[Download] Tải Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam – Tải về File Word, PDF

Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam

Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam
Nội dung Text: Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam

Download


Bài báo nghiên cứu tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng. Mẫu nghiên cứu bao gồm 31 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giai đoạn 2006- 2018. Sự ổn định ngân hàng được đo lường thông qua Tỷ lệ dự phòng cho vay trên tổng cho vay (LRGL), Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR), chỉ số Z_score của ngân hàng.

Bạn đang xem: [Download] Tải Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam File Word, PDF về máy

Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam

  1. Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định
    ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các
    ngân hàng Việt Nam

    Võ Xuân Vinh Mai Xuân Đức
    Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Viện nghiên cứu Kinh doanh – Trường Đại học
    – Trung tâm Pháp Việt Đào tạo về Quản lý (CFVG) Kinh tế TP.HCM
    Thành phố Hồ Chí Minh

    Bài báo nghiên cứu tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân
    hàng. Mẫu nghiên cứu bao gồm 31 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt
    Nam trong giai đoạn 2006- 2018. Sự ổn định ngân hàng được đo lường
    thông qua Tỷ lệ dự phòng cho vay trên tổng cho vay (LRGL), Tỷ lệ cho vay
    trên huy động (LDR), chỉ số Z_score của ngân hàng. Sử dụng phân tích hồi
    quy dựa trên dữ liệu bảng không cân, kết quả cho thấy rằng, sở hữu tập
    trung (đại diện bởi cổ đông lớn nhất) có tác động dương đến LLRGL và
    LDR. Ngược lại, sở hữu tập trung có tác động âm đến chỉ số Z_score ngân
    hàng. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ giả thuyết cho rằng sở hữu tập trung có
    ảnh hưởng làm giảm sự ổn định ngân hàng.
    Từ khóa: Sở hữu tập trung, rủi ro ngân hàng, sự ổn định ngân hàng.

    The impact of ownership concentration on Bank Stability: Empirical evidence from Vietnamese Banks
    Abstract: Using data on 31 commercial Vietnamese banks in the period 2006 – 2018, this study investigate the
    impact of ownership concentration on the bank stability. The article measure the bank stability by Loan Loss
    Reserves to Gross Loans (LLRGL), Loan to Deposite Ratio (LDR) and Bank’s Z-score. Employing unbalanced panel
    data regression analyses, the results suggest that ownership concentration (proxyed by largest shareholder)
    has a significantly positive effect on both LLRGL and LDR. In the opposite, concentrated ownership has a
    negative influence on Bank’s Z-score. The reseach results support the hypothesis that ownership concentration
    reduces bank stability.
    Keywords: Ownership Concentration, Bank Risk, Bank Stability.

    Vinh Xuan Vo.
    Email: vinhvx@ueh.edu.vn
    University Economics Ho Chi Minh City – CFVG Ho Chi Minh City
    Duc Xuan Mai.
    Email: xuanducsbvhcm@gmail.com
    Institute of Business Research – University Economics Ho Chi Minh City

    Ngày nhận: 26/12/2019 Ngày nhận bản sửa: 13/01/2020 Ngày duyệt đăng: 05/02/2020

    © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
    ISSN 1859 – 011X 1 Số 215- Tháng 4. 2020

  2. Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ
    các ngân hàng Việt Nam

