[Download] Tải Vị thế đồng USD và những nỗ lực tái định hình hệ thống tài chính toàn cầu – Tải về File Word, PDF

Vị thế đồng USD và những nỗ lực tái định hình hệ thống tài chính toàn cầu

Vị thế đồng USD và những nỗ lực tái định hình hệ thống tài chính toàn cầu
Nội dung Text: Vị thế đồng USD và những nỗ lực tái định hình hệ thống tài chính toàn cầu

Download


Bài viết đánh giá chi tiết các số liệu thống kê hiện tại liên quan đến vị thế “tiền tệ quốc tế” của đồng USD, đồng thời xem xét những nỗ lực mạnh mẽ từ cả các quốc gia đối thủ như Trung Quốc, Nga, và cả các đồng minh của Mỹ như Châu Âu nhằm đa dạng hóa tiền tệ sử dụng trong giao dịch và dự trữ quốc tế, làm cơ sở hướng tới tái định hình hệ thống tài chính toàn cầu. Mời các bạn cùng tham khảo!

Bạn đang xem: [Download] Tải Vị thế đồng USD và những nỗ lực tái định hình hệ thống tài chính toàn cầu – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Vị thế đồng USD và những nỗ lực tái định hình hệ thống tài chính toàn cầu File Word, PDF về máy

Vị thế đồng USD và những nỗ lực tái định hình hệ thống tài chính toàn cầu

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Vị thế đồng USD và những nỗ lực tái định hình hệ thống tài chính toàn cầu

  1. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    4.

    1Nguyễn Ngọc Định*
    Nguyễn Thị Diễm Kiều*

    Tóm tắt
    Cuộc tranh luận về vị thế thống trị của đồng USD với vai trò là “tiền tệ quốc tế” trong
    hệ thống tài chính toàn cầu đã được dấy lên mạnh mẽ từ cuộc khủng hoảng tài chính
    thế giới 2008, nay tiếp tục được nung nóng trước sự suy giảm của nền kinh tế Mỹ trong
    đại dịch COVID-19 và hàng loạt biến động của môi trường tài chính quốc tế. Nghiên
    cứu này đánh giá chi tiết các số liệu thống kê hiện tại liên quan đến vị thế “tiền tệ quốc
    tế” của đồng USD, đồng thời xem xét những nỗ lực mạnh mẽ từ cả các quốc gia đối thủ
    như Trung Quốc, Nga, và cả các đồng minh của Mỹ như Châu Âu nhằm đa dạng hóa
    tiền tệ sử dụng trong giao dịch và dự trữ quốc tế, làm cơ sở hướng tới tái định hình hệ
    thống tài chính toàn cầu.
    Từ khóa: Vị thế đồng đô la Mỹ, hệ thống tiền tệ quốc tế, đa dạng hóa tiền tệ quốc tế.
    1. Giới thiệu
    Đồng USD đã đóng vai trò tiền tệ quốc tế thống trị trong suốt thời kỳ sau Thế chiến hai.
    Tuy nhiên, trong vài thập kỷ gần đây, đặc biệt từ cuộc khủng hoảng tài chính thế giới
    2008–2009 và hiện nay là đại dịch Covid-19, sự không chắc chắn về tương lai của đồng
    USD ngày càng gia tăng. Một cuộc tranh luận cả về lý thuyết và thực nghiệm về tương
    lai của đồng USD và hệ thống tiền tệ thế giới đã được mở ra trên diện rộng.
    Tập trung vào các điều kiện để một đồng tiền định danh được chấp nhận trong các
    giao dịch và dự trữ quốc tế, nhiều nghiên cứu cho rằng đồng USD sẽ tiếp tục duy trì vị
    thế tiền tệ quốc tế trong tương lai do các yêu cầu về niềm tin và chất lượng thể chế bảo
    vệ người nắm giữ (Gopinath và Stein, 2021; Seghezza và Morelli, 2018). Trong chế độ

