[Download] Tổng luận Các xu hướng lớn toàn cầu tác động đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Tải về File Docx, PDF

Tổng luận Các xu hướng lớn toàn cầu tác động đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Tổng luận Các xu hướng lớn toàn cầu tác động đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Nội dung Text: Tổng luận Các xu hướng lớn toàn cầu tác động đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Download


Tổng luận trình bày về những xu hướng lớn ảnh hưởng đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; các xu hướng công nghệ tương lai. Để nắm chi tiết hơn nội dung nghiên cứu, mời các bạn cùng tham khảo.

Bạn đang xem: [Download] Tổng luận Các xu hướng lớn toàn cầu tác động đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Tổng luận Các xu hướng lớn toàn cầu tác động đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo File Docx, PDF về máy

Tổng luận Các xu hướng lớn toàn cầu tác động đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Tổng luận Các xu hướng lớn toàn cầu tác động đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo

  1. CÁC XU HƯỚNG LỚN TOÀN CẦU TÁC ĐỘNG ĐẾN KHOA HỌC,
    CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO

    MỤC LỤC

    GIỚI THIỆU …………………………………………………………………………………………………. 1
    CÁC CHỮ VIẾT TẮT……………………………………………………………………………………… 2
    I. NHỮNG XU HƯỚNG LỚN ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHOA HỌC,
    CÔNG NGHỆ VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
    1.1. Dân số ………………………………………………………………………………………………….. 3
    1.2. Tài nguyên thiên nhiên và năng lượng ……………………………………………………… 6
    1.3. Biến đổi khí hậu và môi trường ……………………………………………………………….. 8
    1.4. Toàn cầu hóa……………………………………………………………………………………….. 12
    1.5. Vai trò của chính phủ …………………………………………………………………………… 15
    1.6. Kinh tế, việc làm và năng suất……………………………………………………………….. 19
    1.7. Xã hội ………………………………………………………………………………………………… 22
    1.8. Y tế, bất bình đẳng và phúc lợi ………………………………………………………………. 24

    II. CÁC XU HƯỚNG CÔNG NGHỆ TƯƠNG LAI
    2.1. Internet kết nối vạn vật …………………………………………………………………………. 28
    2.2. Phân tích dữ liệu lớn …………………………………………………………………………….. 32
    2.3. Trí tuệ nhân tạo ……………………………………………………………………………………. 35
    2.4. Công nghệ thần kinh …………………………………………………………………………….. 38
    2.5. Vệ tinh nano/micro ………………………………………………………………………………. 42
    2.6. Vật liệu nano……………………………………………………………………………………….. 44
    2.7. Chế tạo đắp dần …………………………………………………………………………………… 47
    2.8. Công nghệ tích trữ năng lượng tiên tiến ………………………………………………….. 50
    2.9. Sinh học tổng hợp ………………………………………………………………………………… 53
    2.10. Công nghệ Blockchain ……………………………………………………………………….. 56
    KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………….. 60

    0

  2. GIỚI THIỆU

    Tương lai của chúng ta đang bị ảnh hưởng bởi một tập hợp các tác động mạnh mẽ,
    phức tạp, có liên quan đến nhau, dẫn đến những biến cố khó lường, không thể dự đoán
    trước và có thể có tính phá vỡ cao. Đó là những xu hướng lớn toàn cầu với những thay
    đổi về kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường và công nghệ trên quy mô lớn, mặc dù diễn
    ra chậm nhưng một khi đã định hình sẽ có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đến hầu hết các
    hoạt động, các quá trình và nhận thức của con người. Những xu hướng lớn đa chiều đó
    củng cố lẫn nhau và đôi khi đối ngược nhau sẽ ảnh hưởng đến định hướng và tốc độ
    thay đổi công nghệ và phát minh khoa học, cũng như các hoạt động và chính sách khoa
    học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong tương lai.
    Cục Thông tin khoa học và công nghệ quốc gia biên soạn tổng luận mang tựa đề
    “Các xu hướng lớn toàn cầu tác động đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng
    tạo” nhằm truyền tải đến các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý doanh nghiệp và
    các nhà phân tích về những xu hướng biến đổi được dự đoán về các mô hình khoa học,
    công nghệ và đổi mới sáng tạo toàn cầu, về những tác động hiện tại và có thể xảy ra
    trong tương lai đối với các chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở cả
    cấp độ quốc gia và toàn cầu.
    Phần đầu của tài liệu mô tả và phân tích các “xu hướng lớn” toàn cầu đang có tác
    động mạnh đến xã hội và nền kinh tế, trong đó có cả các hệ thống khoa học, công nghệ
    và đổi mới sáng tạo trong 10-15 năm tới. Phần hai đề cập đến 10 xu hướng công nghệ
    nổi bật, không chỉ có triển vọng mang lại những thay đổi lớn lao mà còn có thể dẫn đến
    những rủi ro đáng kể. Phần này mô tả từng công nghệ, nhấn mạnh một số tác động kinh
    tế xã hội có thể và khảo sát các vấn đề chính sách liên quan.
    Trân trọng giới thiệu.

    CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC
    VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA

    1

  3. CÁC CHỮ VIẾT TẮT

    AI Trí tuệ nhân tạo
    Artificial intelligence
    AM Chế tạo đắp dần
    Additive manufacturing
    DIY Tự làm
    Do-it-yourself
    FDI Đầu tư trự tiếp nước ngoài
    Foreign direct investment
    GDP Tổng sản phẩm trong nước
    Gross domestic product
    GVCs Chuỗi giá trị toàn cầu
    Global value chains
    ICT Công nghệ thông tin và truyền thông
    Information and communication technology
    IoT Internet vạn vật
    Internet of things
    IP Sở hữu trí tuệ
    Intellectual property
    NC&PT Nghiên cứu và phát triển
    Research and development
    OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
    Organization for Economic Co-operation and Development
    RRI Nghiên cứu và đổi mới sáng tạo có trách nhiệm
    Responsible research and innovation
    STI Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
    Science, technology and innovation

    2

  4. I. NHỮNG XU HƯỚNG LỚN ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ
    VÀ ĐỔI MỚI SÁNG TẠO
    Những xu hướng lớn (Megatrends) là những thay đổi về mặt xã hội, kinh tế, chính
    trị, môi trường hoặc công nghệ quy mô lớn, diễn ra một cách chậm chạp tuy nhiên lại
    có ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài đối với nhiều hoạt động, quá trình và nhận thức của
    con người. Những xu hướng lớn này được chia thành 8 lĩnh vực chuyên đề như sau:
    Dân số; tài nguyên thiên nhiên và năng lượng; biến đổi khí hậu và môi trường; toàn cầu
    hoá; vai trò của chính phủ; kinh tế, việc làm và năng suất; xã hội; sức khoẻ, bất bình
    đẳng và phúc lợi (Hình 1.1).

    Hình 1.1. Tám xu hướng lớn ảnh hưởng đến STI
    Nguồn: OECD (2015a), OECD Digital Economy Outlook 2015
    1.1. Dân số
    Tăng trưởng dân số ở các nước kém phát triển
    Dân số thế giới được dự báo sẽ tăng trong thế kỷ 21, mặc dù với tốc độ chậm hơn
    so với trước đây, đạt 8,5 tỷ vào năm 2030 và 9,7 tỷ vào năm 2050. Sự gia tăng sẽ diễn
    ra gần như toàn bộ ở các nước kém phát triển và châu Phi sẽ chiếm hơn một nửa mức
    tăng dự đoán. Quy mô dân số ở nhiều nước phát triển sẽ giữ ở mức ổn định và nhiều
    3

