[Download] Tổng luận Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh của một số quốc gia – Tải về File Docx, PDF

Tổng luận Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh của một số quốc gia

Tổng luận Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh của một số quốc gia
Nội dung Text: Tổng luận Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh của một số quốc gia

Download


Tổng luận trình bày tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo và phát triển xanh đối với tương lai của thể giới nói chung và Việt Nam nói riêng, trong đó các chiến lược và chính sách là những công cụ quan trọng nhằm định hướng cho nền kinh tế mới nổi.

Bạn đang xem: [Download] Tổng luận Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh của một số quốc gia – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Tổng luận Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh của một số quốc gia File Docx, PDF về máy

Tổng luận Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh của một số quốc gia

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Tổng luận Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh của một số quốc gia

  1. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

    TT Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ
    1 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
    2 KH&CN Khoa học và công nghệ
    3 NC&PT Nghiên cứu và phát triển
    4 STI Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo
    5 SHTT Quyền sở hữu trí tuệ
    6 DNNVV Doanh nghiệp nhỏ và vừa
    7 BĐKH Biến đổi khí hậu
    8 COP Hội nghị về biến đổi khí hậu Paris
    9 VC Vốn mạo hiểm
    10 IT Công nghệ thông tin
    20 CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông

    1

  2. MỞ ĐẦU

    Trong bối cảnh toàn cầu đang có những bất ổn về kinh tế – xã hội như khủng hoảng kinh
    tế, di dân, thất nghiệp, nghèo đói và các vấn đề môi trường như tài nguyên thiên nhiên bị
    cạn kiệt, đa dạng sinh học suy giảm, ô nhiễm môi trường gia tăng và biến đổi khí hậu ngày
    càng phức tạp… một phần do hậu quả của nền kinh tế “nâu”, chủ yếu khai thác và sử dụng
    quá mức tài nguyên thiên nhiên nhiên và các nhiên liệu hóa thạch, đồng thời gây ô nhiễm
    môi trường bởi các chất thải và khí thải độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người. Do
    đó, nhiều quốc gia đã lựa chọn chuyển sang mô hình phát triển nền kinh tế xanh bền vững,
    nhằm giải quyết đồng thời các vấn đề về môi trường, kinh tế và xã hội. Đây là mô hình kinh
    tế mới thay vì sử dụng nhiên liệu hóa thạch, nền kinh tế xanh sử dụng năng lượng tái tạo và
    công nghệ các bon thấp, khuyến khích sử dụng nguồn nhân lực và năng lượng hiệu quả
    hơn, đồng thời tạo ra nhiều việc làm xanh hơn.
    Theo tính toán của các nhà kinh tế xanh, giai đoạn từ 2011-2050, đầu tư trên thế giới cho
    nền kinh tế xanh đến năm 2050 đạt 3,9 nghìn tỷ USD. Trong đó nhiều nước sẽ dịch chuyển từ
    đầu tư “nâu” sang đầu tư “xanh”. Đồng thời tạo ra nhiều việc làm cho xã hội. Tăng trưởng
    xanh là một trong những nội dung quan trọng nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng và phát
    triển một nền kinh tế xanh. Để thực hiện được điều này cần có những cơ chế, chính sách
    nhằm huy động nguồn lực tài chính đầu tư một cách hiệu quả cho đổi mới và phát triển xanh.
    Tại Hội nghị thượng đỉnh Tăng trưởng xanh toàn cầu 2016, có hơn 250 nhà lãnh đạo
    hàng đầu từ 35 quốc gia trên thế giới đã tham dự Diễn đàn. Mục tiêu của Hội nghị là nhằm
    thiết lập những hợp tác mới mẻ và những giải pháp xanh hữu hiệu để giải quyết các thách
    thức lớn nhất của thế giới trong lĩnh vực năng lượng, vấn đề lãng phí lương thực, những giải
    pháp cho khí hậu và phát triển đô thị bền vững với hơn 30 mô hình hợp tác công – tư sẽ
    cùng nhau phát triển các giải pháp, sáng kiến xanh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh trên
    toàn thế giới. Và Việt Nam cũng đã tham gia và trở thành thành viên chính thức thứ tám của
    Diễn đàn tăng trưởng Xanh toàn cầu.
    Nhận thấy tầm quan trọng của đổi mới sáng tạo và phát triển xanh đối với tương lai của
    thể giới nói chung và Việt Nam nói riêng, trong đó các chiến lược và chính sách là những
    công cụ quan trọng nhằm định hướng cho nền kinh tế mới nổi này, Cục Thông tin Khoa học
    và Công nghệ Quốc gia xin trân trọng giới thiệu Tổng luận “Chính sách thúc đẩy đổi mới
    sáng tạo xanh của một số quốc gia”.

    CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ
    CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
    2

  3. PHẦN I: TỔNG QUAN ĐỔI MỚI SÁNG TẠO XANH

    1. Một số khái niệm và vai trò đổi mới sáng tạo xanh
    1.1. Khái niệm
    Đổi mới sáng tạo xanh là sự phát triển và thương mại hóa các phương pháp mới để giải
    quyết các vấn đề môi trường thông qua những cải tiến công nghệbao gồm sản phẩm, quy
    trình, những cải thiện về tổ chức và tiếp thị. Bên cạnh đó, những đổi mới biên giới (frontier
    innovation – mới đối với thế giới), định nghĩa này bao gồm bắt kịp những đổi mới (mới đối
    với doanh nghiệp) trong đó bao gồm phổ biến (cả trong và xuyên quốc gia), chấp nhận,
    thích ứng (với bối cảnh địa phương), và sử dụng các công nghệ xanh.
    Các công nghệ xanh bao gồm nhiều công nghệ cơ bản khác nhau đạt hiệu quả tài
    nguyên, sạch và phát triển bền vững. Chúng bao gồm các công nghệ cần đạt các mục tiêu
    sau đây:
    – Giảm ô nhiễm và đạt hiệu quả tài nguyên lớn hơn ở các tòa nhà (cách nhiệt, các vật liệu
    mới, sưởi, chiếu sáng hiệu quả năng lượng); quy trình sản xuất (tái sử dụng chất thải và các
    sản phẩm phụ từ các doanh nghiệp); nông nghiệp (các giống cây trồng vàvật nuôi được cải
    tiến, quản lý nước, hệ thống thủy lợi và các kỹ thuật canh tác); và thiết kế cơ sở hạ tầng và
    đô thị (như quy hoạch sử dụng đất).
    – Giảm thiểu biến đổi khí hậu thông qua các nguồn năng lượng sạch hơn ( như năng
    lượng gió, mặt trời, địa nhiệt, năng lượng biển, sinh khối, thủy điện, năng lượng từ chất thải,
    các nhiên liệu hydro); sử dụng cuối carbon thấp (xe điện và phương tiện hybrid, xi măng
    thân thiện với khí hậu); và thu hồi và tích trữ cácbon.
    – Giảm tổn thương và thích ứng với biến đổi khí hậu bằng các công cụ như hiểu về
    những rủi ro khí hậu, các hệ thống cảnh báo sớm tốt hơn, và công nghệ thích ứng với khí
    hậu (kè bờ; khả năng thoát nước; giảm gánh nặng môi trường, bệnh tật; quản lý nước, rừng,
    và đa dạng sinh học). Ủng hộ việc tạo ra của cải từ việc sử dụng hiệu quả và bền vững hơn
    đa dạng sinh học, bao gồm các sản phẩm mỹ phẩm và dược phẩm tự nhiên, khảo sát sinh
    học bền vững, du lịch tự nhiên, sản xuất bền vững cây trồng và vật nuôi, và bảo vệ hệ sinh
    thái.
    Chính sách đổi mới xanh là những chính sách tìm kiếm và kích hoạt quá trình đổi mới
    xanh bằng cách khuyến khích đổi mới rộng rãi (chính sách ngang) hoặc ủng hộ công nghệ
    cụ thể (các chính sách dọc).
    Chính sách công nghiệp xanh là những chính sách nhằm làm xanh cấu trúc sản xuất của
    nền kinh tế bằng cách đặt mục tiêu vào các ngành công nghiệp hoặc doanh nghiệp cụ thể.
    Chúng bao gồm những trợ cấp nghiên cứu và phát triển cụ thể về ngành công nghiệp, trợ
    cấp vốn, miễn giảm thuế; thuế feed-in; và bảo hộ nhập khẩu. Nhưng không bao gồm các
    chính sách cho cầu (ví dụ như ngày dành cho người tiêu dùng) chỉ đáp ứng bằng việc nhập
    khẩu mà không chịu thay đổi phương thức sản xuất ở địa phương.
    Trong thực tế, các chính sách đổi mới xanh và công nghiệp xanh khó có thể tách riêng.
    3