    *
    Trường Đại học Kinh tế TP. HCM | Email liên hệ: kieutc@ueh.edu.vn

    57

  2. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    tiền định danh – tiền tệ có giá trị danh nghĩa cao hơn rất nhiều so với giá trị nội tại – để
    được chấp nhận với vai trò “tiền tệ quốc tế”, đồng tiền cần có được sự tin tưởng trên
    bình diện quốc tế với một hệ thống pháp quyền và thể chế vững mạnh từ quốc gia phát
    hành, nhằm bảo vệ những người nắm giữ (Giannini, 2011). Khi xem xét khía cạnh này,
    cả đồng Euro và Nhân dân tệ đều có những vấn đề riêng. Đồng Euro chưa có một nhà
    nước hay cơ quan quyền lực thống nhất và ổn định có thể đảm bảo tuân thủ các quy
    định và thể chế của hệ thống tiền tệ quốc tế dựa trên tiền định danh. Với Nhân dân tệ,
    mức độ thấp của pháp quyền và chất lượng thể chế tại Trung Quốc cùng các quy định
    về kiểm soát vốn là lực cản lớn cho việc trở thành đồng tiền quốc tế trong tương lai gần
    của đồng tiền này.
    Vị trí thống trị của đồng USD trong vai trò tiền tệ quốc tế trong tương lai cũng được
    ủng hộ khi xem xét Hiệu ứng quán tính (inertia effect). Theo hiệu ứng quán tính, khi
    một đồng tiền được thiết lập như một phương tiện trao đổi quốc tế, nó sẽ tiếp tục giữ vai
    trò này, ngay cả khi quốc gia phát hành đã suy giảm mạnh vị thế trong cấu trúc được sử
    dụng để xây dựng vị thế ban đầu (Krugman, 1984; Rey, 2001). Điển hình, đồng bảng
    Anh vẫn giữ vai trò quan trọng trong thanh toán quốc tế rất lâu sau khi Vương quốc
    Anh không còn giữ vị thế kinh tế và chính trị hàng đầu.
    Trái ngược với quan điểm trên, nhiều nhà kinh tế coi nguồn gốc của tiền là một quá
    trình được dẫn dắt bởi thị trường. “Quan điểm thị trường” cho rằng Mỹ hoàn toàn có thể
    sẽ sớm mất đi ưu thế kinh tế và chính trị của mình. Theo đó, đồng USD cũng sẽ phải
    chia sẻ vị thế tiền tệ quốc tế của mình với các đồng tiền khác hoặc bị thay thế.. Trong
    các năm tiếp theo, Trung Quốc được dự báo hoàn toàn có khả năng vượt qua Mỹ cả về
    tỷ trọng thương mại thế giới lẫn quy mô GDP (năm 2020, GDP của Mỹ đạt 20,9 nghìn
    tỷ USD trong khi Trung quốc đạt 15,41 nghìn tỷ USD) . Do đó, đồng USD có khả năng
    bị thay thế bởi đồng Nhân dân tệ của trong vai trò tiền tệ quốc tế (Dorrucci và McKay,
    2011; Eichengreen, 2011b; Ignazio và cộng sự, 2011).
    Một quan điểm khác về khả năng suy giảm vị thế của đồng USD là “quan điểm cưỡng
    chế”, được đưa ra bởi các học giả tin rằng sự thành công của đồng USD với vai trò tiền tệ
    quốc tế là nhờ sức mạnh chính trị của Nhà nước Mỹ (Calleo, 2011). Theo quan điểm này,
    sự suy giảm của đồng USD là do sự suy giảm của Mỹ từ góc nhìn địa chính trị. Tuy
    nhiên, sự suy giảm này chậm hơn so với sự suy giảm kinh tế, do đó, tốc độ suy giảm vai
    trò của đồng USD cũng sẽ chậm tương ứng (Cohen, 2015a; Cohen, 2015b).
    Trong nghiên cứu này, chúng tôi đánh giá các số liệu thống kê mới nhất về vị thế và
    những biến động nếu có của đồng USD trong vai trò tiền tệ quốc tế, đồng thời xem xét
    những nỗ lực của các nền kinh tế trong việc đa dạng hóa các loại tiền tệ được sử dụng

    58

  3. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    trong thanh toán và dự trữ quốc tế, làm cơ sở cho các nỗ lực tái định hình hệ thống tài
    chính đã và đang xảy ra ở mức độ khu vực và trên toàn thế giới.

    2. Đánh giá vị thế của đồng USD trong vai trò tiền tệ quốc tế
    Mặc dù nắm giữ vị thế thống trị trong vai trò tiền tệ quốc tế suốt giai đoạn kể từ sau Thế
    chiến hai, nhưng sự cạnh tranh đồng USD đang phải đối mặt là hoàn toàn rõ ràng với sự
    phổ biến của đồng Euro, sự tăng trưởng của Trung Quốc như một siêu cường kinh tế, sự
    gia tăng nhanh chóng của tiền điện tử cùng những thay đổi địa chính trị thế giới trong
    các thập kỷ gần đây. Phần này xem xét các số liệu thống kê hiện tại về vị thế của đồng
    USD trong vai trò tiền tệ quốc tế dựa trên 3 chức năng cơ bản của tiền tệ: Thước đo giá
    trị, phương tiện thanh toán và phương tiện cất trữ.
    2.1. Vai trò thước đo giá trị và phương tiện thanh toán
    Vai trò thước đo giá trị và phương tiện thanh toán quốc tế của một đồng tiền được thể hiện
    thông qua tỷ trọng thương mại quốc tế được thực hiện trên cơ sở đồng tiền này. Tuy nhiên, dữ
    liệu chi tiết về tiền tệ trong thương mại hàng hóa và dịch vụ thế giới là khá hạn chế. Cơ sở dữ
    liệu rộng nhất hiện nay được IMF và Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) cùng tổng hợp.
    Cơ sở dữ liệu này chỉ bao gồm 102 nền kinh tế, đồng thời thiếu hụt dữ liệu từ một số quốc gia
    có tỷ trọng cao (thậm chí chiếm ưu thế) trong thương mại toàn cầu như Trung Quốc và
    Mexico (Emine và cộng sự, 2020). Do đó, bộ dữ liệu khó có thể cung cấp cái nhìn chính xác
    nhất về tiền tệ trong thanh toán quốc tế. Theo cơ sở dữ liệu này, từ 2005-2019, đồng USD và
    Euro duy trì tỷ trọng lần lượt quanh ngưỡng 50% và 40% của tổng giá trị các loại tiền tệ được
    sử dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế trong mẫu được thu thập, với sự biến động
    không đáng kể. (Hình 2.1)
    Xem xét trực tiếp tỷ trọng các đồng tiền được thực hiện trong thanh toán quốc tế
    thông qua mạng lưới thanh toán SWIFT (Society for Worldwide Interbank Financial
    Telecommunications) – nơi xử lý các giao dịch thanh toán xuyên biên giới cho hơn
    11.000 tổ chức tài chính ở hơn 200 nền kinh tế trên toàn thế giới – có thể là một chỉ số
    đánh giá tốt hơn cho vai trò phương tiện thanh toán của tiền tệ thế giới.
    Với dữ liệu được công bố từ SWIFT, tỷ trọng đồng USD trong thanh toán quốc tế
    đã giảm khoảng 6,7% từ khi đạt đỉnh vào tháng 4-2015 ở mức 45,14% xuống chỉ còn
    38,43% vào tháng 2-2021, đặc biệt giảm mạnh từ giữa 2020 với những tác động suy
    thoái từ đại dịch Covid-19 cùng những bất ổn về thương mại và chính trị. Mức suy giảm
    này phần lớn được dịch chuyển qua phía đồng Euro với sự gia tăng khoảng 9,77% – từ
    mức 27,36% vào tháng 4-2015 lên 37,13% vào tháng 2-2021. Đỉnh điểm vào tháng 10-

