[Download] Tải Ứng dụng mô hình Camels đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020 – Tải về File Word, PDF

Ứng dụng mô hình Camels đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020

Ứng dụng mô hình Camels đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020
Nội dung Text: Ứng dụng mô hình Camels đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020

Download


Bài viết đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng trong thời gian này để rút ra những bài học kinh nghiệm và hoạch định chiến lược hoạt động cho hệ thống ngân hàng trong thời gian tới. Mời các bạn cùng tham khảo!

Bạn đang xem: [Download] Tải Ứng dụng mô hình Camels đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020 – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Ứng dụng mô hình Camels đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020 File Word, PDF về máy

Ứng dụng mô hình Camels đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Ứng dụng mô hình Camels đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020

  1. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    53.

    1Ngô Thanh Xuân*
    Trần Thị Mai Lan*
    Đặng Thị Thùy Dương*
    Nguyễn Thị Bảo Ngọc*

    Tóm tắt
    Ngân hàng có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế. Việc đánh giá hiệu quả hoạt động của
    hệ thống ngân hàng đặc biệt được quan tâm. Một nền kinh tế chỉ phát triển khi có một hệ
    thống ngân hàng hoạt động hiệu quả. Do đó, mỗi một thời kỳ, hệ thống ngân hàng phải xây
    dựng chiến lược để thích ứng và nâng cao hiệu quả hoạt động. Khoảng thời gian từ 2010-
    2019 được coi là thời kỳ các ngân hàng thương mại (NHTM) có nhiều sự thay đổi lớn trong
    chiến lược hoạt động. Chưa dừng lại đó, cuối năm 2019, đại dịch Covid-19 xuất hiện trên
    thế giới và tràn vào Việt Nam ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của hệ thống NHTM. Các
    ngân hàng vừa phải đảm bảo hoạt động hiệu quả vừa phải thực hiện nhiệm vụ thúc đẩy nền
    kinh tế thoát khỏi khủng hoảng. Chính vì vậy, rất cần thiết phải đánh giá hiệu quả hoạt động
    của hệ thống ngân hàng trong thời gian này để rút ra những bài học kinh nghiệm và hoạch
    định chiến lược hoạt động cho hệ thống ngân hàng trong thời gian tới.
    Từ khóa: CAMELS, hiệu quả hoạt động, ngân hàng, Covid-19.

    1. Lời giới thiệu
    Sức khỏe của một nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của hệ thống tài chính.
    Do đó bất cứ hoạt động không hiệu quả nào của hệ thống cũng ảnh hưởng trực tiếp đến
    sự phát triển của nền kinh tế (Rostami, 2015). Hiện nay, việc đánh giá hiệu quả hoạt động
    của hệ thống ngân hàng rất được quan tâm bởi lẽ ngân hàng luôn được coi là huyết mạch
    của thị trường tài chính. Trong những năm trở lại đây, có thể thấy nền kinh tế Việt Nam
    nói riêng và thế giới nói chung gặp khá nhiều biến động. Cụ thể gần đây nhất là khi dịch

    *
    Viện Ngân hàng-Tài chính, ĐH Kinh tế Quốc Dân | Email liên hệ: xuantn@neu.edu.vn
    785

  2. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    bệnh Covid-19 bùng phát từ cuối năm 2019 trên thế giới và tràn vào Việt Nam chưa có
    dấu hiệu kết thúc. Điều này có tác động mạnh mẽ đến hoạt động của hệ thống ngân hàng
    trên thế giới và Việt Nam. Cùng với sự vận động không ngừng của thị trường tài chính
    mà mỗi thời kỳ các ngân hàng phải có các chính sách hoạt động phù hợp để thích nghi và
    nâng cao hiệu quả hoạt động.
    Các tổ chức tín dụng (TCTD) và NHTM có vai trò chủ chốt trong quá trình luân
    chuyển vốn của nền kinh tế, việc đánh giá hiệu quả hoạt động NHTM góp phần đảm bảo
    phát triển kinh tế bền vững và năng động. Hệ thống ngân hàng hình thành nguồn vốn đầy
    đủ và phân bổ nguồn vốn sao cho thật hiệu quả tới các dự án đầu tư, dịch vụ thanh toán
    trên thị trường tài chính, nơi tập hợp các chủ thể thiếu hụt vốn và cả các cá nhân và tổ
    chức dư thừa nguồn vốn (Dincer và cộng sự, 2011). Các NHTM trong vai trò là trung
    gian tài chính sẽ cung cấp dịch vụ thanh toán và nhiều sản phẩm tài chính cho phép khu
    vực doanh nghiệp và hộ gia đình đối phó với những bất ổn kinh tế bằng cách bảo hiểm
    rủi ro, chia sẻ và định giá tài chính (Mishkin, 2009). Ở cả các nền kinh tế phát triển và
    đang phát triển, các NHTM là nguồn cung cấp vốn chính cho nền kinh tế.
    Cùng với sự biến động không ngừng của thị trường tài chính, sự xuất hiện của các loại
    hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng cũng đe dọa đến thị phần hoạt động của các NHTM.
    Điều này khiến cho việc xác định, đánh giá hiệu quả của hệ thống NHTM hiện nay càng cấp
    thiết. Trong 2 thập kỷ qua, các tổ chức tài chính trên khắp thế giới đã tiến bộ nhanh chóng
    với xu hướng toàn cầu hóa, hội nhập tài chính, tiến bộ công nghệ, giảm chi phí thông tin, thay
    đổi nhân khẩu học và cạnh tranh giữa các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng
    (Hoque & Rayhan, 2013). Chính bởi vậy việc đánh giá, phân tích và giám sát hoạt động hệ
    thống NHTM trở thành một căn cứ quan trọng cấp thiết hơn bao giờ hết để cơ quan quản lý
    xây dựng cơ cấu điều chỉnh phù hợp với diễn biến thị trường.
    Trong những năm gần đây, một trong những mô hình được sử dụng nhiều nhất để
    đánh giá hiệu quả hoạt động và sự lành mạnh của ngân hàng được thể hiện bằng khung
    CAMELS (Roman & Sargu, 2013). Mô hình được phát triển vào đầu những năm 1970
    bởi cơ quan quản lý liên bang ở Mỹ. Hệ thống đánh giá CAMELS dựa trên đánh giá 6
    yếu tố quan trọng trong hoạt động của một tổ chức tài chính: Mức độ an toàn vốn, Chất
    lượng tài sản có, Khả năng quản lý, Thu nhập, Tính thanh khoản và Độ nhạy cảm với rủi
    ro thị trường. Bài viết này sẽ trình bày về thực trạng hiệu quả hoạt động của hệ thống
    NHTM Việt Nam giai đoạn 2010-2020 thông qua mô hình CAMELS.

