[Download] Tổng luận Giải pháp chính sách phát triển nền kinh tế số – Tải về File Docx, PDF

Tổng luận Giải pháp chính sách phát triển nền kinh tế số

Tổng luận Giải pháp chính sách phát triển nền kinh tế số
Nội dung Text: Tổng luận Giải pháp chính sách phát triển nền kinh tế số

Download


Tổng luận này đề cập đến những cơ hội và thách thức trong việc phát triển kinh tế số kèm theo những giải pháp chính sách cho từng vấn đề cụ thể. Ngoài ra, tổng luận còn giới thiệu khung chính sách phát triển nền kinh tế số của một số quốc gia rất cần thiết cho quá trình xây dựng và điều chỉnh chính sách kinh tế số.

Bạn đang xem: [Download] Tổng luận Giải pháp chính sách phát triển nền kinh tế số – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Tổng luận Giải pháp chính sách phát triển nền kinh tế số File Docx, PDF về máy

Tổng luận Giải pháp chính sách phát triển nền kinh tế số

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Tổng luận Giải pháp chính sách phát triển nền kinh tế số

  1. MỤC LỤC

    LỜI NÓI ĐẦU …………………………………………………………………………………………………………………..2
    I. KHÁI QUÁT NỀN KINH TẾ SỐ …………………………………………………………………………………3
    1.1. Khái niệm nền kinh tế số ……………………………………………………………………………………………3
    1.2. Cơ hội của nền kinh tế số …………………………………………………………………………………………..4
    II. NHỮNG THÁCH THỨC CỦA NỀN KINH TẾ SỐ VÀ NHU CẦU CHÍNH SÁCH .5
    2.1. Thách thức về hạ tầng số ……………………………………………………………………………………………5
    2.2. Hệ sinh thái kinh tế số: Thách thức về hạ tầng thể chế và con người ……………………………8
    2.3. Những hạn chế của nền kinh tế số …………………………………………………………………………….11
    2.4. Tổng quan chính sáchkinh tế số………………………………………………………………………………..14
    III. CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ SỐ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ
    VIỆT NAM ………………………………………………………………………………………………………………………18
    3.1. Khung hành động cho nền kinh tế số của Singapo …………………………………………………….18
    3.2. Chính sách phát triển nền kinh tế số của Thái Lan …………………………………………………….27
    3.4. Kế hoạch số của Malaixia ………………………………………………………………………………………..37
    3.5. Chính sách hỗ trợ nền kinh tế số tại Việt Nam…………………………………………………………..41
    KẾT LUẬN ……………………………………………………………………………………………………………………..45
    TÀI LIỆU THAM KHẢO……………………………………………………………………………………………….46

    1

  2. LỜI NÓI ĐẦU

    Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 diễn ra mạnh mẽ đã tạo nên những thay đổi sâu sắc
    về công nghệ và số hóa, tác động đến tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Cuộc cách mạng
    nàyđược xây dựng trên nền tảng của cuộc cách mạng kỹ thuật số với các công nghệ tiên tiến
    giúp thu hẹp khoảng cách giữa thế giới thực và thế giới mạng, góp phần đáng kể vào việc
    chuyển dịch nền kinh tế số trên toàn cầu
    Theo thống kê, trong những năm gần đây, thương mại điện tử xuyên biên giới đã tạo ra
    hàng nghìn tỷ đô la trong hoạt động kinh tế, giúp tăng trưởng 10% GDP toàn cầu trong thập kỷ
    qua. Trong năm 2018, kinh tế số khu vực Đông Nam Á ước tính đạt 72 tỷ USD và dự kiến đạt
    240 tỷ USD/năm vào năm 2025. Trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương, kinh tế số được
    dự báo có thể chiếm tới 60% GDP khu vực vào năm 2021. Nền kinh tế số hiện nay ngày càng
    bao trùm tất cả các khía cạnh kinh tế – xã hội.
    Kinh tế số được xác định là một trong những trụ cột quan trọng và đóng vai trò thiết
    yếu đối với tăng trưởng kinh tế, tạo bước đột phá cho các quốc gia.Bên cạnh đó, kinh tế số cho
    phép các doanh nghiệp trong khu vực hội nhập toàn cầu, phù hợp với xu hướng dài hạn hướng
    tới tự do hóa thị trường và giảm bớt các rào cản thương mại. .Tuy nhiên, để khai thác các lợi
    ích tiềm năng của nền kinh tế số, các nước đang phải đối mặt với nhiều thách thức như hạ tầng
    số và hệ sinh thái số (con người, thể chế). Vì thế, cần có các chính sách phù hợp để giải quyết
    những thách thức tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế số.
    Tổng luận “Giải pháp chính sách phát triển nền kinh tế số” đề cập đến những cơ hội
    và thách thức trong việc phát triển kinh tế số kèm theo những giải pháp chính sách cho từng
    vấn đề cụ thể. Ngoài ra, tổng luận còn giới thiệu khung chính sách phát triển nền kinh tế số của
    một số quốc giarất cần thiết cho quá trình xây dựng và điều chỉnh chính sách kinh tế số.
    Xin trân trọng giới thiệu!

    CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ
    CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

    2

  3. I. KHÁI QUÁT NỀN KINH TẾ SỐ
    1.1. Khái niệm nền kinh tế số

    Kinh tế số (đôi khi được gọi là Kinh tế Internet, Kinh tế web, Kinh tế mới) là nền kinh
    tế dựa vào các công nghệ số. Thuật ngữ “nền kinh tế số” lần đầu tiên được một giáo sư kinh tế
    học người Nhật đề cập đến trong bối cảnh nước này rơi vào tình trạng suy thoái vào những
    năm 1990. Đến năm 1995, ở phương Tây, thuật ngữ này đã được nhắc đến trong cuốn sách
    Kinh tế số của Don Tapscott có tên là: “Triển vọng và Rủi ro trong kỷ nguyên của trí tuệ
    mạng”. Đây là một trong những cuốn sách đầu tiên xem xét khả năng ảnh hưởng của Internet
    đến hoạt động kinh doanh.Kể từ đó, có rất nhiều định nghĩa nền kinh tế số với phạm vi khác
    nhau.
    Theo G20, nền kinh tế số liên quan đến nhiều hoạt động kinh tế bao gồm sử dụng
    thông tin và tri thức số như là yếu tố sản xuất chính, dùng mạng lưới thông tin hiện đại như
    một không gian hoạt động quan trọng và sử dụng hiệu quả công nghệ thông tin và truyền
    thông (CNTT&TT)làm động lực quan trọng đểtăng trưởng năng suất và tối ưu hóa cơ cấu kinh
    tế.
    Theo OECD, kinh tế số là thuật ngữ được sử dụng để mô tả các thị trường tập trung
    vào các công nghệ số. Thuật ngữ này được dùng để chỉ toàn bộ các hoạt động kinh tế, xã hội
    và văn hóa của con người có sự hỗ trợ của Internet và CNTT&TT. Các thị trường trong nền
    kinh tế số thường liên quan đến hoạt động thương mại hàng hóa hoặc dịch vụ thông tin thông
    qua thương mại điện tử. Hoạt động này được thực hiện với nhiều phân khúc riêng biệt phục vụ
    việc vận chuyển dữ liệu và các ứng dụng.
    Thomas Mesenbourg (2001) đã đề cập đến ba thành phần chính của nền kinh tế số, bao
    gồm:
    • hạ tầng kinh doanh điện tử (phần cứng, phần mềm, viễn thông, mạng, vốn nhân
    lực…);
    • kinh doanh điện tử (phương thức kinh doanh, tất cả các quy trình mà một tổ chức
    thực hiện trên các mạng lưới thông qua trung gian là máy tính);
    • thương mại điện tử (vận chuyển hàng hóa, ví dụ khi một cuốn sách được bán trực
    tuyến).
    Nền kinh tế số bao gồm các công nghệ mới nổi như mạng lưới dựa vào blockchain, nền
    tảng số và truyền thông xã hội, doanh nghiệp điện tử (ví dụ, thương mại điện tử, các bộ phận
    của các ngành truyền thống sử dụng công nghệ số trong Công nghiệp 4.0 hoặc nông nghiệp
    chính xác); các doanh nghiệp tham gia phát triển phần mềm, ứng dụng và xây dựng nội dung
    và truyền thông, cũng như đào tạo và các dịch vụ liên quan; và các doanh nghiệp tham gia
    thiết kế và sản xuất thiết bị CNTT&TT.

