[Download] Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo Bộ luật Lao động năm 2019 – Tải về File Docx, PDF

Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo Bộ luật Lao động năm 2019

Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo Bộ luật Lao động năm 2019
Nội dung Text: Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo Bộ luật Lao động năm 2019

Download


Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về việc thành lập của tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp, cũng như về quyền thương lượng tập thể của tổ chức này, các tác giả đưa ra một số kiến nghị.

Bạn đang xem: [Download] Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo Bộ luật Lao động năm 2019 – Tải về File Docx, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải tài liệu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo Bộ luật Lao động năm 2019 File Docx, PDF về máy

Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo Bộ luật Lao động năm 2019

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo Bộ luật Lao động năm 2019

  1. THỰC TIỄN PHÁP LUẬT

    Tổ CHứC ĐẠI DIỆN NGườI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP
    THeO BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NăM 2019

    Nguyễn Thị Hồng Nhung*
    Lê Thị Ngọc Yến**
    *PGS.­TS.­Khoa­Luật,­Trường­Đại­học­Kinh­tế­-­Luật,­ĐHQG-HCM.
    **ThS.­Khoa­Luật,­Trường­Đại­học­Kinh­tế­-­Luật,­ĐHQG-HCM.

    Thông tin bài viết: Tóm tắt:
    Từ khóa: Tổ chức đại diện người Bộ luật Lao động năm 2019 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021,
    lao động, thương lượng tập thể, cho phép người lao động thành lập tổ chức đại diện của người lao động
    Bộ luật Lao động. tại doanh nghiệp, ngoài công đoàn, trên cơ sở phù hợp với các quy định
    quốc tế về lao động và tuân thủ các hiệp định thương mại tự do mới mà
    Lịch sử bài viết: Việt Nam đã tham gia. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật về thành
    lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức này còn chưa cụ thể. Đây là một
    Nhận bài : 21/7/2020
    vấn đề rất mới, chưa từng có tiền lệ trong pháp luật lao động Việt Nam.
    Biên tập : 02/8/2020 Trên cơ sở nghiên cứu, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam
    Duyệt bài : 07/8/2020 về việc thành lập của tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp,
    cũng như về quyền thương lượng tập thể của tổ chức này, các tác giả
    đưa ra một số kiến nghị.

    Article Infomation: Abstract:
    Key words: Representative On November 20, 2019, the XIV National Assembly passed the Labor
    organizations of the employee, Code No. 45/2019/QH14 coming effectively from January 1, 2021. With
    collective bargaining, the Labor this Code, the employees are allowed to set up the representative
    Code. organizations of the employees in enterprises, besides the Trade Union,
    in compliance with international labor regulations. However, the
    Article History: mechanism of establishment and operation of this kind of organization
    has not been detailed in the Labor Code of 2019. On the ground of
    Received : 21 Jul. 2020
    reviews and analysis of the provisions of Vietnam’s law on the
    Edited : 02 Aug. 2020 establishment of the representative organization of the employees at the
    Approved : 07 Aug. 2020 enterprise, as well as on the right to collective bargaining of this
    organization, the authors provide several recommendations.

    T
    heo quy định tại Điều 170 Bộ luật cho phép người lao động trong doanh nghiệp
    Lao động năm 2019 (Bộ LLĐ), có quyền thành lập, gia nhập và tham gia
    người lao động có quyền thành lập, hoạt động của tổ chức của người lao động tại
    gia nhập và hoạt động công đoàn theo quy doanh nghiệp. Đây là một tổ chức rất mới,
    định của Luật Công đoàn. Đây là một quyền độc lập với tổ chức công đoàn cơ sở truyền
    không mới do đã được pháp luật về lao động thống. Bộ LLĐ khẳng định cả công đoàn và
    của Việt Nam ghi nhận cho người lao động các tổ chức đại diện người lao động khác tại
    từ rất lâu. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều này doanh nghiệp đều bình đẳng về quyền và

