[Download] Tải Tự do hóa tài chính với sự phát triển bền vững ngành ngân hàng Việt Nam – Tải về File Word, PDF

Tự do hóa tài chính với sự phát triển bền vững ngành ngân hàng Việt Nam

Tự do hóa tài chính với sự phát triển bền vững ngành ngân hàng Việt Nam
Nội dung Text: Tự do hóa tài chính với sự phát triển bền vững ngành ngân hàng Việt Nam

Download


Bài viết tập trung nghiên cứu về thực trạng tiến trình tự do hóa tài chính trong ngành ngân hàng Việt Nam, nêu một số bất cập trong tiến trình đó, đặc biệt trong giai đoạn ngành ngân hàng Việt Nam đang tiến dần tới các chuẩn mực tài chính quốc tế. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, bài viết đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm phát triển bền vững ngành ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

Bạn đang xem: [Download] Tải Tự do hóa tài chính với sự phát triển bền vững ngành ngân hàng Việt Nam – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Tự do hóa tài chính với sự phát triển bền vững ngành ngân hàng Việt Nam File Word, PDF về máy

Tự do hóa tài chính với sự phát triển bền vững ngành ngân hàng Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Tự do hóa tài chính với sự phát triển bền vững ngành ngân hàng Việt Nam

  1. TỰ DO HÓA TÀI CHÍNH VỚI SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
    NGÀNH NGÂN HÀNG VIỆT NAM

    TS. Nguyễn Thị Diệu Chi1
    Viện Ngân hàng Tài chính, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân

    Tóm tắt

    Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế. Qu trình đó được
    thực hiện trên tất cả c c lĩnh vực kinh tế và xã hội, là sự gắn kết chặt chẽ của quá
    trình tự do thương mại, mở rộng giao thương với nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ và
    trên hết là quá trình tự do hóa tài chính. Trong quá trình mở cửa này, tự do hóa tài
    chính là một vấn đề thực sự cần được quan tâm. Bài viết tập trung nghiên cứu về
    thực trạng tiến trình tự do hóa tài chính trong ngành ngân hàng Việt Nam, nêu một
    số bất cập trong tiến trình đó, đặc biệt trong giai đoạn ngành ngân hàng Việt Nam
    đang tiến dần tới các chuẩn mực tài chính quốc tế. Tr n cơ sở đ nh gi thực trạng,
    bài viết đưa ra một số khuyến nghị chính sách nhằm phát triển bền vững ngành ngân
    hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

    Từ khóa: Ngành ngân hàng, hội nhập, tự do hóa tài chính

    1. Đặt vấn đề
    Khi một quốc gia hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu, yếu tố tài chính và
    sự phát triển của hệ thống tài chính đóng vai trò then chốt của quá trình này.
    Một trong những vấn đề hệ thống tài chính nói chung và ngành tài chính nói
    riêng quan tâm đó là quá trình tự do hóa tài chính cần được thực hiện ra sao để
    đảm bảo tối đa hóa lợi ích quốc gia, đồng thời hạn chế những bất lợi của quá
    trình này mang lại. Tự do hóa tài chính góp phần kiến tạo một kế thống tài
    chính lành mạnh, hoạt động linh hoạt hơn và thúc đẩy sự tăng trưởng và phát
    triển của các dịch vụ tài chính. Tuy nhiên, đi kèm với nó là tiềm ẩn sự đổ vỡ,
    nguy cơ khủng hoảng tài chính (Giannone D. và cộng sự, 2011).

    Quá trình tự do hóa tài chính đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XX, tuy nhiên,
    phải sau thế chiến thứ II, quá trình này mới thực sự phát triển mạnh mẽ,

    1
    Email: ndchi226@gmail.com

    155

  2. khởi đầu từ khu vực Bắc Mỹ, rồi tới châu Âu và dần lan sang khu vực châu Á
    -Thái Bình Dương. Tuy nhiên, cùng với đó là sự xuất hiện của các cuộc khủng
    hoảng tài chính như khủng hoảng tại khu vực Mỹ Latinh những năm 80,
    khủng hoảng Đông Á 1997, và gần đây nhất là khủng hoảng tài chính toàn cầu
    2008. Mặc dù tiềm ẩn nhiều rủi ro và nguy cơ khủng hoảng, nhưng tự do hóa
    tài chính là một yếu tố quan trọng trong mối quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế.
    Điều quan trọng là các quốc gia cần xác định mức độ tự do hóa tài chính của
    quốc gia mình thế nào, để vừa đảm bảo lợi ích quốc gia, vừa hạn chế tối đa
    những bất lợi của quá trình hợp tác này.

    Việt Nam những năm qua luôn chủ động và tích cực ký kết nhiều Hiệp
    định thương mại song phương và đa phương, đây cũng chính là các điều kiện
    cần thiết để Việt Nam ngày càng tiến dần vào quá trình tự do hóa tài chính,
    đặc biệt là quá trình tự do hóa tài chính của hệ thống tài chính quốc gia. Ngành
    ngân hàng là một bộ phận của hệ thống tài chính, do vậy, sự phát triển bền
    vững của ngành ngân hàng chính là một bộ phận cấu thành sự phát triển bền
    vững của cả hệ thống tài chính và quá trình tự do hóa tài chính cần xuất phát
    từ quá trình tự do hóa, hội nhập, đáp ứng các chuẩn quốc tế của ngành ngân
    hàng (De Haan, J. và J. E. Sturm, 2000).