    59

  4. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    2020, tỷ trọng đồng Euro đã vượt qua đồng USD trong thanh toán quốc tế dù với mức
    chênh lệch rất nhỏ và sau đó duy trì tỷ trọng tương đối cân bằng cho đến nay. (Hình 2.2)
    Hình 2.1. Tỷ trọng tiền tệ được sử dụng trong các hợp đồng thương mại toàn cầu

    100%
    90%
    80%
    70%
    60%
    50%
    40%
    30%
    20%
    10%
    0%
    2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

    USD EUR Other

    Nguồn: Dữ liệu từ IMF và ECB

    Các vị trí tiếp theo thuộc về đồng bảng Anh với tỷ trọng khoảng 7%, và đồng yên
    Nhật với khoảng 3%. Đồng Nhân dân tệ được SWIFT đặc biệt theo dõi từ năm 2011,
    nhưng hiện vẫn chiếm một tỷ lệ khá nhỏ trong thanh toán quốc tế với mức cao nhất đạt
    2,8% vào tháng 8-2015, giảm nhẹ trong các năm tiếp theo và hiện nay duy trì quanh
    ngưỡng 2%.
    Báo cáo thống kê các giao dịch trên thị trường ngoại hối toàn cầu được Ngân hàng
    Thanh toán quốc tế (Bank for International Settlements – BIS) công bố mỗi 3 năm. Tính
    đến cuối năm 2019, đồng USD duy trì quanh mức 44% tổng giao dịch ngoại hối toàn
    cầu và biến động không đáng kể. Tỷ trọng đồng Euro giảm từ mức 18,7% vào năm
    2004 xuống 16,14% vào năm 2019, trong khi Nhân dân tệ tăng mức giao dịch từ 0,05%
    lên 2,16% trong khoảng thời gian tương ứng nhưng vẫn chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Chỉ
    riêng giao dịch của cặp tiền tệ USD-EUR chiếm khoảng 24% tổng giá trị giao dịch
    ngoại hối toàn cầu. Để tránh nhầm lẫn, do mỗi giao dịch ngoại hối được thực hiện với 2
    đồng tiền, tổng tỷ lệ phần trăm riêng lẻ của các đồng tiền trong báo cáo của BIS là
    200% thay vì 100%. Do vậy, để thống nhất trong toàn bộ nghiên cứu, các số liệu về tỷ
    trọng tiền tệ sử dụng trong giao dịch ngoại hối quốc tế từ BIS đã được nhóm tác giả
    điều chỉnh theo cơ sở 100%. (Hình 2.3)

    60

  5. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Hình 2.2. Tỷ trọng tiền tệ trong thanh toán quốc tế

    50%
    45%
    40%
    35%
    30%
    25%
    20%
    15%
    10%
    5%
    0%
    Oct-15

    Oct-16

    Oct-17

    Oct-18

    Oct-19

    Oct-20
    Apr-15

    Apr-16
    Jul-15

    Jul-16

    Apr-17

    Apr-18

    Apr-19

    Apr-20
    Jul-17

    Jul-18

    Jul-19

    Jul-20
    Jan-15

    Jan-16

    Jan-17

    Jan-18

    Jan-19

    Jan-20

    Jan-21
    US dollar Euro Pound Yen Renminbi Other

    Nguồn: Dữ liệu từ SWIFT

    Hình 2.3. Tỷ trọng tiền tệ trong giao dịch ngoại hối quốc tế

    0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100%

    2004

    2007

    2010

    2013

    2016

    2019

    US Dollar Euro Yen Pound Renminbi Other

    Nguồn: Dữ liệu từ BIS

    2.2. Vai trò phương tiện cất trữ
    Tỷ trọng các loại tiền tệ trong dự trữ ngoại hối toàn cầu, theo báo cáo của Quỹ Tiền tệ
    thế giới (IMF), được xem là chỉ báo chính về vai trò tiền tệ dự trữ quốc tế của một loại