    44 NGHIÊN CỨU
    LẬP PHÁP Số 17 (417) – T9/2020

  2. THỰC TIỄN PHÁP LUẬT

    nghĩa vụ trong việc đại diện bảo vệ quyền và (EVFTA) và Hiệp định đối tác toàn diện và
    lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP).
    động trong quan hệ lao động1. Như vậy, có thể nói, tại cấp cơ sở nói
    Như vậy, với quy định trên, có thể thấy, chung hay cụ thể là trong doanh nghiệp,
    tổ chức công đoàn và tổ chức của người lao người lao động có thể thành lập, gia nhập và
    động tại doanh nghiệp có sự khác nhau về hoạt động trong hai loại hình tổ chức đại
    bản chất và mục đích. Cụ thể, trong khi diện quyền lợi người lao động: công đoàn
    “Công đoàn là tổ chức chính trị – xã hội rộng và/hoặc4 tổ chức của người lao động tại
    lớn của giai cấp công nhân và của người lao doanh nghiệp. Do có sự khác biệt giữa hai
    động… đại diện cho cán bộ, công chức, viên loại hình tổ chức cũng như quy định còn khá
    chức, công nhân và những người lao động mới đối với loại hình tổ chức đại diện người
    khác (sau đây gọi chung là người lao động), lao động trong Bộ LLĐ, việc nghiên cứu các
    cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, quy định về tổ chức đại diện của người lao
    tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi động tại doanh nghiệp là cần thiết nhằm hiểu
    ích hợp pháp, chính đáng của người lao rõ bản chất, cách thức thành lập và hoạt động
    động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý của loại hình tổ chức này.
    kinh tế – xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, 1. Thành lập tổ chức đại diện người lao
    giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ động tại doanh nghiệp
    chức, đơn vị, doanh nghiệp”2, thì tổ chức đại Về mặt tổ chức, với lịch sử phát triển lâu
    diện người lao động tại doanh nghiệp được đời, Công đoàn tại Việt Nam đã hình thành
    xác định là tổ chức xã hội đơn thuần, chỉ làm một hệ thống tổ chức chặt chẽ từ trung ương
    chức năng đại diện bảo vệ quyền hợp pháp, đến từng đơn vị cơ sở, với Tổng Liên đoàn
    lợi ích chính đáng của người lao động trong Lao động Việt Nam là cấp cao nhất trong hệ
    phạm vi quan hệ lao động3. Cùng với đó, yếu thống Công đoàn Việt Nam, công đoàn các
    tố lịch sử phát triển cũng khiến cho công cấp được chia theo đơn vị hành chính và
    đoàn cơ sở và các tổ chức đại diện người lao theo lĩnh vực ngành nghề, và công đoàn cơ
    động khác có sự khác biệt về hệ thống tổ sở là cấp thấp nhất của tổ chức Công đoàn.
    chức và điều kiện thành lập. Theo quy định của Luật Công đoàn năm
    Ngoài ra, cũng cần lưu ý thêm rằng, việc 2012 (Luật Công đoàn), Công đoàn cơ sở
    cho phép thành lập tổ chức đại diện của được tổ chức trong cơ quan nhà nước, tổ
    người lao động tại doanh nghiệp là một phần chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ
    trong tiến trình sửa đổi pháp luật Việt Nam chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức
    phù hợp với các công ước quốc tế và hiệp xã hội – nghề nghiệp, đơn vị, doanh nghiệp,
    định thương mại tự do mới mà Việt Nam đã tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy
    tham gia; trong đó có Hiệp định tự do định của pháp luật về lao động, cơ quan, tổ
    thương mại Việt Nam – Liên minh châu Âu chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động

    1 Khoản 3, Điều 170, Bộ luật Lao động năm 2019.
    2 Điều 1 Luật Công đoàn năm 2012.
    3 Bảo Yến, “Quy định về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế”,
    trên http://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=40906, truy cập ngày
    10/5/2020.
    4 Bộ luật Lao động năm 2019 không có quy định cấm người lao động cùng lúc tham gia hai tổ chức này, cũng
    như Bộ luật cũng không hạn chế số lượng tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp.
    NGHIÊN CỨU
    Số 17 (417) – T9/2020 LẬP PHÁP 45