    2. Khái quát về tự do hóa tài chính trong ngành ngân hàng
    Cùng với xu thế hội nhập, ngành ngân hàng và nhiều ngành nghề khác
    trong nền kinh tế đang tiến dần tới mở cửa hoàn toàn với thị trường quốc tế.
    Do vậy, tự do hóa tài chính là tất yếu khách quan. Tự do hóa tài chính của
    ngành ngân hàng là quá trình thực hiện việc chuyển đổi từ hệ thống tài chính
    ngân hàng chịu sự kiểm soát chặt chẽ bằng các mệnh lệnh hành chính của Nhà
    nước và Chính phủ, sang một hệ thống tài chính mới được điều tiết và kiểm
    soát thông qua các công cụ điều tiết kinh tế linh hoạt và sự vận động của các
    yếu tố thị trường (De Haan, J. và J. E. Sturm, 2000). Hay cụ thể, tự do hóa tài
    chính trong ngành ngân hàng là quá trình dỡ bỏ các hạn chế và giới hạn trong
    việc phân bổ nguồn lực tín dụng. Việc quản lý phân bổ này được thực hiện
    theo cơ chế giá, tại đó tổ chức tài chính được phép quyết định tỷ lệ giữa lãi
    suất tiền gửi và lãi suất tiền vay, không có sự can thiệp của Chính phủ theo cơ
    chế lãi suất trần. (Georgios E. Chortareas và cộng sự, 2012). Nhờ đó, tự do

    156

  3. hóa tài chính sẽ tạo nên một môi trường cạnh tranh lành mạnh hơn, chấm dứt
    phân biệt đối xử giữa các ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài.
    Hay, đây là quá trình giảm thiểu và cuối cùng là xóa bỏ sự kiểm soát của Nhà
    nước đối với hoạt động của hệ thống tài chính quốc gia, làm cho hệ thống này
    hoạt động tự do, hiệu quả và vận hành theo các quy luật của thị trường (Berger
    và cộng sự, 1997).

    Tự do hóa tài chính trong ngành ngân hàng được thể hiện qua bốn nội
    dung cơ bản: (1) Tự do hóa lãi suất; (2) Tự do hóa cơ chế tín dụng; (3) Tự do
    hóa tỷ giá hối đoái; (4) Tự do hóa quản lý ngoại hối và các luồng vốn lưu
    chuyển quốc tế (Georgios E. Chortareas và cộng sự, 2012).

    Tự do hóa lãi suất là cơ chế tại đó lãi suất được hoàn toàn vận hành theo
    cung cầu vốn của thị trường. Sự can thiệp của NHNN, NHTW chỉ thông qua
    các công cụ gián tiếp như lãi suất tái chiết khấu hay lãi suất tái cấp vốn để tác
    động nhằm xác lập mức lãi suất cân bằng. Tự do hóa lãi suất chính là việc dỡ
    bỏ hoàn toàn các ràng buộc về lãi suất và cho phép lãi suất của nền kinh tế đạt
    tới điểm cân bằng của nó. Lãi suất sẽ tự điều chỉnh linh hoạt, nhạy cảm, phản
    ánh đúng và đầy đủ các yêu cầu của thị trường (Ronald I. McKinnon, 1989).

    Tự do hóa cơ chế tín dụng là việc xóa bỏ các rào cản trong quá trình
    cung cấp và phân phối các nguồn lực kinh tế, nâng cao chất lượng và hiệu quả
    của hoạt động tín dụng (Gwartney, D. J., 2009). Tự do hóa tín dụng không có
    nghĩa là Nhà nước và Chính phủ hoàn toàn không can thiệp vào phân bổ các
    nguổn lực tài chính, mà tại đó, Chính phủ sẽ vẫn đóng vai trò dẫn dắt thị
    trường, còn các dòng vốn được lưu chuyển tự do đến nơi cần, theo nguyên tắc
    chịu trách nhiệm đối với phần vốn nhận được, đồng thời bảo đảm khả năng thu
    hồi và có lãi.

    Tự do hóa tỷ giá hối đoái là quá trình tại đó tỷ giá hối đoái được tự do
    biến động theo các quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường, giảm tối đa sự
    can thiệp trực tiếp của Chính phủ (Gerald A.Epstein, 2005). Tự do hóa tỷ giá
    hối đoái buộc các quốc gia nới lỏng việc kiểm soát tỷ giá và nâng cao khả
    năng chuyển đổi đồng bản tệ.

    Tự do hóa quản lý ngoại hối và các luồng vốn quốc tế là quá trình tại đó
    các dòng vốn quốc tế được tự do lưu chuyển ra vào một nền kinh tế. Việc mở
    157

  4. cửa thị trường sẽ tạo sức hút các nguồn vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế,
    tăng cường hoạt động thương mại, đầu tư, đặc biệt tạo môi trường phát triển
    và cạnh tranh trong ngành ngân hàng (Gerald A.Epstein, 2005).

    Ngành ngân hàng Việt Nam trong những năm qua cũng từng bước hướng
    tới tự do hóa tài chính theo các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã, đang và sẽ
    ký kết về mở cửa thị trường tài chính ngân hàng.

    Bảng 1: Lộ trình mở cửa thị trƣờng ngân hàng Việt Nam theo chuẩn quốc tế

    Năm Chính sách hƣớng tới tự do hóa tài chính ngành ngân hàng

    1991 Giảm dự trữ bắt buộc xuống dưới 10%

    1997 Áp dụng cơ chế tỷ giá hối đoái linh hoạt có sự điều tiết của
    Nhà nước thay vì tỷ giá cố định

    2002 Thành lập Ngân hàng Chính sách Xã hội

    2002 Áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận giữa các TCTD

    2004 Cho phép thành lập công ty tài chính 100% vốn nước ngoài

    2011 Xóa bỏ hạn chế hoạt động của ngân hàng 100% vốn nước
    ngoài tại Việt Nam

    2015 Sửa đổi Luật Dân sự quy định lãi suất thỏa thuận không vượt
    quá 20%

    2015 Thực hiện cơ chế điều hành tỷ giá mới trên cơ sở tỷ giá trung
    tâm, theo đó,cơ chế điều hành tỷ giá được chuyển từ neo tỷ giá
    với biến độ điều chính sang thả nổi có quản lý