    786

  3. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    2. Tổng quan lý thuyết
    Khái niệm mô hình CAMELS
    CAMELS là một mô hình xếp hạng, đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng và cũng là
    chữ viết tắt của sáu yếu tố chính trong mô hình đó chính là: Capital (vốn), Assets (tài sản),
    Management (quản lý), Earnings (lợi nhuận), Liquidity (thanh khoản) và Sensitivity (độ nhạy
    cảm với các rủi ro thị trường) (Nguyễn Ngọc Tú, 2018). Mục đích của mô hình CAMELS là
    cung cấp cách đánh giá chính xác và nhất quán nhất về tình trạng tài chính cũng như các hoạt
    động trong vấn đề mức độ an toàn vốn, chất lượng tài sản, quản lý, tính thanh khoản và mức
    độ nhạy cảm với các thay đổi của thị trường. Các nhân tố trên sẽ quyết định sức mạnh tổng
    thể của ngân hàng. Hơn thế nữa, mô hình CAMELS phục vụ mục đích tạo ra cái nhìn khái
    quát cho các nhà quản lý. Hỗ trợ các nhà quản lý giám sát hoạt động của các NHTM và đưa
    ra những cảnh báo hay biện pháp kịp thời, giảm thiểu những ảnh hưởng xấu đến hiệu quả
    hoạt động của ngân hàng (Nguyễn Ngọc Tú, 2018).
    Lịch sử hình thành và phát triển của mô hình CAMELS
    Mô hình CAMELS hiện đang là mô hình được sử dụng nhiều nhất để đánh giá hiệu quả
    hoạt động của ngân hàng (Roman & Sargu, 2013). Xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1970,
    CAMELS đã dần khẳng định vị trí vị trí của mình, đến tháng 10-1987, mô hình này được
    Cục Quản lý và Tổ hợp tín dụng Mỹ chấp nhận và thông qua. Từ đó, CAMELS được sử
    dụng ngày càng phổ biến để đánh giá hiệu quả hoạt động và xếp hạng đối với các NHTM
    (FDIC, 2017).
    Ban đầu, khi mới được thành lập, mô hình có tên gọi là CAMEL với 5 yếu tố chính
    là: Capital (Vốn), Asset Quality (Chất lượng tài sản có), Management (Quản lý),
    Earnings (Lợi nhuận), Liquidity (Thanh khoản) (Cargili, 1989). Vào những năm 1990
    trở lại CAMEL vẫn được sử dụng với khá ít nhược điểm. Tuy nhiên sau khi trải qua cuộc
    khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997, hầu hết các ngân hàng đều chịu tác động mạnh
    mẽ của sự biến đổi về tình hình kinh tế, hệ thống ngân hàng ý thức việc đánh giá lại hiệu
    quả hoạt động là rất quan trọng.
    Khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, các nhà kinh tế nhận thấy mô hình CAMEL
    không còn đánh giá hiệu quả hoạt động và xếp hạng một cách đầy đủ như trước đây. Nhìn
    nhận được lỗ hổng này, mô hình CAMEL được bổ sung thêm yếu tố thứ sáu đó chính là
    Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường (Sensitivity to market risks) vào năm 1997
    (Nguyễn Thị Diễm Hiền và cộng sự, 2014). Việc bổ sung thêm nhân tố thứ sáu này giúp
    việc đánh giá và xếp hạng ngân hàng hiệu quả hơn ngay cả khi gặp những bất ổn trong
    nền kinh tế.

    787

  4. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Các nhân tố trong mô hình CAMELS
    Hình 1. Hệ thống xếp hạng CAMELS

    Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp, 2021

    Capital Adequacy – Mức độ an toàn vốn
    Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
    (Nguyễn Thị Diễm Hiền và cộng sự, 2014). Theo Thông tư 52/2018/TT-NHNN ngày 31-
    12-2018 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) về việc quy định xếp hạng tổ chức tín dụng,
    chi nhánh ngân hàng nước ngoài, một số những chỉ tiêu cụ thể được sử dụng để đánh giá
    mức độ an toàn vốn gồm nhóm các chỉ tiêu định lượng như CAR – tỷ lệ an toàn vốn, và
    nhóm các chỉ tiêu định tính như việc các NHTM tuân thủ các quy định của pháp luật về
    việc ban hành, rà soát hay xem xét sửa đổi và bổ sung, thực hiện đúng các quy định báo
    cáo nội bộ về đánh giá chất lượng tài sản có và việc đảm bảo đúng mức tỷ lệ an toàn vốn
    tối thiểu theo quy định của pháp luật,…
    Asset Quality-Chất lượng tài sản có
    Chất lượng tài sản có là chỉ tiêu nói lên toàn bộ giá trị ngân hàng hiện đang có quyền sở
    hữu hay sử dụng, định đoạt một cách hợp pháp. Quy mô, cơ cấu, chất lượng quyết định
    đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Tài sản của ngân hàng bao gồm các tài sản có
    khả năng sinh lợi và các tài sản không có khả năng sinh lợi. Tuy nhiên, khoản mục cho
    vay chiếm giá trị lớn trong khoản mục tài sản của các ngân hàng và cũng là tài sản tiềm
    ẩn nhiều rủi ro nhất (Gier, 2007).