    3

  4. Hoạt động của nền kinh tế số là kết quả của hàng tỷ kết nối trực tuyến giữa con người,
    doanh nghiệp, thiết bị, dữ liệu và quy trình. Do đó, xương sống của nền kinh tế số là siêu kết
    nối, tạo liên kết giữa con người, các tổ chức và máy móc trên nền tảng Internet, công nghệ di
    động và Internet kết nối vạn vật. Internet kết nối vạn vật, được gọi là hạ tầng của xã hội thông
    tin kết nối các thiết bị thực tế, thiết bị thông minh, tòa nhà và các thành phần khác được tích
    hợp vào thiết bị điện tử, phần mềm, cảm biến… để tham gia trao đổi dữ liệu.
    1.2. Cơ hội của nền kinh tế số
    Công nghệ số đang phát triển trên khắp thế giới với tốc độ nhanh hơn các làn sóng đổi
    mới công nghệ trước đây và đang định hình lại các mô hình và lĩnh vực kinh doanh. Bước
    chuyển đổi này dẫn đến sự xuất hiện của nền kinh tế số. Nền kinh tế số được định nghĩa là
    “phần sản lượng kinh tế chỉ bắt nguồn hoặc chủ yếu bắt nguồn từ các công nghệ số với mô
    hình kinh doanh dựa vào hàng hóa hoặc dịch vụ số”. Theo ước tính, nền kinh tế số đóng góp
    khoảng 5% GDP toàn cầu và 3% tổng số việc làm toàn cầu.
    Nền kinh tế số đã cho phép nhiều doanh nghiệp tăng trưởng doanh thu nhanh chóng;
    khuyến khích chuyển từ các dòng hàng hóa hữu hình sang những dòng dữ liệu và thông tin vô
    hình; cho phép các doanh nghiệp trong các nền kinh tế đang phát triển kết nối với nhau; và kết
    quả đã làm tăng số lượng dòng dữ liệu xuyên biên giới. Các doanh nghiệp của nền kinh tế số
    đã làm gián đoạn hoạt động của các doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực có các mô hình kinh
    doanh tập trung vào nền tảng đã được chứng minh rất thành công (Hình 1). Những gián đoạn
    này xuất hiện trong việc tìm kiếm và chia sẻ thông tin (ví dụ: Google, Facebook, Twitter,
    Pinterest), các dịch vụ cá nhân (ví dụ: Uber, Airbnb), giải trí trực tuyến (ví dụ Netflix,
    YouTube, iTunes) và mua sắm (ví dụ Amazon, eBay, Alibaba). Nhiều nền tảng thị trường lao
    động đã xuất hiện cho phép khách hàng tìm kiếm dịch vụ và người lao động tìm việc tại nhiều
    quốc gia (ví dụ: Monster, LinkedIn) hoặc tham gia làm các công việc tự do (ví dụ: Upwork,
    Samasource, Freelancer, TaskRmus).

    Hình 1: Số người dùng tích cực trên một số nền tảng số năm 2015 (triệu người)
    Triển vọng và cơ hội này đã khuyến khích nhiều quốc gia đang phát triển theo đuổi khát

    4

  5. vọng lớn để các nền kinh tế số trong nước giữ vai trò đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế và hiện
    thực hóa các mục tiêu phát triển khác trong tương lai. Tuy nhiên, tiềm năng của nền kinh tế
    số còn bị hạn chế bởi một số thách thức. Nền kinh tế số phụ thuộc nhiều vào hiện trạng hạ
    tầng số của một quốc gia và các đối tác thương mại. Nhưng tại các nước đang phát triển, hạ
    tầng số thường không đáp ứng được các tiêu chuẩn toàn cầu. Hệ sinh thái của nền kinh tế số
    đòi hỏi hạ tầng vượt trội chứ không chỉ kỹ thuật, bao gồm nguồn nhân lực có trình độ và một
    nhóm các tổ chức đa dạng và có năng lực.
    Hạ tầng thể chế sẽ bao gồm chính sách kinh tế số, nhưng tại các nước đang phát triển đều
    thiếucả khía cạnh nội dung lẫnquản trị chính sách. Chính sách kinh tế số nhằm giải quyết
    nhiều thách thức mang bản chất chính trị – xã hội nhiềuhơn, chẳng hạn nhưtình trạng loại trừ
    số (digital exclusion) tồn tại giữa và trong các quốc gia; gia tăng bất bình đẳng do các cá
    nhân, nhóm, khu vực… bị hạn chế tham gia vào nền kinh tế số. Những thách thức khác nảy
    sinh khi tham gia vào nền kinh tế số như: bất bình đẳng bắt nguồn từ sự kết hợp vào nền kinh
    tế số theo hướng bất lợi và các hạn chế khác liên quan đến việc vi phạm an ninh và quyền
    riêng tư. Do vậy, các nhà hoạch định chính sách tại quốc gia đang phát triển cần hành động
    để giải quyết những thách thức của nền kinh tế số.
    II. NHỮNG THÁCH THỨC CỦA NỀN KINH TẾ SỐ VÀ NHU CẦU CHÍNH SÁCH
    Theo Ngân hàng Thế giới (2016), một nhóm thách thức đang “cản trở cuộc cách mạng số thực
    hiện tiềm năng biến đổi” tại các nước đang phát triển. Các thách thức được phân thành ba loại:
    thách thức về hạ tầng số, thách thức về hệ sinh thái số (con người, thể chế) và những hạn chế
    của nền kinh tế số. Những thách thức nảy sinh cần có các giải pháp chính sách.
    2.1. Thách thức về hạ tầng số

    Người sử
    dụng
    CNTT&TT

    Truyền thông & Xử lý

    Dữ liệu

    Phần mềm

    Phần cứng

    Hạ tầng

    Hình 2: Nền tảng của hạ tầng số

    5

  6. Hạ tầng số không thể bắt kịp nhu cầu về các dịch vụ số tăng nhanh, do đó, đã xuất hiện tình
    trạng thiếu hụt nghiêm trọng hạ tầng truy cập và kết nối số trong nhiều nền kinh tế đang phát
    triển. Ví dụ, những điểm yếu về hạ tầng được xác định là rào cản lớn đối với tinh thần kinh
    doanh trong nền kinh tế số tại các nước đang phát triển và là điểm khác biệt lớn giữa các nền
    kinh tế số tại các nước phát triển và đang phát triển. Giải quyết những hạn chế này là vấn đề
    ngày càng cấp thiếtdo tác động của các xu hướng khác như tốc độ đô thị hóa gia tăng tại các
    nước đang phát triển (dân số đô thị theo dự báo sẽ khoảng 5 tỷ người vào năm 2030) và cường
    độ dữ liệu về các quy trình kinh tế ngày càng tăng.
    Thách thức về hạ tầng kỹ thuật
    Thiếu nguồn điện ổn định, sẵn có và chi phí-hiệu quả là trở ngại lớn đối với sự phát triển của
    nền kinh tế số. Tất nhiên, không có điện sẽ không thể có nền kinh tế số. Ví dụ, sản xuất năng
    lượng ở Nigeria chỉ đáp ứng 10% nhu cầu năng lượng hàng ngày, trong đó chỉ có 40% dân số
    Nigeria được kết nối vào lưới điện quốc gia. Nhiều nơi có hạ tầng điện nhưng vẫn chỉ hoạt
    động hạn chế. Ví dụ, ở nhiều nước đang phát triển, các nguồn cung cấp điện cục bộ không ổn
    định và biến động đã cản trở khả năng kết nối với các trung tâm dữ liệu địa phương, dẫn đến
    mất dữ liệu. Các công ty điện thoại di động phải lắp đặt nguồn điện riêng thông qua sử dụng
    máy phát điện diesel để duy trì hoạt động cho các trạm cơ sở/tháp di động. Hoạt động của các
    máy phát điện này – thường cần hai máy phát điện cho mỗi tháp di động – làm tăng đáng kể chi
    phí cho ngành công nghiệp.
    Về hạ tầng viễn thông, dù đã có những tiến bộ lớn trong việc thu hẹp khoảng cách số khi có sự
    xuất hiện của tín hiệu di động cơ bản (2G) (ví dụ ở các khu vực nông thôn), nhưng về vùng
    phủ sóng di động 3G và 4G, vẫn còn khoảng cách đáng kể giữa các nước phát triển và nước
    đang phát triển. Tại nhiều khu vực, đặc biệt là vùng nông thôn tại các nước đang phát triển,
    vẫn không thể truy cập mạng 4G và thậm chí 3G. Chi phí chuyển đổi sang kết nối mạng tốc độ
    cao hơn rất tốn kém nên các nhà khai thác mạng ít có động cơ khuyến khích mở rộng vùng
    phủ sóng trong các khu vực có mật độ dân cư thấp, có các vấn đề về nguồn cung cấp điện, tình
    hình an ninh bất ổn và do đó hạn chế khả năng hoàn vốn đầu tư. Tóm lại đây là những vấn đề
    về chất lượng và năng lực đối với hạ tầng viễn thông được thể hiện trong các cuộc gọi bị gián
    đoạn, sự chậm trễ trong khi gửi tin nhắn, tín hiệu yếu và quá tải mạng.
    Tầm quan trọng của mạng 3G và 4G cho thấy, truy cập Internet là nền tảng quan trọng để phát
    triển kinh tế số nhưng đang phải đối mặt với hai vấn đề chính, đó là: thiết lập dung lượng
    mạng và mở rộng phạm vi mạng. Ví dụ, Mục tiêu phát triển bền vững toàn cầu là cung cấp
    dịch vụ Internet với giá cả phải chăng cho các nước kém phát triển vào năm 2020 theo dự báo
    khó đạt được, mà ít nhất phải đến năm 2042 mới có thể hiện thực hóa. Thay vào đó, đến năm
    2020, sẽ chỉ có 53% dân số thế giới và 16% người nghèo nhất thế giới được truy cập Internet.
    Những con số này cũng che giấu điểm khác biệt lớn giữa các quốc gia. Ví dụ, một số quốc gia
    châu Phi như Seychelles và Nam Phi có tỷ lệ truy cập Internet trên 50%, trong khi tại các quốc
    gia khác như Nigeria, Chad và Cộng hòa Dân chủ Congo, con số này chỉ gần 4%. Bức tranh
    tương tự liên quan nhiều hơn đến băng thông rộng: truy cập băng thông rộng đặc biệt cần cho

