được sử
    dụng – thông qua các cải tiến trong quản lý và quy trình sản xuất, thay đổi tổ chức
    hay rộng hơn là NC&PT và đổi mới sáng tạo. Do phần lớn tăng trưởng năng suất
    lao động ở các thị trường mới nổi phản ánh sự gia tăng đầu tư dẫn đến các câu hỏi
    quan trọng cho cả các nền kinh tế mới nổi và các nước OECD về khả năng tiếp
    thu công nghệ mới và phân bổ nguồn lực hiệu quả.
    Đối với các nước OECD, trong giai đoạn 1950-1995, sự hội tụ các điều kiện
    thuận lợi đã giúp cho năng suất tăng trưởng tương đối nhanh. Nhưng quá trình
    này đã dừng lại sau năm 1995 bởi 2 lý do: i) do các nền kinh tế hội tụ hướng tới
    khu vực tiên phong, khả năng tập trung vào đổi mới sáng tạo ở các nước/ngành
    tiên tiến nhất – ví dụ như CNTT-TT – trở nên quan trọng hơn và ii) tiềm năng đối
    với các công nghệ số mở ra động năng “người thắng được tất cả”, cho phép các
    nhà dẫn đầu công nghệ gia tăng khoảng cách năng suất với các đối thủ theo sau.
    Cụ thể hơn, năng suất lao động ban đầu tăng trưởng nhanh sau năm 1950,
    phản ánh rõ nét quá trình đuổi kịp và phục hồi vốn tư bản bị chiến tranh tàn phá.
    Tốc độ tăng trưởng năng suất giảm xuống từ đầu thập kỷ 1970, nhưng quá trình
    hội tụ vẫn tiếp tục ở nhiều nền kinh tế. Từ giữa thập kỷ 1990, năng suất lao động
    tăng nhanh ở Hoa Kỳ, chủ yếu phản ánh sự gia tăng năng suất liên quan đến phát
    triển nhanh chóng trong công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT-TT). Mặc
    dù những lợi ích này có thể nhận thấy phần nào ở các nước nói tiếng Anh và các
    nước Bắc Âu, nhưng một số nền kinh tế (cụ thể là ở châu Âu) bắt đầu bị tụt lại
    phía sau. Điều này, ngoài việc phản ánh sự đóng góp trực tiếp của CNTT-TT cho
    tăng trưởng năng suất lao động, còn có một số yếu tố quan trọng khác liên quan
    đến CNTT-TT cũng gắn liền với tăng trưởng năng suất như: i) tăng trưởng MFP
    trong bản thân các ngành sản xuất CNTT-TT, ii) sự gia tăng tỷ trọng của các
    ngành này trong các nền kinh tế, và iii) năng suất được cải thiện trong các ngành
    công nghiệp sử dụng CNTT, ví dụ như chế tạo công nghệ cao và đặc biệt là một
    số ngành dịch vụ như bán buôn và bán lẻ, tài chính, bất động sản và các dịch vụ
    kinh doanh khác.
    7
  8. Từ năm 2004, những lợi ích từ cuộc cách mạng CNTT-TT đã bắt đầu giảm
    sút (ở Hoa Kỳ) và tăng trưởng năng suất lao động trong giai đoạn gần đây nhất là
    thấp nhất ở hầu hết các nước OECD kể từ năm 1950.
    Khủng hoảng kinh tế 2008 đã để lại hậu quả làm sụt giảm sự tăng trưởng
    năng suất ở nhiều nền kinh tế, thế nhưng năng suất lao động đã chậm lại ở một số
    nước OECD từ trước khủng hoảng (giai đoạn 2000-2007). Để hiểu rõ các nguồn
    tăng trưởng này, Nếu chia tăng trưởng GDP trong các giai đoạn 1990-2000, 2000-
    2007 và 2007-2013 thành các thành phần đóng góp gồm số lượng lao động, tổng
    hợp lao động (tức vốn lao động tích lũy), gia tăng đầu tư vốn và MFP, chúng ta
    có thể nhận thấy:
    – Sau năm 2000, suy giảm trên diện rộng sự đóng góp của thành phần lao
    động vào tăng trưởng GDP ở các nước OECD – điều này dự kiến còn tiếp tục
    trong tương lai.
    – Sự đóng góp của vốn đầu tư đã chậm lại ở Hoa Kỳ, châu Âu, Hàn Quốc và
    Nhật Bản, và càng rõ hơn trong giai đoạn khủng hoảng sau 2007. Tích lũy vốn
    đầu tư vẫn bùng nổ ở Úc và Canada, phần nào phản ánh sự gia tăng đầu tư vào
    ngành khai khoáng để cung cấp cho Trung Quốc và Ấn Độ.
    – Trong giai đoạn 2000-2007, tăng trưởng MFP đã chậm lại ở hầu hết các
    nền kinh tế, thậm chí suy giảm ở nhiều nước và khu vực.
    Những phát triển sau năm 2007 về MFP ngụ ý rằng có thể các quy mô cấu
    trúc phát triển chậm lại. Trong các thành phần tạo nên MFP, điều quan trọng là
    phải xác định được đổi mới sáng tạo có được nhờ các đầu tư vào vốn tri thức
    (KBC), gồm có: Nghiên cứu và phát triển (NC&PT), kỹ năng đặc thù của công ty,
    bí quyết tổ chức, có sở dữ liệu (CSDL), thiết kế và các dạng tài sản trí tuệ khác
    nhau. Khi đưa KBC vào tính toán tăng trưởng sẽ làm giảm phần đóng góp của
    MFP, KBC thường chỉ có thể loại trừ một phần, làm gia tăng tác động lan tỏa của
    tri thức. Điều này làm nảy sinh khả năng sự suy giảm năng suất có thể phản ánh
    phần nào quá trình tích lũy KBC ở nhiều nước OECD trong những năm đầu 2000,
    đồng thời làm sáng tỏ vai trò quan trọng của KBC trong việc hỗ trợ phổ biến công
    nghệ và tri thức từ nhóm tiên phong toàn cầu.
    Một yếu tố góp phần làm giảm năng suất ở các nền kinh tế đó là sự giảm tốc
    độ phát triển của các khởi nghiệp – được thấy ở nhiều nước OECD từ trước khủng
    hoảng. Một nghiên cứu ở 8 nước châu Âu cho thấy tăng trưởng MFP trong những
    năm 2000 yếu đi trong các ngành có sự sụt giảm tỷ lệ các công ty trẻ (dưới 6
    năm) và các khởi nghiệp cụ thể (dưới 3 năm). Đồng thời sự gia tăng của các công