    788

  5. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Theo Thông tư 52/2018/TT-NHNN ngày 31-12-2018 của NHNN, một số chỉ tiêu thường
    được sử dụng để đánh giá chất lượng tài sản có của ngân hàng bao gồm: nhóm các chỉ tiêu
    định tính và định lượng. Nhóm các chỉ tiêu định lượng như tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ chi phí hoạt
    động, chỉ tiêu lợi nhuận như ROA, ROE… Đối với nhóm các chỉ tiêu định lượng, thông qua
    các chỉ tiêu đánh giá và chấm điểm các khoản cho vay, tuân thủ các quy định đối với việc
    ban hành, rà soát, sửa đổi bổ sung và báo cáo hệ thống chỉ tiêu nội bộ về ra quyết định cấp
    tín dụng, quản lý tình trạng các khoản vay, tuân thủ chính sách về dự phòng rủi ro, các quy
    định pháp luật về phân loại các loại tài sản có, mức trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự
    phòng rủi ro để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng.
    Management-Quản lý
    Khả năng quản lý có tác động trực tiếp tới hiệu quả hoạt động của ngân hàng (FDIC,
    2017). Việc quản lý tốt tạo ra một hệ thống hoạt động thống nhất, có sự liên kết giữa các
    bộ phận, ban ngành, các sản phẩm, dịch vụ với nhau. Năng lực quản lý đóng vai trò quan
    trọng trong thành công hay thất bại của ngân hàng. Tuy nhiên, việc đánh giá năng lực
    quản lý một cách tổng quát là một điều rất khó khăn. Chính vì vậy, với các mục đích
    nghiên cứu khác nhau mà các nhà nghiên cứu sẽ lựa chọn đánh giá năng lực trong từng
    lĩnh vực (Dincer và cộng sự, 2011).
    Theo Thông tư 52/2018/TT-NHNN ngày 31-12-2018 của NHNN, các chỉ tiêu thường
    được sử dụng để đánh giá năng lực quản lý gồm: các chỉ tiêu định lượng (tỷ lệ chi phí so với
    tổng thu nhập hoạt động…) và các nhóm chỉ tiêu định tính (tuân thủ các quy định pháp luật
    về cổ phiếu, cổ đông, cổ phần; các quy định pháp luật về giới hạn góp vốn, mua cổ phần…).
    Earnings – Lợi nhuận
    Mặc dù mục tiêu của các ngân hàng nói riêng và các doanh nghiệp nói chung là tối đa
    hóa giá trị vốn chủ sở hữu, nhưng các ngân hàng vẫn luôn muốn duy trì một mức lợi
    nhuận ổn định, không quá thấp và thường giữ mức lợi nhuận này không âm. Một mức lợi
    nhuận cao chưa hẳn đã là tốt, cũng như một mức lợi nhuận thấp cũng chưa đủ để kết luận
    ngân hàng không đạt hiệu quả hoạt động. Do đó, khi dùng chỉ tiêu lợi nhuận để đánh giá
    hiệu quả cần phải có cái nhìn toàn diện, và trong các mối quan hệ khác nhau (Gier, 2007).
    Theo Thông tư 52/2018/TT-NHNN ngày 31-12-2018 của NHNN, một số chỉ tiêu phổ
    biến dùng để giá mức sinh lời từ hoạt động bao gồm: các nhóm chỉ tiêu định lượng (tỷ lệ lợi
    nhuận trước/sau thuế trên tổng tài sản bình quân; tỷ lệ lợi nhuận trước/sau thuế trên vốn chủ
    sở hữu; thu nhập lãi cận biên (NIM); vòng quay lãi phải thu…) và các nhóm chỉ tiêu định tính
    (tuân thủ quy định về chế độ tài chính đối với TCTD, chi nhánh ngân hàng…).

    789

  6. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Liquidity-Thanh khoản
    Yếu tố thanh khoản được sử dụng để đánh giá khả năng chi trả cho các hoạt động của
    ngân hàng. Ngân hàng thường giữ lại một phần tài sản của mình dưới dạng tiền mặt để
    đáp ứng khả năng rút tiền ồ ạt của khách hàng mà không cần phải thu hồi các khoản cho
    vay hay các nguồn vốn khác để tài trợ cho hoạt động của mình (Nguyễn Thị Diễm Hiền
    và cộng sự, 2014). Thanh khoản kém làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Đó
    cũng chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng. Nếu ngân
    hàng không đáp ứng được khả năng thanh khoản khi khách hàng đến rút tiền, thường dẫn
    đến tâm lý lo sợ, nguy cơ khách hàng đổ xô đến rút tiền rất cao, làm giảm hiệu quả hoạt
    động của ngân hàng.
    Theo Thông tư 52/2018/TT-NHNN ngày 31-12-2018 của NHNN, một số tiêu chí phổ
    biến để đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng gồm: các chỉ tiêu định lượng gồm
    tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, tỷ lệ tài sản có tính
    thanh khoản cao bình quân trên tổng tài sản bình quân, tỷ lệ tiền gửi của khách hàng có
    số dư tiền gửi lớn so với tổng tiền gửi, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi… và các
    chỉ tiêu định tính như quy định về tuân thủ các văn bản pháp luật về tỷ lệ khả năng chi
    trả, tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử
    dụng để cho vay trung hạn và dài hạn…
    Sensitivity to market risk-Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường
    Thị trường tài chính luôn biến động không ngừng ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả
    hoạt động của ngân hàng. Hầu hết các khoản mục tài sản của ngân hàng đều gắn liền với
    các yếu tố lãi suất, tỷ giá, hay giá cả trên thị trường. Trong khi đó, những yếu tố này
    không ngừng vận động theo những chiều hướng khác nhau báo hiệu khả năng dễ tổn
    thương của ngân hàng (Nguyễn Thị Diễm Hiền và cộng sự, 2014).
    Theo Thông tư 52/2018/TT-NHNN ngày 31-12-2018 của NHNN, các nhân tố thường
    được sử dụng để đánh giá mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường gồm: nhóm các chỉ tiêu
    định lượng (tỷ lệ tổng trạng thái ngoại tệ so với vốn tự có riêng lẻ bình quân, tỷ lệ chênh
    lệch giữa tài sản nhạy cảm lãi suất và nợ phải trả nhạy cảm lãi suất so với vốn chủ sở
    hữu…) và nhóm các chỉ tiêu định tính (tuân thủ giới hạn tổng trạng thái ngoại tệ theo quy
    định của pháp luật, tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý rủi ro thị trường…).