    6

  7. những người muốn tham gia vào nền kinh tế số.
    Giá cả
    Cũng như vấn đề về tính khả dụng và khả năng tiếp cận, khả năng chi trả cũng là một thách
    thức quan trọng. Ví dụ, tại các nước đang phát triển, giá băng thông rộng cố định trung bình
    hàng tháng cao gấp 3 lần so với các nước phát triển và giá băng thông rộng di động đắt gấp đôi
    (ITU 2015). Nhưng nếu so sánh với thu nhập địa phương, chi phí băng thông tại các nền kinh
    tế thu nhập thấp có thể cao hơn 100 lần so với chi phí băng thông tại các nước phát triển(WTO
    2013). Những vấn đề này càng trầm trọng hơn bởi tác động của các chính sách thuế và biểu
    giá, coi những mặt hàng liên quan đến CNTT&TT là nguồn thu ổn định của chính phủ, làm
    tăng chi phí trong thế giới công nghiệp hóa. Dựa vào các quy luật cung – cầu cơ bản, chi phí
    cao dẫn đến sự phổ biến của hạ tầng và thiết bị CNTT&TT ở mức thấp hơn với bằng chứng là
    tình trạng sử dụng bị hạn chế như ở Ghana. Điều đó không chỉ cản trở sự phát triển chung của
    nền kinh tế số thông qua những người dùng cá nhân mà đặc biệt gây ảnh hưởng đến các doanh
    nghiệp số.
    Thách thức về phần cứng/phần mềm
    Ngay cả ở nơi những thách thức về hạ tầng có thể được giải quyết, thì người dùng vẫn cần có
    các thiết bị và ứng dụng phù hợp để xây dựng hoặc tham gia vào nền kinh tế số của địa
    phương. Tuy nhiên, đây thường không phải là vấn đề. Ví dụ, nhiều thiết bị di động vẫn chỉ
    tương thích với chức năng của mạng 2G, cung cấp ít dịch vụ cơ bản nhắn tin bằng văn bản và
    giọng nói. Để truy cập Internet bằng điện thoại di động và tiếp cận với các dịch vụ của nền
    kinh tế số, thì cần có các thiết bị 3G và 4G tương thích, đặc biệt là việc sử dụng rộng rãi điện
    thoại thông minh. Tuy nhiên, ví dụ ở Ấn Độ chỉ có 3% dân số sử dụng điện thoại thông minh
    (Johns 2015). Con số này đang tăng lên theo thời gian, nhưng một lần nữa lại thể hiện rào cản
    mạnh mẽ đối với các khu vực và nhóm người cụ thể, đặc biệt là khi phần lớn nội dung toàn
    cầu đều tập trung vào các trang web chứa nhiều dữ liệu hoặc ứng dụng điện thoại thông minh.
    Khả năng chi trả cũng là một vấn đề. Điện thoại thông minh nằm ngoài khả năng của bộ phận
    dân nghèo. Ngay cả với một chiếc điện thoại di động giá chỉ 20 USD,thì những người kiếm
    được gần 1,25 USD mỗi ngày có thể cũng không mua được như hàng trăm triệu người khác
    (theo số liệu của Ngân hàng Thế giới năm 2016).
    Nội dung số
    Ngôn ngữ là một rào cản. Ví dụ, châu Á Thái Bình Dương đang bị tụt hậu trong việc sử
    dụng CNTT&TT không chỉ do không có phần cứng và kết nối phù hợp, mà còn vì nhiều nội
    dung số chủ yếu vẫn được thể hiện dưới dạng các ngôn ngữ không phải ngôn ngữ của châu
    Á. Hình 3 thể hiện 6 ngôn ngữ hàng đầu trong số gần 6.000 ngôn ngữ trên thế giới, có 77%
    số người dùng sử dụng.

    7

  8. Hình 3: 10 ngôn ngữ hàng đầu trên Internet có hàng triệu người dùng
    Ví dụ, ở châu Phi cận Sahara chỉ có 2,8% số lượng các trang web dành cho dân số châu
    Phi sử dụng ngôn ngữ bản địa (Nyirenda-Jere và Biru 2015). Phần lớn nội dung các trang
    web được viết bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, nhưng hai ngôn ngữ này được nói bởi
    chưa đến 10% dân số thậm chí tại các quốc gia dùng chúng làm ngôn ngữ chính thức
    (Hussain và Mohan 2008). Ở Nigeria, dù ngôn ngữ chính thức là tiếng Anh, nhưng ở đây
    có hơn 500 ngôn ngữ bản địa như tiếng Hausa, Yoruba, Igbo, Fulani, cũng được người
    dân sử dụng để nói nhưng không được dùng trên môi trường trực tuyến. Thực trạng này
    cũng được phản ánh ngay cả ở Trung Quốc: 17% dân số thế giới là người Trung Quốc và
    chỉ có 3% trang web trên thế giới được viết bằng tiếng Trung (Okeleke & Stryjak 2015).
    Tiếng Anh vẫn là ngôn ngữ chính trên Internet. Do vậy, cần có các chính sách để khuyến
    khích các chuyên gia bổ sung thêm nội dung dưới dạng những ngôn ngữ khác cho những
    người không biết tiếng Anh. Nhưng ngoài yếu tố ngôn ngữ, thì thiếu nội dung số và dịch
    vụ có liên quan không khuyến khích các cá nhân truy cập mạng và tham gia tích cực vào
    nền kinh tế số.
    2.2. Hệ sinh thái kinh tế số: Thách thức về hạ tầng thể chế và con người
    Rào cản năng lực số
    Về phía cầu của nền kinh tế số, để mọi người trở thành người dùng tích cực, cần có ba lớp hiểu
    biết: (i) biết đọc, viết cơ bản – để có thể sử dụng công nghệ và nền tảng; (ii) biết tiếng Anh – vì
    rất nhiều nội dung trực tuyến được viết bằng tiếng Anh; (iii) kỹ năng số – sẽ cho phép sử dụng
    các thiết bị cũng như nâng cao hiểu biết và nhận thức về giá trị của Internet trong cuộc sống
    thường nhật. Ở nhiều nền kinh tế đang phát triển, người dân thiếu những khả năng này: ví dụ,
    ở cấp độ cơ bản nhất, hơn 1 tỷ người tại các nước đang phát triển không thể đọc hoặc viết và