  5. nước thậm chí còn trải qua sự suy giảm dân số. Ví dụ, Nhật Bản và nhiều nước Trung
    Âu và Đông Âu, dân số được dự đoán sẽ giảm hơn 15% vào năm 2050.
    Tăng trưởng dân số toàn cầu sẽ đặt ra những áp lực lớn chưa từng thấy đối với tài
    nguyên thiên nhiên, ví dụ như lương thực, năng lượng, nước… và khoa học, công nghệ
    và đổi mới sáng tạo (STI) vẫn tiếp tục được coi là có vai trò thiết yếu trong việc đẩy
    mạnh sản xuất và bảo tồn các loại tài nguyên này. Nhìn chung, dân số toàn cầu lớn hơn
    và kinh tế liên tục phát triển có thể dẫn đến nhiều hoạt động nghiên cứu và đổi mới
    sáng tạo hơn. Đồng thời, các chương trình nghị sự về nghiên cứu và đổi mới sáng tạo
    có thể bị tác động đáng kể bởi nhiều thách thức phát triển mà các nước có mức tăng
    trưởng dân số lớn đang phải đối mặt. Các thỏa thuận và hợp tác quốc tế mới về STI –
    như các Hiệp định Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) của Liên hợp quốc và Hiệp
    định Paris COP21 – sẽ thúc đẩy chuyển giao công nghệ cho các nước này để tăng
    cường các kênh phổ biến công nghệ hiện hữu thông qua thương mại, đầu tư trực tiếp
    nước ngoài (FDI) và mua sắm tư liệu sản xuất. Các nước đang phát triển sẽ cần phải
    mở rộng và đào sâu hơn năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo của mình nếu muốn
    hấp thụ và áp dụng các công nghệ cho nhu cầu riêng của mình.
    Xã hội già hóa
    Sự kết hợp giữa tỷ lệ sinh thấp và tuổi thọ tăng sẽ dẫn đến sự già hóa trong tương
    lai ở tất cả các khu vực chính trên thế giới. Với tốc độ như hiện nay, vào năm 2050 ở
    phạm vi toàn cầu, tỷ lệ số người trên 60 tuổi và số trẻ em sẽ gần như ngang nhau. Đây
    sẽ là một thay đổi lớn so với trước đây và hiện tại: hiện tại trên thế giới có khoảng 900
    triệu người trên 60 tuổi, con số này được dự đoán sẽ tăng lên 1,4 tỷ vào năm 2030 và
    2,1 tỷ vào năm 2050. Châu Âu theo dự báo sẽ có tỷ lệ số người trên 60 tuổi lớn nhất
    (34% vào năm 2050 so với 24% vào năm 2015). Nhưng già hóa nhanh cũng sẽ xảy ra ở
    các khu vực khác trên thế giới, đặc biệt ở châu Á. Gần 80% số người lớn tuổi trên thế
    giới sẽ sống ở những vùng kém phát triển hiện nay. Trung Quốc sẽ có khoảng 330 triệu
    dân có độ tuổi từ 65 trở lên, Ấn Độ có khoảng 230 triệu người, Brazil và Indonesia có
    trên 50 triệu người vào năm 2050. Trên toàn cầu, số người trên 80 tuổi được dự báo sẽ
    tăng gấp ba lần vào năm 2050 (từ 125 triệu năm 2015 lên 434 triệu năm 2050 và 944
    triệu năm 2100). Nhóm có độ tuổi trên 80 chỉ chiếm 1% dân số OECD vào năm 1950,
    nhưng tỷ trọng này đã tăng lên 4% vào năm 2010 và theo dự báo sẽ lên đến 10% vào
    năm 2050.
    Sự già hóa dẫn đến những thay đổi về lối sống và mẫu hình tiêu dùng, điều này tác
    động mạnh đến chủng loại sản phẩm và dịch vụ được yêu cầu. Các thị trường mới sẽ
    nổi lên như một phần của “nền kinh tế bạc” (silver economy), trong khi đó sẽ có nhiều
    nền kinh tế truyền thống hơn có thể phải thích ứng hoặc thậm chí sẽ biến mất, tất cả
    những điều này đều liên quan đến đổi mới sáng tạo. Đồng thời, các xã hội già hóa có
    thể gặp phải sự tăng trưởng kinh tế chậm lại. Tỷ số phụ thuộc của người cao tuổi, cùng
    với các bệnh không lây nhiễm trở nên phổ biến hơn và tình trạng ốm yếu gia tăng ở
    người cao tuổi sẽ đặt gánh nặng lên y tế và các dịch vụ khác. Áp lực tài chính phát sinh
    4
  6. có thể thu hút chi tiêu công vốn dùng để đầu tư cho các khu vực khác, trong đó có cả
    STI. Các bệnh liên quan đến người cao tuổi, trong đó có bệnh ung thư và mất trí, cũng
    có thể ngày càng nổi trội trong các chương trình nghiên cứu y học. Khi thế giới trở nên
    già hơn, kể cả nhiều nền kinh tế đang nổi, hợp tác nghiên cứu quốc tế về các căn bệnh
    liên quan đến tuổi cao có thể tăng lên.
    Di cư quốc tế
    Tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động nhỏ hơn sẽ ảnh hưởng đến thị trường lao động
    có kỹ năng STI ở nhiều nước OECD. Quy mô dân số trong độ tuổi lao động (15-64)
    hiện đang ở đỉnh cao trong lịch sử và sẽ sớm giảm xuống. Điều này có nghĩa là tỷ lệ
    giữa số người phụ thuộc (hiện tại được định nghĩa là dưới 15 tuổi và trên 64 tuổi) so
    với dân số ở độ tuổi lao động có thể hỗ trợ về mặt xã hội và kinh tế sẽ tăng lên. Mặc dù
    khả năng người cao tuổi vẫn hoạt động và tiếp tục làm việc sau độ tuổi nghỉ hưu chính
    thức sẽ tăng lên, nhưng điều này vẫn không đủ để đáp ứng sự thiếu hụt nhân công. Tuy
    nhiên, việc ước tính thiếu hụt lực lượng lao động trong tương lai cũng cần xét đến sự
    thay đổi công nghệ như một yếu tố quyết định quan trọng, đặc biệt là tác động của các
    lĩnh vực robot và trí tuệ nhân tạo. Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi, những công nghệ
    này có thể làm giảm nhu cầu lao động và giúp cân bằng sự không tương hợp về kỹ
    năng trong tương lai. Các công nghệ như vậy cùng với những công nghệ khác (như
    công nghệ thần kinh – neurotechnology) cũng có thể tăng cường khả năng nhận thức và
    thể chất, cho phép con người kéo dài được thời gian làm việc lâu hơn trong đời sống.
    Di cư quốc tế có thể giúp giảm thiểu tình trạng thiếu lao động và thiếu kỹ năng ở
    các quốc gia tiếp nhận. Kịch bản dự báo tăng trưởng dài hạn ở OECD giả định rằng,
    các dòng người lao động di cư chảy vào sẽ là một nhân tố quan trọng để giảm nhẹ sự
    già hóa ở hầu hết các nước OECD. Tất cả các dấu hiệu đó đều cho thấy sự gia tăng hơn
    nữa các yếu tố thúc đẩy và thu hút các dòng di cư trong những thập kỷ tới. Lợi thế dân
    số trẻ ở một số nước đang phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho di cư ra nước ngoài:
    việc thiếu các cơ hội việc làm và nguy cơ xung đột nội bộ gia tăng sẽ buộc nhiều người
    tìm kiếm cuộc sống và sự an toàn tốt hơn ở những nơi khác. Biến đổi khí hậu cũng có
    thể tác động nhiều hơn đến các dòng di cư quốc tế trong tương lai.
    Người di cư mang theo trình độ và kỹ năng cùng với họ. Trong năm 2011, tại các
    nước OECD có 31 triệu người di cư có trình độ học vấn cao và số người di cư có kỹ
    năng cao đã tăng 72% trong thập kỷ trước. Ở châu Âu, trong thập kỷ qua, số người
    nhập cư mới chiếm 15% số người tham gia vào các ngành nghề đang phát triển mạnh
    như khoa học, công nghệ và kỹ thuật cũng như y tế và giáo dục. Tại Hoa Kỳ, con số
    tương đương là 22%. Tuy nhiên, kỹ năng của người nhập cư không được tận dụng triệt
    để ở các thị trường lao động của các nước đến và có gần 8 triệu người di cư có trình độ
    đại học ở các nước OECD đang làm các công việc kỹ năng thấp và vừa. Đây cũng là