    8

  9. ty nhỏ và lâu năm (trên 6 năm và dưới 50 lao động) có liên quan đến tăng trưởng
    MFP kém đi.
    Khung 1. Năng suất đa yếu tố
    Năng suất đa yếu tố (MFP) liên quan đến kết quả của tập hợp các đầu vào xác định phù hợp
    và thường được sử dụng để nắm bắt tiến bộ công nghệ và hiệu quả sản xuất. MFP được xem là
    phần dư dôi và do đó có thể bao gồm cả các yếu tố khác nữa ngoài công nghệ và hiệu quả.
    Thực tế, những phát triển trong đo lường và mở rộng nghiên cứu vào các yếu tố của sản xuất
    như vốn tri thức (KBC) và tài nguyên thiên nhiên đã làm nảy sinh những vấn đề quan trọng liên
    quan đến cả đo lường và xu thế của MFP.
    Trong số những vấn đề về đo lường, cần phản xem xét ước tính đúng các đầu vào lao động
    và vốn điều chỉnh theo chất lượng.
    – Thứ nhất, đo lường đầu vào lao động cần tính đến cả giờ làm việc và thành phần kỹ năng
    của lực lượng lao động;
    – Thứ hai, đo lường vốn đầu tư cần bao gồm các dịch vụ cho tổng lượng vốn và được điều
    chỉnh cho tập hợp tổng lượng vốn, bao gồm sử dụng vốn CNTT-TT. Các dịch vụ cho KBC, như
    NC&PT và tài sản trí tuệ nói chung, cơ sở dữ liệu, vốn quản lý và tổ chức cần phải được tính là
    các đầu vào. Tuy nhiên, việc đo lường chính xác các đầu vào này vẫn đang được tiến hành. Thí
    dụ, việc chuyển đổi từ Hệ thống Tài khoản Quốc gia (SNA) 1993 sang SNA 2008, được áp dụng
    ở hầu hết các nước OECD trong khoảng 2009-2015, đã nâng cao chất lượng báo cáo chi tiêu
    cho NC&PT bằng cách coi chúng như là sự đóng góp vào tổng tài sản cố định thay cho tiêu thụ
    trung gian. Thay đổi này làm tăng trung bình 2,2 điểm phần trăm GDP ở các nước OECD, trong
    khi tác động dồn của sự chuyển đổi sang SNA 2008 lên tốc độ tăng trưởng GDP là rất nhỏ. Tuy
    thế, phạm vi đo lường đầu tư vô hình và quyền SHTT vẫn còn khả năng mở rộng hơn nữa. Việc
    gộp KBC vào vào tính toán tăng trưởng dẫn đến tăng cả đầu vào và đầu ra nhưng nói chung
    làm giảm sự đóng góp đo được của MFP vào tăng trưởng.
    – Cuối cùng, liên quan đến giả định chức năng sản xuất và các ràng buộc dữ liệu làm ảnh
    hưởng đến độ chính xác của đo lường đầu vào, MFP cũng gồm cả các yếu tố như các giá thành
    điều chỉnh, những thay đổi trong sử dụng công suất, quy mô kinh tế, các ảnh hưởng từ cạnh
    tranh không công bằng và sai sót đo lường (OECD, 2001).
    Các đầu vào bổ sung nói chung chưa được xem xét nhưng được sử dụng trong sản xuất là
    các dịch vụ môi trường và phát thải vừa là đầu vào và đầu ra (“xấu”) của quá trình sản xuất.
    Cuối cùng, phương pháp tiêu chuẩn thường cho rằng các yếu tố của sản xuất có tính linh
    hoạt, tức là có thể điều chỉnh ngay lập tức và được sử dụng toàn bộ. Tuy nhiên, phần lớn các
    đầu vào được đặc trưng bởi các chi phí điều chỉnh, như các chi phí thuê và sa thải hay lắp đặt
    và vận hành hiệu quả của các máy móc và thiết bị mới.