    790

  7. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    3. Thực trạng hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2010-
    2019 và tác động của đại dịch Covid-19 giai đoạn 2019-2020
    3.1. Thực trạng hiệu quả hoạt động của hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2010-2019
    Hệ thống NHTM ở Việt Nam tăng lên về số lượng nhanh chóng và đạt đỉnh điểm năm
    1996 với 51 ngân hàng (Nguyễn Thị Diễm Hiền & cộng sự, 2014). Theo số liệu của nhóm
    tác giả tổng hợp được trên website NHNN, giai đoạn 2010-2019, hệ thống ngân hàng Việt
    Nam được chia thành 4 nhóm chính: NHTM Nhà nước (NHTMNN), NHTM 100% vốn
    Nhà nước (NHTM100%VNN), NHTM cổ phần (NHTMCP) và NHTM liên doanh
    (NHTMLD). Trong đó phần lớn thị phần tài chính tập trung vào 4 NHTMNN là Ngân
    hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank); Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
    (Vietcombank); Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank);
    Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV); và 10 NHTMCP là NHTMCP Kỹ
    Thương Việt Nam (Techcombank); NHTMCP Quân đội (MBbank); NHTMCP Việt Nam
    Thịnh Vượng (VPbank); Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB); Ngân hàng TMCP Tiên
    Phong (TPbank); NHTMCP Sài Gòn-Hà Nội; NHTMCP Phát triển TPHCM; NHTMCP
    Sài Gòn Thương tín; NHTMCP Quốc tế Việt Nam; NHTMCP Hàng hải Việt Nam,
    NHTMCP Sài Gòn.
    Chỉ số đánh giá mức độ an toàn vốn (Capital)
    Chỉ tiêu về mức độ an toàn vốn thể hiện lượng vốn tự có dành cho hỗ trợ hoạt động kinh
    doanh của một ngân hàng. Một ngân hàng càng ưa thích rủi ro đồng nghĩa với đòi hỏi
    mức vốn tự có cao tương xứng nhằm đảm bảo bù đắp cho những tổn thất tiềm tàng. Vốn
    chủ yếu được coi là “tấm đệm” cho những cú sốc từ bên ngoài, hấp thụ đáng kể những
    tổn thất trước biểu hiện của rủi ro hoặc sự mất cân đối của nền kinh tế vĩ mô (Mishkin,
    2009). Hai chỉ tiêu đại diện cho mức độ an toàn vốn là chỉ số an toàn vốn CAR và chỉ số
    Nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu (LIE) để đại diện cho chỉ số mức độ an toàn vốn (Roman &
    Sargu, 2013), (Rostami, 2015). Tỷ lệ số LIE tính toán dựa trên báo cáo tài chính của các
    Ngân hàng giai đoạn 2010–2019 biến động theo Hình 2 dưới đây.
    Xu hướng tỷ lệ LIE của các NHTM Việt Nam tăng dần trên cả chu kỳ (từ 10,3 lần
    năm 2010 lên 14,1 lần năm 2019). Mặc dù vốn cao hơn bình quân nhưng LIE của nhóm
    NHTMNN lại cao hơn so với so với trung bình ngành (đặc biệt là 18,1 lần so với 14,7 lần
    vào năm 2017). Điều này cho thấy các NHTMNN sử dụng rất nhiều nợ để tài trợ cho hoạt
    động của mình. Đồng nghĩa với việc mức lợi tức khổng lồ hằng năm kèm theo là rủi ro
    cực lớn. Nhưng từ năm 2018, con số này của các NHTMNN có xu hướng sụt giảm nhanh
    chóng (12,9 lần vào 2019). Từ 2018, NHNN siết chặt hơn nữa những quy định về chỉ tiêu

    791

  8. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    an toàn vốn. Điều này buộc các ngân hàng cần giảm thiểu lượng vay nợ đồng thời gia
    tăng vốn chủ nhằm đảm bảo duy trì mức rủi ro được NHNN cho phép.
    Hình 2. Tỷ lệ Nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu của các NHTM giai đoạn 2010-2019
    20
    18
    16
    14
    12
    NHTMNN
    10
    8 NHTMCP
    6 Bình quân
    4
    2
    0
    2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021

    Một chỉ tiêu quan trọng trong việc xác định mức độ an toàn vốn của các NHTM là chỉ số
    an toàn vốn CAR. Chỉ số CAR trung bình của 27 NHTM được nhóm nghiên cứu thống kê là
    trên 10% (Hình 3). Phần đông các NHTM đã đạt yêu cầu về đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn theo
    quy định của NHNN (điều chỉnh ở mức 8-9% trong giai đoạn này). Nhưng nhìn chung chỉ
    số CAR có dấu hiệu giảm nếu xét từ năm 2010 trở lại đây. Lý do là cùng với xu hướng phát
    triển nhanh chóng của nền tài chính 10 năm trở lại đây, tổng tài sản ngân hàng đã gia tăng
    nhanh chóng so với tốc độ tăng của vốn tự có. Một giá trị CAR không quá cao cũng chứng
    minh sự cải thiện trong khả năng quản trị rủi ro của hệ thống Ngân hàng. Dễ thấy CAR của
    nhóm NHTMNN thường tụt thấp so với bình quân ngành và xu hướng tăng nhẹ từ 2018, điều
    này phù hợp với mức ưa thích rủi ro rất cao của các NHTMNN.
    Hình 3. Hệ số CAR các NHTM giai đoạn 2010-2019
    20.00%