    một tổn thất đối với các quốc gia đang phải đối mặt với nạn “chảy chất xám” đặc biệt là
    các nước đang phát triển, làm giảm khả năng phát triển năng lực nghiên cứu và đổi mới
    sáng tạo cần thiết để giải quyết những thách thức phát triển trong nước. Một mối quan
    5
  7. tâm nữa là quy mô và tầm quan trọng của các cộng đồng dân tộc thiểu số ở các nước
    đến, một số có thể hội nhập kém và bị thiệt thòi về mặt kinh tế, có thể gây nên những
    căng thẳng và bất ổn.
    1.2. Tài nguyên thiên nhiên và năng lượng
    Tài nguyên thiên nhiên là một nền tảng lớn, chủ yếu trong hoạt động kinh tế và
    phúc lợi của con người. Nước, không khí, đất và đất trồng cung cấp thực phẩm, nguyên
    liệu và chất mang năng lượng để hỗ trợ các hoạt động kinh tế xã hội. Sự khai thác và
    tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và phúc lợi của các
    thế hệ hiện tại và tương lai. Quản lý hiệu quả và sử dụng bền vững tài nguyên thiên
    nhiên là chìa khóa cho tăng trưởng kinh tế và chất lượng môi trường.
    Tăng trưởng dân số trong tương lai, sự thay đổi lối sống và phát triển kinh tế sẽ
    làm tăng nhu cầu về nước, lương thực và năng lượng trên toàn cầu và làm tăng áp lực
    lên các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Nông nghiệp sẽ vẫn là nơi tiêu thụ nước lớn nhất,
    ảnh hưởng đến chất lượng nước bề mặt và nước ngầm qua việc thải ra các dưỡng chất
    và các vi chất gây ô nhiễm. Một số nguồn năng lượng làm thay đổi chất lượng và khối
    lượng nước sẵn có (ví dụ như cắt phá thủy lực, thủy điện và kỹ thuật làm mát cho các
    nhà máy nhiệt điện và điện hạt nhân), do đó sự thay đổi hỗn hợp năng lượng trong
    tương lai được xem như một nhân tố trong quản lý nguồn nước. Nhu cầu nhiên liệu
    sinh học ngày càng tăng đã làm tăng sự cạnh tranh về hoa lợi trồng được. Việc phân bổ
    lại đất sản xuất sang sản xuất phi thực phẩm sẽ bị chi phối bởi biến động về giá và khả
    năng sinh lợi tương đối của hàng hoá thực phẩm nhưng có thể thách thức an ninh lương
    thực trong trung hạn.
    Sự phát triển STI nhằm mang lại các kiến thức mới, các giải pháp sáng tạo và cơ
    sở hạ tầng tiên tiến để cải thiện việc giám sát, quản lý và năng suất của các nguồn tài
    sản tự nhiên và cuối cùng có thể tách biệt tăng trưởng kinh tế ra khỏi việc làm suy giảm
    tài nguyên. Các chính phủ được dự báo sẽ đóng vai trò quan trọng, bằng việc cung cấp
    cơ sở hạ tầng tri thức (ví dụ như ngân hàng dữ liệu, trung tâm hội tụ công nghệ), chia
    sẻ kiến thức và những thực tiễn tốt nhất, cung cấp tài chính cho nghiên cứu về nông
    nghiệp, năng lượng và quản lý tài nguyên thiên nhiên.
    Nước
    Nhiều nơi trên thế giới có thể sẽ phải chịu sức ép lớn về nước, vì nhu cầu nước đã
    vượt quá tốc độ tăng dân số trong thế kỷ qua. Nếu các xu thế kinh tế xã hội hiện nay
    vẫn tiếp diễn và không có các chính sách quản lý nước mới (một kịch bản nền), nhu
    cầu nước được dự báo sẽ tăng 55% trên phạm vi toàn cầu trong giai đoạn từ 2000 đến
    2050. Gia tăng mạnh nhất thuộc lĩnh vực sản xuất công nghiệp (+400%), phát điện
    (+140%) và sử dụng nước sinh hoạt (+130%).
    Nước ngầm là nguồn tài nguyên nước lớn nhất trên Trái đất (trừ nước được giữ
    dưới dạng băng), chiếm hơn 90% nguồn tài nguyên của thế giới. Ở những khu vực có
    nguồn nước mặt hạn chế, chẳng hạn như các vùng thuộc châu Phi, đây là nguồn tài
    6
  8. nguyên tương đối sạch, đáng tin cậy và hiệu quả về chi phí. Tuy nhiên, nước ngầm
    đang được khai thác với tốc độ gia tăng nhanh, vượt quá lượng có thể được bổ sung ở
    nhiều nơi trên thế giới. Sự cạn kiệt nhanh chóng nguồn nước ngầm còn là hậu quả của
    sự phổ biến các loại bơm tưới nhỏ ở các nước đang phát triển. Sử dụng nước ngầm với
    cường độ cao như vậy không chỉ giới hạn ở các nước đang phát triển, lượng nước ngầm
    sử dụng trong tưới tiêu tại một số nước OECD cũng cao hơn đáng kể so với tỷ lệ nước
    được bổ sung, ví dụ như ở một số vùng thuộc Hy Lạp, Ý, Mexico và Hoa Kỳ, ảnh
    hưởng đến khả năng phát triển kinh tế nuôi trồng. Cải tiến công nghệ tưới tiêu và việc
    áp dụng các thực tiễn nông nghiệp mới cũng như công nghệ robot trong nông nghiệp có
    thể giúp giám sát tốt hơn việc sử dụng nước và làm chậm sự cạn kiệt nước ngầm, mặc
    dù còn cần phải kết hợp với những thay đổi thể chế rộng hơn để đạt được hiệu quả cao
    hơn.
    Bên cạnh đó, nước bề mặt và nước ngầm đang ngày càng trở nên ô nhiễm do các
    dòng xả thải chất dinh dưỡng từ nông nghiệp và xử lý nước thải kém. Mức dư lượng
    nitơ trong nông nghiệp được dự báo sẽ giảm ở hầu hết các nước OECD đến năm 2050
    với hiệu quả sử dụng phân bón lớn hơn. Tuy nhiên, xu hướng này được cho là sẽ ngược
    lại ở Trung Quốc, Ấn Độ và hầu hết các nước đang phát triển. Hậu quả của chất lượng
    nước bị suy thoái sẽ làm tăng hiện tượng phú dưỡng, suy giảm đa dạng sinh học và
    bệnh tật. Chi phí kinh tế cho xử lý nước để đáp ứng tiêu chuẩn nước uống cũng có ý
    nghĩa quan trọng ở một số nước OECD. Sự phú dưỡng nước biển cũng làm tăng chi phí
    kinh tế cao đối với đánh bắt cá thương mại tại một số nước (ví dụ: Hàn Quốc và Hoa
    Kỳ). Những tiến bộ trong sinh học tổng hợp, như di truyền cây trồng và nâng cao hiệu
    suất trong vệ sinh nguồn nước, sẽ yêu cầu nhiều công trình nghiên cứu và phát triển
    (NC&PT) và áp dụng các nhà máy xử lý nước thải thế hệ mới, các hệ thống vệ sinh và
    nước thải, kết hợp với việc sử dụng các công nghệ cảm biến và công nghệ nano. Khai
    thác các nguồn nước thay thế như nước mưa, nước đã qua sử dụng, nước biển khử
    muối và khuyến khích sử dụng nước theo trình tự để giảm bớt sự khan hiếm đang là
    những thực tiễn đổi mới sáng tạo.
    Tình trạng bấp bênh về thực phẩm và dinh dưỡng sẽ còn tồn tại ở nhiều nơi, chủ
    yếu là các khu vực nghèo, những nơi mà tình trạng khan hiếm nước và suy thoái đất sẽ
    tiếp tục gây tổn hại đất nông nghiệp. Hiện nay, có khoảng một nửa diện tích đất canh
    tác bị suy thoái từ mức độ vừa đến nghiêm trọng. Sa mạc hóa và hạn hán có thể sẽ biến
    khoảng 12 triệu ha đất sản xuất lương thực thành các vùng khô cằn mỗi năm. Trong
    thực tiễn sản xuất, nếu không đạt được những tiến bộ quan trọng, tổn thất về năng suất
    có thể lên đến 50% ở một số nước châu Phi vào năm 2050. Tuy nhiên, tình hình này ở
    hầu hết các nước OECD và BRIICS lại ít nghiêm trọng hơn do năng suất tăng liên tục
    sẽ dẫn đến việc sử dụng đất hiệu quả hơn. Thay vì mở rộng diện tích đất nông nghiệp,
    nhiều nước đã lên kế hoạch từ bỏ khai thác đất, cho phép các hệ sinh thái phục hồi và
    tái tạo một phần.

