[Download] Tải Tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – Tải về File Word, PDF

Tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nội dung Text: Tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Download


Tín dụng là hoạt động chủ yếu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thu nhập và phát triển ngân hàng. Bài viết nghiên cứu tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng của ngân hàng thông qua dữ liệu từ báo cáo tài chính của 27 Ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2013-2019.

Bạn đang xem: [Download] Tải Tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam File Word, PDF về máy

Tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

  1. TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ – SỐ 8(03) – 2020

    TÁC ĐỘNG CỦA TĂNG TRƯỞNG TÍN DỤNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG
    TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
    THE EFFECT OF CREDIT GROWTH ON CREDIT RISK OF THE COMMERCIAL BANKS
    IN VIETNAM
    Ngày nhận bài: 02/09/2020
    Ngày chấp nhận đăng: 21/09/2020

    Phạm Xuân Quỳnh
    TÓM TẮT
    Tín dụng là hoạt động chủ yếu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, đóng vai trò quan trọng
    trong việc tạo thu nhập và phát triển ngân hàng. Tăng trưởng tín dụng góp phần hỗ trợ doanh
    nghiệp và phát triển nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn và khó tránh khỏi
    trong hoạt động tín dụng. Bài viết nghiên cứu tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín
    dụng của ngân hàng thông qua dữ liệu từ báo cáo tài chính của 27 Ngân hàng thương mại Việt
    Nam giai đoạn 2013-2019. Kết quả nghiên cứu với mô hình FEM cho thấy tăng trưởng tín dụng
    năm hiện hành làm giảm rủi ro tín dụng trong cả hai trường hợp: tăng trưởng tín dụng do nội bộ,
    sáp nhập và do riêng nội bộ tạo ra. Ngoài ra, rủi ro tín dụng năm hiện hành còn bị ảnh hưởng bởi
    mức độ rủi ro tín dụng trong quá khứ, tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ suất lợi nhuận ngân hàng.
    Từ khóa: Tăng trưởng tín dụng, Rủi ro tín dụng.

    ABSTRACT
    Credit is a main activity of Vietnamese commercial banks, it plays an important role in making
    profits and developing the banks. Credit growth not only support companies but also develop
    Vietnamese economy. However, credit risks are always potential factor and unavoidable in credit
    activities. The study analyzes the impact of credit growth on the bank’s credit risks through using
    data from financial statements of 27 commercial banks in Vietnam during the period from 2013 to
    2019. By using FEM model, the result shows that credit growth in the current year leads to
    decrease credit risk in both cases is internal and mergers credit growth and only internal growth.
    Moreover, credit risks in the current year are also affected by the level of credit risk in the past, the
    ratio of equity and bank’s profit margins.
    Keywords: Credit growth, Credit risk.

    1. Đặt vấn đề trong việc tạo động lực cho tăng trưởng kinh
    tế. Có thể thấy mục tiêu tăng trưởng tín dụng
    Đối với nền kinh tế của mỗi quốc gia thì
    (TTTD) là một trong những ưu tiên hàng đầu
    hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM)
    của Chính phủ và toàn ngành ngân hàng để
    đóng vai trò quan trọng, là định chế cung cấp
    góp phần hỗ trợ doanh nghiệp và phát triển
    vốn cho nền kinh tế, là công cụ thúc đẩy sự
    phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa. nền kinh tế Việt Nam. Theo Ngân hàng Nhà
    Riêng đối với điều kiện thị trường tài chính nước, tín dụng đến cuối năm 2019 tăng
    còn sơ khai như Việt Nam, kênh dẫn vốn từ 13,5% so với năm 2018, đây là mức tăng
    thị trường cổ phiếu và trái phiếu vẫn còn non thấp, sát với mục tiêu so với những năm trở
    yếu, thì ngân hàng là kênh cung ứng vốn chủ lại đây (giai đoạn 2015 – 2017 TTTD trung
    đạo cho nền kinh tế (chiếm hơn 60% tổng bình 18,1%) nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn
    lượng vốn) (Đỗ Hoài Linh, 2020). Trong
    hoạt động ngân hàng, cấp tín dụng là một
    nghiệp vụ mũi nhọn, sự an toàn và hiệu quả
    Phạm Xuân Quỳnh, Trường Đại học An Giang –
    của hoạt động tín dụng có vài trò quan trọng Đại học Quốc Gia Tp. Hồ Chí Minh.
    79