  4. Ủng hộ của Braxin cho nhiên liệu sinh học dựa trên một loạt các công cụ chính sách từ đổi
    mới rộng rãi đến chính sách công nghiệp có mục tiêu, mục đích cuối cùng nhằm kích hoạt
    đổi mới. Ủng hộ của Đức cho năng lượng quang điện mặt trời gồm chính sách đổi mới sử
    dụng các công cụ chính sách công nghiệp. Cả hai quốc gia có khả năng sẽ xem xét những
    nỗ lực này như một phần trong chính sách môi trường của họ.
    Phát triển xanh là thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, nhưng đồng thời đảm bảo
    những tài sản tự nhiên mà con người đang sống dựa vào đó bao gồm các nguồn tài nguyên
    thiên nhiên và các dịch vụ môi trường. Các mô hình phát triển kinh tế bền vững trong tương
    lai ngày càng được quan tâm, là nền tảng cho những nhu cầu về phát triển xanh hơn.
    Công nghệ sản xuất hiện nay và hành vi của người tiêu dùng chỉ có thể tạo ra kết quả tích
    cực trong một giới hạn nào đó; nếu vượt qua ranh giới đó sẽ làm suy kiệt vốn tài nguyên
    thiên nhiên và gây ra những hậu quả tiêu cực đối với phát triển tổng thể. Bằng cách đẩy
    ranh giới ra bên ngoài, đổi mới có thể giúp tách sự phát triển ra khỏi cạn kiệt tài nguyên
    thiên nhiên. Đổi mới và phá hủy có tính sáng tạo, sẽ dẫn đến những ý tưởng mới, những
    doanh nghiệp mới và các mô hình kinh doanh mới, do đó góp phần vào việc thành lập của
    các thị trường mới và cuối cùng tạo ra những việc làm mới. Vì vậy, đổi mới xanh là chìa
    khóa cho phép phát triển bền vững về mặt môi trường. [6] 1.2. Vai trò đổi mới sáng tạo xanh
    1.2.1. Vai trò của đổi mới sáng tạo trong tăng trưởng xanh
    Theo phân tích gần đây của OECD, nếu không tăng cường các hoạt động chính sách,
    phát thải khí nhà kính toàn cầu (GHG) có thể sẽ tăng 70% vào năm 2050. Những thách thức
    về môi trường và xã hội khác đòi hỏi sự cân bằng cả việc nâng cao chất lượng và tính sẵn có
    của tài nguyên, đối phó với việc sử dụng và xử lý các sản phẩm độc hại, đồng thời duy trì
    hoặc nâng cao đa dạng sinh học.
    Tăng trưởng xanh có nghĩa là các chính sách đưa ra giúp làm giảm sử dụng tài nguyên
    trên mỗi đơn vị giá trị gia tăng (mức tương đối) hoặc giữ cho việc sử dụng tài nguyên và các
    tác động môi trường ở mức ổn định hoặc giảm trong khi toàn bộ nền kinh tế phát triển (mức
    tuyệt đối). Trong những thập kỷ gần đây, các nước OECD đạt mức tuyệt đối về tăng trưởng
    GDP và phát thải các chất axit hóa, như oxit lưu huỳnh (SOx) và oxit nitơ (NOx). Tuy
    nhiên, họ chỉ có thể đạt được mức tương đối về tăng trưởng GDP từ khí thải nhà kính, khi
    những khí này vẫn tiếp tục tăng. Thật vậy, ở nhiều khu vực, những áp lực môi trường vẫn
    tiếp tục tăng lên khi nền kinh tế phát triển, đặc biệt là ở các nước không thuộc OECD
    (OECD, 2010).
    Trước khủng hoảng kinh tế, quá trình phát triển đã đánh giá thấp vốn môi trường dẫn đến
    cạn kiệt hoặc suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên. Điều này hạn chế triển vọng tăng
    trưởng lâu dài. Phát triển kinh tế gây áp lực cho môi trường, do đó phải thiết lập các ưu đãi
    cho đổi mới xanh và áp dụng rộng rãi và phổ biến.
    Các nguồn phát triển xanh
    Tăng trưởng xanh có khả năng giải quyết những thách thức về kinh tế và môi trường và
    4
  5. mở ra những nguồn phát triển mới thông qua các kênh của OECD (2011):
    Năng suất: Khuyến khích sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên và những tài sản của
    thiên nhiên, giảm thiểu chất thải và tiêu thụ năng lượng. Đồng thời nâng cao giá trị của các
    nguồn tài nguyên sẵn có.
    Đổi mới: Những cơ hội cho đổi mới sáng tạo được thúc đẩy bởi các chính sách và các
    điều kiện khung, cho phép đưa ra những giải pháp mới để giải quyết các vấn đề môi trường.
    Các thị trường mới: Hình thành những thị trường mới bằng cách khuyến khích nhu cầu
    đối với các công nghệ xanh, dịch vụ, hàng hóa; tạo ra những cơ hội việc làm mới.
    Niềm tin: Nâng cao lòng tin của các nhà đầu tư thông qua khả năng dự báo tốt và ổn định
    hơn để giúp các Chính phủ giải quyết những vấn đề môi trường lớn.
    Tính ổn định: Cân bằng các điều kiện kinh tế vĩ mô, giảm biến động về giá tài nguyên và
    hỗ trợ củng cố tài chính thông qua việc xem xét thành phần và hiệu quả của việc chi tiêu
    công và tăng doanh thu thông qua việc định giá ô nhiễm.
    1.2.2. Vai trò của chính sách với đổi mới sáng tạo xanh
    Quản trị công đóng vai trò thiết yếu trong việc chuyển dịch sang công nghệ xanh và đổi
    mới sáng tạo xanh. Ở mức độ nào đó, khả năng đổi mới sáng tạo của một quốc gia được xác
    định bởi chất lượng quản trị STI, tức là bộ các thể chế, cơ chế khuyến khích,… được xác
    định công khai, rộng rãi. Các chủ thể công và tư khác nhau đã tham gia phát triển kinh tế –
    xã hội như thế nào trong việc phân bổ và quản lý tài nguyên dành cho STI.
    Các công cụ chính sách có thể giúp khuyến khích đổi mới sáng tạo đạt mức tối ưu theo
    quan điểm thị trường và những thất bại của hệ thống đối với đổi mới xanh. Các chính sách
    đổi mới bên cung đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng những nỗ lực đổi mới
    nhằm giải quyết những thách thức tăng trưởng xanh. Tuy nhiên, những giải pháp sáng tạo
    để đáp ứng thách thức tăng trưởng xanh bị cản trở không chỉ bởi những rào cản công nghệ
    mà còn do thiếu sự hỗ trợ của các điều kiện thị trường (ví dụ như cầu).
    Bối cảnh các nước đang phát triển yêu cầu quan tâm đặc biệt đối với việc thiết kế và thực
    hiện chính sách. Chuyển giao công nghệ và NC&PT thích ứng nhằm mục đích xây dựng
    năng lực địa phương hiệu quả hơn để thúc đẩy sử dụng những sáng chế về môi trường.
    (Xem đổi mới xanh ở các nước đang phát triển).
    1.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến đổi mới sáng tạo xanh
    Liên kết quốc tế có thể thúc đẩy hợp tác quốc tế trong một loạt các lĩnh vực chính sách.
    Hợp tác quốc tế là yếu tố cần thiết để xây dựng tiêu chuẩn toàn cầu về các công nghệ môi
    trường và năng lượng, các luật định môi trường trong sản xuất công nghiệp, chính sách
    thương mại và các nhiệm vụ triển khai công nghệ.
    Các công nghệ như công nghệ thông tin và truyền thông (CNTT&TT) có khả năng cải
    thiện môi trường và khắc phục biến đổi khí hậu. Giống như CNTT&TT, công nghệ sinh
    học và công nghệ nano cũng có thể phát triển thành “các công nghệ có mục đích chung” từ
    đó chúng có thể được áp dụng trong một loạt các lĩnh vực, bao gồm các nền kinh tế xanh.
    [1] 5
  6. 2. Cơ sở pháp lý cho chính sách đổi mới sáng tạo trong chiến lược phát triển xanh
    Nếu đổi mới sáng tạo được coi như một động lực quan trọng trong phát triển xanh, vậy
    câu hỏi đặt ra là: đổi mới sáng tạo xanh cần những chính sách gì? và những chính sách này
    nên như thế nào? Cơ sở pháp lý cho các chính sách về đổi mới sáng tạo nằm trong một số
    thất bại thị trường. Đầu tiên, có những yếu tố tiêu cực bên ngoài như biến đổi khí hậu và
    những thách thức môi trường khác. Ví dụ, nếu các doanh nghiệp và các hộ gia đình không
    phải chi trả cho những thiệt hại khí hậu do khí thải nhà kính gây ra (phát thải khí nhà kính
    quá cao) hoặc nếu khách hàng không phải trả tiền nước mà họ sử dụng, điều đó có nghĩa là
    có thể họ đã sử dụng nó hiệu quả.
    Điều này có những liên quan đến đổi mới sáng tạo – cả việc tạo ra lẫn phổ biến các công
    nghệ, các sản phẩm và các quy trình – bởi vì, nếu không có nhu cầu về các giải pháp môi
    trường, nhu cầu về đổi mới sáng tạo xanh cũng sẽ dưới mức tối ưu của xã hội. Ngược lại,
    những ưu đãi khuyến khích cho các công ty đầu tư vào đổi mới sáng tạo là chưa đủ, do nhu
    cầu thị trường về những sản phẩm hay quá trình này còn ít.
    Thất bại thị trường có nghĩa chính sách này cần phải được sửa đổi phù hợp với tác động
    môi trường tiêu cực bên ngoài, ví dụ thông qua thuế carbon, giấy phép thương mại hoặc
    công cụ thị trường khác. Định giá cácbon hoặc các công cụ thị trường khác áp một mức giá
    cho các yếu tố môi trường bên ngoài, do đó đổi mới xanh rất quan trọng. Những chính sách
    này cũng sẽ góp phần nâng cao độ tin cậy và giá trị pháp lý của chế độ chính sách, thường