    61

  6. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    tiền tệ. Cho đến nay, IMF đã có số liệu thống kê về thành phần các loại tiền tệ trong dự
    trữ ngoại hối của khoảng 94% tổng dự trữ toàn cầu.
    Với công bố mới nhất từ IMF ngày 31-3-2021, tỷ trọng dự trữ ngoại hối bằng USD trong
    tổng dự trữ toàn cầu đã giảm xuống 59,02% trong Quý IV-2020, mức thấp nhất trong 25 năm
    qua, kể từ năm 1995. Tính từ 2015, tỷ trọng của đồng USD đã giảm 7%, từ 66% vào đầu năm
    2015 xuống 59% vào cuối năm 2020 (giảm hơn 1% mỗi năm). Với tốc độ này, tỷ trọng đồng
    USD được dự báo có thể sẽ giảm xuống dưới 50% trong thập kỷ tới.
    Hình 2.4. Tỷ trọng tiền tệ trong dự trữ ngoại hối chính thức toàn cầu

    0% 10% 20% 30% 40% 50% 60% 70% 80% 90% 100%

    2015Q4

    2016Q4

    2017Q4

    2018Q4

    2019Q4

    2020Q4

    U.S. dollar Yen Renminbi Euro Other

    Ghi chú: Tỷ trọng không bao gồm phần dự trữ ngoại hối chưa phân bổ
    Nguồn: Dữ liệu từ IMF

    Vị thế đồng tiền dự trữ thống trị toàn cầu của đồng USD là cơ sở quan trọng cho
    phép chính phủ Mỹ tiếp tục gia tăng nợ công với chi phí thấp khi các ngân hàng trung
    ương khác sẵn lòng nắm giữ một lượng lớn các khoản nợ bằng đồng USD
    (Eichengreen, 2011a). Tuy nhiên, sự sụt giảm tỷ trọng đồng USD trong tự trữ ngoại hối
    toàn cầu cho thấy, có vẻ như các ngân hàng trung ương đang dần tỏ ra lo lắng và muốn
    đa dạng hóa tiền tệ trong dự trữ ngoại hối của mình dù với tốc độ khá chậm. Điển hình
    trong năm 2018, Ngân hàng trung ương Nga đã bán khoảng 100 tỷ USD trái phiếu
    chính phủ Mỹ và chuyển các khoản dự trữ ngoại hối này sang Nhân dân tệ hoặc đồng
    Euro. Hành động này đã khiến tỷ trọng đồng USD trong tổng dự trữ ngoại hối của Nga

    62

  7. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    giảm một nửa, từ 46% xuống 23% trong năm 2018 và tăng tỷ trọng đồng Euro từ 10%
    lên 32%, tỷ trọng đồng Nhân dân tệ cũng tăng từ 3% lên 14% (Prasad, 2019).
    Điều thú vị là đồng Euro và đồng Nhân dân tệ – 2 đồng tiền được xem là đối thủ cạnh
    tranh tiềm năng nhất với USD – lại có tỷ lệ gia tăng thấp, trước sự sụt giảm tỷ trọng đáng
    kể của đồng USD trong dự trữ ngoại hối toàn cầu. Đồng Euro chỉ tăng tỷ trọng từ 19,25%
    trong năm 2015 lên 21,24% vào cuối năm 2020. Trong khi đồng Nhân dân tệ, bất chấp
    tầm ảnh hưởng toàn cầu của nền kinh tế Trung Quốc và được IMF đưa vào rổ tiền tệ để
    tính toán Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) năm 2016, vẫn chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn: từ
    1,08% vào năm 2016 đến 2,25% vào cuối năm 2020. Mức độ gia tăng tỷ trọng lớn nhất
    thuộc về đồng yên Nhật với 3,5% vào năm 2014 lên mức 6,03% vào cuối 2020.
    Các đánh giá trên cho thấy, dù vẫn đang giữ vị thế cao trong hệ thống tiền tệ thế
    giới, nhưng những biến động và sự sụt giảm tỷ trọng đồng USD trong thanh toán và dự
    trữ quốc tế đã bắt đầu và ngày càng trở nên rõ ràng, đặc biệt với vai trò đồng tiền dự trữ
    trong tổng dự trữ ngoại hối toàn cầu. Vị thế tiền tệ quốc tế của đồng USD thực tế đã
    mang đến cho Mỹ nhiều lợi ích như khả năng đi vay nhiều hơn, chi phí giao dịch thấp
    hơn, ít nhạy cảm hơn với những biến động kinh tế toàn cầu, đồng thời là một đòn bẩy
    mạnh mẽ cho các lợi ích địa chính trị Mỹ. Từ những năm 1960, cựu Bộ trưởng Tài
    chính Pháp, Valery Giscard d’Estaing, đã đề cập đến những lợi ích này như một “đặc
    quyền phi lý” (exorbitant privilege) mà Mỹ có được (Eichengreen, 2011a). Những lợi
    thế này luôn đứng trước sự chỉ trích mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế và thúc đẩy những
    nỗ lực nhằm đa dạng hóa hệ thống tiền tệ quốc tế, và nhằm giảm thiểu sức ảnh hưởng
    của Mỹ có được từ việc nắm giữ đồng tiền được xem là “tiền tệ quốc tế”.