  2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    đạt 7,02%. Theo báo cáo về môi trường kinh loại bỏ các khoản có chất lượng thấp từ
    doanh 2020 của nhóm Ngân hàng Thế giới danh mục cho vay; (2) Thông thường các
    (WB) công bố vào cuối tháng 10/2019, chỉ số ngân hàng bị mua lại được yêu cầu xóa các
    tiếp cận tín dụng của Việt Nam xếp 25/190 khoản tín dụng có vấn đề trước khi thực
    nền kinh tế, đứng thứ 2 trong các nước hiện việc mua lại. Trong trường hợp sáp
    ASEAN (Quỳnh Trang, 2019). nhập giữa các ngân hàng như nhau, chất
    Tuy nhiên, song song với vấn đề TTTD lượng tín dụng của ngân hàng kết hợp sẽ là
    thì rủi ro tín dụng (RRTD) vẫn luôn là thách trung bình chất lượng tín dụng của 2 ngân
    thức cho các ngân hàng. Rủi ro tín dụng hàng. Tuy nhiên, TTTD từ việc sáp nhập chỉ
    thường khó kiểm soát và dẫn đến những thiệt làm giảm tỷ lệ nợ xấu và không ảnh hưởng
    hại, thất thoát về vốn và thu nhập của ngân đến tỷ lệ nợ không thể thu hồi; (3) TTTD
    hàng. Theo các con số thống kê và nhiều đến từ hoạt động cho vay, và đây là tăng
    nghiên cứu trước cho thấy RRTD thường trưởng khó dự đoán nhất. Một ngân hàng có
    chiếm tỷ lệ cao trong rủi ro hoạt động của thể tăng dư nợ cho vay bằng cách đa dạng
    ngân hàng, RRTD không loại trừ bất kỳ nền hóa các danh mục cho vay giữa các khu vực
    kinh tế nào, ngân hàng nào dù Ngân hàng địa lý, các ngành theo cách làm giảm tổng
    Nhà nước hay NHTM cổ phần và nó là một thể RRTD. Và kết quả nghiên cứu cho thấy
    yếu tố khách quan và không tránh khỏi trong TTTD nội bộ và mua lại ngân hàng phá sản
    kinh doanh. Chính vì vậy, phân tích tác động góp phần cải thiện chất lượng tín dụng.
    của TTTD đến RRTD là việc làm cần thiết, Trong điều kiện nền kinh tế của Việt Nam
    góp phần giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả hiện nay, TTTD của ngân hàng đa phần là do
    quản trị RRTD. nội bộ tạo ra. Tuy nhiên, trong giai đoạn
    2. Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực 2013-2019 cũng có một số ngân hàng có
    nghiệm TTTD từ hoạt động mua lại sáp nhập, nhất là
    năm 2015. Năm 2015 là làn sóng sáp nhập
    2.1. Tăng trưởng tín dụng
    của nhiều ngân hàng như Ngân hàng Phát
    TTTD của NHTM là sự gia tăng khối triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long (MHB)
    lượng tín dụng (dư nợ) để đáp ứng nhu cầu vào Ngân hàng BIDV; Ngân hàng Mê Kông
    của các chủ thể trong nền kinh tế trong một (MDB) vào Ngân hàng Hàng Hải (MSB);
    khoảng thời gian nhất định. Kết quả TTTD Ngân hàng Phương Nam vào Ngân hàng
    của một ngân hàng không chỉ quyết định bởi Sacombank, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội
    giá trị tuyệt đối mà quan trọng phụ thuộc (SHB) nhận sáp nhập NHTM Cổ phần Nhà
    vào tốc độ tăng trưởng tương đối so với các
    Hà Nội (Habubank), NHTM Cổ phần Đại Á
    đối thủ cạnh tranh trong cùng điều kiện,
    (DaiABank) sáp nhập vào NHTM Cổ phần
    cùng quốc gia và cùng năm. Theo Clair
    Phát triển TP.HCM (HDBank). Vì thế trong
    (1992), TTTD được chia thành 3 loại: (1)
    nghiên cứu này, TTTD của các ngân hàng sẽ
    Tăng trưởng thông qua việc mua lại ngân
    do tăng trưởng nội bộ tạo ra và sáp nhập.
    hàng phá sản với sự hỗ trợ của nhà nước; (2)
    Mặc dù, trong hệ thống ngân hàng Việt Nam
    Tăng trưởng thông qua việc mua lại hoặc
    có hoạt động mua lại, sáp nhập nhưng chỉ là
    sáp nhập không có sự hỗ trợ của nhà nước
    con số nhỏ so với khu vực và thế giới vì
    và (3) Cuối cùng là tăng trưởng do nội bộ
    Ngân hàng Nhà nước đang điều tiết tốt tình
    tạo ra. (1) Trường hợp này TTTD không tác
    hình ngân hàng có nguy cơ lâm vào tình
    động trái chiều đến chất lượng tín dụng bởi
    trạng tài chính bất ổn.
    vì trong hầu hết các giao dịch này, nhà nước
    80