    có ý nghĩa quan trọng trong việc khuyến khích các nhà đầu tư chấp nhận rủi ro cần thiết để
    mang lại đổi mới “xanh”.
    3. Những mục tiêu chính sách cho đổi mới sáng tạo xanh
    Thị trường tiềm năng và những thất bại của hệ thống cho thấy, những công nghệ xanh có
    thể chưa đáp ứng kịp thời và đầy đủ trong thị trường. Chiến lược phát triển xanh của OECD
    cho thấy, chính sách đổi mới doanh nghiệp như hiện nay là chưa bền vững, nó liên quan đến
    những rủi ro, gây ra tình trạng áp đặt chi phí và cản trở quá trình tăng trưởng và phát triển
    của nền kinh tế trong tương lai. Do đó, cần xây dựng một chương trình nghị sự về những
    chính sách đổi mới sáng tạo xanh mới. Nếu những chính sách này được xây dựng thành
    công sẽ giải quyết hiệu quả những vấn đề của hệ thống thông qua hàng loạt các chính sách
    và các cách tiếp cận tùy biến.
    3.1. Định giá đúng
    Đối với hầu hết các nước, các công cụ có ảnh hưởng trực tiếp đến tín hiệu giá là rất cần
    thiết, mặc dù chưa phải là điều kiện đủ cho phát triển xanh. Điểm mạnh của chính sách môi
    trường là dựa vào thị trường nếu được thiết kế phù hợp và hiệu quả. Những tín hiệu giá ưu
    đãi cho các công ty và người tiêu dùng thích nghi và phát triển đổi mới sáng tạo xanh. Cơ
    chế về giá làm tăng hiệu quả và tính linh hoạt trong việc phân bổ tài nguyên, khuyến khích
    lựa chọn giải pháp tốt nhất nhằm đáp ứng các mục tiêu của chính sách.
    Tuy nhiên, trong khi các công cụ dựa vào thị trường, như định giá cácbon hoặc các hệ
    thống thương mại, có thể tạo ra đổi mới, và dẫn đến phát triển công nghệ xanh. Tuy nhiên,
    việc định giá cho những ngoại tác môi trường chưa đủ để đạt được đổi mới xanh. Để gây
    6
  7. ảnh hưởng lớn đến đổi mới và phổ biến công nghệ cần phải theo đuổi những chính sách bổ
    sung để tăng cường đổi mới xanh.
    Lý do để ủng hộ rộng rãi đổi mới và phổ biến công nghệ xanh
    Sự hiện diện của các yếu tố ngoại tác đối với thị trường và môi trường cho thấy cả hai
    chính sách môi trường và chính sách khoa học và công nghệ (S & T) đều cần thiết. Tuy
    nhiên, có sự khác biệt cơ bản giữa các lĩnh vực chính sách này: chính sách môi trường nhằm
    giải quyết thiệt hại môi trường do các hoạt động công nghiệp trong quá khứ gây ra, trong
    khi chính sách đổi mới nói chung hướng đến mục đích tăng năng suất. Hơn nữa, kết hợp
    chính sách cho đổi mới sáng tạo có thể cải thiện thông qua các công cụ khuyến khích áp
    dụng và phổ biến những sáng kiến xanh (ví dụ những chính sách đổi mới bên cầu), trong
    khi các chính sách môi trường khuyến khích đổi mới chỉ có tác dụng phụ. Trong phạm vi
    đó, việc ứng dụng và phổ biến công nghệ xanh bị hạn chế do những thất bại thị trường, do
    đó các biện pháp chính sách môi trường khuyến khích áp dụng công nghệ xanh hoặc áp đặt
    giá lên các yếu tố ngoại tác môi trường là cần thiết, nhưng chưa đủ. Ngoài ra, các chính sách
    tập trung trực tiếp vào việc cho phép và gây ảnh hưởng đến mặt cầu có thể làm giảm nguy
    cơ tiềm ẩn về những đầu tư NC&PT thông qua việc tạo ra các thị trường tiềm năng.
    3.2. Gắn kết chính sách cho đổi mới xanh
    Thách thức trong việc gắn kết chính sách đổi mới cung và cầu thông qua quản trị
    Trọng tâm của các khung quản trị là cơ chế hợp tác giữa các lĩnh vực chính sách khác
    nhau mà có thể thúc đẩy đổi mới xanh. Phối hợp chính sách là một phần thiết yếu trong hệ
    thống đổi mới xanh. Nó đảm bảo gắn kết các biện pháp nhằm giảm thiểu suy thoái môi
    trường thông qua các cơ chế thị trường và việc thực hiện thông qua các biện pháp đổi mới.
    Phối hợp chính sách trong các lĩnh vực chính sách riêng biệt (ví dụ chính sách KH&CN,
    chính sách kinh tế, chính sách môi trường, chính sách giao thông, chính sách nông nghiệp,
    chính sách công nghiệp) đang gặp trở ngại do sự trì trệ, mâu thuẫn giữa các chính sách hoặc
    bị chi phối bởi một số bộ ngành.
    Hơn nữa, chính sách cầu không phải luôn luôn khác biệt với chính sách cung. Tuy nhiên,
    trách nhiệm đối với chính sách cầu như ưu đãi về thuế cho việc sử dụng công nghệ xanh;
    các quy định, tiêu chuẩn, chính sách mua sắm công hoặc người tiêu dùng thường xa rời các
    bộ/ngành có trách nhiệm trong việc thúc đẩy NC&PT, kinh doanh hoặc đáp ứng nhu cầu từ
    các nhiệm vụ công. Có một số nỗ lực nhằm tích hợp các chính sách cầu, chẳng hạn như
    mua sắm công, tài trợ NC&PT hoặc, sử dụng thuế feed-in và hỗ trợ cho NC&PT xanh.
    Không phải tất cả những thất bại tiềm năng và những rào cản đều cần sự can thiệp của
    Chính phủ. Không có gì đảm bảo rằng chính sách của Chính phủ sẽ có thể giải quyết thất
    bại thị trường hay thất bại hệ thống, nhằm cải thiện kết quả một cách hiệu quả.
    Mặc dù ý tưởng về sử dụng đồng thời chính sách cung và cầu là đơn giản và trực quan và
    được chấp nhận rộng rãi trong tài liệu học thuật, nhưng việc áp dụng tình hình thực tế thế
    giới không phải lúc nào cũng đơn giản. Có thể có nhiều thay đổi giữa các loại chính sách,
    đôi khi có thể khó phân biệt rõ ràng giữa chính sách đổi mới bên cung và bên cầu.
    Các quyết định quản trị được thúc đẩy chủ yếu bằng việc xem xét về chính trị hơn là
    7
  8. kinh tế. Theo quan điểm thực tế, việc chuyển đổi sang phát triển xanh liên quan đến kẻ
    thắng, người thua. Một số bộ/ngành có thể không muốn gây khó khăn cho khách hàng của
    họ thông qua những nỗ lực hợp tác tích cực trong đổi mới xanh.
    3.3. Phối hợp chính sách cho đổi mới sáng tạo xanh
    Các quốc gia cần phải sử dụng kết hợp các công cụ chính sách để đạt được những mục
    tiêu chính sách của họ. Hơn nữa, các chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh sẽ thành
    công nếu họ nâng cao hiệu suất của toàn bộ hệ thống, ưu tiên khắc phục những điểm yếu
    trong hệ thống. Trong tất cả các nước, ưu tiên được gán cho các yếu tố khác phụ thuộc vào
    tính chất và trạng thái của hệ thống của họ: một quy mô không phù hợp với tất cả.
    Cho dù bằng thiết kế hay mặc định, tất cả các nước đều có những lựa chọn khác nhau
    trong hỗn hợp các công cụ chính sách nhằm thúc đẩy đổi mới. Trong hầu hết các nước
    OECD, cả hai chính sách cung và cầu đang được sử dụng để tăng cường đổi mới. Đổi mới
    bao gồm đầu tư công vào nghiên cứu, khuyến khích tăng cường đầu tư tư nhân vào
    NC&PT, nhiều biện pháp thúc đẩy các mục tiêu cụ thể hay hướng đổi mới đến các lĩnh vực,
    công nghệ hoặc nhóm các doanh nghiệp, cũng như các biện pháp để hỗ trợ thương mại và
    nhu cầu đổi mới xanh.
    Sự kết hợp các chính sách cung và cầu này này là một cân nhắc quan trọng đối với việc
    phối hợp chính sách. Chính sách cung hoặc chính sách cầu có thể sẽ hiệu quả khi đứng biệt
    lập. Khuyến khích đổi mới đòi hỏi phải giải quyết triệt để toàn bộ dây truyền đổi mới. Như
    đã lưu ý bên trên, lý do ngày càng quan tâm đến các chính sách cầu là chi phí ngân sách
    thấp và vai trò có thể của nó trong việc giúp lựa chọn “những người chiến thắng” trên cơ sở
    những thị trường hoạt động tốt hơn.
    Ngay cả khi các nước có những mục tiêu chính sách giống nhau, thì những phối hợp
    công cụ tương ứng có thể khác do những phối hợp này cần phải thích nghi với môi trường
    cụ thể được dự kiến thực hiện. Những môi trường này khác nhau về cấu trúc các cơ sở sản
    xuất, các tổ chức và ưu đãi. Ví dụ, ưu đãi lớn cho hệ thống thuế đơn giản, minh bạch có thể
    loại bỏ những ưu đãi thuế cho NC&PT.
    Các nước khác nhau cũng thể hiện mức độ chấp nhận các quy định khác nhau. Và, tính
    hiệu quả của các công cụ phía cầu cũng khác nhau, có thể rất nhạy cảm với những đặc tính
    cụ thể của ngành công nghiệp. Do đó, thách thức lớn đối với các nhà hoạch định chính sách
    là tạo ra sự cân bằng giữa các công cụ khác nhau. Ví dụ, hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp cho
    NC&PT có thể được áp dụng như những công cụ bổ sung, tận dụng tối đa những lợi thế của
    chúng và nhận ra sự phụ thuộc của những công cụ này.
    Cân bằng khác liên quan đến cách đạt được khối lượng tới hạn trong việc sử dụng các