    7

  9. Thói quen tiêu dùng thực phẩm có khả năng thay đổi, phản ánh mức sống ngày
    càng tăng, tỷ lệ phụ nữ tham gia trong lực lượng lao động cao hơn và thời gian chuẩn bị
    bữa ăn giảm. Giá hầu hết các mặt hàng nông nghiệp được dự đoán sẽ tăng đáng kể vào
    năm 2050, đặc biệt sẽ tác động đến các nhóm dân nghèo. Đổi mới sáng tạo sẽ đóng một
    vai trò quan trọng trong việc giúp nông nghiệp sản xuất ra nhiều thực phẩm giàu dinh
    dưỡng hơn, đa dạng và phong phú hơn, giải quyết những thay đổi trong chế độ dinh
    dưỡng và còn cung cấp nguyên liệu thô cho sử dụng phi thực phẩm. Đồng thời, đổi mới
    sáng tạo cần phải làm giảm bớt sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và cho phép thích
    ứng với những thay đổi về điều kiện tự nhiên được dự báo do biến đổi khí hậu gây ra.
    Năng lượng
    Tiêu thụ năng lượng sẽ tăng mạnh bị chi phối bởi tăng trưởng kinh tế và dân số.
    Dựa trên cơ sở các chính sách chính phủ hiện hành và theo kế hoạch (“Kịch bản chính
    sách mới” của Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA)), nhu cầu năng lượng sơ cấp toàn
    cầu ước tính tăng 37% trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2040. Hầu hết nhu cầu
    tăng này được cho là xuất phát từ tăng trưởng kinh tế tại các nền kinh tế đối tác của
    OECD, đặc biệt là châu Á, chiếm khoảng 60% tiêu thụ năng lượng toàn cầu. Gia tăng
    nhu cầu toàn cầu được dự báo sẽ chậm lại sau năm 2025 do ảnh hưởng của giá cả và
    chính sách và chuyển dịch cơ cấu theo hướng các ngành dịch vụ và công nghiệp nhẹ.
    Tuy nhiên, ngành công nghiệp vẫn có khả năng là nơi tiêu thụ năng lượng lớn nhất vào
    năm 2040, tiếp đến là vận tải, các tòa nhà ở và thương mại.
    Hỗn hợp năng lượng toàn cầu sẽ chuyển đổi, chủ yếu do sử dụng năng lượng tái
    tạo gia tăng. Điều này có nghĩa là các nguồn năng lượng cacbon thấp và năng lượng
    hóa thạch (như dầu mỏ, khí đốt và than đá) sẽ chiếm tỷ trọng tương đương trong hỗn
    hợp cung ứng năng lượng trên thế giới vào năm 2040. Trên toàn thế giới, tỷ lệ tăng sử
    dụng năng lượng tái tạo lớn nhất để phát điện sẽ là từ năng lượng gió (34%), tiếp theo
    là thủy điện (30%) và công nghệ năng lượng mặt trời (18%). Đồng thời, nhiên liệu sinh
    học có thể cung cấp tới 27% lượng nhiên liệu vận tải của thế giới vào năm 2050, tăng
    mạnh so với mức 2% hiện tại. Các thị trường năng lượng tái tạo mới sẽ phụ thuộc vào
    sự đột phá về công nghệ và cơ sở hạ tầng thông minh, được tạo khả năng bởi các khoản
    đầu tư đáng kể vào NC&PT và cơ sở hạ tầng và các quan hệ hợp tác công-tư chiến lược
    mới.
    1.3. Biến đổi khí hậu và môi trường
    Thế giới đang nóng lên
    Dữ liệu về nhiệt độ trên mặt đất và bề mặt đại dương cho thấy nhiệt độ ấm lên
    trung bình trên toàn cầu đạt 0.850C trong giai đoạn từ 1880 – 2012. Các vùng vĩ độ cao,
    phần lớn thuộc vùng Bắc Cực có nhiệt độ nóng lên hơn 20C là những khu vực nóng lên
    nhiều nhất trên thế giới. 30 năm gần đây là khoảng thời gian nóng nhất trong vòng
    1.400 năm qua ở bán cầu Bắc. Toàn cầu sẽ vẫn tiếp tục nóng lên trong vài thập kỷ tới là
    điều không thể tránh khỏi.
    8
  10. Thay đổi nhiệt độ toàn cầu được dự báo có liên quan chặt chẽ với lượng phát thải
    CO2 tích lũy. Phát thải khí nhà kính (GHG) do con người gây ra rất có thể là nguyên
    nhân chính của hiện tượng nóng lên quan sát được kể từ giữa thế kỷ 20. Nồng độ khí
    CO2, khí mê-tan và oxit nitơ trong khí quyển đạt mức cao chưa từng thấy trong ít nhất
    800.000 năm qua. Khí thải CO2 chiếm khoảng 75% phát thải khí nhà kính toàn cầu, hầu
    hết từ sản xuất năng lượng. Lượng phát thải CO2 do con người gây ra trong 40 năm gần
    đây đóng góp đến một nửa tổng số lượng phát thải tính từ năm 1750. Việc đốt nhiên
    liệu hóa thạch đóng góp hai phần ba lượng khí thải CO2 toàn cầu, trong khi nông
    nghiệp là nơi phát thải khí nhà kính mêtan và nitơ oxit mạnh nhất.
    Để giảm thiểu sự nóng lên toàn cầu đòi hỏi nhiều chiến lược giảm phát thải khí
    nhà kính tham vọng hơn. Kịch bản Chính sách mới của IEA phù hợp với sự gia tăng
    nhiệt độ về dài hạn là 40C. Kịch bản đầy tham vọng này cần đến những thay đổi mạnh
    về chính sách và công nghệ, nhưng vẫn dẫn tới mức độ biến đổi khí hậu nguy hiểm.
    Một kịch bản nghiêm ngặt hơn (2DS) đáp ứng mục tiêu 20C đã được thống nhất tại hội
    nghị khí hậu Paris yêu cầu giảm từ 40% -70% lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu
    vào năm 2050. Điều này có nghĩa là tăng tỷ lệ cung ứng điện cacbon thấp từ 30% lên
    hơn 80% vào thời điểm này.
    Đổi mới công nghệ năng lượng sẽ là chìa khóa để đạt được 2DS. Một danh mục
    toàn diện các công nghệ cacbon thấp, bao gồm cả các giải pháp để giải phóng cacbon,
    có thể giúp đạt được các mục tiêu về khí hậu. Một số giải pháp sẽ được áp dụng rộng
    rãi, trong khi một số khác nhằm vào các lĩnh vực cụ thể. Trong lĩnh vực điện năng,
    năng lượng gió trên biển và năng lượng mặt trời PV đã sẵn sàng để được lồng ghép.
    Tuy nhiên, để có thể triển khai ở quy mô lớn đòi hỏi phải đổi mới sáng tạo hơn nữa
    trong tích trữ năng lượng và cơ sở hạ tầng lưới điện thông minh để tăng tính linh hoạt
    trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Các công nghệ thu giữ cacbon (CCS) được cho là sẽ
    đóng vai trò quan trọng, mặc dù cần phát triển kỹ thuật và thị trường hơn nữa trước khi
    chúng được áp dụng rộng rãi. Công nghệ nano có thể cung cấp các giải pháp sáng tạo
    cho vật liệu CCS. Công nghệ sinh học cũng cung cấp các giải pháp độc đáo để giảm
    phụ thuộc vào dầu và hóa dầu. Pin sinh học, quang hợp nhân tạo và các vi sinh vật tạo
    ra nhiên liệu sinh học là một số đột phá gần đây có thể hỗ trợ cuộc cách mạng dựa vào
    sinh học trong sản xuất năng lượng. Công nghệ nano có thể cung cấp các giải pháp đổi
    mới sáng tạo để giảm sử dụng năng lượng trong công nghiệp và cho phép thay thế các
    quy trình tiêu thụ nhiều năng lượng bằng các quy trình chi phí thấp. Ngoài ra, các thành
    phần hoặc công nghệ năng lượng thấp có thể là công cụ để phát triển và tiếp nhận các
    công nghệ khác.
    Các nền kinh tế mới nổi được dự báo sẽ chiếm phần lớn lượng phát thải khí nhà
    kính trong những thập kỷ tới, việc các nền kinh tế này tiếp cận các công nghệ cacbon
    thấp có tính đổi mới sáng tạo sẽ là điều quan trọng và có thể giúp làm giảm đến ba

    9

  11. phần tư lượng phát thải CO2 trên toàn thế giới vào năm 2050 theo kịch bản 2DS. Phát
    triển kinh tế nhanh ở các khu vực này sẽ hỗ trợ triển khai công nghệ, nhưng cần có sự
    hợp tác quốc tế để đảm bảo chuyển giao công nghệ và tri thức. Hơn nữa, việc áp dụng
    công nghệ trong tương lai còn đòi hỏi nâng cao kỹ năng và năng lực tổ chức trong
    nước.
    Hậu quả đối với khí hậu, hệ sinh thái và sức khoẻ là rất lớn
    Một loạt những biến đổi khí hậu nghiêm trọng sẽ đi kèm với nóng lên toàn cầu.
    Sóng nhiệt sẽ xảy ra thường xuyên hơn và kéo dài hơn, trong khi các hiện tượng thời
    tiết cực đoan như lượng mưa sẽ trở nên mạnh hơn và thường xuyên xuất hiện hơn ở
    nhiều nơi. Lượng mưa nhiều khả năng sẽ tăng lên ở các vùng nhiệt đới và vĩ độ cao,
    nhưng lại giảm ở các vùng khô hạn. Các đại dương sẽ tiếp tục ấm lên và bị axit hóa,
    ảnh hưởng mạnh đến các hệ sinh thái biển. Mực nước biển trung bình toàn cầu sẽ tiếp
    tục tăng với tốc độ nhanh hơn trong bốn thập kỷ qua. Vùng Bắc cực sẽ tiếp tục ấm
    nhanh hơn mức trung bình toàn cầu, dẫn đến băng tan kể cả ở tầng đất đóng băng vĩnh
    cửu.
    Biến đổi khí hậu sẽ gây ra những tác động sâu sắc đến an ninh lương thực và
    nguồn nước ở cấp khu vực và toàn cầu. Lượng mưa cực đoan và thay đổi sẽ ảnh hưởng
    đến độ khả dụng và nguồn cung cấp nước, cũng như an ninh lương thực và thu nhập từ
    nông nghiệp và sẽ dẫn đến những thay đổi về diện tích canh tác cây lương thực và phi
    lương thực trên khắp thế giới. Tác động của biến đổi khí hậu sẽ làm giảm nguồn nước
    mặt và nước ngầm có khả năng tái tạo ở những vùng khô hạn nhất, làm tăng sự cạnh
    tranh về nước giữa các ngành khác nhau.
    Một khi biến đổi khí hậu làm thay đổi các hệ thống nước – lương thực và chất
    lượng không khí, bệnh tật mới có thể xuất hiện hoặc các căn bệnh hiện tại trở nên phổ
    biến rộng hơn. Tử vong sớm trên toàn cầu do ô nhiễm không khí ngoài trời được cho sẽ
    tăng gấp đôi vào năm 2050. Sốt rét là bệnh truyền nhiễm quan trọng nhất đang trở nên
    trầm trọng hơn do biến đổi khí hậu. Hiện tại, hơn một nửa dân số thế giới (3,7 tỷ) sống
    trong những khu vực có nguy cơ cao. Con số này dự kiến sẽ tăng lên 5,7 tỷ người vào
    năm 2050. Phần lớn dân số sống trong các khu vực có nguy cơ cao (như các vùng nóng
    ấm là nơi cư trú phù hợp của loài muỗi gây bệnh sốt rét) sẽ ở Châu Á (3,2 tỷ) và Châu
    Phi (1,6 tỷ) .
    Số lượng thiên tai liên quan đến thời tiết đã tăng lên trên toàn thế giới trong ba
    thập kỷ qua, đặc biệt là lũ lụt, hạn hán và bão. KH&CN sẽ đóng một vai trò quan trọng
    trong việc giám sát các hệ sinh thái và quản lý thiên tai. Các cơ quan khí tượng thuỷ
    văn quốc gia phụ trách các hệ thống cảnh báo sớm sẽ ngày càng phải dựa vào các dữ
    liệu vệ tinh, bổ sung cho các hệ thống radar trên mặt đất, để duy trì quan trắc liên tục
    thời tiết toàn cầu và cảnh báo hiệu quả hơn. Cụ thể, việc triển khai các chòm vệ tinh
    nano và micro có thể hỗ trợ giám sát liên tục các khu vực địa lý rộng hơn, bao gồm cả
    đại dương, dẫn đến cải thiện dự báo. Các ngành xây dựng và vận tải sẽ sử dụng các