    3. Những nỗ lực đa dạng hóa hệ thống tiền tệ trong thanh toán và dự trữ quốc tế
    Bất chấp sự thống trị trong thời gian dài của đồng USD, sự suy giảm vị thế của đồng
    tiền này đã có những dấu hiệu cụ thể với mức độ cạnh tranh đang gia tăng rõ rệt từ các
    yếu tố kinh tế, chính trị và công nghệ. Các đối thủ cạnh tranh quốc tế như Nga và Trung
    Quốc thường xuyên kêu gọi một trật tự tài chính thế giới mới và hoạt động tích cực để
    thay thế vị thế thống trị của USD trong hệ thống thanh toán và dự trữ quốc tế hiện tại.
    Phần này phân tích các nỗ lực mạnh mẽ từ cả các đồng minh lâu đời như châu Âu, các
    đối thủ cạnh tranh như Nga, Trung Quốc và các quốc gia gánh chịu (hoặc nằm trong
    mục tiêu) các lệnh trừng phạt từ Mỹ như Iran, Nga, Venezuela nhằm giảm thiểu vị thế
    của đồng USD và ảnh hưởng của Mỹ trên hệ thống tài chính toàn cầu.

    63

  8. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    3.1. Trung Quốc trong nỗ lực xây dựng trật tự tài chính mới ở mức độ khu vực,
    hướng đến tái định hình kiến trúc tài chính toàn cầu
    Trung Quốc từ lâu đã lo ngại các sức mạnh mà Mỹ có được từ việc nắm giữ quyền lực
    thống trị trong hệ thống tài chính quốc tế. Tuy nhiên, chỉ đến khi nền kinh tế Mỹ suy
    yếu trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008, các nỗ lực đa dạng
    hóa hệ thống tiền tệ quốc tế và giảm thiểu sức mạnh tài chính toàn cầu của Mỹ mới có
    cơ hội được thực hiện quyết liệt (Kirshner, 2014). Dù những nỗ lực kêu gọi đa dạng hóa
    tiền tệ sử dụng trong hệ thống tài chính thế giới và việc quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ
    còn rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, ở mức độ khu vực, Trung Quốc đã đạt được những
    thành tựu nhất định trong việc thúc đẩy sử dụng đồng Nhân dân tệ, đồng thời xây dựng
    cơ sở hạ tầng nhằm hướng tới một hệ thống tài chính khu vực với đồng Nhân dân tệ là
    trọng tâm.
    3.1.1. Thúc đẩy sử dụng đồng Nhân dân tệ ở mức độ khu vực
    Những nỗ lực quốc tế hóa đồng Nhân dân tệ đã bị gián đoạn vào năm 2015 khi thị
    trường chứng khoán Trung Quốc sụp đổ và chính phủ áp đặt các biện pháp kiểm soát
    vốn mới. Việc kiểm soát vốn chặt chẽ đã làm giảm đáng kể niềm tin của cộng đồng
    quốc tế vào đồng Nhân dân tệ, cũng như triển vọng tự do hóa. Tuy nhiên, ở mức độ khu
    vực, Trung Quốc đã đạt được những thành công nhất định trong việc thúc đẩy sử dụng
    đồng Nhân dân tệ, đặc biệt thông qua việc ký kết hàng chục thỏa thuận hoán đổi tiền tệ
    với các quốc gia khác, thiết lập các trung tâm thanh toán bù trừ, thỏa thuận với các ngân
    hàng trung ương nước ngoài nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng Nhân dân tệ
    ở nước ngoài. Từ tháng 1-2009 đến tháng 3-2020, Trung Quốc đã ký các thỏa thuận
    hoán đổi tiền tệ với tổng cộng 33 chính phủ các nước, nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào
    trên thế giới (CPT, 2020).
    Tính đến năm 2015, tổng giá trị giao dịch thương mại được ký kết và thanh toán
    bằng đồng Nhân dân tệ đã đạt 1,1 nghìn tỷ USD – chiếm gần 30% tổng giao dịch
    thương mại của Trung Quốc và tăng lên từ mức gần như bằng 0 vào năm 2000. Tuy
    nhiên, sau đó tỷ lệ này suy giảm trước những biến động lớn của thị trường chứng khoán
    Trung Quốc và việc tái áp dụng các biện pháp kiểm soát vốn chặt chẽ của nước này. Từ
    năm 2018 đến nay, tỷ trọng này đã có dấu hiệu gia tăng trở lại, dù với mức độ chậm và
    hiện ở mức 20% tổng giao dịch thương mại của Trung Quốc.

    64

  9. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Hình 3.1. Tỷ trọng thương mại của Trung Quốc thực hiện thanh toán bằng Nhân dân tệ