    công cụ chính sách. Sự cân bằng liên quan ở đây một mặt là để có một bộ công cụ đủ để tạo
    ra sự khác biệt nhằm đáp ứng những nhu cầu của hệ thống đổi mới phức tạp. Mặt khác là sự
    kết hợp chính sách cần tránh tình trạng kém hiệu quả phát sinh do việc thực hiện quá nhiều
    kế hoạch ở quy mô quá nhỏ. Đây là một mối quan tâm thực sự, khi công cụ làm tăng cử tri
    ủng hộ và mức độ tự chủ, thì chúng sẽ ít tuân theo thay đổi hoặc hủy bỏ khế ước, kể cả
    8
  9. trường hợp này là hợp lý. Trong một số trường hợp, có thể có những cách đơn giản hóa
    hàng loạt các công cụ và các chương trình, giảm độ phức tạp, tăng cường tính minh bạch và
    những chi phí hành chính thấp hơn và mất không. [1] 4. Chiến lược quốc gia và các ưu tiên trong việc ủng hộ đổi mới xanh
    Các kế hoạch quốc gia phục vụ để trình bày rõ những ưu tiên cho nghiên cứu và đổi mới
    và để xây dựng các chính sách và công cụ. Số lượng các nước thuộc OECD và không thuộc
    OECD xây dựng các chiến lược phát triển xanh hoặc ưu tiên các hoạt động trong phạm vi
    chiến lược khoa học công nghệ (KH&CN) quốc gia ngày càng tăng nhằm tạo ra khối lượng
    tới hạn và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang đổi mới và công nghệ xanh. Thực tế hầu hết
    các nước tiếp tục đặt các vấn đề môi trường, biến đổi khí hậu và năng lượng vào danh sách
    những ưu tiên cho chính sách đổi mới nói chung.
    Tuy nhiên, những ưu tiên chính sách cụ thể cho đổi mới và công nghệ xanh giữa các
    quốc gia khác nhau rõ rệt, tùy thuộc vào sự chuyên hóa về khoa học và kinh tế, mục đích
    cạnh tranh và những mục tiêu xã hội của từng nước. Ưu tiên có thể được thể hiện thông qua
    các công cụ tài trợ có mục tiêu như các chương trình NC&PT hoặc thông qua những sáng
    kiến khoa học và lĩnh vực cụ thể. Những chiến lược quốc gia cũng bao gồm các mục tiêu
    định lượng về chi tiêu và giám sát NC&PT. Một số chính phủ thuộc OECD đã giới thiệu
    các kế hoạch thông qua những chương trình nghị sự của bộ, chủ yếu là các bộ môi trường
    hoặc bộ năng lượng. Tuy nhiên, trong thực tế, việc xây dựng bản đồ và xác định các chiến
    lược tăng trưởng xanh hoàn toàn dựa vào STI là khó khăn, vì hầu hết các kế hoạch quốc gia
    được mô tả như là những “hỗn hợp chiến lược và chính sách”. [1] 5. Các công cụ chính sách cho đổi mới sáng tạo xanh
    5.1. Tiêu chuẩn cho việc thiết kế các công cụ chính sách đổi mới sáng tạo xanh
    Một bộ tiêu chuẩn cần thiết mà dựa vào đó các chính sách đổi mới nhằm mục đích nâng
    cao hiệu quả môi trường nên được đo gồm:
    • Tính nghiêm ngặt – tham vọng là mục tiêu chính sách như thế nào?
    • Khả năng dự báo – chính sách có những ảnh hưởng gì đến sự bất ổn của các nhà đầu tư
    đầu tư?
    • Tính linh hoạt – cho dù các nhà đổi mới sáng tạo tiềm năng tự do xác định cách tốt nhất
    để đáp ứng các mục tiêu?
    • Phạm vi ảnh hưởng – chính sách đặt ra mục tiêu môi trường càng chặt chẽ càng tốt?
    • Chiều sâu – đó là khuyến khích đổi mới thông qua một loạt các mục tiêu có khả năng
    tăng dần?
    Công cụ chính sách lý tưởng sẽ là một công cụ mà trong đó nó đủ nghiêm ngặt để
    khuyến khích đổi mới sáng tạo ở mức tối ưu; đủ ổn định để cung cấp cho các nhà đầu tư
    tầm nhìn về quy hoạch đầy đủ về những đầu tư rủi ro; đủ linh hoạt để khuyến khích các giải
    pháp mới; và nhắm sát vào mục tiêu chính sách, để tránh tình trạng phân phối không đồng
    đều nỗ lực và khuyến khích thay đổi liên tục.
    Một hệ thống đánh giá chính sách chất lượng cao cuối cùng nên thông báo lựa chọn phối
    9
  10. hợp chính sách. Đánh giá hiệu quả các chính sách và chương trình nhằm khuyến khích
    NC&PT và đổi mới đang trở nên ngày càng quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.
    Việc đánh giá chính sách được nhấn mạnh nhằm hạn chế việc chi tiêu công tùy tiện, tập
    trung nhiều hơn vào trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của chính sách, và mong
    muốn giảm thiểu những phát sinh từ hoạt động của chính phủ, đồng thời tối đa hóa lợi ích
    của họ. Một số chính sách, chẳng hạn như tín dụng thuế NC&PT, có hồ sơ đánh giá tương
    đối phong phú, trong khi những chính sách khác, chẳng hạn như một số các chính sách về
    phía cầu, vẫn bị đánh giá thấp.
    Tập trung mạnh vào việc bổ sung các chính sách cũng có thể giúp đảm bảo những chính
    sách này hiệu quả hơn, vấn đề quan trọng hiện nay đó là hạn chế về ngân sách cho khí hậu.
    Một số nghiên cứu cho rằng vấn đề về cải thiện hiệu suất môi trường hiện tại là do chi phí
    ít; chính sách cần nhanh chóng thực hiện những giải pháp như vậy, ví dụ trong việc nâng
    cao hiệu quả năng lượng ở các hộ gia đình, các chính quyền và doanh nghiệp. Thông
    thường, có những rào cản mà ngăn cản việc thực hiện hành động này, chẳng hạn như những
    rào cản về thông tin. Tuy nhiên, chính sách của chính phủ có thể giúp khắc phục vấn đề này,
    thường với chi phí tương đối thấp. Hơn nữa, như đã thảo luận ở trên, mô hình doanh nghiệp
    mới mới đang nổi lên có thể giúp khắc phục một số thất bại thị trường đã được nhìn nhận
    trong thị trường đối với hiệu quả năng lượng và những giải pháp xanh.
    5.2. Những chính sách gián tiếp bên cung cho đổi mới sáng tạo xanh
    Những chính sách đổi mới về mặt cung đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng
    những nỗ lực đổi mới nhằm giúp giải quyết những thách thức tăng trưởng xanh. Các cách
    tiếp cận chính sách hiện nay để giải quyết những thất bại thị trường và thất bại của hệ thống
    đối với đổi mới xanh thường tập trung vào phía cung; họ tìm cách để tạo ra kiến thức mới
    hoặc đổi mới, hoặc bằng cách làm cho nó ít tốn kém cho các doanh nghiệp để thực hiện
    nghiên cứu liên quan hoặc bằng cách trình bày nghiên cứu ở các cơ quan, tổ chức công.
    Những chính sách từ cung cho đổi mới xanh bao gồm tài trợ công (trực tiếp và gián tiếp)
    cho NC&PT công và doanh nghiệp, hỗ trợ vốn liên doanh, tạo ra cơ sở hạ tầng cho nghiên
    cứu, đầu tư vào giáo dục cao hơn và nâng cao nguồn nhân lực.
    5.2.1. Các kỹ năng và cơ sở hạ tầng
    Chính phủ hỗ trợ đào tạo và nâng cao kỹ năng là trọng tâm của phát triển lực lượng lao
    động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và khoa học cao, cần thiết cho đổi mới và công nghệ
    xanh. Một số nghiên cứu và chương trình đã giải quyết nhu cầu về lao động “xanh” trong
    các lĩnh vực sản xuất cuối nguồn (downstream sectors) thông qua việc nâng cao kỹ năng
    của lực lượng lao động (OECD, 2011a). Việc đáp ứng những thách thức phức tạp của công
    nghệ và đổi mới xanh đòi hỏi những nỗ lực về câc yếu tố thượng nguồn (upstream sectors):
    đó là các nhà nghiên cứu những người hiểu một số ngành, thậm chí nếu họ có nhiều chuyên
    ngành hơn một số người khác. Thách thức đó là thích ứng hoặc điều chỉnh các chương trình
    đào tạo sau đại học và chương trình giảng dạy nhằm xây dựng tư duy hệ thống sinh thái
    trong khoa học. Cơ quan Giáo dục Quản lý Đổi mới xanh tại Trung tâm Xúc tiến Giáo dục
    10
  11. và Nghiên cứu liên ngành của Đại học Kyoto, Nhật Bản như là một ví dụ về tư duy hệ
    thống sinh thái trong khoa học.
    Cơ sở hạ tầng là điều kiện tiên quyết tạo ra các kiến thức. cơ sở hạ tầng nghiên cứu có
    nhiều kiểu mẫu cả vô hình và hữu hình. Nó hỗ trợ việc thiết kế, triển khai và sử dụng công
    nghệ. Khi tích hợp kiến thức từ các ngành khác nhau trở nên cần thiết cho nghiên cứu xanh,
    cơ sở hạ tầng lớn cho nghiên cứu quốc gia và quốc tế sẽ đóng vai trò ngày càng quan trọng.
    Ví dụ, những cơ sở hạ tầng nghiên cứu khoa học cơ bản và đa ngành hiện nay đã cho phép
    những tiến bộ quan trọng trong khoa học vật liệu và hiểu về các cơ chế vật lý cơ bản, đó là
    cơ sở của đổi mới trong một số hoạt động NC&PT xanh. Ngoài ra, nghiên cứu khoa học có
    thể đưa đến những tiến bộ công nghệ, tuy nhiên công nghệ cũng ảnh hưởng đến những tiến
    bộ khoa học. Cơ sở dữ liệu lớn ngày càng trở nên quan trọng và những tiến bộ trong lượng
    tử ánh sáng có ảnh hưởng đáng kể đến cơ chế để chuyển dữ liệu nhanh hơn, như được minh
    họa trong ứng dụng tăng tốc siêu máy tính.