    10

  12. nguyên liệu và công nghệ tiên tiến để thích nghi với các điều kiện môi trường cực đoan
    mới.
    Đa dạng sinh học toàn cầu bị đe dọa
    Nhiệt độ và chế độ mưa thay đổi ảnh hưởng đến sự phân bố các loài và các hệ sinh
    thái. Khi nhiệt độ tăng, tầm phân bổ của các hệ sinh thái và các loài có khuynh hướng
    chuyển dịch sang các cực hoặc các vùng cao hơn. Sự di trú như vậy làm cho một số hệ
    sinh thái thu hẹp lại trong khi một số khác lại mở rộng. Mất đa dạng sinh học là một
    thách thức lớn về môi trường. Mặc dù một số nơi thành công, nhưng đa dạng sinh học
    vẫn đang suy giảm trên toàn cầu và tổn thất này được dự báo sẽ tiếp tục. Khoảng 20%
    loài động vật có vú và chim, gần 40% loài bò sát, 1/3 loài động vật lưỡng cư và một
    phần tư loài cá biển đã nằm trong danh sách các loài bị đe doạ.
    Hầu hết các vùng giàu đa dạng sinh học đều nằm ở các nước đang phát triển. Các
    nước có thu nhập thấp dự báo sẽ phải chịu 39% tổn thất đa dạng sinh học trên toàn cầu,
    các quốc gia BRIICS là 36% và các nước OECD là 25% vào năm 2050. Thiệt hại có
    thể đạt mức cao ở Nhật Bản và Hàn Quốc, Châu Âu, Nam Phi và Indonesia. Một số
    quốc gia ở Trung Âu đang đứng trước đe dọa đa dạng sinh học khắc nghiệt. Ngoài ra,
    các nước đang phát triển có xu hướng phải gánh chịu phần lớn chi phí tổn thất đa dạng
    sinh học vì họ thường phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên để phát triển kinh tế nhiều
    hơn so với các nước phát triển.
    Xử lý chất thải và tiền đề của kinh tế tuần hoàn
    Quản lý chất thải yếu kém có tác động tiêu cực đến sức khoẻ con người và môi
    trường, ví dụ: ô nhiễm đất và nước, chất lượng không khí, sử dụng đất và cảnh quan.
    Trong hai thập kỷ qua, các nước OECD đã nỗ lực rất nhiều để hạn chế sự phát sinh chất
    thải và tốc độ gia tăng chất thải đô thị đã giảm từ 1,24% trong giai đoạn 1995-2004
    xuống còn 0% trong giai đoạn từ 2005-2014. Hiện tại, trung bình một người sống ở khu
    vực OECD tạo ra 520 kg chất thải mỗi năm. Lượng chất thải được đưa trở lại nền kinh
    tế thông qua tái chế đang tăng lên. Tiền xử lý cơ học và sinh học đang ngày càng được
    sử dụng để nâng cao tốc độ khôi phục và hiệu suất đốt cháy. Các nguyên tắc chỉ đạo
    của chính phủ khuyến khích hoặc yêu cầu các nhà sản xuất chịu trách nhiệm về sản
    phẩm của mình sau bán hàng, ví dụ: EU đã đưa ra các mục tiêu tái chế cho tất cả các
    quốc gia thành viên. Việc đổ rác thải thành phố đã bị cấm ở một số nước. Tỷ lệ tái chế
    đối với các vật liệu như thủy tinh, thép, nhôm, giấy và plastic đang gia tăng (lên đến
    80% trong một số trường hợp).
    Có thể nhận thấy được sự chuyển đổi theo hướng “kinh tế tuần hoàn” (circular
    economy). Các nước OECD đang tăng cường nỗ lực để chuyển sang một nền kinh tế sử
    dụng hiệu quả tài nguyên hơn và cho thấy những dấu hiệu tách biệt tiêu thụ nguyên liệu
    với tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế tuần hoàn hàm ý một sự thay đổi có tính hệ thống,
    chuyển sang một xã hội không có hoặc có ít chất thải, hiệu quả tài nguyên và có những
    thay đổi lớn trong các phương pháp sản xuất và tiêu dùng. Một nền kinh tế tuần hoàn sẽ
    11
  13. tạo ra những cơ hội kinh tế to lớn khi các dịch vụ và mô hình kinh doanh mới xuất
    hiện, mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng và giữa sản phẩm và người sử
    dụng nó trải qua quá trình thay đổi căn bản. Việc sửa chữa, tái sử dụng, tái phân phối
    và tái sản xuất sẽ tăng lên, cũng như tỷ lệ tái chế; Và công nghệ vật liệu sẽ phát triển và
    cho phép chuyển đổi từ nguyên liệu phi tái tạo sang sản xuất và sử dụng các vật liệu có
    khả năng tái tạo cao trong các sản phẩm hoàn chỉnh.
    1.4. Toàn cầu hóa
    Toàn cầu hoá – dưới dạng các dòng vốn, hàng hoá và nhân lực quốc tế – tạo điều
    kiện cho việc phổ biến kiến thức, công nghệ và thực tiễn kinh doanh mới. Những động
    thái này ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự đổi mới sáng tạo và tăng năng suất lâu dài. Ngoài
    ra, sự thay đổi về công nghệ, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền
    thông (ICT) và vận tải, đã tạo điều kiện và thậm chí đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa.
    Xu hướng toàn cầu hoá ngày càng tăng có thể tiếp tục có những ảnh hưởng đáng kể
    trong 10-15 năm tới, mặc dù các xu hướng ngược, như tăng cường bảo hộ, có thể gây
    phá vỡ và dẫn đến gián đoạn.
    Chuỗi giá trị thương mại và toàn cầu
    Hội nhập thương mại toàn cầu được dự báo sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai,
    mặc dù ở tốc độ chậm hơn so với những năm gần đây. Thương mại dịch vụ sẽ tiếp tục
    phát triển nhanh hơn thương mại hàng hoá, một phần do sự liên tục tự do hóa ngành,
    một phần còn do tỷ trọng dịch vụ trong GDP gia tăng và một phần là do các xu hướng
    tiêu dùng bị thúc đẩy bởi dân số già hóa. Các mô hình thương mại sẽ phản ánh sự thay
    đổi về trọng lượng cán cân kinh tế toàn cầu, với xuất khẩu từ các nền kinh tế ngoài
    OECD được cho sẽ tăng từ chỗ chiếm 35% xuất khẩu thế giới năm 2012 lên 56% vào
    năm 2060.
    Sự tăng trưởng nhanh chóng của các chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) là một động lực
    quan trọng của quá trình toàn cầu hóa kinh tế trong những thập kỷ qua và kết quả là sự
    liên kết ngày càng tăng giữa các quốc gia. Các GVC ngày càng trở nên dài và phức tạp
    hơn theo thời gian với sản xuất trải rộng trên số các quốc gia tham gia ngày càng tăng,
    kể cả ở các nền kinh tế mới nổi. Sự gia tăng phân chia sản xuất quốc tế trong các GVC,
    với sự trợ giúp của dịch vụ hậu cần (cùng với sự hỗ trợ kỹ thuật số), viễn thông và dịch
    vụ kinh doanh, đang cho thấy các hoạt động sử dụng nhiều lao động được chuyển giao
    từ các nước OECD sang các nền kinh tế có chi phí lao động thấp. Nhưng mức độ
    chuyển hướng này sẽ tiếp tục trong tương lai hay không vẫn còn là điều không chắc
    chắn. Tăng lương, như ở miền đông Trung Quốc và tự động hóa gia tăng đang làm xói
    mòn lợi thế về chi phí lao động tại các nền kinh tế mới nổi, trong khi các GVC phức
    tạp và dài đang đặt các công ty đứng trước rủi ro cung ứng gia tăng trong trường hợp
    những cú sốc bất lợi.
    Cùng lúc, các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc cũng đang cố gắng chuyển
    sang các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn, làm thay đổi vị trí của họ – cả đầu dòng
    12
  14. và cuối dòng trong các GVC. Đổi mới sáng tạo là chìa khóa để nâng cao năng lực.
    Năng lực NC&PT công nghiệp đã phát triển nhanh ở các khu vực này và sự gia tăng
    không ngừng về cường độ NC&PT cho thấy cạnh tranh toàn cầu trong lĩnh vực tài sản
    NC&PT. Nói rộng hơn, tầm quan trọng ngày càng tăng của các GVC có thể dẫn đến sự
    tập trung mạnh hơn vào một tập hợp các nhiệm vụ cụ thể mà các công ty của một quốc
    gia có lợi thế so sánh. Tùy thuộc vào cấu trúc quản trị của GVC, điều này có thể dẫn
    đến sự gia tăng tập trung năng lực đổi mới trong số các tổ chức quốc gia.
    Công ty đa quốc gia
    NC&PT và các hoạt động đổi mới sáng tạo đang ngày càng trở nên mang tính toàn
    cầu, nhờ vào việc thay đổi tổ chức các chức năng bên trong công ty đa quốc gia
    (MNE), các công ty này đang quốc tế hóa các hoạt động NC&PT với tốc độ nhanh hơn
    và trên quy mô lớn hơn trước đây. Các công ty chi nhánh có sự kiểm soát của nước
    ngoài (Foreign-controlled affiliates) đóng một vai trò quan trọng trong NC&PT quốc
    nội ở một số nước OECD. Năm 2013, các công ty này chiếm hơn một phần năm tổng
    NC&PT của doanh nghiệp tại đa số các quốc gia OECD. Các phát minh được cấp bằng
    sáng chế cũng thường là kết quả của sự hợp tác giữa các nhà phát minh từ các nền kinh
    tế khác nhau. Tính trung bình, đồng phát minh quốc tế tăng 27% trong giai đoạn
    2000-03 và 2010-13.
    Các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trên thế giới đã tăng gấp ba lần kể
    từ giữa những năm 1990, gia tăng với tốc độ nhanh hơn so với thương mại quốc tế về
    hàng hoá và dịch vụ. Mặc dù hầu hết các dòng chảy FDI vẫn diễn ra trong khối OECD,
    nhưng cảnh quan đã thay đổi đáng kể trong thập kỷ qua. Cho đến năm 2003, có khoảng
    95% dòng FDI xuất phát từ các nước OECD, nhưng trong thập kỷ qua tỷ lệ này đã
    giảm xuống dưới 80% do gia tăng đầu tư nước ngoài của các nền kinh tế mới nổi. FDI
    đổ vào có thể mang đến cho các nước nhận cơ hội tiếp cận các công nghệ mới, tạo ra
    các cơ hội việc làm và sự lan tỏa tri thức cho các công ty trong nước.
    Tiêu chuẩn đóng một vai trò quan trọng trong đổi mới sáng tạo, tạo nên sự thống
    nhất trên toàn ngành về các quy tắc, thực hành, chuẩn đo hay các quy ước được sử
    dụng trong công nghệ, thương mại và xã hội nói chung. Công tác tiêu chuẩn hóa ngày
    càng được tiến hành trên phạm vi quốc tế, trong một nền kinh tế toàn cầu hóa, tính
    tương thích và những ranh giới chung xuyên biên giới đang ngày càng trở nên quan
    trọng. Các công ty đóng vai trò chính trong thiết lập các tiêu chuẩn quốc tế sẽ có lợi thế
    khi làm vậy do các tiêu chuẩn mới phù hợp với các tiêu chuẩn và/hoặc các đặc điểm
    của cơ sở sản xuất của họ.
    Các luồng dữ liệu số toàn cầu
    Không chỉ có các dòng chảy hàng hoá và tài chính gia tăng trong hai thập kỷ qua,
    mà cả các luồng dữ liệu thương mại, thông tin, tìm kiếm, video, truyền thông và lưu
    lượng dữ liệu nội bộ cũng tăng lên. Độ rộng dải tần xuyên biên giới đã tăng 45 lần kể
    từ năm 2005 và được dự đoán sẽ tăng thêm 9 lần trong 5 năm tiếp theo. Các nền tảng
    13
  15. kỹ thuật số toàn cầu đang giúp giảm chi phí thông tin liên lạc và giao dịch qua biên
    giới, qua đó làm giảm quy mô tối thiểu để các doanh nghiệp có thể hoạt động toàn cầu
    và cho phép các doanh nghiệp nhỏ trở thành “các công ty đa quốc gia nhỏ”. Các nền
    tảng kỹ thuật số toàn cầu cũng giúp các cá nhân hình thành các kết nối xuyên biên giới,
    cho phép họ học hỏi, tìm việc làm, giới thiệu tài năng của mình và xây dựng mạng lưới
    cá nhân. Khoảng 900 triệu người có kết nối quốc tế trên phương tiện truyền thông xã
    hội và 360 triệu người tham gia vào thương mại điện tử qua biên giới, các con số đang
    tăng lên nhanh chóng.
    Toàn cầu hoá thương mại bất hợp pháp
    Tự do hóa thương mại và chi phí của chuỗi cung ứng xuyên lục địa tương đối thấp
    đã làm thay đổi khối lượng, chủng loại và phạm vi địa lý của hàng hoá được buôn bán
    ở các thị trường bất hợp pháp. Lợi nhuận của tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia ước
    tính đạt 870 tỷ USD, tương đương 1,5% GDP toàn cầu. Mức độ và tính nghiêm trọng
    của những tác động tiêu cực về xã hội, kinh tế và thậm chí cả về mặt chính trị cũng đã
    tăng lên. Ví dụ, buôn bán ma túy, vũ khí và đặc biệt là buôn người trái phép xuyên
    quốc gia có những tác động xói mòn xã hội một cách rõ ràng. Thương mại hàng giả bất
    hợp pháp gây suy yếu mô hình đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, ví dụ như trong
    lĩnh vực dược phẩm. Buôn bán động vật hoang dã phá huỷ đa dạng sinh học và có thể
    gây ra sự lây lan bệnh động vật truyền sang người. Việc sử dụng hối lộ trong thương
    mại bất hợp pháp và ảnh hưởng phi pháp cũng làm suy yếu sự quản lý và có thể đe dọa
    sự ổn định chính trị.
    Mạng lưới hoạt động tội phạm quốc tế phụ thuộc vào và cũng hưởng lợi từ nhiều
    công nghệ và đổi mới sáng tạo mà các công ty luật tư nhân khai thác nhằm nâng cao
    khả năng cạnh tranh của mình. Internet là một ví dụ nổi bật, với việc di trú các hoạt
    động tội phạm trực tuyến làm tăng mức độ đe dọa đối với an ninh kỹ thuật số. Một nền
    kinh tế ngầm tội phạm mạng đã xuất hiện, với sự hình thành các nhóm tổ chức xuyên
    gia có các kỹ năng kỹ thuật đổi mới đáng kể để thực hiện các hành vi đánh cắp tài
    chính, thông tin và danh tính bằng cách sử dụng các công cụ kỹ thuật ngày càng tinh vi,
    một số đã được tự động hóa và triển khai trên diện rộng để đạt được hiệu quả tối đa.
    Toàn cầu hoá chính trị
    Trong tương lai gần, Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong các vấn đề quốc gia
    và quốc tế, nhưng sự gia tăng liên kết quốc tế giữa một loạt các chủ thể liên quan, bao
    gồm các công ty đa quốc gia, các phong trào xã hội dân sự toàn cầu và các thành phố,
    có nghĩa là môi trường để giải quyết các vấn đề toàn cầu đang thay đổi. Đồng thời, sự
    phát triển kinh tế mạnh mẽ ở châu Á trong những thập kỷ gần đây cho thấy một sự
    chuyển đổi mang tính lịch sử về quyền lực kinh tế và địa chính trị, điều đó đặt ra câu
    hỏi về tính hợp pháp của nhiều tổ chức đa phương tồn tại sau Thế chiến thứ II. Việc
    thiếu đại diện vẫn là mối quan tâm lớn, nhất là trong các tổ chức tài chính quốc tế và đã
    thúc đẩy một số nền kinh tế mới nổi thành lập các cơ chế song phương và đa phương