    1. Giới thiệu Dù vậy, trong thời gian qua, ở một số
    ngân hàng Việt Nam đã xuất hiện tình
    Trong công ty cổ phần, “vốn điều lệ được trạng cổ đông lớn hoặc nhóm cổ đông
    chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là lớn chi phối hoạt động của ngân hàng.
    cổ phần”1. Các cổ đông là những cá nhân Các cổ đông có tỷ lệ sở hữu lớn hoặc có
    tổ chức sở hữu tối thiểu một cổ phần. quyền lực trong ngân hàng đã thao túng
    Cơ cấu cổ đông tạo nên cấu trúc sở hữu hoạt động của ngân hàng, sử dụng tiền
    của công ty. Cấu trúc sở hữu của công ty huy động từ các khu vực kinh tế và dân
    có thể được tiếp cận ở hai góc độ khác cư để đầu tư vào những dự án có rủi ro
    nhau, sở hữu tập trung và sở hữu hỗn hợp cao hoặc sử dụng cho các dự án sân sau.
    (Mandaci & Gumus 2010). Pedersen & Hậu quả là một số ngân hàng có tỷ lệ nợ
    Thomsen (1999) cho rằng sở hữu tập trung xấu tăng cao, mất thanh khoản và thậm
    (Ownership Concentration) biểu thị những chí âm vốn chủ sở hữu. Để đảm bảo an
    cổ đông sở hữu tỷ lệ cổ phiếu cao nhất, và toàn hệ thống, Ngân hàng Nhà nước
    chịu ảnh hưởng nhiều nhất khi phát sinh Việt Nam (NHNN) buộc phải có những
    rủi ro cũng như chi phí giám sát. Sở hữu hành động quyết liệt (cho vay tái cấp
    tập trung thể hiện việc phân chia quyền sở vốn, kiểm soát đặc biệt hoặc quốc hữu
    hữu giữa các cổ đông khác nhau, có vai hóa) trong quản lý và điều hành hoạt
    trò quan trọng trong việc xác lập quyền động của hệ thống ngân hàng. Đề án
    kiểm soát công ty của cổ đông. Sở hữu tập 1058 khẳng định, “nghiên cứu để hoàn
    trung cao trong công ty thường xuất hiện thiện hệ thống pháp lý điều chỉnh hành
    ở các nước đang phát triển, nơi quyền lợi vi sở hữu chéo, lạm dụng quyền quản
    của nhà đầu tư nhỏ lẻ không được bảo vệ trị, điều hành, quyền cổ đông lớn để
    do chưa có quy định hoặc quy định không thao túng hoạt động của TCTD là một
    đầy đủ trong các luật liên quan (La Porta trong những giải pháp quan trọng để
    et al. 1999; Shleifer & Vishny 1997). thực hiện thành công đề án cơ cấu lại hệ
    thống các TCTD”3.
    Trong hoạt động ngân hàng, tập trung sở
    hữu là một khía cạnh hết sức quan trọng Trên thế giới, nhiều nghiên cứu thực
    (Iannotta et al. 2007). Ở Việt Nam, vấn nghiệm cho thấy rằng tập trung sở hữu có
    đề tỷ lệ sở hữu ngân hàng đã được luật thể ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của
    hóa và luôn được Chính phủ giám sát ngân hàng (Azofra & Santamaría 2011;
    chặt chẽ. Theo đó,“Một cổ đông là Iannotta et al. 2007; Shehzad et al. 2010).
    cá nhân không được sở hữu vượt quá Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu vẫn tồn
    5% điều lệ của một tổ chức tín dụng tại hai quan điểm trái ngược nhau. Nguyên
    (TCTD)” và “Một cổ đông là tổ chức nhân có thể một phần xuất phát từ sự khác
    không được sở hữu vượt quá 15% vốn biệt về môi trường kinh doanh, đặc điểm
    điều lệ của một TCTD”, trừ một số thể chế và chế độ pháp lý từ các quốc
    trường hợp đặc biệt được luật quy định gia khác nhau (Dong et al. 2014). Bài
    riêng2. báo xem xét mối quan hệ giữa sở hữu
    tập trung và sự ổn định ngân hàng Việt
    3
    Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn
    1
    Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014.
    với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016- 2020” ban hành kèm
    2
    Điều 55 Luật Các TCTD 2010 (được sử đổi bổ sung bởi theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/7/2017 của
    Khoản 14 Điều 1 Luật Các TCTD sửa đổi 2017). Thủ tướng Chính phủ.