    15.00%
    NHTMNN
    10.00% NHTMCP
    Bình quân
    5.00%

    0.00%
    2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021
    792

  9. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Chất lượng tài sản (Asset)
    Nhóm tác giả lựa chọn tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ (NPL) là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tài
    sản trong hoạt động ngân hàng (Phan Thị Hằng Nga, 2013), (Rostami, 2015). Thông
    thường, trong trường hợp của một ngân hàng, các khoản vay đại diện cho phần quan trọng
    nhất của tài sản, những nhóm nợ xấu của ngân hàng được quy định là nợ nhóm 3, 4 và 5
    (Thông tư 03/2013/TT-NHNN ngày 28-1-2013 của NHNN quy định về hoạt động tín
    dụng). Tỷ lệ nợ xấu càng cao càng biểu hiện chất lượng tài sản của ngân hàng càng thấp.
    Hình 4 mô tả tình hình nợ xấu của 27 NHTM khảo sát trong giai đoạn 2010-2019.
    Hình 4. Tỷ lệ Nợ xấu/Tổng dư nợ các NHTM giai đoạn 2010-2019

    3.50%
    3.00%
    2.50%
    2.00% NHTMNN

    1.50% NHTMCP

    1.00% Bình quân

    0.50%
    0.00%
    2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021

    Tỷ lệ NPL trong 10 năm này khá ổn định, dao động ở mức 1,5-2% trong nhiều năm,
    duy chỉ năm 2012 tăng cao nhất lên mức 2,93%. Phần lớn các ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu
    cao tập trung vào nhóm ngân hàng có tính cạnh tranh không cao trên thị trường, với quy
    mô tổng tài sản và vốn chủ sở hữu nhỏ.
    Năng lực quản lý (Management)
    Chất lượng quản lý có tầm quan trọng lớn đối với việc sự ổn định của các ngân hàng.
    Năng lực quản lý của ngân hàng có thể đo lường thông qua tỷ lệ Chi phí hoạt động/Tổng
    tài sản (OCA) (Roman & Sargu, 2013). Các ngân hàng luôn tìm cách giảm thiểu chi phí
    vận hành đến mức tối đa trên tổng tài sản có của mình, tức tỷ lệ này càng thấp càng chứng
    minh ngân hàng hoạt động có hiệu quả.
    Bảng 1 cho thấy mức bình quân tỷ lệ OCA của các NHTM giai đoạn này khoảng trên
    1,5%, và giá trị này của các NHTMCP nhìn chung cao hơn của các NHTMNN. Có NHTM
    có mức Chi phí hoạt động/Tổng tài sản cao lên đến 5,67% (2011), điều này ảnh hưởng
    rất lớn đến hiệu quả hoạt động và giảm thiểu đáng kể tính cạnh tranh về chất lượng dịch

    793

  10. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    vụ của ngân hàng, nhất là trong bối cảnh hội nhập. Cấu trúc chi phí trong báo cáo tài
    chính của các NHTM cho thấy chi phí lương và các chi phí liên quan đến nhân lực chiếm
    trên 50% tổng chi phí hoạt động. Điều này đi ngược lại với xu hướng toàn cầu là sự gia
    tăng chi phí dành cho dịch vụ khách hàng, vì khách hàng ngày càng yêu cầu ngân hàng
    cung cấp nhiều sản phẩm tài chính với chất lượng và hiệu quả dịch vụ tốt hơn.
    Bảng 2. Tỷ lệ Chi phí hoạt động/Tổng tài sản của NHTM giai đoạn 2010-2019
    Đơn vị: %

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021

    Chỉ số thu nhập và mức độ sinh lời (Earnings)
    Chỉ số thu nhập và mức độ sinh lời là chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động, đánh giá hiệu
    quả kinh doanh và mức độ phát triển của một NHTM. Hiện nay, việc đánh giá mức độ
    sinh lời của NHTM thể hiện qua 2 chỉ số cơ bản phổ biến: ROA và ROE (Roman & Sargu,
    2013), (Phan Thị Hằng Nga, 2013).
    Chỉ tiêu ROA cho phép đánh giá sức mạnh tài chính và hiệu quả của ngân hàng trong
    việc sử dụng các nguồn lực của mình. Khi ngân hàng càng có lợi thế tối thiểu chi phí vận
    hành, tối đa hóa lợi nhuận trên từng đồng tổng tài sản chứng tỏ bộ máy tài chính hoạt
    động càng hiệu quả. Đặc điểm chung của ngành là sử dụng đòn bẩy tài chính lớn nên mặt
    bằng chung ROA khá thấp. ROA bình quân dao động trong khoảng 1,5-2,5%, trong đó
    ROA của các NHTMNN thấp hơn so với NHTMCP trong cả giai đoạn nghiên cứu (Hình
    5). Dễ hiểu bởi NHTMNN với lợi thế lượng vốn lớn từ Nhà nước, càng đẩy mạnh việc
    sử dụng đòn bẩy để gia tăng nghiệp vụ cho vay. Các NHTM có ROA các năm thấp
    (khoảng 0,6-0,7%) tập trung vào các NHTMCP đã và đang trong quá trình tái cấu trúc
    như SCB, NVB. Hai năm 2012-2013 là giai đoạn ROA toàn ngành xuống thấp nhất.
    Nguyên nhân được giải thích do hoạt động kinh doanh gặp nhiều khó khăn sau cuộc
    794