  3. THỰC TIỄN PHÁP LUẬT

    trên lãnh thổ Việt Nam5. Trong khi đó, theo Ngoài ra, cũng theo Điều luật này, Ban
    quy định của Bộ LLĐ, các tổ chức đại diện lãnh đạo của tổ chức đại diện người lao động
    người lao động khác chỉ được thành lập ở do thành viên của tổ chức đó bầu ra. Ban
    cấp cơ sở, tức tương đương với cấp thấp nhất lãnh đạo là cơ quan quan trọng của tổ chức
    của hệ thống tổ chức công đoàn. để dẫn dắt các hoạt động bảo vệ quyền lợi
    Về điều kiện thành lập, ngoài quy định cho người lao động. Theo quy định, thành
    chung tại Luật Công đoàn, tổ chức Công viên ban lãnh đạo là người lao động Việt
    đoàn tại cơ sở hiện nay được thành lập theo Nam đang làm việc tại doanh nghiệp; không
    Nghị định số 98/2014/NĐ-CP về việc thành đang trong thời gian bị truy cứu trách nhiệm
    lập tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – hình sự, chấp hành hình phạt hoặc chưa
    xã hội tại doanh nghiệp thuộc mọi thành được xóa án tích do phạm các tội xâm phạm
    phần kinh tế. Theo đó, “doanh nghiệp có từ an ninh quốc gia, các tội xâm phạm quyền
    5 đoàn viên công đoàn, hoặc người lao động tự do của con người, quyền tự do, dân chủ
    có đơn tự nguyện gia nhập Công đoàn Việt của công dân, các tội xâm phạm sở hữu theo
    Nam, đủ điều kiện thành lập tổ chức Công quy định của Bộ luật Hình sự8. Vậy, thành
    đoàn theo quy định của Luật Công đoàn và viên ban lãnh đạo có thể là người thân thích9
    Điều lệ Công đoàn Việt Nam”6. Ban lãnh của người sử dụng lao động được hay
    đạo Công đoàn cơ sở được gọi là Ban chấp không? Có thể thấy rằng, với quy định như
    hành Công đoàn cơ sở, do Đại hội Công trên, người thân thích của người sử dụng lao
    đoàn cơ sở bầu ra. Số lượng thành viên của động nếu cùng là người lao động trong
    Ban chấp hành Công đoàn cơ sở do Đại hội doanh nghiệp đó thì vẫn có thể được bầu làm
    Công đoàn cơ sở quyết định7 theo hướng dẫn thành viên ban lãnh đạo tổ chức đại diện
    của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. người lao động.
    Trong khi đó, các tổ chức đại diện người Bên cạnh đó, liên quan đến Ban lãnh đạo
    lao động khác tại doanh nghiệp được thành của Tổ chức đại diện người lao động, Bộ
    lập theo quy định của Bộ LLĐ. Theo quy LLĐ cũng bỏ ngỏ quy định cụ thể về số
    định của Điều 173 Bộ LLĐ, “tại thời điểm lượng thành viên lãnh đạo tại tổ chức đại
    đăng ký, tổ chức của người lao động tại diện người lao động.
    doanh nghiệp phải có số lượng tối thiểu 2. Quyền thương lượng tập thể của tổ
    thành viên là người lao động làm việc tại chức đại diện người lao động tại doanh
    doanh nghiệp theo quy định của Chính nghiệp
    phủ.”. Đến thời điểm hiện nay, số lượng Theo Tuyên bố năm 1998 của Tổ chức
    thành viên tối thiểu này vẫn chưa được xác Lao động Quốc tế (ILO) về các nguyên tắc
    định vì vẫn đang chờ văn bản hướng dẫn của và quyền cơ bản trong lao động, thì tự do
    Chính phủ. liên kết và công nhận một cách thực chất

    5 Điều 7 Luật Công đoàn năm 2012; Điều 7 Điều lệ Công đoàn Việt Nam thông qua ngày 24/9/2018.
    6 Điểm a khoản 1 Điều 5 Nghị định số 98/2014/NĐ-CP về việc thành lập tổ chức chính trị, các tổ chức chính
    trị – xã hội tại doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế; Điều 13 Điều lệ Công đoàn Việt Nam thông qua
    ngày 24/9/2018.
    7 Khoản 3 Điều 11 Điều lệ Công đoàn Việt Nam thông qua ngày 24/9/2018.
    8 Điều 173 Bộ luật Lao động năm 2019.
    9 Khoản 19 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Người thân thích là người có quan hệ
    hôn nhân, nuôi dưỡng, người có cùng dòng máu về trực hệ và người có họ trong phạm vi ba đời”.