    1.2. Tác động của khủng hoảng
    Hậu quả của khủng hoảng ảnh hưởng lên hoạt động năng suất ở các nước
    OECD có thể nhận thấy rõ rệt. Năm 2013, MFP trung bình ở các nước OECD vẫn
    thấp hơn 2% so với mức trước khủng hoảng năm 2007, phản ánh sự yếu kém của
    khu vực Euro, cũng như Anh, Úc, Canada và New Zealand. Điều này làm nảy
    sinh các câu hỏi về các hậu quả năng suất lâu dài hơn của khủng hoảng và các

    9

  10. điều kiện kinh tế vĩ mô, bao gồm i) tích lũy vốn hữu hình; ii) vốn tri thức và kỹ
    năng chuyên môn; và iii) sự phá hủy sáng tạo.
    1.2.1. Đầu tư vô hình gặp khó khăn trong khủng hoảng
    Cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua đã gây ra sự suy giảm mạnh vào đầu tư
    vô hình ở nhiều nước và sự phục hồi chậm chạp hơn so với những đợt suy thoái
    trước đó. Trong khi hầu hết suy giảm trong đầu tư ở doanh nghiệp phản ánh nhu
    cầu yếu, thi các yếu tố tài chính và đòn bẩy doanh nghiệp được thiết lập trước
    khủng hoảng cũng đóng vai trò trong giai đoạn ban đầu.
    Về tương lai, nhu cầu cao hơn và sự bất ổn định thấp hơn sẽ có ý nghĩa quan
    trọng cho phục hồi đầu tư và tăng kết quả tiềm năng. Mức độ bất ổn định cao liên
    quan đến mức độ và sự tăng trưởng của kết quả tiềm năng trong thời kỳ suy thoái
    có thể góp phần làm suy giảm đầu tư vô hình của doanh nghiệp. Khi việc thay đổi
    các quyết định đầu tư gây tốn kém (do các chi phí cố định), thì mức độ bất ổn
    định cao sẽ khiến các tổ chức có lý do để trì hoãn hoặc hủy bỏ các quyết định của
    họ cho đến khi sự bất ổn qua đi và có thêm nhiều thông tin.
    1.2.2. Đầu tư vào KBC và kỹ năng sôi động hơn
    Đầu tư vào KBC trong khủng hoảng ở mức độ nào đó sôi động hơn so với
    đầu tư vô hình nói chung. Điều này phản ánh bản chất dài hạn của các đầu tư
    NC&PT và các chi phí lớn phát sinh trong các giai đoạn đầu tư ban đầu, có thể là
    các bước đệm cho chuyển dịch chu kỳ. Ngoài ra, xét ở góc độ các đầu tư cho
    NC&PT và huấn luyện kỹ năng lao động sẽ lấy đi các nguồn lực dành cho sản
    xuất hiện tại mà chỉ tạo ra những lợi ích trong tương lai, thì các chi phí cơ hội
    dường như thấp hơn trong thời kỳ suy thoái do lợi nhuận tiềm năng thấp hơn thu
    được từ các hoạt động sản xuất bình thường. Do đó, đầu tư KBC có khả năng đi
    ngược với chu kỳ trừ trường hợp những khó khăn về tín dụng có thể làm ảnh
    hưởng đến hoạt động này: nếu doanh nghiệp phụ thuộc vào tài chính bên ngoài thì
    khả năng vay vốn đề chi cho các hoạt động đổi mới sáng tạo sẽ giảm trong thời
    kỳ suy thoái, do sự suy giảm thu nhập hiện tại.
    Tác động lâu dài của khủng hoảng lên vốn con người sẽ chỉ thấy rõ sau một
    thời gian. Bằng chứng sơ bộ cho đến nay gợi ý rằng khủng hoảng có thể tác động
    xấu lên kỹ năng ở một khía cạnh nào đó. Nếu như các lao động kỹ năng thấp có
    nguy cơ phải thay đổi việc làm cao hơn, thì phần lớn trong số họ lại tìm được các
    công việc sử dụng các kỹ năng tương tự như các công việc của họ trước khi đổi
    việc (OECD, 2013) [15]. Ngoài ra, số người quay trở lại học toàn thời hay thời
    gian học dài hơn lại tăng lên, điều này có thể làm tăng chất lượng trung bình của

    10

  11. lao động về lâu dài. Tuy nhiên tác động tiêu cực của khủng hoảng lên thu nhập có
    thể gây ra những hậu quả trái ngược.
    1.2.3. Tái phân bổ nguồn lực để nâng cao năng suất trong thời kỳ khủng
    hoảng
    Quá trình phá hủy sáng tạo và tái phân bổ nguồn lực có thể bị tác động
    mạnh bởi các chu kỳ kinh tế. Một mặt, suy thoái có thể là cơ hội để thực hiện triệt
    để phân bổ lại nguồn lực để nâng cao năng suất và tái cơ cấu công ty, và mở
    đường cho sự phục hồi kinh tế. Mặt khác, suy thoái – nhất là khi liên quan đến
    khủng hoảng tài chính- có thể có những ảnh hưởng hằn sâu lâu dài nếu i) chúng
    làm giảm khả năng tài chính cho doanh nghiệp và theo đó là phạm vi thử nghiệm,
    và ii) những việc làm mới tạo ra không tương xứng với những việc làm bị hủy
    hoại, và đây là trường hợp khủng hoảng hiện nay. Mặc dù chưa có nhiều bằng
    chứng giữa các nước về việc khủng hoảng ảnh hưởng như thế nào đến việc làm
    được tạo ra và mất đi ở các công ty khác nhau, tuy nhiên OECD có bằng chứng
    chắc chắn rằng việc tái phân bố để nâng cao năng suất là nguồn tăng trưởng năng
    suất chính trong khủng hoảng.
    1.3. Các nguồn tăng trưởng tương lai
    Trong giai đoạn từ nay đến 2060, tăng trưởng toàn cầu tiềm năng sẽ bị chậm
    lại ở hầu hết các nước, tuy nhiên tỷ lệ tăng lên của các nền kinh tế phát triển
    nhanh trong sản lượng toàn cầu sẽ làm giảm bớt sự chậm lại này trên quy mô toàn
    cầu. Ngoài vấn đề dân số già hóa, điều này phản ánh sự tăng trưởng chậm lại của
    lực lượng lao động và giáo dục – và làm giảm khả năng đuổi kịp của các nền kinh
    tế đi sau. Tăng trưởng được xác định là ngày phụ thuộc và sự cải thiện MFP, phản
    ánh: i) đầu tư tiếp tục vào KBC cũng như các cải cách ủng hộ cạnh tranh ở các
    nước có quy định tương đối khắt khe; ii) tiếp tục phổ biến các khám phá mới ở
    công nghệ tiên phong. Các xu thế này sẽ tác động đến sự gia tăng nhu cầu lao
    động kỹ năng cao.
    Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng MFP tương lai rất không ổn định, phần lớn là
    do sự không chắc chắn trong triển vọng tăng trưởng của các ngành tiên phong.
    Thực tế, các quan điểm trái ngược nhau về tốc độ tăng trưởng của các ngành tiên
    phong trong tương lai, phần lớn xoay quanh tiềm năng tăng trưởng tiếp tục của
    CNTT-TT.