    Việc chia sẻ các thiết bị và vật liệu nghiên cứu sẽ đóng một vai trò quan trọngdonhững
    đầu tư cơ sở hạ tầng cho nghiên cứu rất tốn kém. Một số sáng kiến đã cố gắng tận dụng các
    nguồn tài nguyên và giảm chi phí cho nghiên cứu. Trong Liên minh Nghiên cứu Năng
    lượng châu Âu, một trong những sáng kiến Kế hoạch SET, vấn đề cơ sở hạ tầng nghiên cứu
    là trung tâm của sự phát triển các hoạt động nghiên cứu chung. Những lựa chọn chính sách
    bao gồm: Hỗ trợ cơ sở hạ tầng nghiên cứu để được sử dụng miễn phí, hoặc hỗ trợ tiếp cận
    nghiên cứu dưới dạng thẻ giảm giá công nghệ. Ví dụ, ở Úc, chính phủ New South Wales đã
    triển khai một hệ thống TechVouchers để khuyến khích hợp tác và sử dụng các cơ sở hạ
    tầng nghiên cứu.
    5.2.2. Những mạng lưới và các quan hệ đối tác
    Các nhóm, mạng lưới và các diễn đàn công nghệ cũng có thể được xem như những cơ
    chế làm tăng phản ứng từ phía cung, đồng thời đưa cung và cầu đến với nhau. Nói chung,
    các hiệu ứng kết tụ phát sinh khi các hoạt động kinh tế gần nhau đem lại lợi ích cho các
    công ty do tiếp cận với lao động có tay nghề và với các nhà cung cấp chuyên ngành và do
    sự lan tỏa kiến thức giữa các công ty. Chúng có thể đưa các công ty đổi mới, các phòng thí
    nghiệm của trường đại học và những người sử dụng đầu ra lại với nhau. Ví dụ, ở miền Bắc
    và miền Nam California, sự lan tỏa kiến thức liên ngành và liên hãng đã tạo điều kiện và
    nuôi dưỡng các nhóm đổi mới xanh từ các ngành công nghiệp như thực phẩm nông nghiệp,
    CNTT&TT và công nghệ sinh học.
    Vì lý do đó, các công ty có kiến thức chuyên sâu được đặt tại các địa phương/khu vực có
    cơ sở hạ tầng khoa học chất lượng cao (ví dụ như các trường đại học và viện nghiên cứu
    công) và sẽ chung với các công ty có kiến thức chuyên sâu khác. Do đó,các nhóm có thể
    chia sẻ trong những nỗ lực đổi mới của quốc gia trong các ngành công nghiệp xanh. Ví dụ,
    khoảng 60% doanh nghiệp môi trường ở Phần Lan nằm trong cụm công nghệ sạch Phần
    Lan, và 80% NC&PT của ngành được tiến hành trong mạng lưới này.
    Quan hệ đối tác công-tư (PPP) có thể cung cấp những giải pháp hiệu quả để huy động
    11
  12. các nguồn lực công và tư cho đổi mới xanh bằng cách đưa ra những lợi thế tương ứng trong
    các lĩnh vực công và tư. Sự hình thành liên hiệp NC&PT chiến lược ngành công nghiệp
    thuộc chính phủ được tăng cường trong những năm gần đây ở các nước thuộc OECD và các
    nước không thuộc OECD. Mục đích nhằm giải quyết vấn đề thiếu năng lực công nghệ cốt
    lõi và những vấn đề tồn tại lâu dài liên quan đến các công nghệ mục iêu chung mà có thể
    gây cản trở những con đường phát triển đầy hứa hẹn (ví dụ Diễn đàn Quốc gia của Đức về
    di động điện tử hay Liên minh chiến lược nghiên cứu – công nghiệp của Trung Quốc). Quan
    hệ đối tác giữa tư nhân với tư nhân như Viện Nghiên cứu điện lực (EPRI), mà trong đó có
    sự đóng góp về năng lực nghiên cứu của các công ty tiện ích của Mỹ, điều đó cho thấy tầm
    quan trọng của hợp tác NC&PT trong một lĩnh vực.
    5.2.3. Các quyền sở hữu trí tuệ và phổ biến kiến thức
    Các quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) đóng một vai trò quan trọng trong phát triển sản phẩm
    mới và truyền bá kiến thức. Một mặt, nó khuyến khích đầu tư vào đổi mới bằng việc cho
    phép các công ty thu hồi vốn đầu tư của họ. Mặt khác, có thể nảy sinh những căng thẳng
    giữa phổ biến công nghệ và duy trì ưu đãi phù hợp để đầu tư vào đổi mới. Đối với các công
    nghệ xanh, sở hữu trí tuệ có thể thực hiện ở nhiều hình thức khác nhau. Ví dụ, trong SHTT
    công nghệ năng lượng gió có thể bao gồm bằng sáng chế cho tuabin gió; một bản quyền
    phần mềm liên quan đến khí động học, máy phát điện và bộ điều khiển cánh; thiết kế
    tuabin; và nhãn hiệu đăng ký cho thương hiệu. Ngoài ra, khái niệm “bí mật thương mại”
    nằm trong quy trình sản xuất.
    Những đề xuất khác được đưa ra để triển khai đổi mới xanh bằng cách sử dụng hệ thống
    SHTT như một kênh phát triển và truyền bá công nghệ. Một số chính phủ thuộc OECD đã
    khuyến khích các tác giả tìm hiểu hệ thống SHTT và ứng dụng những bằng sáng chế xanh.
    Còn các chính phủ khác thúc đẩy chuyển giao công nghệ cho các nước đang phát triển.
    Hiệu quả của cơ chế SHTT dựa vào các phương thức và tổ chức hiệu quả nhưquá trình
    thực thi hiệu quả. Những thế lực cạnh tranh đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo
    bằng sáng chế không bị sử dụng chống cạnh tranh (ví dụ thông qua việc đặt ra các tiêu
    chuẩn). Để đẩy mạnh phát triển và phổ biến các công nghệ xanh, khuyến khích đổi mới có
    thể bao gồm phí ứng dụng thấp hơn, kiểm tra ưu tiên, kiểm tra khẩn, thủ tục phê duyệt và
    giảm tiêu chuẩn trong lĩnh vực “xanh”. Gần đây các chương trình xử lý nhanh (Fast-track)
    dành cho bằng sáng chế xanh đã được giới thiệu tại một số văn phòng sáng chế quốc gia.
    Những thay đổi lớn nàynằm trong các yêu cầu hợp lệ và các thông số của quy trình. Một số
    cơ quan sáng chế quốc gia và khu vực cho phép truy cập để tìm kiếm các dịch vụ lập bản đồ
    cấp bằng sáng chế. Ví dụ, Cục Sở hữu trí tuệ Hàn Quốc (KIPO), đã công bố Dự án Thông
    tin SHTT Xanh để thu thập và phân tích các công nghệ xanh khác nhau.
    Bằng việc tạo điều kiện tiếp cận với những phát minh trước đây và khuyến khích công
    bố những phát minh mới, chia sẻ kiến thức trong lĩnh vực công (ví dụ như thông qua “khoa
    học mở”) phục vụ như mạng lưới phổ biến kiến thức về cho công nghệ xanh một cách
    mạnh mẽ. Lý do đối với các chính sách công mà hỗ trợ “khoa học mở” tập trung vào các
    12
  13. khía cạnh kinh tế và xã hội có hiệu quả như truyền bá thông tin nhanh và đầy đủ để theo
    đuổi kiến thức. Những sáng kiến khoa học mở hỗ trợ tiếp cận với những sáng kiến xây
    dựng mạng lưới dữ liệu nghiên cứu và mạng lưới tri thức, thúc đẩy trao đổi tri thức độc
    quyền.
    5.2.4. Mua sắm công cho đổi mới sáng tạo xanh
    Mua sắm công đóng vai trò quan trọng trong phát triển các lĩnh vực công nghệ cao và
    các ngành công nghiệp. Tại Hoa Kỳ, nhu cầu từ quân đội – kết hợp với các chương trình
    NC&PT trong quân đội – đã góp phần vào sự phát triển và phổ biến các công nghệ như
    Internet và Hệ thống định vị toàn cầu (GPS). ở những nước thuộc OECD, các tài khoản
    mua sắm công đóng góp 15% GDP, hiện nay nhiều chính phủ đặt mục tiêu đổi mới trong
    mua sắm công nói chung, ví dụ thông qua các biện pháp đào tạo và nâng cao nhận thức về
    mua sắm cho các cán bộ trong cơ quan,đồng thời khuyến khích đổi mới thông qua các biện
    pháp trực tiếp hơn như các tiêu chuẩn chức năng cụ thể hoặc hiệu quả trong những đấu thầu
    công khai.
    Nhiều quốc gia thuộc OECD đã giới thiệu các chương trình khuyến khích đổi mới xanh
    bằng việc cung cấp và mở rộng nhu cầu công cốt lõi. Mua sắm công có thể tạo ra một thị
    trường các công nghệ xanh mà phải đối mặt với những khó khăn về chi phí, nhưng tạo
    thuận lợi cho việc phản hồi giữa người sử dụng và các nhà cung cấp công nghệ. Nó có thể
    thúc đẩy truyền bá các công nghệ và dịch vụ bằng cách vượt qua sự bất cân xứng về thông
    tin và thiên vị người tiêu dùng tiềm năng chống lại những sản phẩm và công nghệ xanh.
    Khung mua sắm chung có thể gián tiếp tác động ghìm cầu nếu những quy định về môi
    trường và các tiêu chuẩn công nghiệp làm cho mua sắm công thân thiện với đổi mới hơn và
    nếu đổi mới xanh trở thành một sản phẩm phụ trongmua sắm chung. Nó cũng có thể
    khuyến khích đổi mới công nghệ trực tiếp hơn bằng việc xác định những hàng hóa và dịch
    vụ đổi mới xanh. Năm 2003, Ủy ban châu Âu đã kêu gọi các nước thành viên thông qua các
    kế hoạch hành động quốc gia về mua sắm công xanh. Mặc dù không ràng buộc về mặt pháp
    lý, nhưng 21 nước thành viên đã thông qua kế hoạch đó bằng những biện pháp và tiêu chí
    khác nhau.
    Những nghiên cứu đổi mới về chất bán dẫn và điện tử khác cho thấy các hợp đồng mua
    sắm công có chức năng khuyến khích các doanh nghiệp như trao giải thưởng và tạo ra