    46 NGHIÊN CỨU
    LẬP PHÁP Số 17 (417) – T9/2020

  4. THỰC TIỄN PHÁP LUẬT

    quyền thương lượng tập thể được xác định việc xây dựng quy định về nội dung và phạm
    là một trong những quyền cơ bản và quan vi hoạt động của tổ chức này thực chất là xây
    trọng nhất trong lĩnh vực lao động10. Trong dựng quy định về “việc tham gia của tổ chức
    Tuyên bố này, ILO cũng xác định Công ước này như thế nào trong quá trình đối thoại,
    98 năm 1949 về quyền tự do tổ chức và thương lượng tập thể, giải quyết tranh chấp
    thương lượng tập thể là một trong 8 công lao động, nhất là hoạt động thương lượng tập
    ước cốt lõi của tổ chức này, khẳng định tầm thể với người sử dụng lao động về tiền lương
    quan trọng của quyền thương lượng tập thể và điều kiện làm việc cho người lao động”14.
    trong hoạt động của các tổ chức đại diện Từ đây có thể thấy rằng, thương lượng tập
    người lao động. Việt Nam đã phê chuẩn và thể là một trong những hoạt động chính và
    trở thành thành viên của Công ước 98 từ là một trong các quyền quan trọng nhất của
    ngày 5/7/2019, và từ ngày 5/7/2020, Công một tổ chức đại diện người lao động tại
    ước này chính thức có hiệu lực tại Việt doanh nghiệp, và việc thành lập tổ chức đại
    Nam11. Theo Công ước 98, các quốc gia diện người lao động tại cơ sở phải gắn liền
    thành viên phải xây dựng biện pháp phù hợp với quyền thương lượng tập thể dành cho tổ
    “để khuyến khích và xúc tiến việc xây dựng chức này.
    và tận dụng đầy đủ các thể thức thương Điều 178 Bộ LLĐ quy định về quyền
    lượng tự nguyện giữa một bên là người sử và nghĩa vụ của tổ chức đại diện người lao
    dụng lao động và các tổ chức của người sử động tại cơ sở đã thể hiện rõ tinh thần này;
    dụng lao động với một bên là các tổ chức của trong đó, thương lượng tập thể với người sử
    người lao động”12. Với việc trở thành thành dụng lao động là quyền được nêu tên đầu
    viên của Công ước, Việt Nam cũng đã thực tiên trong danh sách các quyền của tổ chức
    hiện tiến trình hoàn thiện pháp luật để phù đại diện người lao động tại cơ sở. Theo Bộ
    hợp với quy định mới này. LLĐ, thương lượng tập thể được định nghĩa
    Mặt khác, tại Kỳ họp thứ 7 của Quốc hội là “việc đàm phán, thỏa thuận giữa một bên
    khóa XIV tháng 5/2019, khi trình Quốc hội là một hoặc nhiều tổ chức đại diện người lao
    dự án Bộ luật Lao động (sửa đổi), Chính phủ động với một bên là một hoặc nhiều người
    cho rằng, những tổ chức đại diện người lao sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện
    động “về bản chất là tổ chức xã hội đơn người sử dụng lao động nhằm xác lập điều
    thuần, chỉ làm chức năng đại diện bảo vệ kiện lao động, quy định về mối quan hệ giữa
    quyền hợp pháp, lợi ích chính đáng của các bên và xây dựng quan hệ lao động tiến
    người lao động trong phạm vi quan hệ lao bộ, hài hòa và ổn định”15.
    động”13. Vì vậy, Chính phủ cũng xác định Tuy nhiên, không phải tất cả các tổ chức

    10 Đoạn 2 điểm a, “Tuyên bố của Tổ chức Lao động Quốc tế về các nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao
    động và cơ chế theo dõi thực hiện tuyên bố”. ILO, 1998. URL:
    https://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/—-asia/—-ro-bangkok/—-ilo-
    hanoi/documents/publication/wcms_648542.pdf.
    11 ILO Việt Nam, “Nội dung cơ bản của Công ước số 98 của ILO Công ước về Quyền tổ chức và thương
    lượng tập thể”. URL: https://www.ilo.org/wcmsp5/groups/public/—-asia/—-ro-bangkok/—-ilo-
    hanoi/documents/publication/wcms_721935.pdf.
    12 Điều 4 Công ước số 98 về quyền tổ chức và thương lượng tập thể, ILO, 1949.
    13 Bảo Yến, tlđd.
    14 Bảo Yến, tlđd.
    NGHIÊN CỨU
    Số 17 (417) – T9/2020 LẬP PHÁP 47