    11

  12. II. TƯ DUY VỀ NĂNG SUẤT
    Các tính toán về tăng trưởng có thể giúp mô tả những phát triển năng suất
    nhưng không phản ánh nhiều về các lực lượng kinh tế tạo ra chúng. Nếu công
    nghệ và tri thức di chuyển một cách tự do giữa các quốc gia, thì tăng trưởng năng
    suất tổng hợp ở các nền kinh tế và công ty kém tiên tiến sẽ là chức năng tạo ra
    tăng trưởng tích cực ở những nền kinh tế hoạt động trong phạm vi công nghệ tiên
    phong toàn cầu cũng như thu hẹp khoảng cách năng suất ở phạm vi công nghệ
    tiên phong với khu vực kém tiên tiến hơn. Nói cách khác, các công ty và các nền
    kinh tế tụt hậu so với hàng ngũ tiên phong có thể cải thiện năng suất của mình
    bằng cách khai thác hiệu ứng lan tỏa từ những đổi mới sáng tạo trong khu vực
    tiên phong và tiếp thu những công nghệ và tri thức đã được sử dụng ở khu vực
    tiên phong. Điều này sẽ tạo ra một phạm vi kết năng giữa các nước về mức năng
    suất ở một mức độ nào đó khi họ có thể bắt đầu tăng trưởng nhanh hơn, nhờ
    những lợi ích từ việc áp dụng những đổi mới sáng tạo công nghệ và tổ chức. Về
    lâu dài, các nước kết năng không nhất thiết có cùng một mức năng suất mà sẽ có
    chung tốc độ tăng năng suất, như được thấy ở tốc độ tăng năng suất ở các nước
    phát triển nhất. Phạm vi kết năng về mức năng suất sẽ phụ thuộc và các yếu tố
    đặc thù của quốc gia, bao gồm cả chính sách.
    Nhưng quá trình kết năng tri thức diễn ra không dễ dàng và lịch sử cho thấy
    có thể rất dễ đi sai đường. Thực tế, khi giữa các nước có sự chênh lệch khoảng
    cách về tiếp thu công nghệ mới, thi sẽ có sự kết năng lâu dài về tốc độ thâm nhập
    một khi công nghệ được tiếp thu, với những tác động quan trọng đến thu nhập
    giữa các nước. Nói cách khác, các công nghệ mới được phát triển ở khu vực tiên
    phong công nghệ toàn cầu không tự động và ngay lập tức phổ biến tới tất cả các
    công ty ở các nước, và nhiều công nghệ hiện hữu có thể vẫn chưa được các công
    ty không cạnh tranh khai thác trong nền kinh tế. Do vậy, để hiểu được các nguồn
    lực hình thành nên năng suất tích hợp, chúng ta cần phải hiểu được các động lực
    của phổ biến kiến thức và sự đuổi kịp năng suất giữa các ngành công nghiệp và
    các công ty.
    Theo đó, Hình 2.1 mô tả một khung phân tích kết hợp các loại công ty – các
    công ty ở phạm vi tiên phong năng suất toàn cầu, những công ty trong phạm vi
    tiên phong của quốc gia (nhưng không ở cấp toàn cầu) và những công ty theo sau
    – và các công nghệ, tức là công nghệ mới so với cũ. Đổi mới sáng tạo ở phạm vi
    tiên phong công nghệ toàn cầu dẫn đến sự khám phá ra các công nghệ mới và
    những đổi mới tổ chức. Những công nghệ mới tiên phong này sẽ không ngay lập
    12
  13. tức phổ biến đến tất cả các công ty. Trước tiên, chúng chỉ có thể tiếp cận tới
    những công ty năng suất nhất trong nền kinh tế (tức là các công ty tiên phong
    quốc gia). Sau đó, theo thời gian chúng có thể là một nguồn phổ biến công nghệ
    cho các công ty theo sau, nhưng chỉ sau khi chúng được các công ty tiên phong
    quốc gia làm thích nghi với hoàn cảnh địa phương. Điều này đồng nhất với bằng
    chứng rằng tăng trưởng năng suất của các công ty theo sau trong một nước liên
    quan chặt chẽ đến sự phát triển năng suất của các công ty nội địa tiên tiến nhất
    chứ không phải của các công ty tiên tiến nhất toàn cầu.