    2016 Áp dụng thí điểm Basel II tại 10 NHTMCP

    Nguồn: Tổng hợp của tác giả

    Do vậy, bản chất của quá trình tự do hóa tài chính ngành ngân hàng
    không chỉ ở Việt Nam, mà ở các quốc gia là quá trình gắn kết ngành ngân
    hàng của một quốc gia với toàn bộ hệ thống kinh tế tài chính thế giới trong xu
    thế phát triển chung của hội nhập. Quá trình này được thực hiện trên cơ sở hợp
    tác kinh tế quốc tế, mở cửa thị trường và thực hiện điều chỉnh các quy tắc vận
    hành, quy tắc hoạt động theo chuẩn quốc tế của các định chế tài chính ngân
    hàng quốc gia.
    158

  5. 3. Thực trạng hoạt động của ngành ngân hàng Việt Nam
    Giai đoạn 2011 đến 2015 là một thời kỳ vô cùng khó khăn và cũng đạt
    được nhiều thành tựu của ngành Ngân hàng Việt Nam. Đây là giai đoạn thể
    hiện sự quyết tâm của toàn hệ thống trong công cuộc tái cơ cấu ngành và đồng
    thời tiếp tục mở cửa thị trường tài chính theo các thỏa thuận mở cửa thị trường
    của Việt Nam.

    Một là, hoàn thành nhiệm vụ tái cấu trúc ngành theo Quyết định 254 của
    Thủ tướng; NHNN đã huy động tổng lực sức mạnh toàn Ngành thực hiện
    thành công nhiệm vụ tái cơ cấu, trong đó các NHTM nhà nước đóng vai trò
    nòng cốt tham gia tái cơ cấu các NHTM yếu kém. Theo báo cáo của Ủy ban
    Giám sát Tài chính Quốc gia 2016, cuối năm 2015, hệ thống các TCTDVN có
    118 TCTD thành viên, gồm 4 nhóm: (1) NHTMNN, NHTMCP; (2) NH liên
    doanh và NH nước ngoài; (3) Công ty tài chính; (4) Ngân hàng hợp tác xã
    (quỹ tín dụng nhân dân).

    Bảng 2: Số lƣợng các Ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016

    Năm 2011 2012 2013 2014 2015 2016

    NHTMNN 5 5 5 5 7 7

    NHTMCP 37 34 33 33 28 28

    Nguồn: B o c o của Ủy ban Gi m s t Tài chính Quốc gia

    Nhóm các NHTMCP có 28 tổ chức, nhóm các NHTMNN là 7 tổ chức,
    trong đó, nhóm các NHTMCP biến động mạnh nhất, giảm từ 37 (2011) còn 34
    tổ chức (2012), 33 tổ chức (2013, 2014), và đến cuối 2016 chỉ còn 28 tổ chức.
    Tuy nhiên, nhóm NHTMNN là nhóm duy nhất tăng lên về số lượng, từ 5 tổ
    chức lên 7 tổ chức trong năm 2016, nguyên nhân xuất phát từ hoạt động mua
    bán, sáp nhập giữa các TCTD diễn ra trong năm 2015.

    159

  6. Bảng 3: Quá trình thực hiện tái cấu trúc các NHTM Việt Nam
    giai đoạn 2011 – 2015
    Năm
    Hình thức
    thực Trƣớc tái cấu trúc Sau tái cấu trúc
    thực hiện
    hiện
    NHTMCP Đệ Nhất, NHTMCP Sài Gòn,
    2011 NHTMCP Sài Gòn Hợp nhất
    NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa

    NHTMCP Nhà Hà Nội, NHTMCP Sài Gòn NHTMCP
    2012 Sáp nhập
    – Hà Nội Sài Gòn – Hà Nội

    NHTMCP Đại Á, NHTMCP Phát triển TP. NHTMCP
    2013 Sáp nhập
    HCM Phát triển TP. HCM

    NHTMCP Phương Tây, Tổng Công ty NHTMCP Đại chúng
    2013 Hợp nhất
    Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam Việt Nam

    NHTMCP Nhà đồng bằng sông Cửu Long, NHTMCP Đầu tư và
    2015 Sáp nhập
    NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam Phát triển Việt Nam

    NHTMCP Công thương NHTMCP Công thương
    2015 Sáp nhập
    Việt Nam, NHTMCP Xăng dầu Petrolimex Việt Nam

    NHTMCP Phương Nam, NHTMCP NHTMCP Sài Gòn
    2015 Sáp nhập
    Sài Gòn Thương Tín Thương Tín

    NHTMCP Phát triển Mê Kông, NHTMCP
    2015 NHTMCP Hàng Hải Sáp nhập
    Hàng Hải

    Ngân hàng Xây dựng Trở thành các Ngân hàng
    TNHH Một thành viên Mua lại
    2015 Ngân hàng Đại dương
    thuộc sở hữu 100% vốn 0 đồng
    Ngân hàng Dầu Khí Toàn cầu Nhà nước

    Nguồn: Tổng hợp của t c giả

    Từ 2011 đến 2015, hệ thống NHVN đã chứng kiến 8 trường hợp mua
    bán, sáp nhập giữa các ngân hàng, và 3 trường hợp NHNN mua lại NH với giá
    0 đồng để trở thành Ngân hàng TNHH Nhà nước Một thành viên. Nhóm
    NHTMCP, thì NHTMCP Mekong sáp nhập vào NHTMCP Hàng hải,
    NHTMCP Phương Nam sáp nhập vào NHTMCP Sài Gòn Thương Tín.

    160

  7. Hai là, giảm tỷ lệ nợ xấu và tăng trưởng tín dụng bền vững hơn; ngành
    ngân hàng đã đưa ra và triển khai nhiều chính sách mới mang tính đột phá
    như: (i) cho phép các TCTD thực hiện cơ cấu lại các khoản nợ (áp dụng Quyết
    định 780 có thời hạn), (ii) xử lý nợ xấu một cách tích cực trong điều kiện
    NSNN hạn hẹp và (iii) hàng loạt các chính sách thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ
    doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn sau khủng hoảng.