    35%

    30%

    25%

    20%

    15%

    10%

    5%

    0%
    2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020

    Nguồn: Dữ liệu từ People’s Bank of China

    Bên cạnh đó, tỷ trọng đồng Nhân dân tệ được sử dụng trực tiếp trong các giao dịch
    thanh toán xuyên biên giới tại Trung Quốc đã có mức gia tăng ấn tượng trong suốt giai
    đoạn 2010 đến nay. Bắt đầu từ tỷ lệ gần như bằng 0 vào năm 2010, tỷ trọng đồng Nhân
    dân tệ sử dụng trong thanh toán xuyên biên giới tại Trung Quốc đã tăng đến mức
    46,65% vào tháng 1-2021, đưa Nhân dân tệ vượt qua đồng USD và Euro, trở thành
    đồng tiền chính trong giao dịch thương mại và thanh toán trong khu vực với Trung
    Quốc. Nếu tỷ trọng này tiếp tục tăng, cùng với vị trí trung tâm của Trung Quốc trong
    nền kinh tế và chuỗi cung ứng châu Á, Trung Quốc hoàn toàn có thể tái định hình và
    xây dựng một hệ thống tài chính khu vực với đồng Nhân dân tệ làm trung tâm
    (Kirshner, 2014).
    Tuy nhiên, nếu thành công trong việc đưa đồng Nhân dân tệ trở thành trung tâm của
    hệ thống tài chính khu vực trong tương lai, Trung Quốc sẽ đồng thời có được các đặc
    quyền từ sức mạnh tài chính, bao gồm cả khả năng trừng phạt tài chính tương tự như
    Mỹ, nhưng ở mức độ khu vực. Đây là điều mà các quốc gia trong khu vực cần đặc biệt
    lưu ý nhằm có những giải pháp giảm thiểu mức độ dễ tổn thương của nền kinh tế trước
    những ảnh hưởng có thể sẽ xảy ra bởi Trung Quốc với hệ thống tài chính khu vực mới.

    65

  10. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Hình 3.2. Tỷ trọng thanh toán nước ngoài của Trung Quốc thực hiện bằng Nhân dân tệ

    50%
    45%
    40%
    35%
    30%
    25%
    20%
    15%
    10%
    5%
    0%
    01/2010
    07/2010
    01/2011
    07/2011
    01/2012
    07/2012
    01/2013
    07/2013
    01/2014
    07/2014
    01/2015
    07/2015
    01/2016
    07/2016
    01/2017
    07/2017
    01/2018
    07/2018
    01/2019
    07/2019
    01/2020
    07/2020
    01/2021
    Nguồn: Dữ liệu từ People’s Bank of China

    3.1.2. Đầu tư cơ sở hạ tầng – phát triển mạng lưới thanh toán quốc tế thay thế SWIFT
    Được thành lập vào năm 1973, cho đến nay Hiệp hội Viễn thông liên ngân hàng và tài
    chính quốc tế (SWIFT) đã trải dài trên 200 quốc gia và là cơ sở hạ tầng thiết yếu giúp
    thực hiện thanh toán quốc tế. Mặc dù SWIFT không tham gia thanh toán bù trừ mà chỉ
    hỗ trợ xử lý thông tin thanh toán trao đổi giữa các ngân hàng, nhưng nếu một ngân hàng
    bị loại khỏi mạng lưới, về cơ bản ngân hàng đó sẽ bị loại khỏi hệ thống tài chính lớn
    nhất toàn cầu. Bằng cách này, việc kiểm soát SWIFT sẽ mang lại sức mạnh hệ thống
    đáng kể. Điển hình là việc Mỹ và Liên minh Châu Âu đã sử dụng ảnh hưởng của mình
    để buộc SWIFT ngắt kết nối với toàn bộ các ngân hàng Iran trong các giao dịch sử dụng
    đồng USD – đồng tiền thống trị thương mại thế giới – vào năm 2012 và các ngân hàng
    Triều Tiên năm 2017, gây tàn phá kinh tế đất nước nặng nề (Doshi, 2019). Trước nguy
    cơ gánh chịu các lệnh trừng phạt tương tự, các đối thủ của Mỹ – bao gồm cả Nga và
    Trung Quốc – đều nỗ lực phát triển các giải pháp thay thế SWIFT.
    Hệ thống Thanh toán liên ngân hàng xuyên biên giới (Cross-border Interbank
    Payment System – CIPS) được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc phát triển chỉ 1 năm
    sau lệnh trừng phạt đối với Iran và bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 2015. Hệ thống này
    không chỉ làm nền tảng giúp Trung Quốc giảm bớt sự phụ thuộc đối với SWIFT, chống
    lại tác động của các lệnh trừng phạt tài chính (nếu xảy ra), mà còn gia tăng chủ quyền
    đối với tất cả thông tin đi qua mạng lưới của mình. Không những thế, tham vọng đối
    với CIPS còn vượt quá tham vọng đối với SWIFT khi hệ thống này không chỉ xử lý
    thông tin trao đổi mà còn cung cấp dịch vụ thanh toán bù trừ – tức tích hợp đầy đủ quy
    66

  11. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    trình thanh toán. Tính đến tháng 3-2021 đã có 1.162 tổ chức tài chính tại 99 nền kinh tế
    tham gia vào CIPS. Trong đó, 870 tổ chức (75%) thuộc khu vực châu Á, 147 tổ chức
    (12,65%) thuộc khu vực châu Âu, 39 tổ chức thuộc châu Phi, phần còn lại trải đều trên
    3 khu vực Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Đại Dương (CIPS, 2021).
    Hình 3.3. Số lượng các tổ chức tài chính tham gia CIPS theo khu vực – Tháng 3-2021

    Nguồn: CIPS (2021)