    những nỗ lực đổi mới công nghệ từ doanh nghiệp (Mowery et al., 2010). Ví dụ, một số
    chính phủ thuộc OECD đã đảm bảo mua sắm công đối với các công nghệ đoạt giải thưởng
    trong các cuộc thi năng lượng hiệu quả.
    Đấu giá ngược là một công cụ mua sắm khác mà có thể được sử dụng để hỗ trợ cho việc
    thương mại hóa công nghệ xanh. Biện pháp này yêu cầu mua kết quả của công nghệ xanh
    (ví dụ nhiên liệu sinh học thế hệ thứ hai) với chi phí được đưa ra ở mức giá nhất định thông
    qua đấu thầu cạnh tranh. Bộ Năng lượng Hoa Kỳ đã ban hành thông báo về một cuộc đấu
    giá ngược đầu tiên vào giữa năm 2010, với ngân sách 4,6 triệu USD. Nó nhằm mục đích
    kích thích sản xuất nhiên liệu sinh học cellulose, với mục tiêu 1 tỷ gallon vào năm 2013.
    13
  14. 5.3. Những chính sách gián tiếp bên cầu cho đổi mới sáng tạo xanh
    Nhiều quốc gia thuộc OECD ngày càng nhận ra rằng, các chính sách đổi mới phía cung
    truyền thống mặc dù quan trọng nhưng không thể tự nâng cao hiệu suất và năng suất đổi
    mới. Những lý thuyết thúc đẩy cầu cho thấy rằng, khả năng tạo ra những đổi mới thường là
    rộng và linh hoạt tuy nhiên đòi hỏi cơ hội thị trường. Những giải pháp đổi mới sáng tạo
    nhằm đáp ứng thách thức tăng trưởng xanh đang bị cản trở không chỉ bởi những rào cản
    công nghệ mà còn do thiếu sự hỗ trợ của các điều kiện thị trường.
    Phạm vi các chính sách ảnh hưởng đến phía cầu rất khác nhau và dưới nhiều hình thức.
    Có thể lập luận rằng, các chính sách đổi mới về phía cầu nên bao gồm toàn bộ hệ thống đổi
    mới quốc gia, từ các biện pháp trực tiếp như chính sách mua sắm xanh công xanh đến các
    biện pháp gián tiếp như chính sách định giá. Các chính sách ảnh hưởng đến cầu về đổi mới
    sáng tạo bao gồm những chính sách về thu nhập có ảnh hưởng đến sức mua của người tiêu
    dùng, các quy định của thị trường và cơ chế thị trường. Định giá cácbon, các loại thuế và
    những trợ cấp như thuế feed-in có thể làm giảm nhu cầu đối với các nguồn năng lượng tái
    tạo; Chính sách người tiêu dùng có thể kích thích những thay đổi trong hành vi (ví dụ luật
    tái chế đô thị). Quy định có thể thúc đẩy nhu cầu về đổi mới xanh, mặc dù tác động của quy
    định khác nhau giữa các lĩnh vực, các ngành công nghiệp và công nghệ. Những tiêu chuẩn
    cũng ảnh hưởng đến nhu cầu đổi mới, đặc biệt là trong các ngành công nghiệp được đặc
    trưng bởi các nền kinh tế trong phạm vi. Những mạng lưới có thể tạo thuận lợi cho việc tạo
    ra lượng lớn người sử dụng để thúc đẩy các công nghệ xâm nhập vào thị trường. Ở cấp độ
    vi mô, những chính sách về phía cầu được đặt ra sẽ bao gồm mua sắm xanh có thể giúp
    định hướng nhu cầu thị trường đến các sản phẩm và dịch vụ xanh.
    5.3.1. Quy chế xanh
    Việc thi hành các quy định của cơ quan công quyền và các cơ quan chính phủ ảnh hưởng
    đến hành vi của các chủ thể tư nhân trong nền kinh tế, được xác định như một cơ chế quan
    trọng trong việc phổ biến và áp dụng các công nghệ xanh. Quy chế ảnh hưởng gián tiếp đến
    đổi mới, vì nó ảnh hưởng đến các điều kiện khung đối với các doanh nghiệp và không liên
    quan trực tiếp đến kinh phí công quỹ (Geroski, 1990). Ví dụ, các quy định về hiệu quả năng
    lượng hoặc ô nhiễm môi trường được sử dụng khi không có cơ chế thị trường ảnh hưởng
    đến hành vi của các chủ thể và đạt được một số mục tiêu kinh tế hoặc xã hội nhất định.
    Thúc đẩy Luật Nhiệt Năng lượng tái tạo Đức (2009) khuyến khích phổ biến những đổi mới
    xanh bởi vì nó buộc các chủ sở hữu các tòa nhà mới phải sử dụng năng lượng tái tạo.
    Tuy nhiên, ảnh hưởng của quy định kinh tế đến đổi mới chưa rõ ràng. Trong thực tế, quy
    định có thể vừa ức chế, vừa kích thích đổi mới. Ảnh hưởng của quy định đến đổi mới cũng
    có thể là công nghệ và ngành công nghiệp cụ thể. Phân tích của OECD chỉ ra rằng, dự đoán
    về việc thay đổi quy định đã gây ra những đổi mới trong một số lĩnh vực. Để đánh giá tính
    phù hợp của chính sách điều tiết hướng tới một lĩnh vực cụ thể, các nhà phân tích cũng cần
    phải tìm hiểu xem nếu không có quy định thì thị trường có đưa ra công nghệ thích hợp hay
    không. Quy định tương tác với những ưu đãi dựa trên thị trường và có thể khó phân lập
    14
  15. được những ảnh hưởng cụ thể của quy định.
    Trong bối cảnh phát triển các công nghệ xanh, những năm gần đây các nhà hoạch định
    chính sách đã sử dụng nhiều quy định môi trường và những tác động đến đổi mới được
    phân tích rộng rãi. Bằng chứng cho thấy rằng, quy định về môi trường đã tác động tích cực
    đến đổi mới xanh và chấp nhận nó. Các phương pháp tiếp cận truyền thống điều chỉnh môi
    trường thường được gọi là “mệnh lệnh và kiểm soát” (dựa trên hiệu suất và công nghệ), đối
    lập với các quy định và tiêu chuẩn môi trường dựa trên thị trường. Nhìn chung, các chính
    sách dựa trên thị trường đưa ra những ưu đãi để cải tiến dần, trong khi các chính sách
    “mệnh lệnh và kiểm soát” trừng phạt các công ty gây ô nhiễm không đáp ứng các tiêu
    chuẩn, tuy nhiên chính sách này lại không khen thưởng cho những đối tượng thi hành tốt
    các quy định bắt buộc. Vì vậy, thiết kế chính sách môi trường để giảm các yếu tố ngoại
    tácđến môi trường được sử dụng nhiều hơn quy định cho các mục tiêu đổi mới.
    5.3.2. Các tiêu chuẩn
    Các tiêu chuẩn là những tài liệu được dựa trên mức độ đồng thuận khác nhau và đặt ra
    các quy tắc, thông lệ, chỉ số hoặc quy ước được sử dụng trong các công nghệ, thương mại
    và xã hội nói chung. Tiêu chuẩn có thể được phân loại theo nhiều cách và những hiệu lực
    điều chỉnh gồm ảnh hưởng của mạng lưới, chi phí chuyển đổi, chính sách của chính phủ và
    cơ chế về sở hữu trí tuệ, cũng như các yếu tố môi trường khác. Ngay cả khi chúng được
    phát triển cho một mục đích duy nhất chúng vẫn phục vụ cho nhiều mục đích khác.
    Các hoạt động và tổ chức đặt ra tiêu chuẩn cần được hiểu và giám sát bởi các nhà hoạch
    định chính sách. Việc thiết lập các tiêu chuẩn chủ yếu là trách nhiệm của các tổ chức khác
    nhau: các cơ quan thuộc lĩnh vực công nghiệp (tư nhân), các cơ quan thuộc chính phủ
    (công) và các cơ quan kỹ thuật phi lợi nhuận (hybrid). Các chính phủ có thể hoạt động như
    những nhà hỗ trợ và điều phối, trong khi các cơ quan thuộc lĩnh vực công nghiệp phải nhận
    sự hỗ trợ của các công ty cũng như các chính phủ. Thông thường các công ty sử dụng tiêu
    chuẩn một cách chiến lược bằng cách chỉ đạo và tạo điều kiện để thông qua các tiêu chuẩn
    công nghệ.
    Các tiêu chuẩn có thể được phát triển bởi các chuyên gia kỹ thuật làm việc trong các cơ
    quan thuộc chính phủ, tuy nhiên trong nhiều trường hợp, họ thông qua các tiêu chuẩn mà
    được phát triển bởi các cơ quan công nghiệp vì những lý do như động cơ cá nhânhoặc thiếu
    chuyên môn kỹ thuật (ví dụ California Air Resources Board). Tùy thuộc vào tính chất của
    các tiêu chuẩn, đặc biệt đối với các tiêu chuẩn môi trường, một số tiêu chuẩn được ban hành
    thông qua luật định và là bắt buộc, trong khi những tiêu chuẩn khác là do tự nguyện nhưng
    lại được nhiều lĩnh vực chấp nhận (ví dụ EU quy định hiệu suất phát thải).
    Vai trò của chính phủ trong việc xây dựng các tiêu chuẩn còn hạn chế thực tế đó là đối
    với nhiều công nghệ, các tiêu chuẩn được thiết lập một cách công khai ở cấp quốc tế.
    Những nỗ lực để áp đặt các tiêu chuẩn quốc gia, ví dụ, thông qua việc mua sắm công, là rủi
    ro và tốn kém vì khó xác định trước cái gì sẽlà tiêu chuẩn chi phối trong lĩnh vực phát triển
    nhanh như đổi mới xanh và có thể dẫn đến việc thị trường sẽ lựa chọn tiêu chuẩn công
    15
  16. nghệ. Những thủ tục tại các cơ quan tiêu chuẩn cũng có thể chậm, quan liêu và có thể bị ảnh
    hưởng bởi những đối thủ lớn.
    Trong những năm gần đây, lợi ích kinh tế của các tiêu chuẩn trở nên rõ ràng hơn đối với
    các nhà hoạch định chính sách. Các tiêu chuẩn có thể ảnh hưởng đến việc khuyến khích phổ
    biến đổi mới xanh theo một số cách. Chúng cung cấp các thông tin nhằm tạo điều kiện cho
    việc phổ biến đổi mới, kiệm chi và xóa bỏ những tắc nghẽn “thắt cổ chai”. Các tiêu chuẩn