    Tăng trưởng ở mức
    tiên phong toàn cầu

    Thương mại và Di chuyển quốc tế
    FDI Hiệu ứng lan tỏa và tiếp nhận lao động kỹ năng TĂNG

    TRƯỞNG
    Tăng trưởng ở mức
    tiên phong quốc gia NĂNG SUẤT

    ĐA YẾU TỐ
    Đầu tư vào KBC
    Nâng quy mô Tái phân bổ
    nguồn lực
    Hiệu ứng lan tỏa và tiếp nhận

    Tăng trưởng của các
    công ty tụt hậu

    Hình 2.1. Sơ đồ mô tả các yếu tố định hình tăng trưởng năng suất tích hợp
    Nguồn: OECD (2015) The Future of Productivity.
    Phạm vi mà các công nghệ và tri thức mới phổ biến đến các công ty tiên
    phong quốc gia và sau đó đến các công ty theo sau sẽ phụ thuộc chính sách và các
    yếu tố cấu trúc. Trong nội dung này, năng suất tích hợp sẽ được định hình bởi 2
    yếu tố chính là:
    – Các đầu tư cho tăng năng suất trong mỗi công ty, nhất là đầu tư vào KBC
    như NC&PT và tri thức tổ chức.

    13

  14. – Môi trường thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng của các công
    ty năng suất nhất.
    Hai yếu tổ này tương tác lẫn nhau bởi các đầu tư tăng năng suất của công ty
    (nhất là vào KBC) cũng sẽ được định hình bởi những nhận thức của họ về chi phí
    và lợi ích trong việc triển khai và thương mại hóa các ý tưởng mới, khả năng mở
    rộng quy mô hoạt động nếu thành công hoặc rút lui với chi phí tối thiểu nếu
    không thành công, tất cả đều phụ thuộc vào sự dễ dàng tái phân bổ nguồn lực của
    họ sao cho chúng được sử dụng tốt nhất.
    2.1. Khu vực tiên phong năng suất toàn cầu
    Hiện nay không có nhiều nghiên cứu về khu vực tiên phong toàn cầu và các
    nghiên cứu năng suất đa yếu tố ở cấp ngành thường kết luận một nước (ví dụ như
    Hoa Kỳ) chiếm vị trí đứng đầu toàn cầu. Tuy nhiên, bằng chứng mới của OECD –
    xác định 100 công ty năng suất nhất toàn cầu trong từng ngành ở vị trí tiên phong
    hàng năm – cho thấy rằng khu vực tiên phong năng suất toàn cầu thực tế gồm các
    công ty ở các nước khác nhau, phản ánh các mô thức khác nhau của lợi thế so
    sánh và ưu thế tự nhiên. Hơn nữa, chúng thực sự là các “công ty toàn cầu” theo
    nghĩa chúng hoạt động ở các nước khác nhau (thường là một phần của tập đoàn
    đa quốc gia [MNE]) và liên kết với các nhà cung cấp/khách hàng từ các nước
    khác nhau trong chuỗi giá trị toàn cầu.
    Do những khó khăn trong đo lường công nghệ, các công ty năng suất nhất
    toàn cầu thường được cho rằng sử dụng các công nghệ tiên tiến nhất trên toàn
    cầu, nhưng cũng cần phải thấy rằng nhiều công ty tiên tiến về công nghệ có thể
    không nhất thiết sẽ là các công ty năng suất nhất toàn cầu hay thành công nhất về
    mặt lợi nhuận.
    Các công ty thuộc nhóm tiên phong năng suất toàn cầu trung bình có năng
    suất cao hơn bốn đến năm lần so với các công ty ngoài nhóm tiên phong về mặt
    năng suất đa yếu tố (MFP), trong khi sự chênh lệnh này là trên 10 lần về năng
    suất lao động (gồm cả cường độ vốn). Hình 2.2 mô tả sự phát triển năng suất lao
    động đối với các công ty trong nhóm tiên phong năng suất toàn cầu, các công ty
    ngoài nhóm tiên phong và toàn bộ các công ty trong các năm có số liệu so sánh.
    Các công ty tiên phong có năng suất tương đối cao hơn trong những năm 2000,
    với tốc độ tăng trưởng trung bình năm là 3,5% trong khu vực chế tạo, so với tăng
    trưởng trung bình năng suất lao động chỉ 0,5% của các công ty ngoài nhóm tiên
    phong. Do thiếu số liệu để so sánh với các giai đoạn trước đó, nhưng điều thú vị
    là tăng trưởng của nhóm tiên phong vẫn mạnh mẽ sau năm 2004, khi mà năng
    suất tích hợp ở các nền kinh tế tiên tiến (ví dụ như Hoa Kỳ) bắt đầu chậm lại.
    14
  15. Ghi chú: “Công ty tiên phong” tương ứng với năng suất lao động trung bình của
    100 công ty năng suất nhất toàn cầu ở mức 2 con số trong ORBIS. “Công ty ngoài nhóm
    tiên phong” là trung bình của tất cả các công ty còn lại. “Tất cả các công ty” là tổng thể
    trong ngành từ CSDL STAN của OECD.
    Hình 2.2. Tăng trưởng mạnh ở các công ty tiên phong năng suất toàn cầu
    nhưng sự lan tỏa sang các nhóm công ty khác chậm lại.
    Nguồn: Andrews, Criscuolo and Gal (2015).
    Quan trọng hơn, sự gia tăng khoảng cách về tăng trưởng năng suất giữa các
    công ty thuộc nhóm tiên phong toàn cầu với các công ty khác từ đầu thế kỷ gợi ý
    rằng năng lực học hỏi từ nhóm tiên phong của các công ty khác trong nền kinh tế
    có thể đã giảm đi. Điều này phù hợp với các nhận định: i) bằng chứng về tốc độ
    thâm nhập của các công nghệ mới kéo dài thời gian hơn; ii) người chiến thắng
    nhận được tất cả động lực; và iii) tầm quan trọng tăng lên của tri thức ngầm (ẩn).
    Với nhận định thứ 3, dường như lợi thế so sánh của các công ty tiên phong toàn
    cầu không chỉ từ những đầu tư vào KBC, mà cả cách thức họ ngầm kết hợp các
    loại tài sản vô hình khác nhau – chẳng hạn như thông tin máy tính hóa; tài sản
    sáng tạo và năng lực kinh tế – trong quy trình sản xuất.
    Các công ty thuộc nhóm tiên phong năng suất toàn cầu nói chung có quy mô
    lớn hơn, lợi nhuận cao hơn, và đăng ký sáng chế nhiều hơn so với các công ty
    khác. Ngoài ra, chúng thường có tuổi đời ít hơn, phù hợp với ý tưởng rằng các
    công ty trẻ có những lợi thế so sánh trong thương mại hóa các đổi mới sáng tạo
    cấp tiến. Tuy nhiên, tuổi trung bình của các công ty trong nhóm tiên phong toàn
    cầu đã tăng lên từ năm 2001, phản ánh sự chậm lại của các công ty mới trong gia