    Hình 1: Tỷ lệ nợ xấu và tăng tƣởng tín dụng ngành ngân hàng Việt Nam
    giai đoạn 2011-2016

    Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

    Ba là, ngành ngân hàng đã tích cực hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo
    chuẩn mực, thông lệ quốc tế; hệ thống pháp lý ngành Ngân hàng Việt Nam
    đang được hoàn thiện nhằm đảm bảo an toàn, minh bạch theo chuẩn quốc tế.
    Cụ thể với Thông tư số 09/2014/TT–NHNN, thông tư sửa đổi bổ sung Thông
    tư số 02/2013/TT–NHNN nhằm siết chặt việc xác định nợ xấu, bắt buộc phải
    ghi nhận nợ xấu ở các mục đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, những khoản cho
    vay trên thị trường liên ngân hàng. Hay việc Thông tư 36/2014/TT-NHNN
    quy định các tiêu chuẩn về an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng tạo tiền
    đề cho ngành ngân hàng tiến gần hơn theo chuẩn quốc tế. Và theo kế hoạch,
    để nâng cao năng lực quản trị hệ thống, NHNN đã xây dựng kế hoạch áp dụng
    Basel II cho toàn hệ thống và trước hết lựa chọn 10 NHTM thí điểm từ cuối
    năm 2015 trước khi triển khai phổ biến từ năm 2018.

    161

  8. Bốn là, NHNN đã chủ động trong việc đưa ra các công cụ chính sách tiền tệ
    với định hướng rõ ràng hơn. Cụ thể, với chính sách điều hành lãi suất mới đã kịp
    thời hỗ trợ tích cực cho công tác giảm mặt bằng lãi suất và ổn định thị trường tiền
    tệ. Ngoài ra, với chính sách tái cấp vốn, NHNN cũng đã góp phần ổn định thanh
    khoản của hệ thống. Hơn nữa, các công cụ tài chính tiền tệ như tỷ giá, hạn mức
    tín dụng,… cũng được điều hành quyết liệt, linh hoạt và hiệu quả.

    4. Tự do hóa tài chính trong ngành ngân hàng Việt Nam
    Việt Nam đang từng bước mở dần thị trường tài chính, đặc biệt là lĩnh
    vực ngân hàng, một trong những ngành nghề nhạy cảm của nền kinh tế. Tuy
    nhiên, các bước đi của Chính phủ Việt Nam khá thận trọng trong quá trình mở
    cửa nhằm đảm bảo vấn đề an ninh tiền tệ quốc gia. Có thể thấy rõ qua tiến
    trình tự do hóa tài chính trong ngành ngân hàng Việt Nam thời gian qua khi
    NHNN Việt Nam đưa ra nhiều chính sách nhằm tiến gần hơn tới các chuẩn
    mực ngân hàng quốc tế. Bên cạnh đó, hệ thống các ngân hàng Việt Nam cũng
    được mở dần với vấn đề tự do hóa lãi suất và đặc biệt là vấn đề liên quan tới tự
    do hóa tỷ giá hối đoái với việc áp dụng tỷ giá trung tâm thay cho tỷ giá thị
    trường liên ngân hàng trước đây.

    * Về tự do hóa lãi suất
    Trong thời gian qua với cơ chế chuyển dịch dần sang thực hiện tự do hóa
    lãi suất đã tạo những bước đột phá quan trọng cho sự phát triển của hệ thống
    ngân hàng Việt Nam. Bộ luật Dân sự sửa đổi 2015 (có hiệu lực từ ngày
    01/01/2017), với Điều 468, quy định mức trần lãi suất thỏa thuận không được
    phép vượt quá 20%/năm cho các khoản tiền vay, đồng thời, quy định trừ
    trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Với quy định loại trừ này đã
    ngầm cho phép các TCTD được thực hiện cơ chế thỏa thuận lãi suất theo quy
    định tại luật các TCTD hay cho phép các TCTD được thỏa thuận lãi suất theo
    cơ chế thị trường, hướng tới mục tiêu tự do hóa lãi suất.

    162

  9. Hình 2: Lãi suất cho vay và huy động hệ thống ngân hàng Việt Nam
    giai đoạn 2011-2015

    Nguồn: International Financial Statistics và data files của International
    Monetary Fund

    Thêm vào đó, việc Ngân hàng Nhà nước chỉ thực hiện áp trần lãi suất với
    các khoản huy động vốn ngắn hạn, trong khi, thả nổi đối với lãi suất huy động
    dài hạn và lãi suất cho vay, hoặc chỉ thực hiện ở một số lĩnh vực đặc thù như
    Nông nghiệp, Viễn thông,… Đây cũng là một cơ chế đang cho phép các
    TCTD được tự thỏa thuận lãi suất. Do vậy, công tác điều hành lãi suất của
    NHNNVN trong thời gian qua về cơ bản cũng đã và đang hướng tới tự do hóa
    lãi suất.

    Theo báo cáo IMF, 2016, giai đoạn 2011-2015, mặt bằng lãi suất trung
    bình cho vay và huy động của toàn hệ thống NHVN có xu hướng giảm. Mặt
    bằng lãi suất cho vay và huy động năm 2011 tương ứng là 16,95% và 13,99%,
    cuối năm 2015 con số này là 7,12% và 4,75%. Qua đó cho thấy, với những nỗ
    lực của Chính phủ và NHNN, Việt Nam đã giảm dần lãi suất năm sau thấp
    hơn năm trước. Như vậy, so với thời điểm cuối năm 2011, mức lãi suất cho
    vay và huy động trung bình trên thị trường đã giảm 57,99%. Đây có thể coi
    là một động lực hỗ trợ tích cực cho các hoạt động và dòng chảy vốn của nền
    kinh tế. Khi một nền kinh tế càng mang nhiều yếu tố thị trường, vấn đề lãi
    suất sẽ càng đóng vai trò quan trọng là cơ sở cho các quan hệ cung cầu vốn
    trên thị trường được tự do lưu chuyển. Chính sách lãi suất hiệu quả và cởi
    mở đang được thực hiện tại Việt Nam theo cơ chế tự do hóa sẽ góp phần đảm

    163

  10. bảo cho lãi suất phát huy được những yếu tố tích cực và tránh được sự lãng
    phí nguồn lực.