    2 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 215- Tháng 4. 2020

  3. VÕ XUÂN VINH – MAI XUÂN ĐỨC

    Nam. Sự tác động của sở hữu tập trung giảm quyền lực của cổ đông tham gia quản
    được lý giải dựa trên nền tảng lý thuyết lý, giám sát công ty và có thể cản trở việc
    quản trị công ty: Giả thuyết cổ đông ra quyết định hiệu quả. Hơn nữa, khi sở
    giám sát (SMH- Shareholder Monitoring hữu phân tán, các cổ đông nhỏ phải chịu
    Hypothesis) và lý thuyết người đại diện đầy đủ chi phí giám sát trong khi chỉ nhận
    (AT- Agency Theory); giả thuyết về quan được một phần nhỏ lợi ích. Vì vậy, họ có
    hệ ủy quyền thừa hành trong hoạt động rất ít động lực để thực hiện việc giám sát
    ngân hàng. Kết quả nghiên cứu là bằng hoạt động của công ty.
    chứng quan trọng trong nghiên cứu mối
    quan hệ giữa sở hữu tập trung và sự ổn Tuy nhiên, một số nghiên cứu dựa trên
    định của NHTM Việt Nam. Từ kết quả lý thuyết người đại diện (AT- Agency
    nghiên cứu, bài báo đề xuất một số hàm Theory) có quan điểm ngược lại. La
    ý chính sách đến các cơ quan quản lý Porta et al. (1999) cho rằng một khi công
    nhà nước cũng như các nhà quản trị điều ty được sở hữu bởi các cổ đông lớn sẽ
    hành trong khu vực ngân hàng. có hiện tượng các cổ đông lớn thu lợi
    riêng, vì vậy doanh nghiệp có hiệu quả
    2. Cơ sở lý thuyết hoạt động kém hơn. Tương tự, Gomes &
    Novaes (1999) cho rằng các cổ đông lớn
    2.1. Một số giả thuyết liên quan có điều kiện theo đuổi những lợi ích khác
    so với các cổ đông thiểu số. Vì vậy, các cổ
    Tác động của sở hữu tập trung đến hoạt đông lớn và có quyền lực mạnh có thể gây
    động của công ty là một chủ đề quan trọng áp lực lên ban quản lý để tăng hiệu suất
    được đề cập nhiều trong các nghiên cứu trong ngắn hạn. Áp lực này có thể thúc
    thực nghiệm về quản trị công ty. Jensen & đẩy các nhà quản
    ​​ lý theo đuổi những dự
    Meckling (1976) cho rằng sự tập trung sở án đầu tư mới có rủi ro cao hơn (Burkart
    hữu cao có thể mang lại lợi ích cho công et al. 1997).
    ty. Nói một cách khác, công ty có cổ đông
    lớn sẽ làm tăng hiệu quả hoạt động và giá Hoạt động của các ngân hàng có sự khác
    trị của công ty. biệt lớn so với các công ty phi tài chính.
    Sự khác biệt đó chính là ngân hàng đóng
    Các nghiên cứu (Admati et al. 1994; vai trò trung gian tài chính trong nền kinh
    Edwards & Nibler 2000; Shleifer & tế (Shehzad et al. 2010). Tính chất trung
    Vishny 1986) dựa trên giả thuyết cổ đông gian tài chính của ngân hàng đã làm phát
    giám sát (SMH- Shareholder Monitoring sinh mối quan hệ ủy quyền và thừa hành.
    Hypothesis) cho rằng, ở các công ty có sở Ngân hàng nhận tiền gửi của khách hàng
    hữu tập trung cao sẽ khuyến khích các cổ sau đó thực hiện nghiệp vụ cho vay. Lúc
    đông tăng cường giám sát hoạt động của này phát sinh mối quan hệ giữa ngân hàng
    công ty cũng như hoạt động của ban điều với người gửi tiền và mối quan hệ giữa
    hành, từ đó nâng cao hiệu quả kiểm soát ngân hàng với người đi vay. Trong phạm
    công ty. Ngược lại, những công ty có sở vi quyền lực của mình, do sự bất cân
    hữu phân tán, các cổ đông có ít động cơ để xứng thông tin, người gửi tiền không thể
    thực hiện việc giám sát. Tương tự, Berle giám sát và kiểm soát đầy đủ những hành
    & Means (1933) và Shehzad et al. (2010) động của cổ đông và nhà quản lý ngân
    ote> cho rằng sở hữu phân tán sẽ làm hàng trong mối quan hệ giữa ngân hàng