    14

  16. (ví dụ như các ngân hàng phát triển, khối thương mại khu vực và các nhóm như
    BRICS). Các chính sách STI của quốc gia ngày càng được xây dựng trong các điều
    kiện toàn cầu, phản ánh bản chất toàn cầu của nhiều vấn đề và sự toàn cầu hóa thị
    trường và sản xuất. Do đó, việc quản lý xuyên biên giới ngày càng trở nên quan trọng
    đối với STI, đặc biệt trong việc giải quyết các “thách thức lớn” toàn cầu như biến đổi
    khí hậu và những mối đe doạ đến sức khoẻ và sự đầy đủ nguồn lực. Tuy nhiên, các
    khuôn khổ quốc tế trong nhiều lĩnh vực STI vẫn còn mới mẻ và bị ảnh hưởng bởi một
    số rào cản, đặc biệt là những khó khăn trong việc điều phối các khoản tài trợ tập thể
    thông qua các chế độ tài trợ quốc gia. Các quốc gia cũng quan ngại về việc phân bổ lợi
    ích của việc đầu tư công vào nghiên cứu và đổi mới sáng tạo do sự nổi lên của STI như
    một trọng tâm của chính sách công nghiệp quốc gia.
    Di cư quốc tế thông qua giáo dục đại học
    Di chuyển lao động quốc tế các cá nhân có trình độ học vấn cao ở các giai đoạn
    khác nhau trong sự nghiệp phát triển và chuyên môn cá nhân là một động lực quan
    trọng cho việc lưu thông tri thức trên toàn thế giới. Giai đoạn quan trọng là giáo dục
    trình độ đại học, khi sinh viên học tập hoặc dành thời gian ở các cơ sở đào tạo đại học
    nước ngoài, họ sẽ xây dựng mối liên kết với các cá nhân khác và đạt được những năng
    lực để có thể chuyển qua các nơi khác trong suốt thời gian làm việc của họ. Số sinh
    viên du học nước ngoài đã tăng hơn năm lần kể từ giữa những năm 1970. Con số này
    đạt khoảng 0,8 triệu trên toàn thế giới vào năm 1975 và đã tăng lên hơn 4 triệu vào năm
    2010. Sinh viên du học nước ngoài tập trung ở một vài quốc gia, với gần một nửa đến
    năm quốc gia hàng đầu (Hoa Kỳ, Anh, Đức, Pháp và Úc). Tuy nhiên, các điểm đến
    đang phát triển nhanh nhất như châu Mỹ Latinh và vùng Caribê, châu Đại Dương và
    châu Á, phản ánh sự quốc tế hoá các trường đại học đang tăng lên tại một số nước đang
    phát triển. Trong thời gian tới, số sinh viên du học ở nước ngoài có thể tăng gấp đôi,
    lên 8 triệu vào năm 2025. Tỷ lệ tăng trưởng nhu cầu giáo dục đại học quốc tế trung
    bình hàng năm trong giai đoạn 2005-2025 được dự đoán sẽ vượt quá 3% ở châu Phi,
    Trung Đông, châu Á, Trung Mỹ và Nam Mỹ. Các quốc gia gửi sinh viên quốc tế hàng
    đầu vào năm 2025 dự đoán sẽ là Trung Quốc, Ấn Độ, Đức, Hàn Quốc, Ả-rập Xê-út,
    Nigeria, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Pháp và Kazakhstan và số sinh viên đến từ Trung Quốc
    và Ấn Độ dự đoán sẽ chiếm khoảng một phần ba tổng số này.
    1.5. Vai trò của chính phủ
    Thay đổi vai trò phát triển kinh tế của chính phủ
    Về mặt lịch sử, nhiều nước OECD thực hiện các chính sách công nghiệp can thiệp
    cao, nhà nước thường sở hữu các phương tiện sản xuất trong một số ngành công nghiệp
    chủ chốt hoặc ủng hộ một vài “nhà vô địch quốc gia” tư nhân. Kiểu chính sách này đã
    không còn được ưa chuộng rộng rãi từ những năm 1970 và được thay thế bằng các
    chính sách có tính chất ngang bằng hơn, tập trung vào việc cải thiện các điều kiện
    khung cho tất cả các doanh nghiệp. Các điều kiện này liên quan đến việc thực thi các