    * Về chính sách điều hành tỷ giá hối đoái
    Chính sách điều hành tỷ giá của NHNNVN trong thời gian qua cũng có
    những chuyển biến tích cực hướng tới cơ chế điều hành tỷ giá theo cung cầu
    ngoại hối trên thị trường. Bên cạnh đó, NHNN vẫn đảm bảo tính nhất quán và
    kiên định với mục tiêu ổn định thị trường ngoại hối, nâng cao vị thế của đồng
    bản tệ (VND), từ đó góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng kinh
    tế hợp lý.

    Hình 3: Diễn biến tỷ giá hối đoái của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2016

    Nguồn: Thomson Reuters

    Theo Báo cáo Thomson Reuters, 2016, giai đoạn 2011 đến nay, tỷ giá
    hối đoái của Việt Nam biến động khá ổn định. Đặc biệt, chính sách tỷ giá
    trung tâm được áp dụng từ tháng 01/2016 đã hỗ trợ tích cực cho diễn biến tỷ
    giá giữa VND và USD, đảm bảo hài hòa với các mục tiêu điều hành kinh tế vĩ
    mô của Chính phủ. Theo đó, tỷ giá hối đoái do NHNN công bố được xác định
    trên cơ sở 3 thành tố: (1) Diễn biến của 8 đồng tiền của các quốc gia có mối
    quan hệ thương mại, đầu tư lớn với Việt Nam (USD, EUR, CNY, BATH, JPY,
    SGD, KRW, TWD); (2) Tỷ giá thị trường liên ngân hàng (tỷ giá bình quân gia
    quyền theo mức tỷ giá và trọng số giao dịch) ngày hôm trước; (3) Các cân đối vĩ
    mô, tiền tệ, mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ và chính sách kinh tế vĩ mô.
    164

  11. Việc NHNN thực hiện chính sách điều hành tỷ giá mới đã đảm bảo tính linh
    hoạt, đồng thời vẫn cho phép quản lý tỷ giá theo cơ chế tỷ giá thả nổi có quản
    lý theo các quy định hiện hành. Điều này hoàn toàn phù hợp với bối cảnh hội
    nhập thương mại và đầu tư quốc tế, hỗ trợ tốt cho quá trình lưu chuyển các
    dòng vốn ngoại tệ giữa nền kinh tế Việt Nam và thế giới.

    Cùng với các chính sách điều hành tỷ giá hối đoái khác, giai đoạn 2011
    đến 2016 cho tỷ giá hối đoái Việt Nam giao động trong tầm kiểm soát và phù
    hợp với mục tiêu tăng trưởng. Giai đoạn 2011 đến 2016, tỷ giá có sự dao động
    không lớn giữa các năm, và trong một năm thì tương đối ổn định. Đặc biệt
    năm 2016, diễn biến giá ngoại tệ (VND/USD) tương đối ổn định duy trì
    khoảng 22500 VND/USD (Thomson Reuters, 2016). Với chính sách điều hành
    tỷ giá mới, NHNN đã hài hòa được giữa tỷ giá vận động theo cơ chế thị
    trường, đồng thời vẫn đảm bảo tính ổn định của trường ngoại hối và thực hiện
    các mục tiêu kinh tế vĩ mô.

    Mặc dù ngành ngân hàng Việt Nam đã rất nỗ lực trong quá trình mở cửa
    thị trường, tuy nhiên, với vấn đề tự do hóa tín dụng và tự do hóa quản lý ngoại
    hối, ngành ngân hàng Việt Nam vẫn cần thời gian để chuẩn bị kỹ lưỡng, để có
    những bước đi thận trọng trước bối cảnh gia nhập vào thị trường quốc tế.

    5. Một số bất cập của ngành ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh
    tự do hóa tài chính
    Quy mô tài chính nhỏ

    Nhìn chung, quy mô của các ngân hàng Việt Nam khá khiêm tốn so với
    các ngân hàng trong khu vực. Tổng tài sản của toàn hệ thống Ngân hàng của
    Việt Nam đạt khoảng 300 tỷ USD, chỉ cao hơn Philipines (237 tỷ USD), còn
    lại thấp hơn tất cả các quốc gia trong khu vực. Trong đó, tổng tài sản của hệ
    thống Ngân hàng Trung Quốc dẫn đầu khu vực với mức là 30.896 tỷ USD
    (BMI Research, 2016).

    165

  12. Hình 4: So sánh quy mô tổng tài sản của hệ thống ngân hàng Việt Nam
    với các quốc gia trong khu vực
    Đơn vị: Tỷ đồng

    Nguồn: Vietnam Commercial Banking Report, BMI Research

    Vấn đề sở hữu chéo vẫn chưa được giải quyết triệt để

    Nhiều NHTM Việt Nam vấn đề sở hữu chéo đang ảnh hưởng không nhỏ
    tới vấn đề quản trị và điều hành ngân hàng, gây nên những xung đột lợi ích
    nhất định giữa các ngân hàng có sở hữu lẫn nhau. Với quy định của Thông tư
    36, một NHTM chỉ được nắm giữ cổ phiếu của tối đa không quá hai TCTD
    khác (trừ trường hợp TCTD khác là công ty con của ngân hàng đó) đồng thời
    lượng cổ phần được nắm giữ tối đa này phải dưới 5% vốn cổ phần có quyền
    biểu quyết của TCTD đó (trừ trường hợp TCTD là công ty con của ngân hàng
    hoặc NHTM tham gia tái cơ cấu, xử lý TCTD yếu kém theo chỉ định của Ngân
    hàng Nhà nước – NHNN), nhưng thực trạng sở hữu lẫn nhau giữa các ngân
    hàng hiện vẫn rất phức tạp.