    Số 215- Tháng 4. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 3

  4. Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ
    các ngân hàng Việt Nam

    và người đi vay (Saunders et al. 1990). trực tiếp đối với các ngân hàng này có thể
    Một số cổ đông ngân hàng có thể thông không hiệu quả để giảm thiểu chi phí đại
    đồng với các nhà quản lý ngân hàng dùng diện. Trong trường hợp không có sự kiểm
    vốn huy động từ nền kinh tế để tài trợ các soát thích hợp, các cổ đông của ngân hàng
    khoản vay có rủi ro cao, làm gia tăng tỷ có thể thực hiện các hoạt động rủi ro cao
    lệ nợ xấu và gây ra tình trạng hao hụt vốn hơn để gia tăng lợi ích của họ từ tài sản
    của các ngân hàng (Shehzad et al. 2010). của những người gửi tiền (DeYoung et al.
    Hơn nữa, người quản lý ngân hàng và 2001).
    chủ sở hữu ngân hàng không phải gánh
    chịu toàn bộ hậu quả từ những hành động Trong khi đó, một số nghiên cứu khác
    của họ gây ra, lúc này, vấn đề rủi ro đạo cho rằng các ngân hàng có sở hữu tập
    đức trong hoạt động ngân hàng sẽ phát trung cao sẽ có hoạt động ổn định hơn.
    sinh và gây thiệt hại cho ngân hàng cũng Các ngân hàng tập trung sở hữu có rủi ro
    như người gửi tiền (Esty 1998; Galai & thấp (García-Marco & Robles-Fernández
    Masulis 1976). 2008), rủi ro tài sản và rủi ro phá sản
    thấp do chất lượng các khoản vay tốt hơn
    2.2. Mối quan hệ giữa sở hữu tập trung (Iannotta et al. 2007), tỷ lệ nợ xấu thấp
    và hoạt động ngân hàng và tỷ lệ an toàn vốn cao (Shehzad et al.
    2010).
    Một số nghiên cứu cho rằng sở hữu tập
    trung có tác động làm gia tăng sự bất ổn Dong et al. (2014) cho thấy rằng sở hữu
    cho hoạt động ngân hàng. Các ngân hàng tập trung trong ngân hàng có ảnh hưởng
    có mức độ sở hữu tập trung tăng, rủi ro và làm giảm rủi ro. Điều này được giải thích
    sự biến động lợi nhuận tăng theo (Hou et rằng quyền kiểm soát lớn giúp tăng cường
    al. 2016; Laeven & Levine 2009). giám sát việc quản lý và thúc đẩy các quy
    trình hoạt động thận trọng. Agusman et al.
    Laeven (2002) xem xét mối quan hệ giữa (2014) xem xét mối quan hệ giữa sở hữu
    sở hữu tập trung với bảo hiểm tiền gửi và tập trung và rủi ro ngân hàng ở Indonesia
    rủi ro ngân hàng ở 14 quốc gia. Nghiên trong giai đoạn 1995- 2003. Mẫu nghiên
    cứu sử dụng chi phí bảo hiểm như là một cứu được phân loại thành hai đối tượng,
    đại diện cho rủi ro ngân hàng. Kết quả ngân hàng được tái cấp vốn và các ngân
    nghiên cứu cho thấy sở hữu tập trung và hàng không được tái cấp vốn. Nghiên cứu
    rủi ro ngân hàng có mối quan hệ cùng tìm thấy rằng trong số các ngân hàng được
    chiều. Tương tự, Kim & Rhee (2000) và tái cấp vốn, tập trung sở hữu có mối quan
    Kim et al. (2007) cho thấy rằng khi Chính hệ dương với thanh khoản và tác động âm
    phủ Nhật mở rộng phạm vi của bảo hiểm đến rủi ro tín dụng. Barry et al. (2011) cho
    tiền gửi và nới lỏng những điều kiện về rằng một sự tăng quyền sở hữu tập trung
    vốn, sở hữu tập trung có tác động làm tăng làm giảm rủi ro tài sản và rủi ro phá sản
    rủi ro ngân hàng. Kết quả trên xuất phát từ nhưng không thay đổi khả năng sinh lời.
    việc các chương trình bảo hiểm có thể làm Đối với các ngân hàng đại chúng có sở
    giảm kỷ luật thị trường (Demirgüç-Kunt hữu phân tán, sự thay đổi cấu trúc sở hữu
    & Detragiache 2002; Demirgüç-Kunt & không có ảnh hưởng đến rủi ro của ngân
    Huizinga 2004). Vì vậy, kỷ luật thị trường, hàng. Chalermchatvichien et al. (2014)cho
    sự giám sát của thể chế và sự kiểm soát rằng tập trung sở hữu có thể là một yếu tố