    15

  17. quy tắc cạnh tranh, mở cửa thương mại, chuẩn bị sẵn sàng các kỹ năng (giáo dục và
    đào tạo nghề) v.v.. Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng kinh tế gần đây, nhiều nước
    OECD đã thể hiện mối quan tâm mới về chính sách công nghiệp. Khả năng mất năng
    lực chế tạo công nghiệp và sự cạnh tranh gia tăng từ các nền kinh tế mới nổi cũng góp
    phần làm tăng mối quan tâm, cùng với đó là triển vọng về “cuộc cách mạng sản xuất
    mới” được thúc đẩy bởi KH&CN.
    Cách tiếp cận mới này khác với các thế hệ chính sách công nghiệp trước đây. Nó
    bao gồm việc tạo điều kiện và phối hợp các vai trò lãnh đạo và các phương thức mới để
    cho chính phủ và ngành công nghiệp cùng hợp tác với nhau, đồng thời tránh được sự
    ảnh hưởng quá mức từ những giới có thế lực. Các mối liên kết có ý nghĩa quan trọng
    đối với đổi mới, mặc dù không phải lúc nào cũng hoạt động hiệu quả, điều đó thúc đẩy
    các chính phủ hỗ trợ cho hợp tác nghiên cứu, cũng như chia sẻ kiến thức giữa các công
    ty hoặc giữa công ty và trường đại học. Hỗ trợ phát triển công nghệ cũng là “thượng
    nguồn” từ trọng tâm “chọn người chiến thắng” trước đây, chính phủ hỗ trợ các công
    nghệ đa dụng để không ngăn cản cạnh tranh hạ nguồn hoặc không vi phạm các quy
    định về trợ cấp Nhà nước trong các công ước quốc tế. Sự hỗ trợ cũng ngày càng trở nên
    chú trọng vào thách thức khi các chính phủ muốn tìm cách chuyển hướng sự thay đổi
    công nghệ từ các quỹ đạo phụ thuộc lối mòn chuyển sang các công nghệ có lợi hơn cho
    xã hội và môi trường và thúc đẩy đầu tư STI tư nhân theo hướng này.
    Thay đổi công nghệ, đặc biệt là kỹ thuật số hóa, đặt ra cho các chính phủ những
    thách thức mới để quản lý chi phí cho đổi mới sáng tạo. Các nhà hoạch định chính sách
    cần triển khai một loạt các chính sách, một mặt để cho phép các công ty đổi mới sáng
    tạo đầu tư vào các lĩnh vực đổi mới sáng tạo hàng đầu và tiếp cận nhân công có kỹ
    năng, tài chính và thị trường, trong khi mặt khác còn phải hỗ trợ sự phổ biến đổi mới
    sáng tạo trong phần còn lại của nền kinh tế, qua đó cho phép tất cả các công ty đều
    được hưởng lợi từ những đổi mới sáng tạo này. Các chính phủ cũng đang ngày càng tự
    đổi mới sáng tạo, tiến hành các thực nghiệm và dựa nhiều vào các công nghệ số để xây
    dựng chính sách, thực hiện và đánh giá.
    Vai trò của chính phủ trong hỗ trợ nghiên cứu
    Nghiên cứu công do nhà nước tài trợ đóng vai trò quan trọng trong các hệ thống
    đổi mới sáng tạo và các quá trình ra quyết định. Đây là một nguồn tạo ra tri thức mới,
    đặc biệt là trong các lĩnh vực công ích, chẳng hạn như khoa học cơ bản hoặc các lĩnh
    vực liên quan đến những thách thức xã hội và môi trường mà các doanh nghiệp không
    phải lúc nào cũng có điều kiện hoặc có động cơ để đầu tư. Hơn nữa, các chính phủ
    đóng một vai trò cơ bản trong việc đảm bảo nền tự chủ khoa học. Họ cũng hỗ trợ từ
    10% -20% chi tiêu NC&PT doanh nghiệp ở hầu hết các nước OECD. Nguyên nhân thất
    bại thị trường của việc hỗ trợ công này là ở chỗ các công ty có xu hướng đầu tư không
    đủ cho NC&PT do chi phí và tính không chắc chắn, thời gian cần thiết để thu được lợi
    nhuận từ đầu tư và khả năng các đối thủ cạnh tranh có thể nắm bắt được hiệu ứng lan
    tỏa tri thức (do tính chất không cạnh tranh và có thể loại trừ một phần của NC&PT).
    16
  18. Tất cả những lý do để hỗ trợ nghiên cứu công và NC&PT doanh nghiệp chắc chắn sẽ
    vẫn có cơ sở trong 10-15 năm tới. Câu hỏi đặt ra là liệu các chính phủ có đủ khả năng
    để đáp ứng các đầu tư cần thiết hay không.
    Khủng hoảng tài chính Nhà nước
    Áp lực ngân khố dường như sẽ tiếp tục tăng ở nhiều quốc gia do dân số phát triển
    bất lợi, áp lực chi tiêu phát sinh do gia tăng đầu tư cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục và chi
    trả lương hưu. Trung bình trong khối OECD, chi tiêu xã hội công đã tăng từ hơn 15%
    GDP lên gần 22% GDP trong giai đoạn từ 1980-2014. Nợ chính phủ cũng ngày càng
    tăng, đặc biệt là kể từ cuộc khủng hoảng tài chính và nhiều nước gần đây đã thông qua
    các biện pháp thắt chặt để giảm bớt hoặc thậm chí đảo ngược tỷ lệ nợ/GDP cao. Đồng
    thời, toàn cầu hóa đang mở ra cơ hội cho các công ty đa quốc gia có thể giảm đáng kể
    các khoản thuế họ phải trả. Việc sử dụng các thoả thuận hợp pháp có thể làm cho lợi
    nhuận biến mất vì mức thuế cao hoặc lợi nhuận có thể được chuyển sang những nơi có
    mức thuế thấp hoặc miễn thuế dẫn đến tổn thất thu nhập thuế hằng năm ước tính trong
    khoảng từ 100 tỷ USD đến 240 tỷ USD, tương đương từ 4% đến 10% tiền thu thuế
    doanh nghiệp toàn cầu. Mặc dù với áp lực này, các chính phủ vẫn là những nhà đầu tư
    lớn nhất cho NC&PT công, tuy vậy khả năng tài trợ cho các hoạt động STI ở mức hiện
    tại có thể bị tổn hại. Dữ liệu mới nhất về chi tiêu chung cho NC&PT trong khu vực
    OECD cho thấy có sự sụt giảm nhẹ trong tài trợ của chính phủ, đây có thể là “tín hiệu
    yếu” của xu thế chi tiêu công trong tương lai.
    Khủng hoảng lòng tin vào chính phủ
    Sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, niềm tin của công chúng vào chính phủ và
    các thể chế bị xói mòn. Có ý kiến cho rằng các chính phủ đã không đáp ứng đầy đủ
    trong thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng hoặc không giải quyết một cách thỏa đáng hậu
    quả của nó. Sự thay đổi công nghệ đã mang lại cuộc cách mạng trong sản xuất, nhưng
    cũng ảnh hưởng đến việc làm và làm phát sinh những rủi ro mới liên quan đến bảo mật
    riêng tư và tội phạm mạng. Tham nhũng, cho dù mới chỉ cảm nhận hay đã hiện hữu,
    thất nghiệp cao, bất bình đẳng về thu nhập tăng và mối lo rằng hệ thống giáo dục đã lỗi
    thời và không cung cấp các cơ hội bình đẳng, tất cả đều dẫn đến niềm tin rằng các
    chính phủ không thể bảo vệ lợi ích tốt nhất cho công dân mình. Khủng hoảng niềm tin
    cũng có liên quan đến chính sách STI, vì NC&PT vẫn tiếp tục được tiến hành trong khu
    vực công. Hơn nữa, các chính phủ được kỳ vọng sẽ đóng vai trò quy định và điều tiết
    quan trọng trong quản lý nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, như chứng nhận sự an toàn
    của sản phẩm mới, đó là vai trò khó thực hiện trong một thế giới bất định do sự thay
    đổi công nghệ đang trở nên toàn cầu hóa và diễn ra nhanh chóng.
    Bất ổn định gia tăng trong hệ thống quốc tế
    Một loạt các xu hướng diễn ra và phát triển ở cấp độ toàn cầu, ví dụ như tầm quan
    trọng ngày càng tăng của các nước mới nổi và các nước đang phát triển; sự dịch chuyển
    trọng tâm kinh tế về phía châu Á và sự suy giảm kèm theo về trọng lượng kinh tế tương
    17
  19. đối của Bắc Mỹ và châu Âu; và sự nổi lên của các chuỗi giá trị toàn cầu – đã chuyển
    thành một sự chuyển dịch sang một thế giới đa cực hơn. Sự thay đổi này đang tạo ra
    những bất định ngày càng tăng trong hệ thống quốc tế.
    Hai thập niên vừa qua đã chứng kiến sự giảm dần về số lượng (và tính khốc lệt)
    của các cuộc xung đột vũ trang nội bộ trên toàn thế giới – từ mức đỉnh điểm vào năm
    1994 khi gần ¼ các quốc gia trên thế giới bị lôi kéo vào những cuộc xung đột dân sự,
    nay tỷ lệ này đã xuống mức dưới 15%, phần lớn là kết quả của sự cải thiện rộng rãi một
    loạt các yếu tố, như trình độ giáo dục, đa dạng hóa kinh tế và phát triển dân số thuận
    lợi. Số các cuộc xung đột giữa các tiểu bang mặc dù dao động, cũng có xu hướng giảm,
    chủ yếu là do sự áp dụng các quy tắc toàn cầu chống chiến tranh và còn do liên kết kinh
    tế và tài chính chặt chẽ hơn giữa các quốc gia.
    Các quan điểm trái chiều khi dự báo về triển vọng xung đột vũ trang dài hạn. Ví
    dụ, Hegre và Nygard (2014)1 dự đoán xu hướng giảm này sẽ tiếp tục, với tỷ lệ các nước
    tham gia vào các cuộc đấu tranh vũ trang nội bộ giảm từ 15% xuống còn 12% vào năm
    2030 và 10% vào năm 2050 và các cuộc xung đột tập trung chủ yếu ở tiểu vùng Sahara
    châu Phi và Nam Á. Các quan điểm khác ít lạc quan hơn. Hội đồng Tình báo Quốc gia
    Hoa Kỳ cho rằng nguy cơ xung đột giữa các tiểu bang đang gia tăng do những thay đổi
    trong hệ thống quốc tế, nhưng không cảnh báo về xung đột với mức độ một cuộc chiến
    tranh thế giới với sự tham gia của tất cả các cường quốc. Ở nhiều quốc gia, phần lớn
    các khoản tài trợ công cho NC&PT được cấp cho các công ty trong ngành công nghiệp
    quốc phòng để phát triển các thiết bị quân sự và các ứng dụng dân sự có tiềm năng. Bất
    kỳ một sự gia tăng căng thẳng quốc tế đều có thể nhận thấy tỷ trọng này tăng lên.
    Tầm quan trọng gia tăng của các thực thể phi nhà nước
    Các thực thể phi nhà nước như các công ty đa quốc gia, các tổ chức phi chính phủ,
    quỹ tài sản có chủ quyền, các siêu đô thị, các viện nghiên cứu và các tổ chức tầm cỡ
    toàn cầu đều được cho là sẽ có vai trò ảnh hưởng ngày càng tăng trong những thập kỷ
    tới. Trong một số trường hợp, họ thậm chí có thể là công cụ để thành lập các liên minh
    và liên kết mới, với sự hỗ trợ công rộng rãi để giải quyết một số thách thức toàn cầu mà
    thế giới phải đối mặt, như đói nghèo, môi trường, an ninh v.v.. Trong lĩnh vực STI, các
    doanh nghiệp vẫn là những nhà tài trợ chính cho NC&PT và là nơi tập trung hầu hết
    các hoạt động đổi mới sáng tạo. Các chính phủ ngày càng hợp tác với các doanh
    nghiệp, các tổ chức phi chính phủ và các nhà từ thiện để hỗ trợ STI, điều này sẽ ảnh
    hưởng đến chương trình nghị sự nghiên cứu công.
    Các thành phố, đặc biệt là những thành phố lớn nổi lên như những thực thể (dưới
    quốc gia) quan trọng. Các khu đô thị là những động lực tăng trưởng chính. Các thành
    phố và khu vực đã và đang hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và đổi mới trong phạm vi