    15

  16. nhập nhóm tiên phong toàn cầu, nó cũng phản ánh sự chậm lại trong việc xuất
    hiện của những đổi mới sáng tạo cấp tiến và tăng trưởng năng suất.
    2.2. Sự phổ biến của đổi mới sáng tạo
    Điều quan trọng ở đây là biết được các yếu tố định hình khả năng của công
    ty tiên tiến nhất quốc gia trong việc học tập từ các công ty tiên tiến nhất toàn cầu.
    Việc học tập này tạo ra phạm vi cho sự phổ biến của các công nghệ và các hoạt
    động kinh doanh từ các công ty tiên phong trong nước sang các công ty theo sau
    trong cùng một nước. Ngoài ra, do sự khác biệt giữa các quốc gia trong tốc độ
    thâm nhập của các công nghệ mới đã tăng lên, việc biết được những rào cản phổ
    biến các công nghệ hiện hành chưa được khai thác từ các công ty tiên phong quốc
    gia sang các công ty theo sau là chìa khóa để biết được những khác biệt giữa các
    quốc gia về hiệu suất tổng thể. Ngoài ra, sự phổ biến công nghệ cũng làm giảm
    chi phí và nâng cao chất lượng và sự đa dạng của hàng hóa và dịch vụ, từ đo tăng
    thu nhập thực tế và mở rộng sự tiếp cận y tế và giáo dục tốt hơn.
    2.2.1. Tính mở và di động yếu tố toàn cầu
    Khả năng của một nền kinh tế duy trì sự tăng năng suất thông qua học tập từ
    nhóm tiên phong toàn cầu sẽ phụ thuộc vào thương mại và đầu tư quốc tế. Cụ thể
    hơn, nó sẽ dựa trên mức độ liên kết với các nước trong nhóm tiên phong toàn cầu
    về hàng hóa và dịch vụ thương mại hay các lĩnh vực đầu tư. Các công ty tiến vào
    thị trường toàn cầu, thông qua thương mại và đầu tư trực tiếp nước ngoài, là
    nhóm các công ty “chọn lọc” có quy mô lớn hơn, sáng tạo hơn và nhiều kỹ năng
    hơn, tức là các công ty thuộc nhóm tiên phong quốc gia. Sự tiếp cận tới thương
    mại và FDI sẽ kéo theo sự tiếp cận tri thức và bí quyết của công ty “tốt nhất”
    trong nước và nước ngoài. Việc học tập diễn ra từ các công ty cạnh tranh toàn cầu
    nhưng thậm chí nhiều hơn là ở các chuỗi gia trị toàn cầu, từ các nhà cung cấp và
    các khách hàng, và cũng được hỗ trợ từ sự tương đồng địa lý, nhất là trong các
    ngành công nghệ cao với tri thức ngầm ẩn.
    Sự di cư – cụ thể là các cá nhân kỹ năng cao – cũng có thể thúc đẩy các công
    ty tiên phong. gia tăng sự phổ biến công nghệ, tri thức và đổi mới sáng tạo. Cụ
    thể, sự đa dạng nơi sinh sẽ làm tăng sự phong phú về khả năng và tri thức. Phân
    tích số liệu về dòng di chuyển của các nhà khoa học giữa các quốc gia, các nhà
    nghiên cứu tìm thấy bằng chứng hỗ trợ bản chất tuần hoàn của các dòng tri thức,
    trái với mô hình chảy máu/thất thoát chất xám cổ điển. Cụ thể hơn, tuần hoàn chất
    xám – vốn có thể kích thích các dòng tri thức, hợp tác và cuối cùng là các nghiên
    cứu tác động cao – có xu hướng tăng lên theo mức độ tương đồng về điều kiện vật
    chất, các liên kết thương mại dịch vụ và ngôn ngữ chung cũng như chuyên môn
    16
  17. hóa lĩnh vực khoa học của các nước, trong khi nó bị cản trở bởi những hạn chế về
    thị thực (visa).
    Khung 2. Thương mại và năng suất
    Nhiều tài liệu chỉ ra các tác động tích cực của thương mại đối với hoạt động năng suất.
    Nói chung, các tác động này thể hiện thông qua 3 kênh chủ yếu:
    1. Mở cửa thương mại dẫn đến cạnh tranh thị trường sản phẩm gay gắt hơn. Điều này
    thúc đẩy sự tái phân bố tăng năng suất thông qua sự mở rộng của các công ty năng suất nhất
    sang các thị trường nước ngoài và sự ra đi của các công ty năng suất thấp.
    2. Thương mại và FDI sẽ gia tăng các dòng tri thức từ những khách hàng và nhà cung
    cấp toàn cầu và từ các hoạt động của các công ty đa quốc gia. Sự trao đổi tri thức gia tăng sẽ
    diễn ra bên trong công ty đa quốc gia, cả từ trụ sở chính tới các chi nhánh của chúng và ngược
    lại, thông qua chuyển giao công nghệ đảo chiều, và từ các công ty đa quốc gia sang các đại lý
    kinh tế địa phương và ngược lại. Ngoài ra, các công ty nội địa làm ăn với các nhà sản xuất trong
    nước và nước ngoài hiệu quả nhất có thể cạnh tranh trên các thị trường quốc tế và đưa họ tiến
    gần hơn với nhóm tiên phong toàn cầu.
    3. Mở cửa thương mại làm tăng quy mô thị trường hiệu quả, dẫn đến gia tăng lợi nhuận
    kỳ vọng từ việc tiếp thu thành công các công nghệ nước ngoài.
    Mặc dù thương mại đóng vai trò then chốt trong hỗ trợ học tập từ nhóm tiên phong toàn
    cầu, nhưng khoảng cách địa lý vẫn là rào cản quan trọng trong chia sẻ tri thức do bản chất
    ngầm ẩn và không thể mã hóa của nó cũng như bản chất cục bộ của sự lan tỏa.