    8

  9. thiếu kỹ năng CNTT&TT là yếu tố then chốt giải thích cho tình trạng chậm trễ trong việc sử
    dụng Internet và khả năng tiếp thu công nghệ số.
    Cách tiếp cận tương tự cũng có thể được áp dụng cho phía cung, tức là cho những người làm
    việc trong nền kinh tế số. Để chuyển đổi sang nền kinh tế số, cần có các kỹ năng số mới tạo
    việc làm và sự thịnh vượng kinh tế trong tương lai. Tuy nhiên, các kỹ năng số vẫn còn thiếu.
    Do đó, dù tỷ lệ thất nghiệp cao, nhưng nhiều việc làm đòi hỏi tay nghề cao trong các nền kinh
    tế đang phát triển rất khó được đáp ứng vì người lao động thiếu kỹ năng chuyên môn, kỹ thuật.
    Nguyên nhân nữa là do các chuyên gia CNTT&TT có trình độ đang tìm kiếm cơ hội làm việc
    với mức lương cao hơn ở nước ngoài. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã dành ít nhất một
    phần đầu tư vào việc phổ biến các công nghệ số, nhưng lại không chú trọng đầu tư ở mức
    tương đương cho lực lượng lao động trong tương lai. Vì thế, dù các chính sách và chiến lược
    CNTT&TT quốc gia của nhiều nước đang phát triển đề cập đến việc xây dựng năng lực như là
    một ưu tiên, nhưng hầu hết các nước đều chậm trễ trong việc thực hiện chiến lược này và chú
    trọng đến các kỹ năng trọng tâm.
    Mọi đánh giá về hoạt động của nền kinh tế số đều xác định những lĩnh vực với các kỹ năng sẽ
    cần có. Ở Châu Phi, sự thiếu hụt trầm trọng các kỹ năng CNTT&TT để phát triển và quản lý
    mạng dữ liệu phân tán đang cản trở hoạt động thương mại số. Khoa học robot và máy học có
    thể là mối đe dọa hoặc cơ hội tạo việc làm tại các nước đang phát triển. Dữ liệu lớn và phân
    tích dữ liệu là một phần quan trọng của tất cả các ngành kinh tế tại các nước đang phát triển
    nhưng vẫn rất thiếu các kỹ năng dữ liệu tại các nước này. Tội phạm mạng đang phát triển cùng
    với sự mở rộng của nền kinh tế số, nhưng vẫn còn ít chuyên gia an ninh mạng trong thế giới
    đang phát triển.
    Thể chế tài chính yếu kém
    Tình trạng thiếu vốn cho các doanh nghiệp là một vấn đề lớn cản trở sự tăng trưởng của nền
    kinh tế số tại các nước đang phát triển. Nhiều loại vốn khác nhau được các doanh nghiệp yêu
    cầu tùy theo giai đoạn phát triển kinh doanh. Đối với các doanh nghiệp khởi nghiệp, thiếu vốn
    hạt giống có thể là trở ngại lớn vì doanh nghiệp cần có vốn để tạo ra mẫu sản phẩm mới, từ đó
    kiểm tra được tính khả thi về thương mại và công nghệ của ý tưởng kinh doanh. Vốn tăng
    trưởng cần cho các doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô kinh doanh. Tuy nhiên, các hoạt
    động cấp vốn mạo hiểm chỉ mới phát triển ở quy mô hạn chế trong các nền kinh tế đang phát
    triển. Hầu hết các nước đang phát triển thiếu vốn đầu tư mạo hiểm trong nước nên các nhà đầu
    tư nước ngoài thường cảnh giác khi đầu tư vào các mô hình kinh doanh quy mô nhỏ, chưa
    được chứng minh với số ít các doanh nghiệp vốn mạo hiểm nước ngoài đi tiên phong trong nỗ
    lực này.
    Đối tượng bị ảnh hưởng nhiều nhất do thiếu vốn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
    Các doanh nghiệp lớn thường có nguồn vốn, mạng lưới toàn cầu và mô hình kinh tế quy mô
    cần thiết để tham gia và cạnh tranh trên các thị trường địa phương và toàn cầu. Nhưng các
    doanh nghiệp nhỏ tại các nước đang phát triển thường rơi vào trình trạng kiệt quệ vì không có
    khả năng tiếp cận vốn nên không thể thanh toán trước các khoản chi phí liên quan đến xuất

    9

  10. khẩu.
    Ngoài ra,thách thức đặc biệt trong việc đảm bảo tài chính cho cơ sở hạ tầng cần vốn lớn như
    mạng băng rộng hoặc kết nối quốc tế đòi hỏi đầu tư ban đầu lớn mà khu vực tư nhân thường
    không thể đảm nhận. Kết quả là nhiều nền kinh tế đang phát triển thiếu đường truyền Internet
    tốc độ cao và dung lượng băng thông quốc tế cần cho tăng trưởng kinh tế số. Một vấn đề nữa
    là việc cấp vốn cho hướng đầu tư này phải cạnh tranh với những hoạt động đôi khi được cho là
    nhu cầu phát triển cấp bách hơn. Các nước đang phát triển cũng phải chịu gánh nặng nợ nần
    cao và thời gian hoàn vốn dài do các “điều kiện về nhu cầu ban đầu” trong những thị trường
    này không đủ hoặc không ổn định.
    Thứch thức trong hệ sinh thái quản trị và kinh doanh
    Về khía cạnh trực tiếp, các vấn đề tài chính nảy sinh do thiếu vốn nhưng nhiều vấn đề trong hệ
    sinh thái quản trị và kinh doanh rộng lớn đã hạn chế hoạt động cấp vốn.
    Ví dụ, các chính sách thường lỗi thời, không thể đáp ứng những xu hướng mới nổi của các
    công nghệ và dịch vụ mới do nền kinh tế số cung cấp. Các nền tảng mới đã phá vỡ những mô
    hình truyền thống do chúng chưa có quy định kiểm soát các mô hình truyền thống như các quy
    định về y tế và an toàn hoặc thuế. Tình trạng tương tự diễn ra với thuế: các luật thuế quốc tế
    trước đây không phù hợp để tạo ra một hệ thống thuế công bằng từ nền kinh tế số. Tương tự,
    quy định về lao động trong nền kinh tế số, cùng với các luật hiện hành không thể theo kịp tốc
    độ thay đổi của nền kinh tế tự do (gig economy)1 .
    Bên cạnh đó, các chính sách không còn phù hợp. Ví dụ, theo ước tính, 73% các nền kinh tế ở
    khu vực châu Á – Thái Bình Dương đã áp dụng luật giao dịch điện tử, nhưng chỉ có 38% áp
    dụng luật bảo vệ người tiêu dùng và luật về quyền riêng tư là 29% (UNCTAD 2015). Tương
    tự, luật tội phạm mạng chỉ được áp dụng trong 56% các nền kinh tế đang phát triển, trong khi
    tại các nền kinh tế phát triển, tỷ lệ này là trên 90% (ADB 2015).
    Tuy nhiên, thậm chí khi chính sách đã được cập nhật, thì tính phù hợp của chính sách trong
    việc phát triển kinh tế số vẫn gây nhiều tranh cãi. Đây thường là vấn đề về quan điểm. Những
    người theo quan điểm tân tự do có xu hướng tranh luận về các chính sách “thân thiện với
    doanh nghiệp” áp dụng ít quy định và đánh thuế doanh nghiệp số thấp hơn. Nhưng họ có xu
    hướng nhất trí về một số khía cạnh khác của chính sách như bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ kém
    cản trở hoạt động đầu tư cho nền kinh tế số. Ví dụ, một đánh giá về môi trường chính trị và
    pháp lý của các quốc gia trên thế giới dựa vào các yếu tố như: hiệu quả của các cơ quan lập
    pháp, luật liên quan đến CNTT&TT và tốc độ và quy trình thực thi hợp đồng cho thấy 2/3 số
    nước châu Phi nằm trong nhóm dưới cùng. Điều này cản trở hoạt động đầu tư. Các quyết định
    đầu tư của các công ty CNTT&TT được định hình bởi tính minh bạch và chất lượng của chế
    độ pháp lý.
    Các lực lượng thể chế cũng giữ vai trò nhất định và không liên quan nhiều đến nội dung chính

    1
    Nền kinh tế tự do là nền kinh tế trong đó người lao động có thể cùng lúc làm nhiều công việc mà không
    gắn bó với một công ty nào.

    10

  11. sách như quản lý chính sách và thậm chí là quản lý hệ sinh thái kinh doanh rộng lớn. Các ví
    dụ về những yếu tố có khả năng hạn chế tăng trưởng kinh tế số, bao gồm mức độ tham nhũng
    cao, ảnh hưởng thái quá của các nhóm ưu tú đến chính phủ và các tổ chức công khác và văn
    hóa quản lý độc đoán và không hiệu quả trong các tổ chức chủ chốt. Rào cản thể chế cũng có
    thể lan rộng. Ví dụ, chính phủ của một số quốc gia đang phát triển triển đã hạn chế quyền truy
    cập Internet của người dân do lo ngại Internet phần nào ảnh hưởng xấu đến niềm tin tôn giáo,
    văn hóa hoặc chính trị (như Trung Quốc, CHDCND Triều Tiên và Thái Lan). Rào cản ngôn
    ngữ cũng là thách thức thể chế mà nền kinh tế số tại các nước đang phát triển đang phải đối
    mặt.
    Đặc biệt, những thách thức về hệ sinh thái quản trị và kinh doanh được xem là kìm hãm tốc
    độ phát triển của thương mại số. Bản chất không biên giới và đa thẩm quyền của hoạt động
    thương mại số và tính chất tương đối vô hình của nó khiến cho các vấn đề về khiếu nại, thực
    thi hợp đồng và kiện tụng trở nên không rõ ràng. Vấn đề càng trầm trọng hơn do thiếu các cơ
    quan quốc tế có trách nhiệm và hướng dẫn rõ ràng về thương mại số và thiếu các hệ thống giải
    quyết tranh chấp kịp thời và hiệu quả – chi phí, các cơ chế thanh toán tài chính, cũng như luật
    bảo vệ người tiêu dùng và dữ liệu.
    2.3. Những hạn chế của nền kinh tế số
    Những thách thức được đề cập ở trên là những hạn chế khiến cho nền kinh tế số tại các nước
    đang phát triển chưa phát huy hết tiềm năng. Ngoài ra còn có những hạn chế khác nảy sinh khi
    nền kinh tế số phát triển.
    Loại trừ số
    Khoảng cách số được nới rộng trong nền kinh tế số tại các quốc gia đang phát triển. Về khía
    cạnh tiêu cực, các quốc gia này không có khả năng tham gia hoặc ở trong nền kinh tế số. Đây
    là hạn chế cũng như thách thức đối với sự phát triển của nền kinh tế số. Khoảng cách số được
    hiểu là một chuỗi khoảng cách: “sự khác biệt về nguồn lực, khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu
    quả CNTT&TT phục vụ phát triển tồn tại ngay trong và giữa các quốc gia, khu vực, ngành và
    các nhóm kinh tế – xã hội” (UNDAW 2005). Có khoảng cách về tính khả dụng (ví dụ, đối với
    những người sống ngoài phạm vi phủ sóng tín hiệu di động), khoảng cách về khả năng chi trả
    (ví dụ: đối với những người không có đủ tiền mua điện thoại thông minh) và khoảng cách về
    khả năng áp dụng (như với những người thiếu khả năng sử dụng các ứng dụng hoặc thực hiện
    các việc làm số cụ thể).
    Khoảng cách số dù ban đầu trong phạm vi nhất định được coi là khoảng cách giữa các quốc
    gia, nhưng ngày nay thường được hiểu là tồn tại chính bên trong mỗi nước. Cụ thể, có những
    loại trừ đan xen (intersectional exclusion): những loại trừ nảy sinh do nhiều khía cạnh bất bình
    đẳng trong các quốc gia và có thể khiến một số nước bị loại trừ kết hợp. Trong số những khía
    cạnh này, những khía cạnh liên quan đến giới tính (phần lớn bắt nguồn từ lực lượng lao động
    của các tổ chức) có lẽ được biết đến nhiều nhất. Ví dụ, phụ nữ nghèo ở đô thị theo ước tính có
    khả năng kết nối Internet ít hơn 50% so với nam giới mặc dù trình độ giáo dục và mức thu