    1
    Hegre, H. and H.M. Nygard (2014), “Peace on Earth? The future of internal armed conflict”, Conflict Trends, 01-2014, Peace
    Research Institute.

    18

  20. giới hạn của mình, số lượng các chiến lược đổi mới được xây dựng đang tăng lên và xu
    hướng này vẫn sẽ tiếp diễn.
    1.6. Kinh tế, việc làm và năng suất
    Tăng trưởng năng suất tương lai
    Tăng trưởng toàn cầu ước tính sẽ chậm lại từ chỗ đạt 3,6% trong giai đoạn 2010-
    20 xuống còn 2,4% trong giai đoạn 2050-60. Do dân số già hoá, tăng trưởng thu nhập
    sẽ ngày càng được thúc đẩy bởi đổi mới sáng tạo và đầu tư vào kỹ năng. Tuy nhiên,
    tăng năng suất lao động đã chậm lại tại nhiều nước OECD trong hai thập kỷ qua, điều
    này chủ yếu phản ánh tốc độ tăng năng suất yếu tố tổng chậm lại. Quan điểm bi quan
    cho rằng đây là một hiện tượng lâu dài, do sự suy giảm ở tốc độ tiến bộ công nghệ.
    Theo quan điểm này, các loại hình đổi mới diễn ra trong nửa đầu thế kỷ 20 (ví dụ như
    điện khí hóa) có ý nghĩa lớn hơn nhiều so với bất cứ điều gì diễn ra sau đó (ví dụ như
    ICT), hoặc trong tương lai. Mặt khác, các quan điểm lạc quan về công nghệ cho rằng
    tốc độ cơ bản của tiến bộ công nghệ không chậm lại và cuộc cách mạng công nghệ
    thông tin sẽ tiếp tục làm thay đổi đáng kể các nền kinh tế tiên phong.
    Phân tích gần đây của OECD về xu thế năng suất cho thấy nguyên nhân chính làm
    năng suất tăng chậm lại không phải do tốc độ đổi mới sáng tạo tại hầu hết các công ty
    tiên tiến nhất trên toàn cầu chậm lại, mà là do tốc độ phổ biến đổi mới sáng tạo trong
    toàn bộ nền kinh tế bị chậm lại. Kể từ cuộc khủng hoảng tài chính, đầu tư vào vốn hữu
    hình (máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng vật chất) liên tục yếu cũng góp phần làm chậm
    tăng trưởng năng suất lao động. Nhưng điều đáng lo ngại hơn đó là sự chậm lại kể từ
    đầu những năm 2000 trong tích lũy nguồn vốn tri thức, đây là cơ sở cho đổi mới sáng
    tạo và việc áp dụng sau đó.
    Đầu tư dài hạn đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng dựa
    trên đổi mới sáng tạo và tạo việc làm. Hầu hết đầu tư công ty được tiến hành dựa vào
    lợi nhuận giữ lại, sự trông cậy vào tài chính bên ngoài tương đối nhỏ. Trong những
    năm gần đây, các công ty đã phân bổ một phần khá lớn lợi nhuận giữ lại, được hậu
    thuẫn nhờ cho vay với lãi suất thấp, cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức và mua lại
    cổ phiếu. Sự phân bố thu nhập như vậy làm giảm các khoản đầu tư “tăng trưởng” dài
    hạn của các công ty. Do đó, một thách thức chính sách chủ yếu đó là thiết lập các biện
    pháp khuyến khích đầu tư dài hạn để bù đắp cho những xu hướng trong hệ thống tài
    chính nhằm đánh giá biên lợi nhuận trên cơ sở ngắn hạn.
    Trọng tâm kinh tế thế giới chuyển dịch sang phía Đông và Nam
    Trọng tâm kinh tế thế giới sẽ chuyển đổi sang phía Đông và Nam trong vòng 50
    năm tới. Đến năm 2030, các nước đang phát triển được dự báo sẽ đóng góp 2/3 tăng
    trưởng toàn cầu và một nửa sản lượng toàn cầu và sẽ là những điểm đến chính của
    thương mại thế giới. Các nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ là những thị
    trường ngày càng quan trọng đối với các doanh nghiệp thuộc nhiều ngành. Tầng lớp
    trung lưu mới đang phát triển nhanh sẽ dẫn đến sự gia tăng tiêu thụ các sản phẩm tiêu
    19

Download tài liệu Tổng luận Các xu hướng lớn toàn cầu tác động đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo File Docx, PDF về máy