  3. TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ – SỐ 8(03) – 2020

    2.2. Rủi ro tín dụng RRTD phổ biến là tỷ số giữa giá trị các
    RRTD là rủi ro phát sinh do khách hàng khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay
    vay không thực hiện đúng các điều khoản và cho thuê; tỷ số giữa các khoản xóa nợ
    của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể ròng so với tổng thể cho vay và cho thuê; tỷ
    là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy số giữa phân bố dự phòng tổn thất tín dụng
    đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản hàng năm so với tổng cho vay và cho thuê
    gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài hàng năm hay với tổng vốn chủ sở hữu và
    chính và khó khăn trong hoạt động kinh cuối cùng là tỷ số giữa dự phòng tổn thất tín
    doanh của NHTM. RRTD có thể chia làm hai dụng so với tổng cho vay và cho thuê hay với
    loại chính: (1) Rủi ro giao dịch liên quan đến tổng vốn chủ sở hữu. RRTD cũng có thể
    từng khoản tín dụng mỗi khi ngân hàng ra được đo lường bằng tỷ lệ nợ xấu (Amador&
    quyết định cấp một khoản tín dụng mới cho ctg, 2013) hoặc thể hiện qua tỷ lệ giá trị trích
    khách hàng. Đây có thể xem là rủi ro cá biệt lập dự phòng RRTD chia cho tổng tài sản
    của từng khoản tín dụng, nó phát sinh do sai (Foos & ctg, 2010; Bùi Ngọc Toản, 2016).
    sót ở khâu đánh giá, thẩm định và xét duyệt Bên cạnh đó, theo Ngân hàng Nhà nước Việt
    khi cho vay hoặc phát sinh do thiếu chặt chẽ Nam, dự phòng rủi ro gồm dự phòng cụ thể
    ở khâu theo dõi kiểm soát quá trình sử dụng và dự phòng chung. Dự phòng cụ thể được
    vốn vay, hoặc ở khâu bảo đảm và cam kết trích lập để dự phòng cho những tổn thất có
    ràng buộc trong hợp đồng tín dụng; (2) Rủi thể xảy ra đối với từng khoản nợ từ nhóm 2-
    ro danh mục tín dụng liên quan đến nhiều 5, dự phòng chung được xác định dựa trên
    khoản mục tín dụng trong danh mục tín dụng tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1-4. Do đó
    của ngân hàng. Nó có thể phát sinh do đặc dựa vào tính chất của khoản mục dự phòng
    thù cá biệt của từng loại tín dụng hoặc phát RRTD, cũng như các nghiên cứu của Rose &
    sinh do thiếu đa dạng hóa danh mục tín dụng. Hudgins (2004), Foos & ctg (2010), Bùi
    Ngọc Toản (2016), nghiên cứu này sử dụng
    Cho đến hiện nay khoản mục tài sản lớn
    tỷ lệ dự phòng RRTD trên dư nợ cho vay để
    nhất trong ngân hàng vẫn là những khoản
    đo lường RRTD của các NHTM Việt Nam.
    cho vay, khoản mục này chiếm 50%-75% giá
    trị tổng tài sản ngân hàng. Đồng thời, rủi ro 2.3. Mối quan hệ giữa TTTD và RRTD
    trong hoạt động ngân hàng có xu hướng tập Hệ thống ngân hàng là kênh dẫn vốn quan
    trung vào danh mục các khoản cho vay, tình trọng, đặc biệt là vốn cho đầu tư phát triển
    trạng khó khăn về tài chính thường phát sinh trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Bên cạnh
    từ các khoản cho vay khó đòi. Các chuyên tín dụng thương mại, hệ thống ngân hàng
    gia cho rằng một số tài sản của ngân hàng cũng tham gia vào các chương trình cho vay
    (đặc biệt là các khoản cho vay) giảm giá trị theo chỉ định của Chính phủ có ý nghĩa về
    hay không thể thu hồi là biểu hiện của RRTD mặt xã hội để góp phần giải quyết khó khăn
    (Rose & Hudgins, 2004). Đối với các NHTM của một bộ phận dân cư. Với cơ chế tín dụng
    Việt Nam cũng không ngoại lệ, dù các hoạt ngày càng thông thoáng, bảo đảm quyền tiếp
    động tín dụng đang được đa dạng hóa hơn cận bình đẳng hơn giữa các tầng lớp dân cư
    trước đây nhưng cho vay là hoạt động chiếm và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh
    tỷ trọng chủ yếu và thu từ lãi là nguồn thu tế khác nhau đối với nguồn vốn tín dụng
    nhập trọng yếu của ngân hàng. ngân hàng. Các tổ chức tín dụng tự chủ và tự
    Có nhiều cách để đo lường RRTD, Rose do quyết định cho vay, lựa chọn khách hàng,
    & Hudgins (2004) cho rằng 4 chỉ số tính thoả thuận lãi suất thủ tục cho vay và lựa