    2.2.2. Nâng cấp quy mô
    Mặc dù thương mại có thể tạo thuận lợi cho học hỏi, nhưng các công ty phải
    vượt qua nhiều trở ngại trước khi họ có thể tổ chức hoạt động thương mại. Rào
    cản chính là quy mô không đủ lớn tới ngưỡng mà thương mại quốc tế đòi hỏi phải
    đáp ứng nhiều chi phí cố định. Quy mô của công ty có xu hướng tăng lên cùng
    với quy mô thị trường hiệu quả, về mặt này cho thấy các nền kinh tế nhỏ và cách
    biệt về địa lý sẽ là một bất lợi tự nhiên. Sự tham gia vào thương mại quốc tế sẽ
    dẫn đến quy mô thị trường lớn, điều này sẽ làm tăng lợi nhuận để đầu tư vào
    NC&PT. Việc đạt được đủ quy mô là vô cùng quan trọng trong bối cảnh sự hội
    nhập toàn cầu đang tăng lên. Cạnh tranh toàn cầu gay gắt hơn có nghĩa là mức
    hiệu quả “tối thiểu” về mặt quy mô (và năng suất) mà công ty có thế cạnh tranh
    trên các thị trường toàn cầu có thể tăng lên theo thời gian. Thành quả của những
    lợi ích tăng trưởng của công ty sẽ phụ thuộc vào các rào cản tiềm tàng để nâng
    quy mô và nâng cao chất lượng.
    2.2.3. Vốn tri thức và cạnh tranh
    Sự phổ biến các ý tưởng từ các công ty tiên phong toàn cầu sang các công ty
    tiên phong quốc gia cũng đòi hỏi các đầu tư bổ sung vào KBC, để hỗ trợ cho việc
    tiếp thu và triển khai các ý tưởng mới. Về mặt này, nền tảng NC&PT nội địa
    17