    11

  12. nhập tương đương (Tổ chức Mạng lưới toàn cầu 2015). Nhìn chung, phụ nữ truy cập Internet
    ít hơn 23% so với nam giới. Một khía cạnh quan trọng khác của loại trừ là thu nhập. Ví dụ,
    các doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ thiếu vốn để có thể tham gia đầy đủ vào nền kinh tế số: ở
    Ấn Độ, 68% doanh nghiệp này hoàn toàn ngoại tuyến (off-line) và chỉ có 2% tích cực quảng
    bá trực tuyến (on-line) (KPMG 2017). Ngoài ra, người dân nông thôn nhiều khả năng bị tách
    rời khỏi các nền kinh tế số nhiều hơn so với người dân đô thị. Trong số đó, gần một nửa dân
    số hành tinh không có kết nối Internet, dẫn đến tỷ lệ phụ nữ, người nghèo và người nông thôn
    trên thế giới sử dụng Internet thiếu cân đối.
    Bất bình đẳng số và sự kết hợp bất lợi
    Như đề cập ở trên, vẫn còn nhiều người nghèo bị cản trở không được hưởng những lợi từ việc
    tham gia vào nền kinh tế số tại các nước đang phát triển. Nhưng giờ đây lại được xếp vào
    nhóm “ít được hưởng lợi”; được kết hợp phần nào vào nền kinh tế số nhưng theo các khía
    cạnh bất lợi, họ được hưởng lợi ít hơn các đối tượng khác, do đó, những bất bình đẳng liên
    quan đến nền kinh tế số lại xuất hiện hoặc gia tăng. Ví dụ, chênh lệch giới tính được nhân
    rộng trên các nền tảng lao động số, trong đó, phụ nữ ở châu Á thu nhập ít hơn khoảng 20% so
    với nam giới có kỹ năng tương đương. Tương tự, lao động tại các nước phát triển có tỷ lệ
    được tuyển dụng cao hơn 30% so với lao động ở các nước đang phát triển và cũng sẽ được trả
    nhiều hơn do “trách nhiệm pháp lý với tư cách người nước ngoài”.
    Điều này nhìn chung phản ánh sự gia tăng bất bình đẳng khi nền kinh tế số phát triển. Mô
    hình kinh tế số thể hiện sự mất cân đối rõ nét về nguồn lực giữa lao động và vốn, gây bất lợi
    lớn cho người lao động. Những vấn đề cụ thể nảy sinh đối với các lao động trong nền kinh tế
    nền tảng tại các nước đang phát triển, đó là họ bị trả lương thấp, không được trả lương, bị đào
    thải một cách tùy tiện khỏi nền kinh tế nền tảng, làm việc quá nhiều giờ và không theo khung
    giờ tiêu chuẩn, không được giải quyết trong trường hợp xảy ra sự cố, công việc không an
    toàn, không được hưởng quyền lợi lao động …Thực trạng chung là người lao động đảm
    nhận công việc không ổn định với mức thu nhập bấp bênh trong bối cảnh bất bình đẳng về
    cơ cấu. Người lao động tại các quốc gia đang phát triển thường cho rằng công việc của họ
    không đạt tiêu chuẩn việc làm an toàn cao trong thời kỳ hậu chiến tranh tại các nước phát
    triển, mà chỉ đạt tiêu chuẩn việc làm không chính thức và mất an toàn tại địa phương. Tuy
    nhiên, lực lượng lao động này là một phần của bộ phận chịu bất bình đẳng cao trong nền
    kinh tế số, trong đó, các nền tảng chiếm lĩnh phần lớn giá trị. Nhìn chung, họ không dựa vào
    hạ tầng pháp lý để gây khó khăn cho hoạt động của các nền tảng như tại một số nước phát
    triển. Cùng với sự phát triển của tự động hóa thuật toán và robot, xem ra có ít cơ hội để điều
    chỉnh sự mất cân đối giữa vốn và lao động trong nền kinh tế số nếu không nghiêm túc hành
    động. Mặt khác, các tác động đó sẽ xấu hơn tại các nước đang phát triển nơi lực lượng lao
    động nhìn chung hoạt động ít có tổ chức và có năng lực không bằng lao động tại các nước
    phát triển.
    Các doanh nghiệp nhỏ cũng có thể phải chịu sự kết hợp bất lợi. Theo một nghiên cứu tác
    động do sự tham gia của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa của châu Phi vào nền kinh tế

    12

  13. số, CNTT&TT làm gia tăng tình trạng đào thải của các doanh nghiệp đó. Dù các doanh
    nghiệp vẫn chỉ có sự gia tăng lợi nhuận ở mức cơ bản, nhưng hầu hết hoạt động có giá trị cao
    vẫn diễn ra ở nước ngoài: loại hình “hướng ngoại nhờ sự hỗ trợ của CNTT&TT” cho thấy
    các thị trường châu Phi hướng đến nhu cầu và lợi ích của các chủ thể bên ngoài, trong khi các
    doanh nghiệp địa phương chưa có sự chuẩn bị buộc phải hoạt động trong môi trường siêu
    cạnh tranh không phù hợp.
    Cuối cùng là sự kết hợp theo hướng có lợi của các doanh nghiệp lớn vào nền kinh tế số tại
    các nước đang phát triển. Phương thức kết hợp này thường có liên quan đến độc quyền nhóm
    hoặc thậm chí độc quyền nói chung. Trong thế kỷ 20, hiện tượng này chủ yếu gây lo ngại
    trong ngành viễn thông, được pháp luật và chủ nghĩa bảo hộ cho phép độc quyền, dẫn đến tác
    động là chi phí cao và chất lượng thấp. Trong thế kỷ 21, lo ngại nảy sinh nhiều hơn với kinh
    tế nền tảng, trong đó, độc quyền được thúc đẩy nhờ có các thị trường và hiệu ứng mạng.
    Nhiều vấn đề xuất hiện bao gồm tác động đến lực lượng lao động được đề cập ở trên, trói
    buộc người dùng (user lock-in) và loại bỏ các đối thủ cạnh tranh thậm chí thông qua cung
    cấp dịch vụ giá rẻ hoặc tốt hơn và sử dụng độc quyền trong thị trường số làm đòn bẩy để thúc
    đẩy độc quyền trong các thị trường số khác. Độc quyền số có thể mang lợi ích của hiệu ứng
    mạng đến người tiêu dùng, nhưng lịch sử phát triển của nền kinh tế số cho đến nay được ghi
    dấu bởi những lợi ích mà người tiêu dùng được hưởng từ cuộc cạnh tranh giảm giá thành,
    nâng cao chất lượng và đổi mới sáng tạo.
    Những hạn chế khác của nền kinh tế số
    Những hạn chế khác do sự phát triển mạnh của nền kinh tế số liên quan đến vấn đề an ninh và
    quyền riêng tư, tác động đến người tiêu dùng, người lao động và doanh nghiệp. Chúng có thể
    được xem là một phần của sự gia nhập theo hướng bất lợi vào các thị trường số với mức độ
    ảnh hưởng lớn hơn khi nền kinh tế số phát triển, gây ra nhiều sự cố do lỗ hổng bảo mật tấn
    côngcác doanh nghiệp, chính phủ và người tiêu dùng. Dễ bị tổn thương nhất trước các cuộc
    tấn công này là các quốc gia đang phát triển, được coi là “nền tảng thử nghiệm lý tưởng” của
    các tin tặc cho hầu hết các cuộc tấn công nguy hiểm. Do hạ tầng an ninh của các quốc gia đang
    phát triển yếu kém, nên tin tặc có thể tránh bị phát hiện và sử dụng các lỗ hổng để thử nghiệm
    phần mềm độc hại của chúng trước khi triển khai để chống lại các biện pháp phòng thủ tinh vi
    hơn. Ví dụ như vụ lừa đảo 4 triệu USD từ các tài khoản ở Zambia vào năm 2016 hoặc tin tặc
    đánh cắp 81 triệu USD từ Ngân hàng Bangladesh (Zetter 2016). Trên quy mô lớn hơn, theo
    ước tính tội phạm mạng gây thiệt hại cho nền kinh tế Nigeria 500 triệu USD mỗi năm (Shiloh
    & Fassassi 2016).
    Tăng trưởng của nền kinh tế số cũng đang cho phép các doanh nghiệp, chính phủ và những
    đối tượng khác thu thập, lưu giữ và sử dụng ngày càng nhiều dữ liệu cá nhân cho mục đích
    thương mại hoặc mục đích chính trị riêng. Do đó, tại các nước đang phát triển, lo ngại mất
    quyền riêng tư dữ liệu đang gia tăng; cả những gì được gọi là “tổn thất hợp pháp” như những
    gì nảy sinh từ việc thu thập dữ liệu điển hình của các công ty đa quốc gia lớn trong nền kinh tế
    số như Facebook, Twitter và Amazon; những “tổn thất gần như hợp pháp” từ sự giám sát của