    81

  4. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    chọn hình thức bảo đảm tiền vay, đồng thời đoạn 1976 – 1990 cũng đã phát hiện tác động
    tự chịu trách nhiệm về tài chính và rủi ro. ngược chiều của TTTD đối với nợ xấu và nợ
    Đây cũng là một trong những nguyên nhân có khả năng xóa nợ trong năm đầu tiên sau
    tiền tín dụng tăng nhanh hơn. Tuy nhiên, tốc khi mở rộng tín dụng, vì TTTD nội bộ góp
    độ TTTD quá nhanh dễ dẫn đến sự suy giảm phần cải thiện chất lượng tín dụng có nghĩa
    chất lượng tín dụng cộng với chiến lược kinh là làm giảm RRTD. Riêng đối với các
    doanh của các NHTM phổ biến tập trung vào NHTM Việt Nam, để giảm thiểu RRTD,
    tăng khối lượng tín dụng hơn, chạy đua lợi giảm bớt nợ xấu cho hệ thống ngân hàng,
    nhuận sẽ khiến ngân hàng trở nên thiếu kiểm trong những năm qua nhiều biện pháp đã
    soát hơn trong công tác cho vay và kết quả là được ban hành và thực thi như chính sách tái
    gia tăng RRTD. Sự tác động của TTTD đến cơ cấu lại hệ thống, sáp nhập và loại bỏ các
    RRTD đựợc khá nhiều nghiên cứu quan tâm tổ chức tín dụng yếu kém, kiểm soát chặt chẽ
    như nghiên cứu của Hess & ctg (2009), Foos hoạt động cho vay và việc trích lập dự phòng
    & ctg (2010), trong đó các nghiên cứu đều đi tín dụng cũng như sự ra đời của VAMC. Do
    đến kết luận rằng TTTD trong điều kiện kinh đó, một số nghiên cứu thực nghiệm gần đây
    tế giảm phát, cầu tín dụng không tăng hoặc của Bùi Ngọc Toản (2016), Lê Hoàng Vinh
    tiêu chuẩn cho vay bị nới lỏng sẽ dẫn đến & ctg (2019) cho thấy sự ảnh hưởng của tốc
    RRTD. Trong mô hình nghiên cứu của các độ TTTD hiện hành cũng như quá khứ với độ
    tác giả này, TTTD mạnh dẫn đến RRTD với trễ 1 năm đến RRTD, đặc biệt TTTD năm
    độ trễ từ 2 – 4 năm. Điều này có nghĩa là mức hiện hành có tác động mạnh đến RRTD. Như
    tăng trưởng cao ở năm hiện tại (năm t) sẽ làm vậy, TTTD dù là năm hiện hành hay trong
    tăng RRTD của năm thứ 2 kế tiếp (năm t+2), quá khứ đều ảnh hưởng đến RRTD. Tùy vào
    năm thứ 3 (năm t+3), năm 4 (năm t+4), hay không gian, thời gian, đặc điểm hệ thống
    mức TTTD cao trong quá khứ năm t-2, năm ngân hàng ở mỗi quốc gia khi nghiên cứu mà
    t-3, năm t-4 có xu hướng làm tăng RRTD mối quan hệ giữa TTTD và RRTD là cùng
    năm hiện tại. Theo Foos & ctg (2010), TTTD chiều hay ngược chiều. Vì vậy, nghiên cứu
    bất thường trong quá khứ có tác động cùng này chỉ xem xét tác động của TTTD năm
    chiều đến RRTD với độ trễ từ 2 đến 4 năm hiện hành và trong quá khứ với độ trễ 1 năm
    khi nghiên cứu mối quan hệ giữa TTTD bất đến RRTD của các ngân hàng.
    thừờng với RRTD, thu nhập lãi và khả năng Bên cạnh yếu tố TTTD, nghiên cứu xem
    thanh khoản của 16.000 ngân hàng ở 16 quốc xét thêm một số yếu tố khác có ảnh hưởng
    gia lớn, trong giai đoạn 1997 – 2007. đến RRTD ngân hàng đóng vai trò là biến
    Tuy nhiên thì theo Keeton (1999), không kiểm soát trong mô hình, bao gồm:
    phải TTTD lúc nào cũng dẫn đến tổn thất tín Quy mô ngân hàng: yếu tố này thể hiện
    dụng. TTTD thông qua việc cho vay thêm lợi thế của ngân hàng trong chiến lược TTTD
    các khách hàng mới hay khách hàng cũ ban do khả năng cung ứng vốn cũng như đa dạng
    đầu làm cải thiện chất lượng tín dụng năm danh mục cho vay đáp ứng nhu cầu khách
    hiện tại (Clair, 1992). Nghiên cứu của hàng. Trong nghiên cứu của Hess & ctg
    Laeven & Majnoni (2003) đã cho thấy mối (2009) cho rằng quy mô ngân hàng có tác
    quan hệ của TTTD với RRTD là ngược chiều động ngược chiều đến RRTD. Tuy nhiên Das
    nhau khi phân tích 1.000 NHTM lớn ở 45 & Ghosh (2007) đã nghiên cứu các yếu tố
    quốc gia trong giai đoạn 1988 – 1999. Nghiên quyết định đến RRTD của các ngân hàng Ấn
    cứu của Clair (1992) khi phân tích dữ liệu Độ và kết luận rằng quy mô ngân hàng tác
    của các ngân hàng tư nhân ở Texas trong giai động cùng chiều đến RRTD vì các ngân hàng
    82

  5. TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ – SỐ 8(03) – 2020

    lớn có nhiều cơ hội đa dạng hóa danh mục Tỷ suất sinh lời: Tỷ số này cho biết lợi
    cho vay hơn nhưng cũng bị ảnh hưởng mạnh nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong tài
    hơn bởi những khoản vay có vấn đề đối với sản, tỷ số sinh lời dương có nghĩa là kinh
    phần tín dụng được mở rộng so với các ngân doanh đang có lãi, tỷ số càng lớn lãi càng lớn
    hàng có quy mô nhỏ. và ngược lại. Ngân hàng có khả năng sinh lời
    Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (VCSH): VCSH cao thường có kỹ năng tốt trong việc quản lý
    ngân hàng là tấm đệm chống đỡ rủi ro, bảo vệ các hoạt động tín dụng, tình hình thu hồi vốn
    người gửi tiền, ký thác và các quỹ bảo hiểm tốt từ khách hàng nên giảm các tình trạng rủi
    tiền gửi. Trong trường hợp những điều kiện ro xảy ra đối với ngân hàng. Theo các nghiên
    khác tương tự nhau, những ngân hàng có vốn cứu trước thì khả năng sinh lời có tác động
    lớn thường hấp dẫn người gửi tiền hơn ngân ngược chiều đến RRTD.
    hàng có vốn nhỏ, tiềm lực tài chính mạnh sẽ 3. Phương pháp nghiên cứu
    tạo được sự tin tưởng của công chúng. Từ đó
    giúp cho mảng huy động vốn được gia tăng, 3.1. Mô hình nghiên cứu
    giảm rủi ro thanh khoản và RRTD. Theo Cơ sở lý thuyết vừa trình bày giúp hình
    nghiên cứu của Zribi & Boujelbene (2011) kết thành mô hình nghiên cứu tác động của
    luận rằng tỷ số vốn ngân hàng tác động ngược TTTD và một số yếu tố đến RRTD của các
    chiều đến RRTD, kết quả này đã chỉ ra rằng NHTM Việt Nam như sau:
    các ngân hàng có vốn lớn ít rủi ro hơn các
    ngân hàng có vốn thấp.