    Mặc dù quy mô còn rất nhỏ so với SWIFT, đồng thời nhiều thỏa thuận hợp tác đã
    được ký kết giữa hai hệ thống, nhưng như lập luận bởi Prasad (2016): “Trung Quốc đủ
    sắc sảo để không thách thức SWIFT cho đến khi CIPS trưởng thành, nhưng chắc chắn
    một ngày nào đó thách thức sẽ đến”.
    3.2. Những nỗ lực đa dạng hóa hệ thống tiền tệ thế giới từ các quốc gia khác
    Trung Quốc không đơn độc với mong muốn làm giảm bớt vai trò của đồng USD và ảnh
    hưởng của Mỹ đến hệ thống tài chính thế giới. Đặc biệt khi chính phủ Mỹ “vũ khí hóa”
    đồng USD nhằm tận dụng vị thế thống trị hiện tại của đồng tiền này để theo đuổi các
    mục tiêu chính trị. Điển hình có thể kể đến các lệnh trừng phạt và đơn phương trừng
    phạt đối với Iran vào năm 2012, 2018.
    Sau các lệnh trừng phạt này, ngoài hệ thống CIPS được thành lập bởi Trung Quốc,
    Nga cũng đã cho ra đời hệ thống SPFS (System for Transfer of Financial Messages)
    nhằm tăng tính độc lập và sẵn sàng đối phó với các lệnh trừng phạt nếu có của Mỹ thông
    qua SWIFT. Đồng thời, đồng minh lâu đời của Mỹ là Liên minh châu Âu cũng thành lập
    67

  12. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Instex (Instrument in Support of Trade Exchanges) – một lỗ lực nhằm tạo thuận lợi cho
    thương mại nhân đạo không dựa trên USD với Iran và để tránh các yếu tố trừng phạt của
    Mỹ. Dù độ bền của các nền tảng đối thủ này và các thỏa thuận tài chính quốc tế đều chưa
    chắc chắn, nhưng các động cơ phát triển của chúng dường như rất rõ ràng.
    Song song đó, Nga cũng đã bắt đầu một chiến dịch “phi USD hóa” nền kinh tế với
    nỗ lực chuyển đổi phần lớn các giao dịch thương mại của mình từ USD sang đồng Euro
    và rúp Nga. Cho đến Quý III-2020, chỉ còn khoảng 36,9% giá trị xuất khẩu của Nga đến
    nhóm các nước BRICS (Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi) được sử dụng bằng
    đồng USD, giảm mạnh từ mức 95,8% vào đầu năm 2013. Mức sụt giảm này của USD
    chủ yếu được chuyển sang cho đồng Euro và đồng rúp Nga. Tỷ trọng đồng Euro trong
    xuất khẩu của Nga đến các nước BRICS đã tăng đáng kể từ 1,4% trong năm 2013 lên
    45% trong Quý I-2020. Tỷ trọng đồng rúp được sử dụng cũng tăng tương ứng từ gần
    như bằng 0 vào năm 2013 lên đến 21,5% vào Quý III-2020.
    Hình 3.4. Tỷ trọng tiền tệ trong xuất khẩu của Nga đến nhóm các nước BRICS

    100%
    90%
    80%
    70%
    60%
    50%
    40%
    30%
    20%
    10%
    0%
    Q1 Q3 Q1 Q3 Q1 Q3 Q1 Q3 Q1 Q3 Q1 Q3 Q1 Q3 Q1 Q3
    2013 2013 2014 2014 2015 2015 2016 2016 2017 2017 2018 2018 2019 2019 2020 2020

    US Dollar Euro Russian Ruble Other

    Nguồn: Dữ liệu từ Central Bank of Russia

    Những nỗ lực tương tự được Nga thực hiện trong việc thay đổi tiền tệ trong các giao
    dịch xuất khẩu đến châu Âu. Tỷ lệ đồng USD sử dụng trong các giao dịch này từ 76%
    trong năm 2013 xuống mức chỉ còn 45% trong năm 2020. Tỷ trọng đồng Euro sử dụng
    trong xuất khẩu của Nga đến Eurozone đã tăng tương ứng từ chỉ 16,4% vào đầu năm
    2013 lên mức dao động quanh 45%, ngang bằng tỷ trọng đồng USD trong suốt năm 2020.
    Những nỗ lực này đã giảm tỷ trọng đồng USD sử dụng trong tổng giá trị xuất khẩu của
    Nga từ mức 81,2% đầu năm 2013 xuống chỉ còn 56,6% vào Quý III-2020. Điều này dù
    chưa tác động nhiều đến tỷ lệ giao dịch bằng đồng USD trên toàn thế giới nhưng cho thấy

    68

  13. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    những động cơ và nỗ lực rõ ràng từ các nền kinh tế lớn trong việc giảm thiểu vị thế của
    USD và tái định hình hệ thống tài chính toàn cầu.
    Hình 3.5. Tỷ trọng tiền tệ trong xuất khẩu của Nga đến Liên minh châu Âu (%)

    80
    70
    60
    50
    40
    30
    20
    10
    0
    Q1 2014

    Q2 2018
    Q1 2013
    Q2 2013
    Q3 2013
    Q4 2013

    Q2 2014
    Q3 2014
    Q4 2014
    Q1 2015
    Q2 2015
    Q3 2015
    Q4 2015
    Q1 2016
    Q2 2016
    Q3 2016
    Q4 2016
    Q1 2017
    Q2 2017
    Q3 2017
    Q4 2017
    Q1 2018