  11. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    khủng hoảng tài chính toàn cầu. Hai năm này, lãi suất thị trường được ghi nhận giảm,
    nhưng chi phí huy động vẫn rất cao khiến lợi nhuận sụt giảm.
    Hình 5. ROA của các NHTM giai đoạn 2010-2019

    3.00%

    2.50%

    2.00%
    NHTMNN
    1.50%
    NHTMCP
    1.00% Bình quân
    0.50%

    0.00%
    2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021

    Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ROE phản ánh khả năng sinh lời của vốn tự có
    của ngân hàng, giá trị của chỉ số này phải được diễn giải một cách thận trọng, vì mức cao
    có thể nhấn mạnh khả năng sinh lời cao nhưng cũng là mức thấp vốn hóa và ngược lại.
    ROE của các NHTM qua các năm tương đối cao, trong đó ROE nhóm NHTMNN cao
    hơn hẳn phần còn lại. Tương tự như ROA, ROE cũng có xu hướng đi xuống trong giai
    đoạn 2012 (bình quân còn 6,91%) đến 2015 (xuống dưới 5%) (Hình 6). Năm 2015, nhiều
    NHTM đang trong quá trình tái cấu trúc được nhắc ở trên có ROE xuống đến dưới 1% là
    quá thấp.
    Hình 6. ROE của các NHTM giai đoạn 2010-2019

    25.00%

    20.00%

    15.00% NHTMNN
    NHTMCP
    10.00%
    Bình quân
    5.00%

    0.00%
    2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021

    795

  12. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Khả năng thanh toán (Liquidity)
    Quản trị rủi ro thanh khoản được coi là vấn đề quản lý quan trọng hàng đầu trong hoạt
    động ngân hàng. Một khi một ngân hàng rơi vào thiếu hụt thanh khoản, rất nhanh chóng
    kéo theo là sự sụp đổ hàng loạt của hệ thống tài chính. Hai chỉ tiêu để đánh giá khả năng
    thanh toán của một ngân hàng là tỷ lệ Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản (LIQ) và Tổng
    dư nợ cho vay/Tổng tiền gửi (LID) (Roman & Sargu, 2013), (Phan Thị Hằng Nga, 2013).
    Giai đoạn 2010-2019, tỷ lệ tài LIQ của toàn ngành rất ổn định trong khoảng 14-15%
    (Hình 6). Từ 2010-2012 giá trị này không không có sự sai biệt đáng kể giữa hai nhóm
    NHTMNN và NHTMCP. Từ 2013 trở về đây, nhóm NHTMNN chênh lệch rất rõ rệt, điều
    này khẳng định uy tín và đảm bảo thanh khoản cao của các NHTMNN trong mắt công chúng.
    Hình 7. Tỷ lệ Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản các NHTM giai đoạn 2010-2019

    45.00%
    40.00%
    35.00%
    NHTMNN
    30.00%
    25.00% NHTMCP
    20.00% Bình quân
    15.00% max
    10.00%
    min
    5.00%
    0.00%
    2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021

    Tỷ lệ Tổng dư nợ cho vay/Tổng tiền gửi (LID) phản ánh khả năng chống lại các cú
    sốc đối với dòng tiền của các ngân hàng. Khi tỷ lệ dư nợ cho vay cao sẽ ảnh hưởng xấu
    đến khả năng thanh toán của các NHTM, dẫn đến nguy cơ sụp đổ hàng loạt khi khách
    hàng yêu cầu rút tiền bất ngờ với số lượng lớn. Hình 7 cho thấy tỷ lệ này duy trì ở mức
    khá cao (trên 70-80%) trong cả giai đoạn. Việc tập trung vào khoản mục cho vay có thể
    tạo ra một tỷ lệ sinh lời lớn hơn so với các khoản mục tài sản khác nhưng đồng thời cũng
    hứa hẹn một mức rủi ro lớn, điều này tuân thủ theo quy tắc đánh đổi lợi nhuận – rủi ro.
    Có ngân hàng còn có mức tỷ lệ này trên 100% cho thấy sự mất cân đối trong việc sử dụng
    vốn của ngân hàng.

    796

  13. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Hình 8. Tỷ lệ Tổng cho vay/Tổng tiền gửi của các NHTM giai đoạn 2010-2019

    180.00%
    160.00%
    140.00%
    120.00% NHTMNN

    100.00% NHTMCP

    80.00% Bình quân

    60.00% max
    40.00% min
    20.00%
    0.00%
    2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021

    Rủi ro thị trường (Sensitivity)
    Nếu một ngân hàng có nhiều tài sản nhạy cảm với lãi suất hơn là nợ phải trả và lãi suất
    tăng, biên lãi ròng của ngân hàng sẽ cải thiện; ngược lại nếu lãi suất giảm, biên lãi ròng
    của ngân hàng sẽ giảm xuống (Hays và cộng sự, 2009). Các ngân hàng chịu sự thay đổi
    bất thường của lãi suất, theo đó dấu của tỷ lệ này phụ thuộc vào chiều tăng giảm của mức
    lãi suất thị trường.
    Hình 9. Tỷ lệ Tài sản nhạy cảm lãi suất/Nợ nhạy cảm lãi suất của các NHTM giai
    đoạn 2010-2019

    1.60
    1.40
    1.20
    NHTMNN
    1.00
    NHTMCP
    0.80
    Bình quân
    0.60
    max
    0.40
    min
    0.20
    0.00
    2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021