    Trong mô hình nghiên cứu, biến phụ đo lường của các biến và kỳ vọng về dấu của
    thuộc RRTDi,t đo lường mức độ rủi ro tín các hệ số ước lượng βi trong mô hình được
    dụng của ngân hàng i năm t (%/năm). Cách trình bày và lý giải trong bảng 1
    Bảng 1. Đo lường các biến và kỳ vọng dấu của các hệ số βi
    Kỳ vọng
    Biến Đo lường Ký hiệu
    dấu
    Biến
    RRTD năm hiện Dự phòng rủi ro tín dụng năm t/dư
    phụ RRTDi,t
    hành nợ năm t
    thuộc
    RRTD với độ trễ một Dự phòng rủi ro tín dụng năm t- +
    RRTDi,t-1
    năm 1/dư nợ năm t-1
    (Dư nợ cho vay năm t/dự nợ cho +
    TTTD năm hiện hành TTTDi,t
    vay năm t-1) – 1
    Biến TTTD với độ trễ một (Dư nợ cho vay năm t-1/dự nợ cho +
    TTTDi,t-1
    độc lập năm vay năm t-2) – 1
    Quy mô Logarit tự nhiên tổng tài sản QMi,t +
    Tỷ lệ VCSH VCSH năm t/Tài sản năm t VCSHi,t –
    Lợi nhuận sau thuế năm t/Tài sản –
    Tỷ suất sinh lời TSSLi,t
    năm t

    83

  6. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    3.2. Dữ liệu nghiên cứu nhân tử phóng đại phương sai (VIF) và
    phương sai sai số thay đổi thông qua kiểm
    Theo Green (1991), công thức xác định
    định Wald (Modified Wald test for
    cỡ mẫu được xác định như sau: n>= 50+8m,
    groupwise heteroscedasticity) (Baltagi,
    trong đó n là kích thước mẫu tối thiểu cần
    2008).
    thiết và m là số lượng biến độc lập trong mô
    hình. Dựa vào cách xác định trên, tác giả tiến 4. Kết quả nghiên cứu
    hành chọn mẫu thuận tiện và sử dụng mẫu
    4.1. Mô tả mẫu nghiên cứu
    nghiên cứu gồm báo cáo tài chính đã được
    Bảng 2. Thống kê mô tả các biến
    kiểm toán của 27 NHTM1 theo năm trong
    giai đoạn 2013-20192. Tổng số quan sát Giá Giá
    Số Giá Độ
    trị trị
    trong mẫu là 189 quan sát vì thế mẫu có kích Tên biến quan trị lớn lệch
    trung nhỏ
    sát nhất chuẩn
    thước khá lớn đã thỏa yêu cầu về kích thước bình nhất
    mẫu của Green (1991). Theo website của Biến phụ thuộc
    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tính đến RRTD 189 0,012 0,054 -0,007 0,009
    31/12/2019, hệ thống ngân hàng Việt Nam có Biến độc lập
    31 NHTM, 2 ngân hàng liên doanh, 9 ngân RRTDt-1 189 0,012 0,063 -0,010 0,008
    hàng có 100% vốn nước ngoài. Vì vậy việc
    TTTD 189 0,215 1,068 -0,139 0,159
    lấy mẫu từ 27 NHTM (chiếm tỷ lệ 64,29%
    TTTDt-1 189 0,219 1,068 -0,246 0,191
    trên tổng thể hệ thống, hoặc 81,82% nếu
    không kể các ngân hàng có 100% vốn nước QM 189 18,650 21,122 16,502 1,079

    ngoài, hoặc 87,10% chỉ tính các NHTM). Số VCSH 189 0,086 0,238 0,029 0,334
    liệu được thu thập và sắp xếp theo dữ liệu TSSL 189 0,007 0,027 0,000 0,006
    bảng, cấu trúc dữ liệu bảng được kết hợp từ Nguồn: Tính toán của tác giả
    hai thành phần: thành phần dữ liệu chéo và Bảng 2 trình bày tóm tắt phần thống kê
    thành phần dữ liệu thời gian. mô tả các biến được sử dụng trong nghiên
    3.3. Phương pháp ước lượng cứu. Kết quả thống kê mô tả cho thấy rằng
    Hồi qui với dữ liệu bảng được ước lượng các biến số đo lường mức độ RRTD, tốc độ
    bằng hai mô hình: mô hình tác động cố định TTTD, quy mô hoạt động, tỷ lệ VCSH và tỷ
    (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên suất sinh lời của các ngân hàng trong mẫu
    (REM). Kiểm định Hausman được sử dụng nghiên cứu tương đối không đồng đều và có
    để lựa chọn mô hình FEM hay REM. Đồng xu hướng biến động giữa các năm. Tỷ lệ
    thời, các kiểm định liên quan đến mức độ tin TTTD bình quân của các ngân hàng đạt
    cậy của mô hình hồi qui với dữ liệu bảng 21,5% nhưng có sự khác biệt tương đối lớn
    cũng được thực hiện một cách thích hợp như: giữa giá trị lớn nhất và giá trị nhỏ nhất, cho
    kiểm định đa cộng tuyến thông qua hệ số thấy bên cạnh những ngân hàng vẫn đang
    kiểm soát tốt tốc độ TTTD thì cũng còn một
    vài ngân hàng còn khó khăn trong việc cung
    cấp dịch vụ tín dụng. Điển hình như năm
    1
    Các NHTM bao gồm ABB, ACB, BID, CTG, 2019, tỷ lệ TTTD của ngân hàng
    EIB, BVB, HDB, KLB, MBB, LPB, MSB, Techcombank là 44,6%, trong khi ngâ hàng
    NamABank, NCB, OCB, SeaABank, PGBank,
    SGB, SHB, STB, TCB, VCB, VIB, VPB, SCB, Quốc Dân chỉ đạt 6,2%. Nhu cầu tín dụng ở
    TPB, VietABank, BAB. nhiều ngành nghề đang gặp khó khăn như bất
    2
    Báo cáo tài chính. Truy cập từ website ngân động sản, thép,…và nhu cầu tín dụng ở mảng
    hàng và trang www.vietstock.vn
    84