    13

  14. chính phủ và những “tổn thất bất hợp pháp” do bị hack và những yếu tố tương tự. Lo ngại về
    bảo mật và quyền riêng tư được xem là cản trở theo cách gượng ép sự tham gia của các doanh
    nghiệp và người tiêu dùng vào nền kinh tế số, do thiếu niềm tin. Ngoài ra, lo ngại này cũng tạo
    điều kiện cho tình trạng “hướng ngoại” như đề cập ở trên: ví dụ, 90% giao dịch mua hàng trực
    tuyến do người tiêu dùng Cameroon thực hiện là trên các trang web ở nước ngoài (Etoundi et
    al. 2016).
    Những vấn đề này đang trở nên rõ nét cùng với sự gia tăng của điện toán đám mây tại các
    nước đang phát triển. Đám mây sẽ là trụ cột quan trọng cho tăng trưởng của nền kinh tế số tại
    các quốc gia đang phát triển, bên cạnh hiệu quả và tính linh hoạt mà nó có thể mang lại cho
    phần còn lại của nền kinh tế. Nhưng mô hình dòng dữ liệu xuyên biên giới của nó làm dấy lên
    lo ngại nghiêm trọng về an ninh và quyền riêng tư, khiến chính phủ một số nước như Ấn Độ,
    Inđônêxia và Zambia hạn chế sử dụng, ít nhất là các dịch vụ đám mây ở nước ngoài. Các
    chính sách nội địa hóa dữ liệu này được cho là làm chậm tốc độ phát triển của nền kinh tế, bao
    gồm cả nền kinh tế số, nhưng có thể được xem là cần thiết để cân bằng tất cả những tác động
    tiềm năng của nền kinh tế số.
    2.4. Tổng quan chính sáchkinh tế số
    Chính phủ các nước cần phải đối phó với ba thách thức gồm hạ tầng, hệ sinh thái và những
    hạn chế khác. Dưới đây là bảng tóm tắt tổng quan các vấn đề chính sách và kết quả mong đợi,
    cũng như lựa chọn các công cụ chính sách theo khuyến nghị.
    2.4.1. Chính sách cho hạ tầng số
    Mục tiêu chính sách của hạ tầng số: đảm bảo hạ tầng rộng lớnvà hiệu quả cho nền kinh tế số
    Vấn đề chính Kết quả mong Khuyến nghị các công cụ chính sách
    sách đợi
    Nguồn cung Cải thiện hạ tầng – Đầu tư trực tiếp cho hạ tầng điện
    cấp điện không điện – Khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư cho hạ tầng viễn thông
    ổn định/không cả trên quy mô rất nhỏ
    sẵn có – Khuyến khích đổi mới “lưới điện thông minh”
    Nguồn cung Xây dựng hạ tầng – Đầu tư trực tiếp vào hạ tầng viễn thông
    cấp hạ tầng kỹ kỹ thuật dung – Khuyến khích khu vực tư nhân và viện nghiên cứu tài chính
    thuật không lượng lớn, tương quốc tế đầu tư cho hạ tầng viễn thông
    phù hợp thích trên phạm – Đảm bảo quy định độc lập về hạ tầng viễn thông
    vi rộng
    – Giải quyết tình trạng độc quyền kỹ thuật thông qua cải cách
    chính sách cạnh tranh
    – Đưa ra các hướng dẫn rõ ràng (bao gồm cạnh tranh so với tỷ
    lệ lợi nhận trên đầu tư)vềquy hoạch băng tần và hạ tầng khác,
    cấp phép và định giá
    – Điều chỉnh liên kết dựa vào chi phí giữa các mạng lưới và sự
    phân bốhạ tầng
    – Xem xét chi phí-lợi ích của việc đánh thuế, định giá hoặc các
    rào cản khác làm hạn chế khả năng tiếp cận hạ tầng, các mạng
    lưới và thiết bị.
    – Triển khai các kế hoạch và biện pháp khuyến khích cụ thể

    14

  15. cho băng thông rộng (di động)
    – Phát triển các điểm trao đổi Internet cấp quốc gia
    – Đưa ra các yêu cầu về tốc độ và chất lượng truy cập toàn cầu,
    tối thiểu
    Thiếu hạ tầng Xây dựng hạ tầng – Xúc tiến hoặc bắt buộc sử dụng các tiêu chuẩn dữ liệu tương
    dữ liệu dữ liệu dung thích
    lượng lớn, tương – Đầu tư tăng công suất thu thập, phân tích và trực quan hóa dữ
    thích trên phạm liệu
    vi rộng – Đưa vào áp dụng các quy định về tính toàn vẹn, khả năng lưu
    trữ, chấp nhận, sử dụng và quản trị dữ liệu
    – Khuyến khích phát triển dữ liệu cục bộ/máy chủ/các trung
    tâm điện toán đám mây
    2.4.2. Chính sách hệ sinh thái kinh tế số
    Mục tiêu chính sách hệ sinh thái số: đảm bảo hệ sinh thái số hiệu quả vàmôi trường mở, ổn định và
    thuận lợi cho nền kinh tế số
    Vấn đề Kết quả Khuyến nghị các công cụ chính sách
    chính sách mong đợi
    Thiếu năng Một tập hợp – Lồng ghép nội dung liên quan đến CNTT&TT vào trong chương
    lực của nền năng lực sản trình giáo dục tiểu học, trung học và đại học, như chương trình nâng
    kinh tế số xuất của nền cao năng lực của chuyên gia đổi mới và doanh nhân cao cấp
    kinh tế số – Kiểm tra các yêu cầu về năng lực của nền kinh tế số đặc thù tại địa
    phương
    – Hỗ trợ nâng cao năng lực cho các doanh nhân của nền kinh tế số
    – Trợ cấp hoặc giảm thuế cho hoạt động đào tạo tại chức trong nền
    kinh tế số
    – Khuyến khích người dân được đào tạo chuyên ngành kinh tế số
    đang ở nước ngoài quay trở về nước
    – Xem xét tác động của chính sách nhập cư đến nguồn cung lao động
    và doanh nhân cho nền kinh tế số
    Tiếp cận hạn Môi trường – Định hướng cấp vốn phát triển, bao gồm tài trợ đám đông để đầu tư
    chế với đầu tư hiệu cho nền kinh tế số
    nguồn vốn quả cao và
    – Cấp vốn (công) trực tiếp để đầu tư cho nền kinh tế số
    hấp dẫn
    – Hỗ trợ đổi mới nền kinh tế số thông qua cấp vốn trực tiếp, trợ cấp
    và giảm thuế
    – Khuyến khích khu vực tư nhân cấp vốn cho nền kinh tế số, bao gồm
    sử dụng mối quan hệ hợp tác công-tư và nguồn đầu tư từ các doanh
    nhân và công ty nước ngoài
    – Xây dựng các cơ chế tạo thuận lợi cho việc cấp vốn mạo hiểm
    – Hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp khởi nghiệp số và các doanh
    nghiệp nhỏ và vừa
    – Cung cấp vốn mạo hiểm bao gồm cân nhắc mở rộng và phát triển
    nguồn vốn và đầu tư trực tiếp nước ngoài
    – Hỗ trợ doanh nghiệp trong nền kinh tế số thông qua các khoản đầu