    4 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 215- Tháng 4. 2020

  5. VÕ XUÂN VINH – MAI XUÂN ĐỨC

    quyết định đáng kể cho sự ổn định về vốn. chi phí dự phòng rủi ro trên tổng cho vay
    Nghiên cứu này cũng khẳng định rằng sở (LLRGL) và Tỷ lệ tổng cho vay trên tổng
    hữu tập trung có thể cải thiện thanh khoản tiền gửi (LDR). Cụ thể :
    của các ngân hàng. Delbariragheb & Zadeh
    (2015) cho thấy sở hữu tập trung làm giảm + Biến Z_score được đo lường thông qua
    rủi ro thanh khoản của ngân hàng. công thức sau đây:

    3. Phương pháp nghiên cứu Z_score = (ROAAi,t + EAi,t)/Sd_ROAAi,t

    3.1. Xây dựng mô hình nghiên cứu Nhiều nghiên cứu (Beck et al. 2013;
    Houston et al. 2010; Laeven & Levine
    Dựa trên các nghiên cứu đã được công 2009; Meslier et al. 2016; Võ Xuân Vinh
    bố trên thế giới (Agusman et al. 2014; & Trần Thị Phương Mai 2015) đã sử dụng
    Chalermchatvichien et al. 2014; Dong Z_Score đại diện cho rủi ro phá sản ngân
    et al. 2014; Kiruri 2013; Shehzad et al. hàng. Z_score có giá trị cao chứng tỏ rằng
    2010), bài báo đề xuất mô hình nghiên cứu sự ổn định của ngân hàng cao và ngược lại
    như sau: vì chỉ số này biến động ngược chiều với
    rủi ro phá sản ngân hàng (Fernández et al.
    BANKSTABi,t = a0 + a1OCi,t + bjXi,t + εi,t 2016).

    Trong đó, + Biến LLRGL (Loan Loss Reserves
    to Gross Loans): Tỷ lệ dự phòng rủi ro
    – OC đại diện cho sở hữu tập trung của trên tổng cho vay là một phương pháp đo
    ngân hàng. lường rủi ro tín dụng ngân hàng (Agusman
    et al. 2014; Martinez Peria & Schmukler
    – X là véc tơ đại diện cho các yếu tố thuộc 2001; Nier & Baumann 2006). Tỷ lệ này
    nội tại của ngân hàng cao cho thấy nợ có khả năng mất vốn của
    ngân hàng cao. Vì vậy biến này có giá trị
    – ε là phần dư; càng cao thì sự ổn định của ngân hàng
    càng giảm và ngược lại.
    – i,t là chỉ số biểu thị ngân hàng i và năm t.
    + Biến LDR (Loans-to-Deposits Ratio):
    3.2. Đo lường các biến Tỷ lệ tổng dư nợ chia cho tổng tiền gửi
    đánh giá mức độ cho vay khách hàng
    – BANKSTAB (Bank Stability) đại diện được tài trợ bởi tiền gửi của khách hàng.
    cho sự ổn định của ngân hàng. Biến này có thể phản ánh tình trạng thanh
    khoản của ngân hàng (Dong et al. 2014).
    Tương tự một số nghiên cứu trước (Berger LDR có giá trị càng cao thì rủi ro thanh
    et al. 2017; Fernández et al. 2016; Fu et khoản của ngân hàng càng cao, vì vậy sự
    al. 2014), bài báo sử dụng khái niệm rủi ro ổn định của ngân hàng càng thấp.
    để đại diện cho sự ổn định của ngân hàng.
    Ngân hàng có rủi ro thấp thì ổn định cao. – Biến độc lập OC (Ownership
    Một số biến số rủi ro được sử dụng trong concentration) đo lường mức độ sở
    bài báo bao gồm chỉ số Z_score, Tỷ lệ hữu tập trung. Có nhiều phương pháp đo