  7. TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ – SỐ 8(03) – 2020

    cá nhân do bị ảnh hưởng của nền kinh tế phương pháp ước lượng, nghiên cứu tiến
    đang giảm tốc độ (Minh Sơn, 2019). Song hành ước lượng mô hình bằng cả phương
    song đó thì mức độ RRTD của các ngân hàng pháp FEM và REM, sau đó kiểm định
    khá cao trong những năm gần đây, đặc biệt là Hausman được sử dụng để chọn lựa mô hình
    các ngân hàng quy mô lớn. Mặc dù tăng thích hợp. Kết quả kiểm định cho thấy rằng
    nguồn dự phòng rủi ro sẽ giúp ngân hàng chủ phương pháp FEM là phù hợp hơn. Ngoài ra,
    động hơn trong xử lý nợ xấu thời gian tới kết quả kiểm định còn cho thấy mô hình ước
    nhưng điều này lại ảnh hưởng đáng kể đến lượng tồn tại hiện tượng phương sai sai số
    lợi nhuận ngân hàng. thay đổi. Để khắc phục sai phạm này, nghiên
    cứu sử dụng sai số chuẩn điều chỉnh (robust
    4.2. Ma trận hệ số tương quan giữa các
    standard errors). Phương pháp này sẽ giúp
    biến số
    ước lượng cho kết quả tốt hơn và đưa các sai
    Bảng 3. Ma trận tương quan của các biến số số về giá trị thật của nó.
    RRTDt-1 TTTD TTTDt-1 QM VCSH TSST

    RRTDt-1 1,000
    Như đã trình bày trong phần cơ sở lý
    TTTD -0,116 1,000 thuyết, đối với hệ thống các NHTM Việt
    TTTDt-1 -0,205 0,432 1,000 Nam, TTTD đa phần do nội bộ tạo ra. Tuy
    QM 0,090 -0,042 -0,004 1,000 nhiên, trong giai đoạn nghiên cứu 2013-2019
    VCSH 0,336 -0,200 -0,259 -0,586 1,000 cũng có một số ngân hàng có TTTD từ hoạt
    TSSL 0,324 0,065 0,075 0,312 0,184 1,000
    động mua lại sáp nhập. Vì vậy ở phần kết
    Nguồn: Tính toán của tác giả quả nghiên cứu này, tác giả xem xét tác động
    Qua thống kê ở bảng 3 thể hiện mối tương của TTTD đến RRTD trong 2 trường hợp:
    quan giữa các biến trong mô hình, giá trị TTTD do nội bộ và sáp nhập và TTTD do
    tuyệt đối của các hệ số tương quan của từng riêng nội bộ tạo ra.
    cặp biến đều có giá trị nhỏ hơn 0,8. Điều này Bảng 4. Kết quả ước lượng
    có nghĩa là không xảy ra hiện tượng đa cộng Trường hợp
    Trường hợp
    tuyến trong mô hình. Ngoài ra, hiện tượng đa Biến độc lập TTTD nội bộ
    TTTD nội bộ
    cộng tuyến cũng có thể tồn tại ngay cả khi hệ và sáp nhập
    số tương quan tương đối thấp hoặc mô hình 0,414*** 0,571***
    RRTDt-1
    (0,071) (0,075)
    hồi quy liên quan đến nhiều hơn hai biến giải
    -0,008** -0,007*
    thích. Vì vậy, nghiên cứu tiếp tục kiểm tra TTTD
    (0,003) (0,004)
    hiện tượng đa cộng tuyến bằng giá trị hệ số -0,002 -0,002
    nhân tử phóng đại phương sai (VIF). Kết quả TTTDt-1
    (0,003) (0,003)
    cho thấy tất cả các biến đều có hệ số nhân tử 0,003 0,003
    QM
    phóng đại phương sai khá nhỏ (