    Q3 2018
    Q4 2018
    Q1 2019
    Q2 2019
    Q3 2019
    Q4 2019
    Q1 2020
    Q2 2020
    Q3 2020
    US Dollar Euro Russian Ruble Other

    Nguồn: Dữ liệu từ Central Bank of Russia

    4. Kết luận
    Trong vài thập kỷ gần đây, trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới 2008
    và hiện nay là dại dịch Covid-19, cùng sự đi lên mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc,
    các tranh luận về vị thế của đồng USD và tương lai của hệ thống tài chính thế giới ngày
    càng trở nên nóng bỏng. Xem xét các số liệu thống kê cập nhật nhất về vị thế của USD
    trong 3 vai trò cơ bản của tiền tệ là thước đo giá trị, phương tiện thanh toán và phương
    tiện cất trữ, kết quả cho thấy dù vẫn giữ vị thế cao trong vai trò “tiền tệ quốc tế”, nhưng
    những biến động với xu hướng giảm của tỷ trọng đồng bạc xanh trong thanh toán và dự
    trữ quốc tế đã xuất hiện và ngày càng trở nên rõ ràng.
    Vị thế thống trị của đồng USD trong hệ thống tài chính thế giới đã mang đến cho
    Mỹ những lợi ích đặc biệt không chỉ về mặt tài chính là còn liên quan đến các quyền lực
    địa chính trị. Điều này đã thúc đẩy nhiều quốc gia nỗ lực đa dạng hóa hệ thống tiền tệ
    thế giới mà điển hình là Trung Quốc, Nga và cả các đồng minh của Mỹ như Liên minh
    châu Âu. Ngoài ra, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ và các đồng tiền điện
    tử, kể cả tiền điện tử do chính các ngân hàng trung ương phát hành, chắc chắn sẽ trở
    thành một thách thức lớn đối với vị thế của USD và là động lực mạnh mẽ cho sự tái
    định hình hệ thống tài chính toàn cầu.

    69

  14. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Tài liệu tham khảo
    Calleo DP. (2011) Twenty-First Century Geopolitics and the Erosion of the USD Order. In:
    Eric H & Jonathan K (eds) The Future of the USD. Cornell University Press, 164-190.
    CIPS. (2021) CIPS Participants Announcement. 63. (accessed 05-04-2021).
    Cohen BJ. (2015a) Currency Power: Understanding Monetary Rivalry: Princeton
    University Press.
    Cohen BJ. (2015b) The Demise of the USD? Revue de la Régulation – Capitalisme,
    institutions, pouvoirs 18.
    CPT. (2020) Will China’s Push to Internationalize the Renminbi Succeed? (accessed 05-04-2020).
    Dorrucci E & McKay J. (2011) The international monetary system after the financial crisis.
    European Central Bank.
    Doshi R. (2019) China’s Role in Reshaping the International Financial Architecture:
    Blunting U.S. Power and Building Regional Order. In: Tellis AS, Alison & Wills M
    (eds) Strategic Asia 2019: China’s Expanding Strategic Ambitions. The National
    Bureau of Asian Research, 279 – 310.
    Eichengreen B. (2011a) Exorbitant Privilege: The Rise and Fall of the USD and the Future
    of the International Monetary System, New York: Oxford University Press.
    Eichengreen B. (2011b) The renminbi as an international currency. Journal of Policy
    Modeling 33: 723-730.
    Emine B, Camila C, Georgios G, và cộng sự (2020) Patterns in invoicing currency in global
    trade. European Central Bank.
    Giannini C. (2011) The Age of Central Banks: Edward Elgar Publishing.
    Gopinath G & Stein JC. (2021) Banking, Trade, and the Making of a Dominant Currency.
    The Quarterly Journal of Economics 136: 783-830.
    Ignazio A, Agnès B-Q, Benjamin C, và cộng sự (2011) Global currencies for tomorrow: A
    European perspective. Directorate General Economic and Financial Affairs (DG
    ECFIN), European Commission.
    Kirshner J. (2014) Regional Hegemony And An Emerging RMB Zone. In: Helleiner E &
    Kirshner J (eds) The Great Wall of Money. Cornell University Press, 213-240.
    Krugman P. (1984) The International Role of the USD: Theory and Prospect. In: Bilson JF &
    Marston RC (eds) Exchange Rate Theory and Practice. University of Chicago Press, 261-278.
    Matsuyama K, Kiyotaki N & Matsui A. (1993) Toward a Theory of International Currency.
    Review of Economic Studies 60: 283-307.
    Prasad E. (2016) Gaining Currency: The Rise of the Renminbi: xford University Press.
    Prasad E. (2019) Has the USD Lost Ground as the Dominant International Currency? :
    Brookings Institution Report.
    Rey H. (2001) International Trade and Currency Exchange. The Review of Economic
    Studies 68: 443-464.
    70

  15. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Seghezza E & Morelli P. (2018) Rule of law and balance of power sustain US USD
    preeminence. Journal of Policy Modeling 40: 16-36.
    Subramanian A. (2011) Eclipse: Living in the Shadow of China’s Economic Dominance:
    Peterson Institute for International Economics.

    71

Download tài liệu Vị thế đồng USD và những nỗ lực tái định hình hệ thống tài chính toàn cầu File Word, PDF về máy