  18. mạnh là rất quan trọng cho khả năng của quốc gia khai thác được các khám phá
    mới bằng cách hỗ trợ cho việc tiếp thu các công nghệ nước ngoài. Một số khía
    cạnh của các công nghệ mới rất khó mã hóa và đòi hỏi nghiên cứu thực tế trước
    khi chúng có thể tích hợp hoàn hảo vào các quy rình sản xuất, do vậy việc có
    được các nhà nghiên cứu có thể “giải mã” được các tri thức “ẩn” sẽ có vai trò
    quyết định. Hơn nữa, việc triển khai và hiện thực hóa được đầy đủ các lợi ích
    năng suất từ những công nghệ mới (ví dụ như CNTT-TT) sẽ kéo theo việc tái cấu
    trúc tổ chức mạnh mẻ, và điều này đòi hỏi kỹ năng quản lý đáng kể.
    Sự phổ biến các công nghệ hiện hữu từ những công ty tiên tiến nhất của
    quốc gia sang phần còn lại của nền kinh tế sẽ được định hình bởi mức độ của áp
    lực cạnh tranh và các rào cản đối với việc phổ biến đầu tư vào KBC. Những gia
    tăng trong cạnh tranh do thương mại quốc tế sẽ làm giảm thị phần và lợi nhuận
    của các công ty năng suất thấp, đòi hỏi các công ty này phải tăng cường tiếp thu
    các công nghệ tốt hơn. Sự tiếp thu công nghệ cũng nhanh hơn ở các tổ chức ít bị
    tác động bởi sự vận động của các nhà sản xuất các công nghệ truyền thống. Tuy
    vậy, vẫn tồn tại các rào cản cố hữu cho phổ biến các công nghệ hiện hữu, gồm vai
    trò của tri thức (hiểu biết) công nghệ – nghĩa là “tri thức về công nghệ và biết sử
    dụng chúng một cách hiệu quả nhất”. Nói cách khác, tri thức được tích lũy từ việc
    sử dụng các công nghệ mới sẽ hỗ trợ cho việc tiếp thu tri thức công nghệ. Sự
    phức tạp gia tăng của công nghệ theo thời gian cũng làm tăng khối lượng và sự
    tinh tế của những đầu tư bổ sung cần thiết cho việc tiếp thu công nghệ.
    Những trở ngại này đối với sự tiếp thu công nghệ tuy lớn, nhưng chúng có
    thể khắc phục phần nào bằn cách dỡ bỏ các rào cản cho những cải tiến chất lượng
    quản lý. Thực tế, bằng chứng tổng hợp cho thấy tốc độ kết năng đối với mức
    MFP ổn định lâu dài của một nền kinh tế tỷ lệ thuận với chất lượng quản lý của
    nó. Điều này dường như phản ánh sự bổ sung cho nhau giữa tiếp thu công nghệ
    và vốn quản lý, cũng như xu hướng các công ty quản lý tốt hơn sẽ sắp xếp lao
    động một cách hiệu quả hơn (nghĩa là phù hợp với công việc hơn). Hợp tác
    NC&PT lớn hơn giữa công ty và trường đại học cũng có thể hỗ trợ phổ biến công
    nghệ tới các công ty chậm tiến hơn bằng cách cung cấp cho các công ty nhỏ hơn
    và năng suất thấp hơn khả năng tiếp cận các nguồn tri thức – các máy móc tiên
    tiến và các nhà khoa học hay cá nhân kỹ năng cao – thường đòi hỏi những đầu tư
    ban đầu lớn.
    2.3. Tính không đồng nhất của các công ty và sự tái phân bố nguồn lực
    Tiềm năng của một nền kinh tế để có được các công ty tiên phong toàn cầu
    hay tiếp thu những đổi mới sáng tạo tiên phong cũng sẽ phụ thuộc vào khả năng
    18
  19. tái phân bổ các nguồn lực hiếm hoi của họ cho những công ty năng suất nhất. Sự
    không đồng nhất trong hoạt động của các công ty ngay cả trong những ngành hẹp
    gây ra những hậu quả tích hợp quan trọng. Năng suất tích hợp sẽ có thể thấp hơn
    do sự chênh lệch công nghệ của các công ty tiên phong quốc gia so với toàn cầu
    (tức là các nước A và B khác nhau về trình độ công nghệ); sự chọn lọc thị trường
    yếu kém, cho phép quá nhiều công ty hoạt động kém hiệu quả tồn tại trong thị
    trường.
    Sự cùng tồn tại của các công ty hoạt động kém với các công ty xuất sắc có
    thể do nhiều nguyên nhân, nhưng những rào cản trong việc thoát khỏi thị trường
    và kỹ năng không phù hợp rõ ràng có vai trò trong đó. Chi phí cơ hội của những
    rào cản và sự không phù hợp như vậy có thể rất lớn – tối thiểu trong ngắn hạn và
    trung hạn – do các hoạt động đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp tiêu tốn một khối
    lượng đáng kể những nguồn lực hạn hẹp, nhất là lao động kỹ năng cao. Do vậy,
    việc dành các nguồn lực vào các công ty nhỏ và suất thấp có thể cản trở triển
    vọng tăng trưởng của các công ty năng suất hơn. Tương tự, tác động đáng kể của
    sự không phù hợp kỹ năng cũng làm tổn hại đến năng suất tích hợp do nó cản trở
    sự tăng trưởng của các công ty năng suất nhất.

    19

  20. III. GIA TĂNG NĂNG SUẤT TRONG THẾ GIỚI TOÀN CẦU HÓA
    3.1 Tạo điều kiện cho sự lan tỏa học hỏi toàn cầu
    Phù hợp với khuôn khổ nội dung được đề cập trong Hình 2.1, khả năng học
    hỏi từ nhóm tiên phong toàn cầu mạnh hơn trong các nền kinh tế có các đặc điểm
    sau: i) liên kết chặt chẽ với nhóm tiên phong toàn cầu thông qua thương mại; ii)
    tham gia tích cực hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu (GVC); iii) phân bổ các lao
    động kỹ năng hiệu quả hơn và đầu tư lớn hơn cho vốn tri thức (KBC) như
    NC&PT và vốn quản lý, cũng như độ sẵn sàng về CNTT&TT được thể hiện qua
    chỉ số về độ sẵn sàng của Chính phủ điện tử (Hình 3.1). Thương mại có vai trò
    đặc biệt quan trọng: bằng 2% gia tăng trong năng suất đa nhân tố (MFP) ở nhóm
    tiên phong, ước tính đóng góp cho tăng trưởng MFP hàng năm ở một quốc gia có
    giao dịch thương mại rất tích cực với nền kinh tế tiên phong (ví dụ Canada) cao
    hơn khoảng 1/3 điểm phần trăm so với quốc gia có giao dịch thương mại với nền
    kinh tế tiên phong tương đối yếu (như Áo).
    Sự khác nhau theo tỷ lệ % về hiệu ứng lan tỏa ở nhóm tiên phong giữa
    giá trị tối đa và tối thiểu của mỗi tham số cấu trúc, giả thuyết tăng trưởng
    MFP tại khu vực tiên phong là 2%

    Hình 3.1. Học hỏi từ nhóm tiên phong toàn cầu được định hình bởi các
    yếu tố cấu trúc cốt lõi
    Nguồn: Saia, Andrews và Albrizio (2015), http://dx.doi.org/10.1787/5is03hkvxhinr-en.

    20

Download tài liệu Tổng luận Tương lai của năng suất File Docx, PDF về máy