  8. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    Kết quả ước lượng cho thấy biến TTTD là sự tác động cùng chiều. Đồng quan điểm
    năm hiện hành có ảnh hưởng đến RRTD với nghiên cứu của Foos & ctg (2010), Lê
    trong cả hai trường hợp. Trái với kỳ vọng Hoàng Vinh & ctg (2019), có thể thấy rằng
    ban đầu, tỷ lệ TTTD có tác động ngược chiều RRTD năm trước không bị loại trừ hoặc triệt
    đến RRTD, hay nói cách khác, tăng tín dụng tiêu trong năm trước được mà có thể kéo dài
    năm hiện hành sẽ giúp ngân hàng giảm ảnh hưởng đến RRTD năm hiện tại. Trong cơ
    RRTD. Kết quả này giống với các nghiên cấu cho vay của các NHTM thì có cho vay
    cứu của Clair (1992) và Laven & Mojinoni ngắn hạn, trung và dài hạn nên một phần
    (2003) vì TTTD cao sẽ điều chỉnh thu nhập cũng tác động đến RRTD và có thể kéo dài
    có khả năng làm giảm rủi ro. Khi các NHTM cho những năm tiếp theo. Bên cạnh đó, có
    TTTD đến mức tối ưu sẽ làm giảm thiểu các thể thấy rằng việc xử lí, thu hồi nợ được tạo
    RRTD và theo Clair (1992) TTTD nội bộ ra từ năm trước chưa được xử lí tốt nên tồn
    làm tăng chất lượng tín dụng nên RRTD sẽ đọng đến năm hiện tại.
    giảm. Vì nếu xét thấy nhu cầu về tín dụng Ngược với kết luận của Zribi &
    tăng các ngân hàng có thể dần tăng lãi suất Boujelbene (2011) khi tìm hiểu các ngân
    cho vay và tăng tiêu chuẩn cho vay, xét duyệt hàng ở Tunisia, kết quả nghiên cứu trên các
    hồ sơ, thẩm định phương án sử dụng vốn NHTM Việt Nam cho thấy tăng tỷ lệ VCSH
    chặt chẽ hơn thì có thể làm giảm thiểu RRTD trên tài sản sẽ làm tăng RRTD của ngân
    cho ngân hàng. Việc cho vay thêm các khách hàng. Theo lý thuyết về quản trị NHTM,
    hàng mới hay khách hàng cũ ban đầu làm cải ngân hàng có thể đánh đổi giữa thanh khoản
    thiện chất lượng tín dụng năm hiện tại, cũng và tín dụng. Theo Igan và Tamirisa (2007),
    như khách hàng hiếm khi không trả được nợ một trong những nhu cầu thanh khoản là để
    trong năm đầu tiên sau khi nhận được khoản giải ngân cho vay nên tỷ lệ thanh khoản cao
    vay. Đối với các NHTM Việt Nam, tỷ lệ trích còn thể hiện sự sẵn sàng đáp ứng nhu cầu
    lập dự phòng tín dụng có nhiều biến động vay vốn và đẩy mạnh TTTD cho các chủ thể
    trong những năm gần đây, chịu ảnh hưởng kinh tế. Tín dụng tăng trưởng mạnh, ngân
    bởi quy mô tín dụng và môi trường kinh hàng lỏng lẻo hơn trong kiểm soát chất lượng
    doanh của ngân hàng. Tuy nhiên, sau thời tín dụng dẫn đến gia tăng RRTD vì phải trích
    gian tái cơ cấu lại hệ thống và sự ra đời của lập dự phòng RRTD nhiều hơn.
    VAMC đã đóng góp đáng kể đến hiệu quả xử
    Ngoài ra, yếu tố tỷ suất sinh lời cũng có
    lý nợ xấu. Để tăng lợi nhuận một cách bền
    ảnh hưởng ngược chiều đến mức độ RRTD
    vững, các ngân hàng đã chú trọng hơn đến
    của các ngân hàng. Tỷ suất sinh lời trên tài
    chất lượng tín dụng bên cạnh việc tăng
    sản là một chỉ tiêu tài chính để đo lường hiệu
    trưởng tín dụng, đồng thời hướng đến các
    quả quản lý và sử dụng tài sản của ngân hàng
    hoạt động dịch vụ tạo thu nhập ngoài lãi để
    như thế nào là tốt, qua kết quả hồi quy có thể
    giảm rủi ro và tăng khả năng cạnh tranh giữa
    giải thích rằng nếu tỷ suất sinh lời giảm có
    các ngân hàng. Hơn nữa, các NHTM Việt
    nghĩa là ngân hàng đang tăng chi phí dự
    Nam trong những năm gần đây đang có xu
    phòng cho các khoản vay, vì khi chi phí cho
    hướng đa dạng hóa danh mục tín dụng để
    các hoạt động ngân hàng bao gồm cho hoạt
    góp phần giảm thiểu RRTD.
    động tín dụng càng cao thì tỷ suất sinh lời
    Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra biến càng giảm và ngược lại tỷ suất sinh lời tăng
    RRTD với độ trễ 1 năm có ảnh hưởng đến cho thấy ngân hàng đang điều hành quản lý
    RRTD năm hiện tại ở mức ý nghĩ thống kê tài sản có hiệu quả, giảm thiểu rủi ro tín
    5% và 10% trong cả hai trường hợp, và đây dụng. Điển hình như tình hình lợi nhuận của
    86