    kỹ thuật tạo điều kiện cho các tổ chức trong các ngành công nghiệp mạng lưới (ví dụ thúc
    đẩy khả năng tương tác hoặc tạo điều kiện thay thế các công nghệ cũ hoặc cùng tồn tại với
    những cái mới) và các chuỗi giá trị.
    Các tiêu chuẩn kỹ thuật có thể đóng vai trò ngày càng nổi bật trong sự phát triển, ứng
    dụng và quy định các công nghệ xanh. Hầu hết các chính sách môi trường và mua sắm công
    dựa trên các tiêu chuẩn. Trong lĩnh vực môi trường, quy định môi trường và mua sắm công
    dựa trên hiệu suất đã thúc đẩy mức hiệu suất tối thiểu cho các nhà đổi mới sáng tạo và nâng
    cao sự tự tin ở người tiêu dùng. Chính phủ Anh đã quyết định ủng hộ việc chuẩn hóa trong
    sinh trắc học, với các tiêu chuẩn kỹ thuật hỗ trợ sự hoán đổi và khả năng tương tác. Một
    đánh giá về tiêu chuẩn hóa năm 2009 và chương trình đổi mới ở Anh cho thấy rằng điều
    này đã tạo điều kiện phổ biến các công nghệ trên thị trường, mua sắm hiệu quả hơn và nới
    lỏng tiếp cận thị trường mua sắm của các DNNVV.
    5.4. Các chính sách về người tiêu dùng
    Khi người tiêu dùng và người sử dụng trở thành những chất xúc tác cho đổi mới sáng
    tạo, bằng việc tạo ra nhu cầu và tạo điều kiện để phổ biến sự đổi mới, chính sách cho người
    tiêu dùng đóng vai trò ngày càng quan trọng. Những cơ chế chính sách người tiêu dùng và
    giáo dục người tiêu dùng đóng vai trò trong việc thúc đẩy sự đổi mới trong các thị trường
    đổi mới chính và có thể giúp đảm bảo người tiêu dùng tin tưởng đưa ra những lựa chọn.
    Những nhà ứng dụng công nghệ xanh tư nhân tiềm năng có thể không chắc chắn về chất
    lượng và hiệu suất của công nghệ. Do đó, cần giải quyết những thành kiến hành vi nhằm
    thúc đẩy những lựa chọn “xanh hơn” của người tiêu dùng và nâng cao chất lượng và độ tin
    cậy của thông tin về hàng hóa và dịch vụ xanh, ví dụ thông qua việc dán nhãn xanh. Những
    tiết kiệm tiềm năng đạt được thông qua các công nghệ hiệu quả tài nguyên, phụ thuộc vào
    những kịch bản không chắc chắn và dựa trên nhiều giả thuyết. Điều này có thể làm cho các
    doanh nghiệp và người tiêu dùng trì hoãn mua công nghệ.
    Chính sách người tiêu dùng có thể được sử dụng để ngăn tính trì trệ và thái độ hoài nghi
    đối với hàng hóa và dịch vụ mới và giúp cải thiện thông tin giữa người sử dụng và các nhà
    phát triển. Một giải pháp để giảm bớt những rào cản thông tin và giảm sự mất cân bằng
    thông tin đó là nâng cao chất lượng những yêu sách được đưa ra bởi các công ty, tăng
    cường sử dụng những “yêu sách xanh” như một công cụ tiếp thị của công ty. Để nâng cao
    giá trị và hiệu quả của yêu sách này, một số chính phủ đã chuẩn bị những hướng dẫn nhằm
    giúp doanh nghiệp phát triển và/hoặc sử dụng những yêu sách xanh. Những hướng dẫn
    Xanh của Ủy ban Thương mại Hoa Kỳ là một trường hợp điển hình. Phần Lan và Na Uy đã
    16
  17. triển khai hướng dẫn trong lĩnh vực cụ thể về việc sử dụng các thuật ngữ như “trung hòa các
    bon” và “hiệu quả năng lượng”.
    5.5. Các chính sách ứng dụng và triển khai
    Các chính phủ thuộc OECD cung cấp hàng loạt các cơ chế tài chính hoặc trợ giá cho
    doanh nghiệp và/hoặc người tiêu dùng để khuyến khích sử dụng các sản phẩm và dịch vụ
    xanh. Những biện pháp này nhằm kích thích ứng dụng và phổ biến bằng cách giảm giá
    công nghệ đang được áp dụng hoặc tác động đến hành vi (OECD, 2012a):
    – Khuyến khích ngân khố và tài chính để giảm giá, có thể là trợ cấp trực tiếp như thuế
    feed-in, hỗ trợ người tiêu dùng hoặc thanh toán chuyển giao tài chính hoặc ưu đãi về thuế
    như giảm thuế hoặc tín dụng thuế.
    – Không khuyến khích ngân khố và tài chính (thuế và phí môi trường) được thiết kế để
    tác động đến hành vi của các nhà sản xuất và/hoặc người tiêu dùng, trong khi nâng cao
    doanh thu của chính phủ và bao gồm các chi phí dịch vụ môi trường (ví dụ thuế xăng dầu,
    phí tắc nghẽn).
    Ngoài ra, một số chính phủ đã sử dụng các biện pháp thuế và trợ cấp để hỗ trợ tăng
    trưởng và xuất khẩu sang các thị trường mới ở nước ngoài. Khi nhu cầu thế giới về công
    nghệ xanh ngày càng tăng, chính phủ cho rằng điều này có thể mang lại những lợi ích trong
    tương lai, sẽ nhiều lĩnh vực cạnh tranh quốc tế và có nhiều đổi mới hơn.
    Các chính phủ thuộc OECD cũng cung cấp hỗ trợ cho các dự án trình diễn quy mô lớn
    hoặc các kế hoạch thí điểm để vượt qua “thung lũng chết” với những rủi ro công nghệ và tài
    chính cao. Mục đích là để có được thông tin đầu tiên về quá trình vận hành, bảo dưỡng và
    các cơ hội từng bước đổi mới và được xã hội chấp nhận. Là một phần trong Kế hoạch hành
    động kinh tế, Quỹ Năng lượng sạch của Canada đang đầu tư vào các Dự án trình diễn việc
    bẫy và tích trữ cacbon quy mô lớn (CCS) và các dự án trình diễn quy mô nhỏ hơn về các
    công nghệ năng lượng tái tạo và thay thế. Chính phủ Canada đã đầu tư 120 triệu CAD vào
    các dự án CCS Shell Quest. Trong bối cảnh đó, Viện Nghiên cứu Năng lượng mới của Áo
    (ERI) đã hỗ trợ xây dựng các mẫu công nghệ sử dụng hydro và cacbon đioxit như nguồn
    năng lượng.
    Một vấn đề phổ biến với các chính sách thông qua, đặc biệt là những khoản trợ cấp
    trực tiếp, có liên quan đến chi phí ngân sách lớn cho mỗi đơn vị có hiệu lực (bao gồm chi
    phí giám sát và giao dịch cao). Nếu không có các kế hoạch loại bỏ thích hợp, có thể gây thất
    thoát nguồn trợ cấp cho những lĩnh vực “xanh” đã được tài trợ. Ngoài ra, các khoản trợ cấp
    có thể đưa ra những ưu đãi sai lầm mà có thể dẫn đến việc tăng sử dụng năng lượng (tác
    động ngược trở lại). Do đó, cần đưa ra những đánh giá về các yêu sách bền vững trong các
    lĩnh vực tương ứng để hạn chế rủi ro tài chính mà không đem lại hiệu quả.
    Trong thực tế, các chính sách thông qua thường được sử dụng như là một phần mở rộng
    của chính sách công nghiệp. Hầu hết hỗ trợ của các nước OECD cho các công nghệ tái tạo
    cũng chính là các công cụ chính sách công nghiệp. Họ có thể xây dựng năng lực sản xuất
    địa phương để hỗ trợ triển khai các công nghệ điện tái tạo hoặc hỗ trợ các nhà sản xuất
    17
  18. phương tiện địa phương. Hỗ trợ của chính phủ có thể trái với các quy định của Tổ chức
    Thương mại Thế giới (WTO), nó liên quan đến các khoản trợ cấp mà có thể gây bất lợi cho
    các đối thủ cạnh tranh nước ngoài và bóp méo tính cạnh tranh. Tuy nhiên, có hoặc không có
    trợ cấp, chẳng hạn như thuế feed-in, là hành vi vi phạm các quy định của WTO, tùy thuộc
    vào thiết kế thực tế và việc thực hiện các chương trình chính sách. [1] 6. Một số ưu tiên phát triển đổi mới sáng tạo xanh
    6.1. Khuyến khích tài trợ nghiên cứu công cho đổi mới sáng tạo xanh
    6.1.1. Các kết quả khoa học trong đổi mới sáng tạo xanh
    Nghiên cứu khoa học thường cung cấp hạt giống cho quá trình đổi mới, cụ thể đổi mới là
    công nghệ. Nghiên cứu có thể đến từ nhiều lĩnh vực và vượt ra khỏi những phạm trù hẹp
    của khoa học môi trường. Việc xây dựng bản đồ các lĩnh vực khoa học có ảnh hưởng đến
    sự đổi mới trong các công nghệ xanh và được đo bằng sáng chế, ví dụ, bản đồ chỉ ra công
    nghệ xanh trong các lĩnh vực như hóa học và khoa học vật liệu quan trọng hơn hơn nghiên
    cứu về năng lượng và môi trường. Trong hầu hết các lĩnh vực, sáng chế xanh chủ yếu từ các
    nước Hoa Kỳ, Nhật Bản và Đức.
    Những đột phá khoa học có thể mở ra những hướng mới cho sản xuất năng lượng hoặc
    giúp tăng hiệu quả sử dụng năng lượng. Có thể chúng cũng đưa ra những giải pháp mới để
    bẫy và sử dụng những khí thải nhà kính hoặc thích ứng với những thách thức môi trường
    toàn cầu như biến đổi khí hậu. Trong việc quyết định nơi đầu tư, theo nguyên tắc Chính phủ
    nên tập trung vào những lĩnh vực mà đầu tư có khả năng mang lại nhiều lợi ích xã hội nhất
    và các lĩnh vực tư nhân không thể đầu tư cho riêng mình. Thông thường, đây là những lĩnh
    vực có rủi ro đầu tư quá cao, thời gian thực hiện quá dài và kết quả thấp. Điều đó có nghĩa
    rằng các chính phủ sẽ cần phải đi đầu trong việc đầu tư cho nghiên cứu cơ bản mà có thể
    giúp vượt qua những thách thức và rào cản cụ thể về đổi mới, hoặc nâng cao kiến thức cơ