    797

  14. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Hệ số nhạy cảm lãi suất của các NHTM bình quân qua các năm đều duy trì mức lớn
    hơn 1 (Hình 8). Tức là về mặt lý thuyết, NHTM sẽ có lợi nếu lãi suất thị trường tăng cao,
    khiến chi phí trả lãi thấp hơn lợi nhuận từ lãi.
    3.2. Tác động của đại dịch Covid-19 giai đoạn 2019-2020
    Thứ nhất, đại dịch Covid-19 khiến hoạt động huy động vốn của các ngân hàng trở nên
    khó khăn hơn bao giờ hết và hoạt động cho vay giảm khi cầu tín dụng giảm. Số lượng
    các món vay giảm khiến lượng tài sản có rủi ro trong hệ thống NHTM giảm theo, đồng
    thời xu hướng nợ xấu gia tăng đáng kể. Một số ngân hàng tăng tốc phát hành trái phiếu
    để thu hút thêm vốn trong thời điểm dịch bệnh (Anh Khoa, 2020). Với các loại trái phiếu
    phát hành có kỳ hạn lớn hơn 5 năm sẽ đủ điều kiện để tính vào vốn cấp 2, giúp vốn tự có
    của các ngân hàng tăng lên và cải thiện hệ số an toàn vốn. Điều này giải thích thực trạng
    chỉ tiêu CAR của nhóm NHTMNN nửa đầu 2020 có sự tăng nhẹ so với trung bình 10
    năm trước. Trái ngược với các NHTMNN, CAR của các NHTMCP có xu hướng giảm
    trong thời kỳ dịch bệnh.
    Bảng 3: Tỷ lệ CAR

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021

    Thứ hai, khảo sát tại 27 ngân hàng, đến năm 2020, do kinh tế chịu ảnh hưởng sâu
    rộng từ dịch Covid-19, báo cáo nửa đầu năm của một số ngân hàng ghi nhận tỷ lệ nợ xấu
    (NPL) tăng 2 chữ số. NPL trong nửa đầu 2020 cũng vì vậy tăng cao, chất lượng tài sản
    có của hệ thống ngân hàng xuống thấp, làm giảm tính ổn định trong hoạt động của cả hệ
    thống NHTM.
    Thứ ba, các chỉ tiêu lợi nhuận ROA, ROE nửa đầu năm 2020 của ngân hàng ghi nhận
    mức giảm rất nhẹ cho dù chịu tác động của dịch bệnh. Cơ cấu nợ xấu tăng cao khiến chi
    phí dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng cũng tăng, lãi dự thu thấp bởi chính sách giãn
    nợ, hỗ trợ san sẻ khó khăn với khách hàng thời kỳ Covid. Không chỉ vậy, nguồn thu phí
    cũng bị ảnh hưởng tiêu cực khi mọi giao dịch trong nền kinh tế bị chậm lại. Phần lớn
    doanh thu của ngân hàng được cải thiện nhờ các dịch vụ tài chính phi tín dụng. Để thích
    ứng với tình hình mới, các ngân hàng đang có những chuyển hướng mạnh mẽ trong cơ
    cấu hoạt động bằng việc đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ.

    798

  15. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Bảng 4: Chỉ tiêu lợi nhuận ROA, ROE

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021

    Thứ tư, tỷ lệ Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản (LIQ) của nhóm NNHTMNN tuy có
    điều chỉnh giảm nhẹ trong thời kỳ Covid, song vẫn ở mức cao hơn hẳn so với các
    NHTMCP. Chứng tỏ các NHTMNN luôn đảm bảo mức thanh khoản tốt nhất cho nền
    kinh tế dù trước nguy cơ về nhu cầu tiền mặt thường tăng lên do người dân muốn tìm
    kiếm phương tiện thanh toán ổn định trong giai đoạn bất ổn và khó khăn của nền kinh tế.
    Điều này trái ngược với các NHTMCP với khả năng quản trị rủi ro hoạt động bị đánh giá
    thấp hơn.
    Bảng 5: Tỷ lệ Tài sản thanh khoản/Tổng tài sản

    Nguồn: Tổng hợp và tính toán của nhóm tác giả, 2021

    4. Một số kiến nghị
    Thứ nhất, NHTM cần đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu theo chuẩn Basel II. Để thực
    hiện điều này, yêu cầu ngân hàng cần chú trọng xây dựng chính sách hợp lý, cân đối
    trong thao tác phân phối kết quả kinh doanh của ngân hàng, giữa việc chi trả cổ tức cho
    cổ đông và giữ lại phần lợi nhuận hợp lý để tăng quy mô vốn chủ sở hữu. Lượng vốn tái
    đầu tư từ lợi nhuận giữ lại này là nguồn có chi phí sử dụng thấp nhất, song nếu phân bố
    không hợp lý có thể gây ảnh hưởng đến lợi ích, quyền lợi của các cổ đông. Các hoạt động
    mua bán và sáp nhập giữa các ngân hàng cũng cần được tăng cường, tạo ra nhiều ngân
    hàng có quy mô vốn lớn hơn, chuyển hướng tập trung thị phần sang các Ngân hàng ngoài
    vốn Nhà nước khác. Đồng thời, tái cơ cấu chức năng của NHTM theo định hướng: tách
    bạch chức năng của một ngân hàng đầu tư, chuyên hoạt động cho vay những khoản vay
    trung và dài hạn, với chức năng NHTM là tập trung vào khoản vay tiêu dùng có kỳ hạn
    ngắn hơn. Tách biệt như vậy có tác dụng đề phòng tình trạng tích tụ rủi ro tín dụng quá
    cao, dẫn đến khủng hoảng đổ vỡ ngân hàng như nhiều quốc gia trên thế giới.