    Điển hình nhất là Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam
    (Vietcombank). Đây là ngân hàng hiện đang nắm giữ vốn cổ phần tại nhiều
    TCTD nhất với 4 NHTM và 1 công ty tài chính. Cụ thể, Vietcombank đang có
    tỷ lệ vốn góp tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) là
    8,19%, tại Saigonbank là 4,3%, tại Ngân hàng TMCP Quân đội (MBBank) là
    9,59%, tại Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) là 5,07% và tại Công ty
    Tài chính Cổ phần Xi măng (CFC) 10,91%. Do vậy, theo như quy định của
    Thông tư 36, Vietcombank cần lựa chọn chỉ giữ lại 2 TCTD và phải thóai vốn

    166

  13. về dưới 5%. Tuy nhiên, đến nay, VCB vẫn đang dừng ở mức “nghiên cứu” và
    trình phương án. Tiếp đến là Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
    BIDV hiện đang sở hữu 65% vốn tại ngân hàng liên doanh Lào – Việt, sở hữu
    50% tại Ngân hàng liên doanh Việt – Nga, và 50% tại VID/Public Bank. Bên
    cạnh đó, nhiều NHTM quy mô nhỏ hơn có cổ phần của các ngân hàng lớn
    nhưng cũng đang nắm giữ khá nhiều cổ phần tại các TCTD khác. Ví dụ như
    Eximbank có vốn cổ phần của Vietcombank nhưng lại đang nắm giữ 8,76% cổ
    phần tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank),…

    Vấn đề sở hữu chéo hiện nay khá phức tạp, vấn đề này vẫn cần có lộ
    trình dài và bước đi vững chắc, bởi nếu quá nhanh sẽ có nguy cơ trở thành quá
    nguy hiểm. Bên cạnh các quy định về xử lý sở hữu chéo hiện chưa được các
    ngân hàng nghiêm túc thực hiện theo đúng lộ trình, NHNN cần có những hành
    động để giám sát, kiểm soát vấn đề sở hữu của các TCTD, để không xảy ra
    tình trạng cấp tín dụng cho các công ty “sân sau”, cho vay, đầu tư lẫn nhau gây
    hậu quả nghiêm trọng, dẫn tới tình trạng nợ xấu như thời gian qua.

    Hiệu quả hoạt động kinh doanh thấp

    Hiệu quả hoạt động kinh doanh của toàn hệ thống không cao. Tính đến cuối
    năm 2016, Ngân hàng Công thương Việt Nam với mức vốn điều lệ cao nhất,
    cũng chỉ 37 nghìn tỷ đồng tương đương khoảng 1,6 tỷ USD (Vietinbank, 2016).
    Bên cạnh đó, khả năng sinh lời của các hệ thống TCTD ở mức khá thấp so với
    mức độ rủi ro thực tế và so với các ngân hàng trong khu vực và trên thế giới.

    Bảng 4: Khả năng sinh lời của các TCTD giai đoạn 2011-2015

    Chỉ tiêu
    2011 2012 2013 2014 2015
    (đơn vị %)

    NIM 3,97% 4,26% 2,80% 2,70% 2,74%

    ROE 14,39% 10,98% 6,40% 4,60% 6,40%

    ROA 1,83% 1,27% 0,6% 0,4% 0,5%

    Nguồn: Báo cáo Tài chính của các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 đến 2015

    167

  14. Hình 5. So sánh ROA của Việt Nam với một số quốc gia trong khu vực

    Nguồn: International Data from FRED

    Từ 2011 đến nay, ROA của hệ thống ngân hàng Việt Nam sụt giảm
    mạnh xuống 0,5% vào cuối năm 2015. Xem xét mối tương quan với các quốc
    gia trong khu vực, cho thấy ROA của Việt Nam khá khiêm tốn khi so sánh với
    Malaysia, Singapore và đặc biệt là Indonesia. Thậm chí năm 2015, ROA của
    Việt Nam còn thấp hơn Cambodia. Qua đây có thể thấy hiệu quả hoạt động
    kinh doanh của các NHTM Việt Nam cũng là một vấn đề cần quan tâm.

    Năng lực cạnh tranh kém

    Vấn đề cạnh tranh của các NHTM Việt Nam cũng là một rào cản lớn khi
    hội nhập, bởi thiếu tính hợp tác, thiếu tôn trọng kỷ cương, kỷ luật, chính sách
    và pháp luật. Nhiều ngân hàng chỉ tập trung chạy theo lợi nhuận đã bỏ qua yêu
    cầu an toàn kinh doanh, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, vi phạm các quy định
    của pháp luật về hoạt động tiền tệ và tín dụng ngân hàng. Phương thức cạnh
    tranh chủ yếu là bằng giá/lãi suất, thiếu lành mạnh, thậm chí thiếu coi trọng tới
    kiểm tra, kiểm soát chất lượng dịch vụ. Cùng với năng lực quản trị yếu kém,
    đạo đức kinh doanh ngân hàng chưa cao, cạnh tranh thiếu lành mạnh là những
    rào cản lớn khi hệ thống NHTM Việt Nam mở cửa thị trường tự do hóa tài
    chính với các định chế tài chính quốc tế.