    15

  16. tư và những khuyến khích khác, như xoay quanh hoạt động NC&PT
    Nhu cầu Xây dựng nền – Hỗ trợ các chương trình chung để cải thiện kỹ năng cơ bản, tiếng
    thấp của nền kinh tế số tiêu Anh và kỹ năng số
    kinh tế số thụ (build – Hỗ trợ can thiệp để thúc đẩy ứng dụng CNTT&TT trong tất cả các
    digital lĩnh vực phát triển (y tế, giáo dục, nông nghiệp, doanh nghiệp nhỏ,
    economy hành chính công…)
    consumption)
    – Khởi động sự kiện lập trình, cuộc thi… để phát triển các ứng dụng
    liên quan đến nhu cầu phát triển tại địa phương
    Các chính Khung pháp – Phân tích và luật hóa các yêu cầu cụ thể từ các nền tảng số
    sách của nền lý cần thiết tạo – Cập nhật chính sách thuế để phát triển kinh tế số
    kinh tế số thuận lợi cho
    còn thiếu và nền kinh tế số – Cập nhật chính sách lao động để phát triển kinh tế số
    lỗi thời – Thúc đẩy sự công nhận về mặt pháp lý đối với chữ ký, nhận dạng,
    hợp đồng và giao dịch số
    Hạ tầng thể Hỗ trợ hạ tầng – Nhận diện và phát triển các nhà vô địch của nền kinh tế số địa
    chế cho nền thể chế cho phương
    kinh tế số nền kinh tế số – Nâng cao hiểu biết và nhận thức về tác động của nền kinh tế số
    còn nghèo
    nàn – Phát triển quan hệ hợp tác công – tư hiệu quả trong việc cấp vốn, đổi
    mới, xây dựng năng lực cho nền kinh tế số …
    – Hỗ trợ phát triển các mối quan hệ hai bên khác của nền kinh tế số
    (tổ chức phi chính phủ – tư nhân, cộng đồng – tư nhân)
    – Xem xét và hợp lý hóa các quy định của nền kinh tế số bao gồm
    việc khởi động, hoạt động và đóng cửa doanh nghiệp số
    Thiếu hỗ trợ Hỗ trợ có mục – Cung cấp các dịch vụ phát triển kinh doanh đặc thù cho các doanh
    cụ thể cho tiêu cho nền nghiệp của nền kinh tế số
    các doanh kinh tế số – Đưa ra các cơ chế khuyến khích khởi động và phát triển nền kinh tế
    nghiệp khởi số
    nghiệp và
    doanh – Xây dựng các trung tâm, vườn ươm và trung tâm xúc tiến hỗ trợ và
    nghiệp nhỏ thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp số
    và vừa của – Phát triển công viên công nghệ của nền kinh tế số để thúc đẩy phân
    nền kinh tế cụm doanh nghiệp
    số

    2.4.3.Chính sách giải quyếtnhững hạn chế của nền kinh tế số
    Mục tiêu của chính sách giải quyết những hạn chế của nền kinh tế số: để giảm những hạn chế liên
    quan đến nền kinh tế số
    Vấn đề Kết quả Khuyến nghị các công cụ chính sách
    chính sách mong đợi
    Hạ tầng Cấp vốn – Phát triển các quỹ dịch vụ toàn cầu cho hạ tầng di động, Internet và
    trong các mục tiêu cho hạ tầng CNTT&TT khác
    vùng ngoại các sáng – Phát triển các quỹ dịch vụ toàn cầu cho hạ tầng điện
    vi còn hạn kiến hạ tầng
    chế số toàn diện – Xem xét tiềm năng cho tài trợ công hoặc trợ cấp cho vùng sâu, vùng
    xa

    16

  17. Hiệu quả Tăng tối đa – Xây dựng các mục tiêu, kế hoạch và quy trình rõ ràng cho việc thu
    kém của các hiệu quả của thập và phân bổ quỹ dịch vụ toàn cầu
    quỹ dịch vụ quỹ dịch vụ – Xem xét các quỹ dịch vụ toàn cầu, cũng như xóa bỏ hoặc điều chỉnh
    toàn cầu toàn cầu nếu đạt được các mục tiêu ban đầu
    – Đảm bảo sự phân bổ mở rộng quỹ thông qua một quy trình minh
    bạch có sự tư vấn của các bên liên quan chính
    – Ưu tiên cấp vốn cho các công nghệ chi phí thấp và hạ tầng truy cập
    chung
    Thiếu nội Phát triển – Hỗ trợ phát triển nội dung dữ liệu cục bộ thông qua xây dựng năng
    dung số toàn nội dung cục lực cho nhà sản xuất dữ liệu
    diện bộ toàn diện – Thúc đẩy phối hợp phát triển nội dung dữ liệu giữa các chuyên gia
    phát triển tại địa phương và các đối tác khác như các nhà phân phối nội
    dung
    Thiếu tiếp Khả năng – Lồng ghép CNTT&TT vào các chương trình cung cấp thông tin và
    cận với tiếp thu hiệu dịch vụ của chính phủ và tổ chức phi chính phủ
    CNTT&TT quả – Xây dựng các chính sách cạnh tranh để buộc các nhà khai thác mở
    của các CNTT&TT
    rộng phạm vi bao phủ trong các vùng khó khăn (thu nhập thấp/nông
    nhóm người của các thôn)
    bị thiệt thòi nhóm người
    bị thiệt thòi – Cung cấp hỗ trợ tài chính (trợ cấp, miễn thuế…) cho hàng hóa và
    dịch vụ giúp tăng tốc độ truy cập và khả năng chi trả
    – Khuyến khích đổi mới toàn diện các thiết bị và dịch vụ chi phí thấp
    cho người sử dụng thu nhập thấp
    – Cung cấp các chương trình xây dựng năng lực CNTT&TT và hỗ trợ
    tài chính cho các nhóm bị thiệt thòi
    Thiếu sự Sự tham gia – Hỗ trợ tài chính cho các vườn ươm/trung tâm/cụm CNTT&TT trong
    tham gia các toàn diện các cộng đồng bị thiệt thòi
    nhóm người vào nền kinh – Đẩy mạnh phát triển các mô hình về vai trò của tinh thần kinh doanh
    bị thiệt thòi tế số số từ các nhóm bị thiệt thòi (phụ nữ, thanh niên, người khuyết tật..,)
    vào nền kinh
    tế – Hướng đến mục tiêu xây dựng năng lực cho các nhóm bị thiệt thòi
    – Hỗ trợ kết nối giữa người dân/doanh nhân bị thiệt thòi trong nền kinh
    tế số với khu vực chính thức (ví dụ, các sự kiện mạng lưới, hội chợ,
    cuộc thi/giải thưởng, cơ sở dữ liệu đổi mới sáng tạo, báo cáo để nâng
    cao nhận thức về doanh nghiệp số cơ bản, hỗ trợ tiếp thị, đảm bảo chất
    lượng, mua sắm chính phủ)
    Kết hợp Kết hợp hợp – Các tiêu chuẩn việc làm phù hợp cho người lao động và công việc
    theo hướng lý vào nền khác trong nền kinh tế số
    bất lợi vào kinh tế số – Xem xét quy định và chính sách để đảm bảo sân chơi cho các chủ
    nền kinh tế thể nhỏ và có vai trò thứ yếu trong nền kinh tế số
    số
    Mối đe dọa Giảm tội – Phát triển các phương thức và quy định về an ninh mạng
    của phần phạm mạng – Luật hóa hoạt động tấn công mạng của tội phạm
    mềm, thư
    rác, tấn công – Nâng cao nhận thức về tội phạm mạng và an ninh mạng thông qua
    giả mạo, các chương trình cam kết
    đánh cắp dữ

    17

  18. liệu cá – Thành lập các cơ quan an ninh mạng và xây dựng năng lực
    nhân…
    – Mở rộng luật tội phạm để bao trùm hoạt động trực tuyến
    Hạ tầng số Môi trường – Xây dựng hạ tầng số hiện đại an toàn
    dễ bị tấn số an toàn – Tăng cường bảo vệ không gian mạng và cải thiện khả năng phát hiện
    công các mối đe dọa trong không gian mạng
    – Thành lập các cơ quan chống khủng bố trên mạng và chiến tranh
    mạng, cũng như xây dựng năng lực này ở cấp quốc gia và quốc tế
    – Cải thiện tổ chức cơ cấu cho hoạt động pháp y số, cũng như tăng
    cường mức độ tinh vi của các hệ thống giám sát Internet và phát hiện
    các cuộc tấn công mạng
    – Đưa vào áp dụng các biện pháp chia sẻ và báo cáo thông tin liên quan
    đến các cuộc tấn công mạng
    Thiếu khả Bảo vệ các – Luật pháp hóa quyền bảo mật trực tuyến như một phần nội dung bảo
    năng bảo vệ quyền lợi số vệ dữ liệu
    dữ liệu và – Tạo ra các công cụ báo cáo trong ombus (nền tảng quản lý quyết
    quyền riêng định), các cơ quan và hiệp hội để dễ dàng giám sát và báo cáo các hoạt
    tư động
    – Cân bằng giữa các mối lo ngại ở trong và ngoài nước về dòng dữ
    liệu; và ban hành luật đám mây
    – Phát triển “quyền sở hữu trí tuệ đang bị nới lỏng và hạn chế”, cân
    bằng quyền lợi của các nhà sản xuất và người tiêu dùng trong nền kinh
    tế số
    – Mở rộng luật lao động để bao trùm lĩnh vực trực tuyến
    – Cam kết tuân thủ Quy tắc đạo đức cho Xã hội thông tin của
    UNESCO
    Xuất hiện Giảm độc – Đảm bảo Luật chống độc quyền và luật cạnh tranh khác đề cập đến
    độc quyền quyền thông hoạt động trực tuyến và hoạt động của nền kinh tế số
    trong nền tin – Cho phép cạnh tranh hiệu quả theo hướng phát triển trong các khu
    kinh tế số vực của nền kinh tế số
    – Làm sáng tỏ việc áp dụng các quy định thuế đối với các hoạt động
    của nền kinh tế số trực tuyến
    – Cải thiện việc theo dõi dòng tiền từ nền kinh tế số