    799

  16. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Thứ hai, các NHTM cần chuẩn hóa quá trình đánh giá nợ xấu và đưa ra những biện
    pháp can thiệp cụ thể, như thực hiện rao bán các khoản nợ này hay thanh lý tài sản. NHTM
    nên tìm cách gia tăng chất lượng của các khoản cho vay thay vì tăng cường số lượng các
    khoản cho vay. Hạn chế tín dụng tăng trưởng quá nóng và củng cố các biện pháp giải
    quyết vấn đề nợ xấu một cách triệt để. Thực hiện các chiến lược hỗ trợ khách hàng bị ảnh
    hưởng bởi dịch bệnh như các chính sách ưu đãi tín dụng, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn
    giảm các khoản lãi vay, cho vay với mức lãi suất thấp, cắt giảm chi phí hoạt động, nâng
    cao các khoản thu nhập ngoài lãi. Đưa ra phương hướng phòng ngừa và các mức dự phòng
    rủi ro đối với việc các khoản nợ xấu tăng lên.
    Thứ ba, nhà quản trị của mỗi NHTM cũng cần nâng cao khả năng quản lý hoạt động kinh
    doanh. Theo kết quả kiểm định sử dụng đòn bẩy tài chính là yếu tố làm tăng tỷ suất sinh lời
    trên tài sản và trên vốn chủ sở hữu. Việc sử dụng đòn bẩy tài chính có tính hai mặt, nếu đòn
    bẩy không đủ mạnh để dự phòng cho rủi ro ước tính trước đó, sẽ làm giảm tính thanh khoản,
    thậm chí đẩy ngân hàng đến trường hợp mất khả năng thanh toán, dẫn đến sự sụp đổ của
    không chỉ một mà thậm chí là cả hệ thống ngân hàng. Theo kinh nghiệm của các nước trên
    thế giới, các ngân hàng hiện đại muốn duy trì được hệ thống hạ tầng cơ sở và ứng dụng công
    nghệ thông tin để phục vụ cho các hoạt động của mình thì hàng năm họ phải đầu tư vào công
    nghệ từ 3-5% tổng doanh thu hoạt động (Phan Thị Hằng Nga, 2013).
    Thứ tư, việc đa dạng hóa nguồn thu nhập và đa dạng hóa phân bổ tài sản giúp tăng
    cường khả năng sinh lợi của các NHTM tại Việt Nam. Các ngân hàng nên tăng cường
    hoạt động ngoại bảng nhằm đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình và do đó giảm được
    chi phí giám sát tốn kém cho các khoản mục nợ khó đòi. Nhận định này càng được củng
    cố sau biến cố đại dịch Covid-19. Ngân hàng cần chú trọng cả cung cấp và phát triển các
    sản phẩm và dịch vụ online như Internet Banking, gửi tiền tiết kiệm qua app… Bên cạnh
    việc cung cấp nhiều sản phẩm online thay thế cho các sản phẩm truyền thống, các NHTM
    vẫn phải đảm bảo được chất lượng dịch vụ, an toàn cho khách hàng.

    Tài liệu tham khảo
    Anh Khoa (2020), Huy động vốn khó, ngân hàng tích cực phát hành trái phiếu, Tạp chí tài chính,
    truy nhập ngày 10 tháng 4 năm 2021 tại < https://bitly.com.vn/7e9eyx>
    Cargili, T. C. (1989), CAMEL Ratings and the CD Market, Journal of Financial Services
    Research, 3, 347-358.
    Dincer, H., Gencer, G. & Orhan, N. (2011), A Performance Evaluation of the Turkish Banking
    Sector after the Global Crisis via CAMELS Ratios, Procedia – Social and Behavioral
    Sciences, 24, 1530-1545.

    800

  17. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Gasbarro, D. & Sadguna, G. M., Zumwalt, J. K. (2002), The Changing Relationship Between
    CAMEL Ratings and Bank Soundness during the Indonesian Banking Crisis, Review of
    Quantitative Finance and Accounting, 19, 247–260.
    Georgios, K. & Elvis, K. (2019), Bank Value using Camels Model Evidence from Balkans
    Banking System, International Research Journal of Finance and Economics, 176, 182-195.
    Gier, W. A. (2007), Credit Analysis Of Financial Institutions, Euromoney Institutional Investor
    PLC, 2nd edition.
    Federal Deposit Insurance Corporation (FDIC) and Board of Governors of the Federal Reserve
    System (Fed) (2019), Uniform Financial Institutions Rating System, Federal Register truy
    nhập ngày 1 tháng 3 năm 2021 < https://bitly.com.vn/wmbnaq>
    Hays, F. H., Lurgio, S. A. & Gilbert, A. H. (2009), Efficiency Ratios and Community Bank
    Performance, Journal of Finance and Accountancy, 1(1), 1-15.
    Hoque, R. & Rayhan, I. (2013), Efficiency Measurement on Banking Sector in Bangladesh,
    Dhaka University Journal of Science, 61(1), 1-5.
    Mishkin, F. S. (2009), Economics of Money, Banking, and Financial Markets, Addison Wesley;
    2nd edition.
    NHNN (2013), Thông tư 03/2013/TT-NHNN ngày 28/1/2013 của NHNN quy định về hoạt động
    tín dụng của NHNN Việt Nam.
    NHNN (2018), Thông tư số 52/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của NHNN quy định xếp hạng
    tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
    Nguyễn Ngọc Tú (2018), Ứng dụng mô hình camels trong đánh giá hiệu quả kinh doanh tại ngân
    hàng TMCP Công Thương Việt Nam chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ,
    Trường ĐH Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.
    Nguyễn Thị Diễm Hiền, Trần Thanh Vũ & Nguyễn Thị Ngọc Chung (2014), Áp dụng hệ thống
    xếp hạng CAMELS đánh giá hiện trạng hoạt động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-
    2012, Tạp chí Kinh tế – Kỹ thuật, 6, 34-45.
    Phan Thị Hằng Nga (2013), Năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh
    tế, Trường ĐH Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh.
    Roman, A. & Sargu, A. C. (2013), The impact of bank-specific factors on the commercial banks
    liquidity: empirical evidence from CEE countries, Procedia Economics and Finance, 20, 571-579.
    Rostami, H. (2015), Determination of Camels model on bank’s performance, International
    Journal of Multidisciplinary Research and Development, 2 (10), 652-664.

    801

Download tài liệu Ứng dụng mô hình Camels đánh giá hiệu quả hoạt động hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2010-2020 File Word, PDF về máy