    bản về đầu tư cho đổi mới xanh trong lĩnh vực tư nhân.
    Một số đầu tư này cần đi vào các lĩnh vực cụ thể, ví dụ tập chung nỗ lực hơn vào các
    lĩnh vực nghiên cứu nhằm giải quyết những thách thức đang tồn tại. Tuy nhiên, những ý
    tưởng và kiến thức mới có thể xuất hiện từ nhiều hướng, vì vậy cũng cần đầu tư chung. Đầu
    tư cho NC&PT năng lượng hoặc môi trường cần gia tăng hơn nữa, tuy nhiên bằng chứng
    cho thấy trong thập kỷ qua, đổi mới xanh dựa trên phạm vi nghiên cứu rất rộng lớn, phản
    ánh sự phát triển đa ngành trong nghiên cứu khoa học.
    6.1.2. Sử dụng quỹ nghiên cứu công như một chất xúc tác để tìm ra công nghệ mới
    Khoa học là một khía cạnh quan trọng của đổi mới sáng tạo xanh, tuy nhiên các mô hình
    tài trợ nghiên cứu thích hợp và các tiêu chí lựa chọn để thúc đẩy công nghệ xanh rất ít được
    chú ý. Khó có thể xác định được những chuyên ngành cụ thể là những nguồn kiến thức
    khoa học mà có đóng góp lớn cho đổi mới sáng tạo xanh và phát triển xanh. Việc xây dựng
    bản đồ của các lĩnh vực khoa học cho thấy rằng, các công nghệ năng lượng “sạch” đòi hỏi
    nhiều cơ sở kiến thức khoa học khác nhau, trong đó trọng tâm nghiên cứu rộng hơn lĩnh vực
    năng lượng và môi trường, chẳng hạn như khoa học vật liệu, hóa học và vật lý.
    18
  19. Các lĩnh vực khoa học và công nghệ khoa học kết hợp với nhau thông qua sự hợp tác
    giữa các nhóm nghiên cứu và tích hợp các phương pháp tiếp cận ban đầu cũng có thể được
    coi như những đổi mới căn bản, mở ra những con đường mới cho phát triển công nghệ.
    Những đột phá về khoa học thường đạt được bởi các nhóm liên ngành và đa ngành nhỏ. Ví
    dụ, Heinze et al. (2009) phát hiện ra rằng, khi các nhóm nghiên cứu lớn và tổ chức theo kiểu
    phân cấp thì sẽ có ít khám phá hơn. Chính vì vậy để nâng cao những lĩnh vực kiến thức yêu
    cầu phải có sự tương tác nhiều hơn ở khắp các lĩnh vực và đòi hỏi có hệ thống tài trợ phù
    hợp nhằm khuyến khích nghiên cứu liên ngành ở cấp các tổ chức (đại học, trung tâm nghiên
    cứu), các phòng ban và các đơn vị nghiên cứu đơn lẻ.
    Các hệ thống tài trợ nhìn chung đều muốn chuyên môn khoa học, tuy nhiên các chính
    phủ đang ngày càng thích ứng với những cơ chế tài chính nghiên cứu của họ để tạo điều
    kiện tài trợ cho nghiên cứu liên ngành liên quan đến đổi mới xanh, ví dụ tài trợ nhiều hơn
    cho các dự án được trao giải mang tính cạnh tranh.
    Ở cấp độ hoạt động, những ưu tiên nghiên cứu quốc gia cho đổi mới xanh cũng có thể
    được thể hiện qua nhiệm vụ của các viện nghiên cứu hoặc thông qua cấu trúc linh hoạt hơn
    như các trung tâm nghiên cứu chất lượng. Tuy nhiên, cũng có những hạn chế và rủi ro liên
    quan tới cách tiếp cận từ trên xuống dưới trong công tác chỉ đạo và quản lý nghiên cứu ở
    trường đại học. Cách tiếp cận “quá nặng ở đầu” không thể mang lại dòng tích lũy và đa
    dạng trong đổi mới xanh vì nó làm giảm sự tự do của các nhà nghiên cứu và những thử
    nghiệm mà có thể tìm ra những đột phá quan trọng đầy bất ngờ. Đồng thời, việc thiết lập
    những ưu tiên từ dưới lên có thể dẫn đến tình trạng nghiên cứu rời rạc và thiếu lượng tới
    hạn. Việc đảm bảo có sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan trong quá trình thiết lập ưu
    tiên có thể giúp khắc phục tình trạng nghiên cứu công lấn át nghiên cứu tư về các công nghệ
    mới nổi.
    6.1.3. Biến ngành khoa học thành doanh nghiệp xanh
    Khi các viện nghiên cứu công và các trường đại học chuyển sang kinh doanh nhiều hơn,
    chứng tỏ những sáng kiến phát triển kinh tế dựa vào công nghệ đang gia tăng. Bằng cách
    cải thiện môi trường thể chế và năng lực ở cấp quốc gia và trường đại học, thúc đẩy mối
    quan hệ hợp tác giữa khoa học và công nghiệp để đẩy nhanh quá trình chuyển giao và
    những nỗ lực nuôi dưỡng thế hệ tương lại ở các trường đại học .
    Có sự khác biệt lớn về trình độ giữa các quốc gia trong hệ thống nghiên cứu công (viện
    nghiên cứu công, giáo dục đại học, bệnh viện) góp phần cho sáng chế xanh. Ví dụ, tại Bồ
    Đào Nha và Singapo, hệ thống nghiên cứu chiếm hơn 20% trong tất cả sáng chế xanh từ
    năm 2004 đến 2009. Tuy nhiên, thương mại hóa nghiên cứu và chuyển giao tri thức mở
    rộng hơn đáng kể so với sáng chế. Các kênh chuyển giao kiến thức như những liên kết giữa
    khoa học và công nghiệp hoặc những công bố được phát hiện quan trọng hơn.
    6.2. Hỗ trợ doanh nghiệp NC&PT cho đổi mới sáng tạo xanh
    6.2.1. Chính sách hỗ trợ NC&PT theo chiều dọc
    Trong khi các chính sách NC&PT theo chiều ngang ảnh hưởng đến tốc độ đổi mới
    19
  20. chung, thì các chính sách NC&PT dọc có lợi thế giải quyết những cơ hội về công nghệ và
    ngành được quy định sẵn bằng việc tăng tốc độ cũng như hướng dẫn đổi mới. Nếu chính
    sách ủng hộ các công nghệ xanh, về nguyên tắc có thể tạo điều kiện để phổ biến kiến thức
    và giải quyết các yếu tố ngoại tác môi trường. Tuy nhiên, có những rủi ro mà có quá nhiều
    những yêu cầu cụ thể chi tiết, sẽ sàng lọc ra những đổi mới cơ bản tiềm năng hơn. Ví dụ,
    một cơ quan tài trợ sẽ chỉ nhận tài trợ cho một đề xuất nghiên cứu nếu đáp ứng những yêu
    cầu của nhà tài trợ đó. Vì vậy, để đủ điều kiện kinh phí, một công ty có thểnộp đề xuất được
    xác định chi tiết hơn và có thể tăng dần theo cách tự nhiên.
    6.2.2. Giải thưởng khuyến khích NC&PT tư nhân
    Nghiên cứu và phát triển cũng có thể được thúc đẩy thông qua các chương trình. Một số
    chính phủ đã bắt đầu sử dụng giải thưởng công nghệ để thúc đẩy các hoạt động NC&PT và
    đổi mới trong các lĩnh vực xanh mà các doanh nghiệp đã lờ đi. Nhờ đó mà có thể giải quyết
    một loạt các công nghệ tiềm năng và việc ứng dụng các công nghệ chưa chắc chắn. Ví dụ,
    chính phủ Mỹ thúc đẩy giải thưởng H-Prizes để tìm kiếm các công nghệ mang tính đột phá
    trong nền kinh tế hydro. Các giải thưởng có thể thay đổi theo các cách khác nhau, làm thay
    đổi các kết quả và tác động đến đổi mới. Ví dụ, để tăng phổ biến kiến thức, công nghệ đạt
    giải có thể được cấp phép và truyền bá rộng rãi. Giải thưởng cũng có thể trao cho những
    thành tựu phi công nghệ, chẳng hạn như những đổi mới dịch vụ cho phép các doanh nghiệp
    tái cơ cấu lại các chuỗi giá trị của họ hoặc tạo ra những mối quan hệ mới giữa nhà sản xuất
    và người tiêu dùng và đồng thời nâng cao hiệu quả môi trường.
    Mặc dù giải thưởng có thể có vai trò hữu ích,nhưng không nên phóng đại. Chúng cũng
    có thể dẫn đến sự trùng lặp trong những nỗ lực NC&PT, và hạn chế việc thanh toán trả
    trước mà có thể làm giảm số lượng tham gia của các công ty.
    Các công cụ như trợ cấp phù hợp, có nghĩa là ngành công nghiệp phù hợp với điều kiện
    trợ cấp của chính phủ chứ không phải ngược lại, cho phép các nhà tài trợ công sàng lọc
    những nghiên cứu để đảm đầu tư một cách thích hợp. Ngoài ra, bằng cách tạo ra tính cạnh
    tranh giữa các ứng viên – thông qua việc sử dụng các cơ chế đấu giá khác nhau – nhiều
    thông tin về những đề xuất nghiên cứu có thể thu được và tránh được một số tài trợ không
    cần thiết.
    6.2.3. Cấp vốn cho các công nghệ và đổi mới xanh
    Trong khi tất cả các chính sách cung được đề cập có một khía cạnh tài chính, các cuộc
    thảo luận về chính sách công nghệ liên quan đến tài chính thường đề cập đến các công cụ
    nhằm mục đích cải thiện việc cung cấp vốn rủi ro thông qua cổ phần, nợ, vốn liên doanh
    hoặc những thay đổi trong thị trường vốn. Tiếp cận tài chính đặc biệt quan trọng đối với các
    nhà nghiên cứu đang theo đuổi sáng kiến kiến xanh, đặc biệt là những người mới bắt đầu
    khởi nghiệp. Khó để có được nguồn vốn với chi phí hợp lý cho một thị trường còn non nớt
    với thâm dụng vốn cao và rủi ro cũng tương đối cao. Ngoài chính sách liên quan đến nợ và
    tài chính cổ phần, các chính phủ có thể cung cấp các ưu đãi thông qua những thỏa thuận
    chia sẻ rủi ro hoặc quan hệ đối tác hợp tác đầu tư công-tư để vượt qua sự kháng cự của các
    20

Download tài liệu Tổng luận Chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo xanh của một số quốc gia File Docx, PDF về máy