    168

  15. 6. Khuyến nghị chính sách nhằm phát triển bền vững ngành ngân hàng
    Việt Nam trong bối cảnh tự do hóa tài chính

    * Đối với Chính phủ và các cơ chức năng
    Một là, hoàn thiện hệ thống pháp lý theo chuẩn quốc tế; Một hành lang
    pháp lý ổn định, hiệu quả và minh bạch sẽ tạo sân chơi bình đẳng cho các NH
    trong nước với các NH có vốn đầu tư nước ngoài theo hướng đối xử quốc gia.
    NHNN cần xây dựng chính sách tiền tệ lành mạnh, ổn định, đảm bảo minh
    bạch và đáng tin. Kết hợp với đó là việc thực thi chính sách tài khóa thận trọng
    như chính sách lãi suất, tín dụng, tỷ giá, và nên xây dựng chính sách theo
    hướng linh hoạt phù hợp những biến động xảy ra trong nước và quốc tế. Ngoài
    ra, chúng ta cũng cần thúc đẩy hơn nữa, thể chế hóa việc áp dụng các chuẩn
    mực quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng (CAMELs, BASEL) vào trong thực tiễn
    quản trị và hoạt động của tất cả các NH tại Việt Nam.

    Hai là, xây dựng lộ trình mở cửa thị trường dịch vụ tài chính phù hợp với
    bối cảnh trong nước; thị trường tài chính của Việt Nam nên được mở cửa dần
    dần, sao cho vừa đảm bảo nâng dần năng lực và khả năng cạnh tranh của các
    doanh nghiệp trong nền kinh tế, vừa thích nghi và tiến gần hơn đến những tiêu
    chuẩn và thông lệ quốc tế. Để làm được điều này, chúng ta cần có sự thống nhất
    về quan điểm, xác định rõ và cụ thể lộ trình mở cửa tài chính. Trong đó, tự do hóa
    tài chính phải được thực hiện sau cùng, sau khi đã thực hiện các cải cách cơ cấu
    và tự do hóa thương mại. Nếu có được lộ trình hội nhập phù hợp sẽ đảm bảo hệ
    thống tài chính hội nhập hiệu quả, tăng năng lực cạnh tranh và hạn chế xảy ra
    các cuộc khủng hoảng tài chính ngân hàng tiềm ẩn.

    Ba là, công cuộc cải cách hệ thống dịch vụ tài chính cần được thực hiện
    toàn diện, gắn kết hài hòa giữa chính sách lãi suất, chính sách tỷ giá và chính
    sách quản lý ngoại hối; quá trình cải cách hệ thống dịch vụ tài chính cần được
    thực hiện một cách toàn diện cả về quan điểm và phương pháp điều hành vĩ
    mô. Trong quá trình đó rất cần có sự gắn kết chặt chẽ giữa các chính sách tài
    chính tiền tệ quốc tế, vì đây là những chính sách có ảnh hưởng quan trọng
    trong quá trình mở cửa và tự do hóa tài chính. Việc duy trì chế độ tỷ giá chính
    thức quá xa so với tỷ giá thực, hay không chú trọng tới công tác quản lý ngoại
    hối, việc quá lạm dụng chính sách lãi suất, có thể đẩy một nền kinh tế vào chỗ

    169

  16. vận động một cách thụ động theo các quyết sách của Chính phủ, và là nguy cơ
    tiềm ẩn các cuộc khủng hoảng tài chính trong tương lai.
    * Đối với các Ngân hàng thƣơng mại
    Một là, tập trung tăng vốn, đặc biệt là vốn điều lệ/vốn chủ sở hữu, bởi
    đây là nguồn vốn nội sinh, đảm bảo mức độ an toàn cao đối với từng TCTD;
    đối với công tác tăng vốn điều lệ/vốn chủ sở hữu, các ngân hàng cần xây dựng
    chính sách cân đối trong quá trình phân phối kết quả tài chính thông qua chi
    trả cổ tức cổ đông và giữ lại phần lợi nhuận phù hợp bổ sung cho nguồn vốn
    hiện có. Bên cạnh đó, các ngân hàng nên chấp nhận pha loãng tỷ lệ nắm giữ cổ
    phần để đa dạng hóa và mở rộng cơ sở cổ đông, hướng tới việc bán cổ phần
    cho các cổ đông chiến lược nước ngoài có kinh nghiệm quản trị và điều hành
    quốc tế. Nhờ đó, hoạt động tăng vốn, cũng như quy mô ngân hàng sẽ đảm bảo
    tính ổn định và bền vững hơn khi có sự tham gia của nhiều cổ đông, đặc biệt là
    các cổ đông có kinh nghiệm kinh doanh trên thị trường quốc tế.
    Hai là, cơ cấu lại mô hình tổ chức và nâng cao năng lực quản trị, điều
    hành; hiện nay, nhiều NHTM Việt Nam đang hoạt động với mô hình tổ chức
    quy mô nhỏ, mức độ tập trung quyền lực cao. Khi một NHTM phát triển lên
    quy mô lớn hơn, số lượng chi nhánh tăng lên, khối lượng và tính chất công
    việc ngày một phức tạp, thì mô hình tổ chức như vậy sẽ bộc lộ những hạn chế
    nhất định. Đáng chú ý nhất là trong công tác tổ chức và bố trí các phòng
    nghiệp vụ ở cả cấp Hội sở và chi nhánh. Do đó, trong quá trình mở cửa thị
    trường lĩnh vực dịch vụ tài chính, một vấn đề đặt ra là cần phải chuẩn hóa hoạt
    động tổ chức theo hướng tinh giản và hiệu quả.
    Bên cạnh đó, nâng cao năng lực quản trị nội bộ cũng là một trong những
    yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại trong kinh doanh của ngân hàng.
    Công tác quản trị ngân hàng cần được thực hiện theo một số nguyên tắc gồm:
    (1) Chấp nhận rủi ro; (2) Điều hành rủi ro trong mức cho phép; (3) Quản lý
    độc lập các rủi ro riêng biệt; (4) Phù hợp giữa mức độ rủi ro cho phép và khả
    năng tài chính; (5) Hiệu quả kinh tế; (5) Hợp lý về thời gian; và (6) Phù hợp
    với chiến lược chung của ngân hàng.
    Ba là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng các tiêu chuẩn quốc
    tế, có trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp; con người là yếu tố then chốt
    quyết định tới mọi hoạt động của ngân hàng. Do vậy, việc tập trung vào nâng