  5. THỰC TIỄN PHÁP LUẬT

    đại diện người lao động được thành lập hợp như trên, số lượng thành viên tối thiểu để
    pháp đều có quyền thương lượng tập thể. thành lập tổ chức đại diện người lao động và
    Theo quy định của Điều 68 Bộ LLĐ về số lượng thành viên trên tổng số người lao
    quyền thương lượng tập thể của tổ chức đại động để đạt tỷ lệ đại diện tối thiểu cho quyền
    diện người lao động tại doanh nghiệp, các thương lượng tập thể là hai vấn đề hoàn toàn
    nhà làm luật xác định, một tổ chức có quyền khác nhau. Tuy nhiên, theo các tác giả, dưới
    thương lượng hay không dựa trên tỷ lệ người góc độ kỹ thuật lập pháp, Luật đã tạo ra sự
    lao động mà tổ chức đó đại diện trong doanh mâu thuẫn khi vừa ghi nhận quyền thương
    nghiệp. Theo đó, một tổ chức sẽ có quyền lượng tập thể cho tổ chức đại diện người lao
    thương lượng khi đạt một trong các điều động được thành lập hợp pháp, không có
    kiện sau: ngoại lệ (khoản 1 Điều 178 Bộ LLĐ), vừa
    Thứ nhất, tổ chức đại diện người lao hạn chế quyền này bởi tỷ lệ đại diện (Điều
    động tại cơ sở có quyền yêu cầu thương 68 Bộ LLĐ).
    lượng tập thể khi đạt tỷ lệ thành viên tối Bên cạnh đó, có thể nói thêm rằng, Luật
    thiểu trên tổng số người lao động trong cũng đã tách bạch về điều kiện để một tổ
    doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ. chức có quyền thương lượng tập thể với điều
    Thứ hai, trường hợp doanh nghiệp có kiện để thỏa ước lao động tập thể được ký
    nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ kết. Liên quan đến điều kiện để thỏa ước lao
    sở đáp ứng quy định trên thì tổ chức có động tập thể được ký kết, các nhà làm luật
    quyền yêu cầu thương lượng là tổ chức có xác định: “Đối với thỏa ước lao động tập thể
    số thành viên nhiều nhất trong doanh nghiệp. doanh nghiệp, trước khi ký kết, dự thảo thỏa
    Các tổ chức đại diện người lao động tại cơ ước lao động tập thể đã được các bên đàm
    sở khác có thể tham gia thương lượng tập thể phán phải được lấy ý kiến của toàn bộ người
    khi được tổ chức đại diện người lao động có lao động trong doanh nghiệp. Thỏa ước lao
    quyền yêu cầu thương lượng tập thể đồng ý. động tập thể doanh nghiệp chỉ được ký kết
    Thứ ba, trường hợp doanh nghiệp có khi có trên 50% người lao động của doanh
    nhiều tổ chức đại diện người lao động tại cơ nghiệp biểu quyết tán thành”16.
    sở mà không có tổ chức nào đáp ứng quy Từ tỷ lệ 50% nêu trong quy định này,
    định về tỷ lệ đại diện, thì các tổ chức có chúng ta có thể xem xét việc xác định tỷ lệ
    quyền tự nguyện kết hợp với nhau để yêu để một tổ chức đại diện người lao động có
    cầu thương lượng tập thể nhưng tổng số quyền thương lượng tập thể. Vì suy cho
    thành viên của các tổ chức này phải đạt tỷ lệ cùng, thỏa ước lao động tập thể là kết quả
    tối thiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 68 của quá trình thương lượng, và mục tiêu của
    Bộ LLĐ. việc thương lượng tập thể cũng là hướng đến
    Như vậy, mặc dù đã xác định tiêu chí có việc giao kết một thỏa ước lao động tập thể.
    quyền thương lượng tập thể của tổ chức đại Nếu một thỏa ước được thương lượng bởi
    diện người lao động, Bộ LLĐ vẫn chưa xác một tổ chức có tỷ lệ đại diện thấp, việc
    định được tỷ lệ đại diện người lao động mà thương lượng rất có thể trở nên vô nghĩa,
    khi đạt tỷ lệ đó thì một tổ chức đại diện mới mất thời gian, tiền bạc và công sức, khi mà
    đủ điều kiện thương lượng tập thể. tỷ lệ người lao động tán thành thỏa ước
    Có thể thấy rõ rằng, với cách quy định không đạt trên 50%.