  9. TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ – SỐ 8(03) – 2020

    các NHTM Việt Nam ở 6 tháng đầu năm độ RRTD ở năm tiếp theo, dẫn đến ngân
    2019, chi phí dự phòng tại nhiều ngân hàng hàng vẫn phải tăng tỷ lệ trích lập dự phòng
    có sự thay đổi mạnh, tăng giảm lên tới trên RRTD, điều này còn ảnh hưởng đến khả
    50% như STB và NamABank tăng gấp đôi năng tạo lợi nhuận của ngân hàng. Ngoài ra,
    cùng kỳ, SCB giảm 84%, TCB giảm 77%, kết quả nghiên cứu còn cho thấy các yếu tố
    Vietbank giảm 84%3. Chi phí dự phòng rủi nội tại như tỷ lệ VCSH và tỷ suất lợi nhuận
    ro biến động mạnh đã tác động đáng kể tới cũng ảnh hưởng đến RRTD ngân hàng. Với
    kết quả lợi nhuận trước thuế. Một số ngân đặc trưng của các NHTM Việt Nam hiện nay,
    hàng đang từ mức tăng trưởng âm về lợi thì tín dụng vẫn là hoạt động chủ yếu và
    nhuận thuần (trước dự phòng), nhưng nhờ mang lại trên 50% thu nhập cho ngân hàng
    giảm mạnh chi phí dự phòng mà lợi nhuận (Lê Long Hậu & Phạm Xuân Quỳnh, 2016),
    trước thuế tăng trưởng dương, thậm chí là mở rộng và tăng trưởng tín dụng để góp phần
    tăng vọt như Techcombank, SCB. thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vẫn là một trong
    những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ và
    5. Kết luận
    toàn ngành ngân hàng trong giai đoạn hiện
    Với dữ liệu của 27 NHTM Việt Nam nay. Tuy nhiên, do RRTD cũng chiếm tỷ lệ
    trong giai đoạn 2013-2019, bằng ước lượng cao trong hoạt động ngân hàng nên quan tâm
    FEM, nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ giữa đến hoạt động tín dụng ngân hàng là vấn đề
    TTTD và một số yếu tố đến RRTD trong quan trọng và cấp thiết để giúp các NHTM
    hoạt động ngân hàng. TTTD trong điều kiện Việt Nam tăng trưởng ổn định trong điều
    được kiểm soát chặt chẽ sẽ góp phần giảm kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn và tỷ lệ
    thiểu rủi ro trong tín dụng, hơn nữa đối với nợ xấu còn khá cao như hiện nay. Kết quả
    đặc điểm hoạt động các ngân hàng Việt Nam, đạt được của nghiên cứu góp phần giúp cho
    việc mở rộng tín dụng đến các khách hàng các NHTM Việt Nam có thêm cơ sở về tác
    mới hay cũ ban đầu làm cải thiện chất lượng động của TTTD và một số yếu tố khác đến
    tín dụng năm hiện tại vì khách hàng hiếm khi RRTD, từ đó mà vân dụng trong quá trình
    không trả được nợ trong năm đầu tiên sau khi xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh
    nhận được khoản vay. Bên cạnh đó, tình hình của ngân hàng phù hợp với nền kinh tế.
    nợ xấu còn chưa thể suy giảm trong những
    năm qua, khả năng đáp ứng điều kiện để vay
    vốn cũng như khả năng trả nợ thấp của mộ
    bộ phận khách hàng đã khiến các ngân hàng
    trở nên thận trọng hơn trong công tác xét
    duyệt cho vay mặc dù TTTD đang ngày càng
    khó khăn hơn. Việc xử lý, thu hồi nợ trong
    những năm trước không tốt lại tiếp tục ảnh
    hưởng đến tình hình nợ xấu cũng như mức

    3
    Nhiều bất ngờ với bức tranh trích lập dự phòng
    rủi ro của 27 ngân hàng trong 6 tháng đầu năm.
    Truy cập từ https://cafef.vn/nhieu-bat-ngo-voi-
    buc-tranh-trich-lap-du-phong-rui-ro-cua-27-ngan-
    hang-trong-6-thang-dau-nam-
    20190819122736361.chn
    87

  10. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Bùi Ngọc Toản (2016). Tăng trưởng tín dụng và rủi ro tín dụng: bằng chứng thực nghiệm từ hệ
    thống ngân hàng Việt Nam. Tạp chí Công nghệ ngân hàng, 36, 36-43.
    Baltagi, B. H. (2008), Econometric Analysis of Panel Data, Wiley.
    Clair, R. T. (1992). “Loan growth and loan quality: some preliminary evidence from Texas
    banks”. Economic Review, Federal Reserve Bank of Dallas, Third Quarter, 1992, 9-22.
    Das, A., & Ghosh, S. (2007). “Determinants of credit risk in Indian state-owned banks: An
    empirical investigation”.
    Đỗ Hoài Linh (2020). Ảnh hưởng của dịch bệnh covid-19 đối với hoạt động Ngân hàng Việt
    Nam – Những khó khăn và giải pháp. Tạp chí Ngân hàng. Truy cập từ
    http://tapchinganhang.gov.vn/anh-huong-cua-dich-benh-covid-19-doi-voi-hoat-dong-
    ngan-hang-viet-nam-nhung-kho-khan-va-giai-phap.htm ngày 20/08/2020.
    Foos, D., Norden, L., & Weber, M. (2010). “Loan growth and riskiness of banks”. Journal of
    Banking & Finance, 34(12), 2929-2940.
    Green, S. B. (1991). How many subjects does it take to do a regression analysis. Multivariate
    behavioral research, 26(3), 499-510.
    Hess, K., Grimes, A., & Holmes, M. (2009). “Credit losses in Australasian banking”. Economic
    Record, 85(270), 331-343.
    Igan, D. O., and Tamirisa, N. T, (2007), “Credit Growth and Bank Soundness in Emerging
    Europe”, Croatian National Bank.
    Laeven, L., & Majnoni, G. (2003). “Loan loss provisioning and economic slowdowns: too
    much, too late?”. Journal of financial intermediation, 12(2), 178-197.
    Lê Long Hậu, Phạm Xuân Quỳnh (2016), “Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến hiệu quả
    kinh doanh của các NHTM Việt Nam”, Tạp chí Công nghệ Ngân hàng, (124), 11.
    Lê Hoàng Vinh, Bùi Kim Dung và Lê Anh Nhàn (2019) . Các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín
    dụng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Ngân hàng châu
    Á, 165, 37-49.
    Minh Sơn (2019). Tăng trưởng tín dụng năm nay khó cán đích. Vnexpress. Truy cập từ:
    https://vnexpress.net/tang-truong-tindung-nam-nay-kho-can-dich-3967012.html ngày
    05/07/2020.
    Quỳnh Trang (2019). Tín dụng 2019 tăng thấp nhất 5 năm. Vnexpress. Truy cập từ
    https://vnexpress.net/tin-dung-2019-tang-thap-nhat-5-nam-4035387.html ngày 15/08/2020
    Rose, P.S & Hudgins,S.C (2004). Bank management and Financial Services (6th edtion).
    Mcgraw – Hill.
    Zribi, N., & Boujelbegrave, Y. (2011). “The factors influencing bank credit risk: The case of
    Tunisia”. Journal of accounting and taxation, 3(4), 70-78.

    88

Download tài liệu Tác động của tăng trưởng tín dụng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam File Word, PDF về máy