    170

  17. cao chất lượng nguồn nhân lực cũng là vấn đề các NHTM cần quan tâm, đặc
    biệt trong quá trình mở cửa thị trường tài chính, tránh những nguy cơ do vi
    phạm đạo đức nghề nghiệp gây nên. Trong công tác tuyển dụng nên có chính
    sách trọng dụng nhân tài, giao trọng trách cho những người có đủ đức, đủ tài.
    Ngoài ra, NHTM cũng cần luôn khuyến khích cán bộ, nhân viên trong ngân
    hàng tự học để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cử những người có
    năng lực quản trị giỏi đi đào tạo học tập phương thức làm việc, cách tổ chức
    và quản lý tại các nước phát triển.
    Tóm lại, tự do hóa tài chính trong ngành ngân hàng là quá trình trong
    đó lĩnh vực ngân hàng tài chính của một quốc gia tham gia tích cực và hội
    nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế. Vấn đề đặt ra là cần phải chuẩn bị tâm
    thế và vị thế trước một sân chơi toàn cầu hóa, cùng với đó là việc tuân thủ theo
    các chuẩn mực tài chính quốc tế. Tự do hóa tài chính là một xu thế khách quan
    không chờ đợi một quốc gia, vùng lãnh thổ hay một ngành nghề nhất định, do
    vậy, hệ thống ngân hàng Việt Nam muốn phát triển bền vững và hội nhập tích
    cực, cần tiếp cận tự do hóa tài chính bằng một thái độ kiên quyết, cẩn trọng,
    đồng thời bám sát các điều kiện kinh tế – chính trị trong nước để làm cơ sở xác
    định lộ trình hội nhập hợp lý.
    Tài liệu tham khảo
    1. Berger, A.N., and D.B. Humphrey, (1997), „Efficiency of Financial
    Institutions: International Survey and Directions for Further Research‟,
    European Journal of Operational Research, 98(2), 175-212.
    2. BMI Research (2016), Vietnam Commercial Banking Report, truy cập lần
    cuối ngày 10/12/2016, từ .
    3. De Haan, J., and J. E. Sturm, (2000), „On the relationship between
    Economic Freedom and Economic Growth‟, European Journal of
    Political Economy, 16(2), 215-241.
    4. Fred (2015), International Data Report, truy cập lần cuối ngày
    15/12/2016, từ < https://fred.stlouisfed.org/categories/32263>.
    5. Georgios E. Chortareas, Claudia Giradone and Alexia Ventouri (2012),
    „Financial freedom and bank efficiency: Evidence from the European
    Union‟, Economics and Finance Working Paper Series, truy cập lần cuối
    ngày 10/12/2016, từ .
    6. Gerald A.Epstein (2005), Financialization and the world economy,
    Edward Elgar Publishing Limted, USA.
    7. Giannone D., M. Lenza, and L. Reichlin, (2011), „Market Freedom and
    the Global Recession‟, IMF Economic Review, 59(1), 111-135.

    171

  18. 8. Gwartney, D. J., (2009), „Institutions, Economic Freedom, and Cross-
    Country Differences in Performance‟, Southern Economic Journal, 75(4),
    937-956.
    9. IMF – International Monetary Fund (2016), Financial reports, truy cập
    lần cuối ngày 05/12/2016, từ .
    10. Ngân hàng Nhà nước (2014a), Thông tư số 02/2013/TT–NHNN về phân
    loại tài sản có, mức trích, phương ph p trích lập dự phòng rủi ro và việc
    sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng,
    chi nh nh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 21/01/2013.
    11. Ngân hàng Nhà nước (2014b), Thông tư số 09/2014/TT–NHNN về Sửa
    đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày
    21/01/2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước quy định về phân loại
    tài sản có, mức trích, phương ph p trích lập dự phòng rủi ro và việc sử
    dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi
    nh nh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 18/03/2014.
    12. Ngân hàng Nhà nước (2014c), Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các
    giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi
    nh nh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 20/11/2014.
    13. Ngân hàng Nhà nước (2015), Quyết định số 2730/QĐ-NHNN về việc công
    bố tỷ giá trung tâm của VND và USD, tỷ giá tính chéo của VND và các
    ngoại tệ khác, ban hành ngày 31/12/2015.
    14. Nguyễn Xuân Thành (2003), Việt Nam tr n con đường tiến tới tự do hóa
    lãi suất, truy cập lần cuối ngày 12/12/2016, từ <
    http://www.fetp.edu.vn/cache/MPP04-553-C02V-2012-08-10-
    12480663.pdf >.
    15. Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
    Nam năm 2015, ban hành ngày 24/11/2015.
    16. Ronald I. McKinnon (1989), „Financial Liberalization and economic
    development: A reassessment of interest rate policies in Asia and Latin
    America‟, Oxford Review of Economic Policy, 5(4), 29 – 54.
    17. Thomsonreuters (2016), Thống kê tài chính, truy cập lần cuối ngày
    02/12/2016, từ .
    18. Thủ tướng Chính phủ (2014), Quyết định 254/QĐ-TTg về Phê duyệt đề án
    cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015, ban hành
    ngày 01/03/2012.
    19. Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia Việt Nam (2016), Báo cáo Tổng
    quan thị trường tài chính Việt Nam 2015, truy cập lần cuối ngày
    20/12/2016, từ .
    20. Vietinbank (2016), B o c o tài chính giai đoạn 2011 đến 2016, truy cập lần cuối
    ngày 20/12/2016, từ < http://investors.vietinbank.vn/FinancialOverview.aspx>.

    172

Download tài liệu Tự do hóa tài chính với sự phát triển bền vững ngành ngân hàng Việt Nam File Word, PDF về máy