    15 Điều 65 Bộ luật Lao động năm 2019.

    48 NGHIÊN CỨU
    LẬP PHÁP Số 17 (417) – T9/2020

  6. THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
    3. Kiến nghị đạo của tổ chức, chúng tôi cho rằng, cần quy
    Từ những phân tích ở trên, chúng ta có định số lượng theo hướng tỷ lệ thuận với số
    thể thấy rằng, mặc dù Bộ LLĐ đã cho phép thành viên tham gia và phù hợp với ngành
    thành lập tổ chức đại diện người lao động nghề hoạt động của doanh nghiệp nhằm đảm
    khác với công đoàn tại cơ sở, nhưng những bảo việc tiếp cận sâu sát giữa thành viên lãnh
    quy định liên quan đến tổ chức này vẫn còn đạo với các thành viên khác trong tổ chức,
    chưa cụ thể. lắng nghe và đáp ứng một cách có hiệu quả
    Hiện tại, Bộ LLĐ vẫn chưa xác định số nguyện vọng của người lao động thành viên,
    lượng thành viên tối thiểu để có thể thành chứ không nhất thiết phải là một số lượng
    người cụ thể. Mặt khác, thành viên lãnh đạo
    lập một tổ chức đại diện người lao động tại
    cũng không được là người thân của người sử
    cơ sở, hay việc thành lập này có nên bắt buộc
    dụng lao động hay đồng sở hữu hoặc nằm
    với doanh nghiệp không, hoặc số lượng
    trong Ban quản trị doanh nghiệp, nhằm tránh
    thành viên lãnh đạo của tổ chức như thế nào.
    việc thành lập tổ chức đại diện người lao
    Những nội dung này được Bộ LLĐ giao cho
    động chỉ mang tính hình thức, hoạt động
    Chính phủ quy định chi tiết.
    kém hiệu quả, không bảo vệ được quyền và
    Đối với việc thành lập tổ chức của người lợi ích chính đáng của người lao động.
    lao động tại doanh nghiệp, chúng tôi cho Ngoài ra, liên quan đến quyền thương
    rằng cần áp dụng quy định về số lượng tối lượng tập thể của tổ chức của người lao
    thiểu tương đương với tổ chức Công đoàn là động, cần làm rõ thêm tổ chức đại diện
    5 thành viên. Như thế sẽ đảm bảo công bằng người lao động tại cơ sở có quyền này khi
    giữa hai loại hình tổ chức trong việc thành đạt đến tỷ lệ đại diện bao nhiêu. Theo chúng
    lập. Bên cạnh đó, khác với tổ chức Công tôi, có thể tham khảo tỷ lệ tán thành của thỏa
    đoàn, tổ chức của người lao động tại doanh ước lao động tập thể để áp dụng cho quy
    nghiệp không bắt buộc phải thành lập mà định về quyền thương lượng, nhằm làm cho
    dựa trên sự tự nguyện cũng như nhu cầu của hoạt động thương lượng tập thể thực sự có ý
    người lao động. nghĩa và mang lại kết quả tốt nhất cho người
    Đối với số lượng thành viên ban lãnh lao động n

    16 Khoản 1 Điều 76 Bộ luật Lao động năm 2019.

    CÔNG KHAI, MINH BẠCH… (Tiếp theo trang 28)

    Tài liệu tham khảo
    1. Hoàng Chí Bảo (2008), Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính
    sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-2015, Kỷ yếu Hội thảo khoa học thuộc Đề
    tài KX02.02/06-10, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.
    2. Mai Ngọc Cường (2013), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở
    Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.
    3. Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Giáo trình Luật An sinh xã hội, Nxb. Công an nhân
    dân, Hà Nội.
    4. Viện Khoa học Lao động và Xã hội (2013), Phát triển hệ thống an sinh xã hội ở Việt
    Nam đến năm 2020, Hà Nội.
    NGHIÊN CỨU
    Số 17 (417) – T9/2020 LẬP PHÁP 49

Download tài liệu Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp theo Bộ luật Lao động năm 2019 File Docx, PDF về máy