    Số 215- Tháng 4. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 5

  6. Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ
    các ngân hàng Việt Nam

    lường mức độ sở hữu tập trung. Một số phí hoạt động trên tổng thu nhập của ngân
    nghiên cứu sử dụng tổng tỷ lệ sở hữu của hàng. Biến này đại diện cho hiệu quả sử
    5 cổ đông lớn nhất (Kim & Rhee 2000; dụng chi phí hoạt động của ngân hàng
    Kiruri 2013), hoặc tổng tỷ lệ sở hữu của (Shehzad et al. 2010).
    3 cổ đông lớn nhất (Dong et al. 2014),
    hoặc tỷ lệ sở hữu của 01 cổ đông lớn nhất 3.3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
    (Agusman et al. 2014; Wen & Jia 2010)
    để đại diện cho mức độ sở hữu tập trung. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm dữ liệu kế
    Trong giới hạn dữ liệu thu thập được, bài toán trên các báo cáo tài chính đã kiểm
    báo sử dụng tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn toán của 31 NHTM Việt Nam giai đoạn
    nhất trong ngân hàng để đại diện cho sở từ 2006- 2018. Mẫu nghiên cứu bao gồm
    hữu tập trung. 04 NHTM nhà nước và 27 NHTM cổ
    phần. Nguồn dữ liệu được khai thác trên
    – Các biến kiểm soát Xi,t là các biến thể Vietstock.vn.4
    hiện một số chỉ tiêu thuộc nội tại của ngân
    hàng, được đại diện bởi các biến sau: Bài báo sử dụng hai phương pháp hồi quy
    FEM và REM cho dữ liệu bảng không
    + Biến Size được đo bằng logarit tự nhiên cân. Kiểm định Wooldridge được sử dụng
    của tổng tài sản của ngân hàng (Delis & để kiểm tra hiện tượng tự tương quan và
    Kouretas 2011; Laeven & Levine 2009). kiểm định Heteroskedasticity White để
    Các ngân hàng lớn có thể ít rủi ro hơn do kiểm tra phương sai thay đổi. Nếu xuất
    khả năng đa dạng hóa rủi ro của họ trên hiện hiện tượng tự tương quan và phương
    các dòng sản phẩm lớn hơn hoặc có thể rủi sai sai số thay đổi, bài báo sử dụng
    ro hơn do tâm lý “to big to fail- quá lớn để phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng
    thất bại” (Brown & Dinç 2011; Demirgüç- quát (GLS) và phương pháp bình phương
    Kunt & Huizinga 2013). nhỏ nhất có trọng số (WLS) để khắc phục.

    + Biến RG (Revenue Growth) là tỷ lệ tăng 4. Kết quả nghiên cứu
    trưởng tổng doanh thu của ngân hàng năm
    hiện tại so với năm trước đó (Laeven & 4.1. Thống kê mô tả và ma trận tương
    Levine 2009). quan

    + Biến LEV (Leverage) là đòn bẩy tài Bảng 1 hiển thị số liệu thống kê mô tả các
    chính, được đo lường theo tỷ lệ nợ trên biến được sử dụng trong mô hình nghiên
    vốn chủ sở hữu (Chalermchatvichien et al. cứu. Mức độ sở hữu tâp trung bình quân
    2014). của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu
    đạt 30,74% với giá trị nhỏ nhất là 4,47%,
    + Biến LLP (Loan Loss Provision) là tỷ giá trị lớn nhất là 100% (mẫu nghiên cứu
    lệ dự phòng rủi ro cho vay và thu nhập bao gồm các NHTM cổ phần nhà nước
    lãi ròng, được sử dụng để đo lường chất nắm giữ 100% vốn). Giá trị trung vị (đạt
    lượng và quy mô đầu tư vào các tài sản rủi 15%), thấp hơn nhiều so với giá trị trung
    ro của các nhà quản lý (Fu et al. 2014). bình, bên cạnh độ lệch chuẩn ở mức