    III. CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ SỐ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ
    VIỆT NAM

    3.1. Khung hành động cho nền kinh tế số của Singapo
    Singapo đang số hóa nền kinh tế trên nền tảng mạnh mẽ. Quốc gia này có rất nhiều thế mạnh
    truyền thống như hạ tầng đẳng cấp thế giới, lực lượng lao động được đào tạo có trình độ cao
    và một chính phủ ổn định. Là trung tâm tài chính của khu vực, Singapo nằm ở vị trí chiến lược
    của châu Á và hoạt động như cửa ngõ giữa Đông và Tây.
    Những thế mạnh của Singapo được mở rộng sang lĩnh vực số cùng với việc tiếp tục khắc phục

    18

  19. hạn chế số và công nghệ trong nhiều lĩnh vực. Chẳng hạn, quỹ công nghệ tài chính (Fintech)
    trị giá 225 triệu đô la Singapo nhằm mục tiêu đẩy mạnh phát triển Singapo thành trung tâm tài
    chính số. Singapo xếp thứ nhất trong Bảng xếp hạng Fintech toàn cầu do Viện nghiên cứu
    Dịch vụ tài chính (IFZ) đưa ra, vượt qua các thị trường tài chính truyền thống như Zurich và
    New York. Hệ sinh thái khởi nghiệp quốc gia tiếp tục được mở rộng và thu hút một số tài năng
    sáng giá nhất thế giới. Singapo đứng thứ ba trong Bảng Chỉ số đổi mới sáng tạo năm 2018 của
    Bloomberg.
    3.1.1. Ba ưu tiên chiến lược định hình nền kinh tế số dẫn đầu thế giới
    Mục tiêu rõ ràng của Singapo là: Trở thành nền kinh tế số hàng đầu liên tục tự đổi mới. Theo
    khung hành động, sự chuyển đổi của nền kinh tế số Singapo tập trung vào ba ưu tiên, lần lượt
    được sự hỗ trợ của bốn yếu tố. Khung hành động nhằm xây dựng mạng lưới doanh nghiệp và
    người lao động phát triển mạnh hoạt động trong nền kinh tế số.
    1. Tăng tốc: Đẩy nhanh số hóa các ngành công nghiệp, cũng như hỗ trợ doanh nghiệp và
    người lao động tích cực áp dụng công nghệ vào hoạt động tại nơi làm việc. Tăng cường ứng
    dụng kỹ thuật số vào các lĩnh vực kinh tế sẽ giúp các doanh nghiệp nắm bắt tốt hơn các cơ hội
    tăng trưởng, tăng năng suất lao động và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế về trung hạn.
    2. Cạnh tranh: Số hóa đang thúc đẩy việc xóa mờ ranh giới giữa các ngành. Dựa vào các nền
    tảng số, khách hàng có thể tác động ngày càng nhiều đến cách các sản phẩm và dịch vụ được
    thiết kế và phân phối theo nhu cầu của khách hàng, dẫn đến sự hình thành các hệ sinh thái
    doanh nghiệp mới và những người môi giới trên thị trường. Các hệ sinh thái mới này sẽ tạo
    thành nền tảng cho các ngành công nghiệp trong tương lai.
    Singapo đặt mục tiêu thúc đẩy môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các hệ sinh thái tích
    hợp này và hỗ trợ các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và phát triển các mô hình kinh doanh và
    có khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
    3. Chuyển đổi: Ngành truyền thông Infocomm (ICM) có khả năng cạnh tranh và năng động, sẽ
    rất cần thiết để Singapo hiện thực hóa khát vọng của nền kinh tế số. Tiếp tục hợp tác với ngành
    công nghiệp để chuyển đổi ICM, nuôi dưỡng thế hệ mới các nhà vô địch số và phát triển lĩnh
    vực này như một động lực tăng trưởng chính cho nền kinh tế trong tương lai của Singapo.
    Dưới đây là các yếu tố hỗ trợ rất cần thiết để đưa ra các ưu tiên:
    • Nỗ lực phát triển tài năng cần được tăng cường để liên tục nâng cao kỹ năng, trang bị kỹ
    năng mới và nâng cao năng lực số của lực lượng lao động trên toàn nền kinh tế.
    • Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo sẽ cho phép các doanh nghiệp giành lợi thế cạnh tranh;
    nhưng việc khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới sẽ cần nỗ lực lớn để thu hút cộng đồng
    đổi mới.
    • Chính sách, quy định và tiêu chuẩn sẽ đóng vai trò trung tâm để Singapo phát triển nền kinh
    tế số. Cần đảm bảo rằng chính sách và môi trường pháp lý mang tính cạnh tranh trên toàn cầu
    và phù hợp với thế giới số để Singapo vẫn là trung tâm của tài năng, vốn và ý tưởng.

    19

  20. • Sự bùng nổ dòng dữ liệu trong nền kinh tế số và sự gia tăng số lượng doanh nghiệp nền tảng
    và doanh nghiệp số được hỗ trợ bởi công nghệ mới, sẽ đòi hỏi Singapo phải liên tục đảm bảo
    hạ tầng vật lývà hạ tầng số vững chắc.
    1. Tăng tốc: Công nghiệp số hóa
    Ưu tiên chiến lược đầu tiên tập trung mang lại cho tất cả các doanh nghiệp cơ hội trở thành
    doanh nghiệp số. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các DNVVN của Singapo.
    Chuyển đổi số sẽ mang lại nhiều lợi ích khác nhau cho một doanh nghiệp tùy theo lĩnh vực hoạt
    động, giai đoạn của hành trình số hóa và đề xuất có giá trị của doanh nghiệp đó với khách hàng,
    cùng nhiều yếu tố khác. Đối với một số doanh nghiệp có thể là hiệu quả chi phí; còn với những
    doanh nghiệp khác, số hóa có nghĩa là tiếp cận với nền tảng khách hàng rộng lớn hoặc khai thác thị
    trường mới.
    Các doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những thách thức và hạn chế trong hành trình số hóa.
    Một số doanh nghiệp lo ngại về chi phí hoặc quy mô hoạt động. Bên cạnh đó, các doanh
    nghiệp khác lại không nhận thấy những lợi ích trước mắt mà số hóa có thể tạo ra dòng doanh
    thu và giá trị mới.
    Để giúp các công ty khắc phục những trở ngại này và phát triển, chính phủ đã xây dựng kế
    hoạch số hóa kinh tế theo hướng toàn diện. Động thái này nhằm vào các doanh nghiệp trong
    toàn bộ nền kinh tế; kế hoạch này liên quan đến nỗ lực chuyển đổi số trên diện rộng cũng như
    nỗ lực chuyển đổi ngành.
    Nỗ lực chuyển đổi số trên diện rộng
    Các DNVVN là xương sống của nền kinh tế, chiếm 99% tổng số doanh nghiệp, sử dụng 70%
    lực lượng lao động và đóng góp gần một nửa GDP của Singapo. Chính phủ đã có rất nhiều
    chương trình hỗ trợ DNVVN.
    Ở cấp độ ngành công nghiệp, 23 Bản đồ chuyển đổi ngành (ITM) đã được triển khai để giúp
    các doanh nghiệp chuẩn bị cho nền kinh tế trong tương lai thông qua các biện pháp đổi mới và
    tăng năng suất. Trong kế hoạch Ngân sách 2017, Chính phủ đã đưa chương trình số hóa các
    DNVVN để giúp doanh nghiệp xây dựng năng lực số ở từng giai đoạn tăng trưởng và đơn
    giản hóa quá trình số hóa.
    Như một phần của nỗ lực này, Kế hoạch ngành công nghiệp số (IDP) bao gồm các hướng dẫn
    từng bước cho các DNVVN trên hành trình số. IDP được tùy chỉnh cho các DNVVN theo
    ngành và được liên kết với các ITM trên phạm vi rộng hơn. Để khởi động, IDP sẽ được phát
    triển cho sáu lĩnh vực – Bán lẻ, logistics, Dịch vụ thực phẩm, Thương mại bán buôn, Dịch vụ
    môi trường và An ninh.
    DNVVN cũng có thể tìm kiếm các dịch vụ tư vấn và hỗ trợ để điều chỉnh và thiết kế hành
    trình số hóa của họ và hỗ trợ tài chính cho các giải pháp công nghệ được phê duyệt trước.
    Nỗ lực chuyển đổi ngành
    Ngoài các sáng kiến cấp doanh nghiệp, chính phủ cũng cam kết thúc đẩy các sáng kiến số

    20

Download tài liệu Tổng luận Giải pháp chính sách phát triển nền kinh tế số File Docx, PDF về máy