    + Biến COI (Cost on Income) là tỷ lệ chi Truy cập tại https://finance.vietstock.vn/doanh-nghiep-
    4

    a-z?page=1

    6 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 215- Tháng 4. 2020

  7. VÕ XUÂN VINH – MAI XUÂN ĐỨC

    Bảng 1. Thống kê mô tả các biến
    Trung Trung Giá trị Giá trị Độ lệch Số
     
    bình vị lớn nhất nhỏ nhất chuẩn quan sát
    Ln(Z_score) 3,7428 3,6308 6,9139 1,0339 1,0083 311
    LDR 0,9426 0,8753 3,8287 0,3633 0,3781 404
    LLRGL 0,0122 0,0111 0,0389 0,0001 0,0062 402
    OC 0,3074 0,1500 1 0,0447 0,3222 301
    COI 0,7095 0,4864 0,9583 0,0763 4,1945 418
    LLP 0,2968 0,2336 4,3339 -3,1832 0,3727 400
    LEV 10,8196 10,3434 30,0100 0,6284 5,4204 422
    RG 0,4544 0,2238 33,3386 -1 1,9086 390
    SIZE 10,9206 10,9914 14,0879 6,1038 1,4634 421
    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ phần mềm Eview 10
    32,22% chứng tỏ các ngân hàng Việt Nam khoản của ngân hàng. Tuy nhiên, trên thực
    có mức độ tập trung sở hữu không cao tế, nguồn vốn huy động của ngân hàng
    (ngoại trừ các NHTM Nhà nước nắm cổ rất đa dạng, có thể đến từ dân cư và các
    phần chi phối). tổ chức kinh tế (thị trường 1), nguồn liên
    ngân hàng (thị trường 2) và huy động trực
    Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) tiếp từ các định chế tài chính nước ngoài
    bình quân toàn mẫu nghiên cứu đạt thông qua các chương trình cấp tín dụng,
    94,26%, trung vị là 88%, giá trị lớn nguồn vốn trực tiếp từ nước ngoài từ việc
    nhất là 382,87% (Ngân hàng Phát triển mở L/C… Trong ngắn hạn, chỉ số LDR
    Mêkong năm 2007), giá trị nhỏ nhất là có thể tăng cao. Tuy nhiên các ngân hàng
    36% (NHTMCP Hàng Hải năm 2014) và vẫn có thể làm chủ được tình trạng thanh
    độ lệch chuẩn 43%. Số liệu thống kê mô khoản.
    tả của biến LDR cho thấy rằng hệ thống
    ngân hàng Việt Nam đang thực hiện tốt Giá trị trung bình của tỷ lệ dự phòng rủi
    vai trò cung cấp vốn cho nền kinh tế. Hoạt ro trên tổng cho vay là 1,22%, giá trị lớn
    động cho vay vẫn là hoạt động cốt lõi của nhất là 3,89%, giá trị nhỏ nhất là 0,01% và
    các ngân hàng. Mặc dù LDR bình quân độ lệch chuẩn là 0,62%. Nhìn chung, rủi
    toàn hệ thống dưới 100%, tuy nhiên vẫn ro tín dụng của các ngân hàng Việt Nam
    còn có một số ngân hàng ở một số thời được phân nhóm đồng đều giữa hai nhóm
    điểm có LDR lớn hơn 100% (có 120 quan rủi ro cao và rủi ro thấp (giá trị trung bình
    sát có giá trị lớn hơn 100% trong 404 quan gần giá trị trung vị). Bên cạnh đó, độ lệch
    sát), cá biệt có ngân hàng tỷ lệ này lên đến chuẩn nhỏ nên không có sự chênh lệch lớn
    trên 300%5. Ở góc độ lý thuyết, LDR cao giữa nhóm rủi ro cao và rủi ro thấp.
    hơn 100% đồng nghĩa với việc các ngân
    hàng đang cho vay cao hơn vốn huy động Giá trị trung bình của tỷ lệ chi phí hoạt
    vào, điều này tiềm ẩn nguy cơ mất thanh động trên tổng thu nhập là 70,95%, giá
    trị lớn nhất là 95,83%, giá trị nhỏ nhất là
    5
    Đây là những ngân hàng có quy mô nhỏ, thuộc nhóm 7,63%. Giá trị trung vị là 48,64%, thấp
    các ngân hàng yếu kém hoạt động trong giai đoạn 2006 hơn nhiều so với giá trị trung bình và độ
    đến 2008 (MDB, MHB, OCB, PGB…).

    Số 215- Tháng 4. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 7

  8. Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ
    các ngân hàng Việt Nam

    Bảng 2. Tương quan các biến trong mô hình
      L(Z_score) LDR LLRGL OC COI LEV LLP RG SIZE
    Ln(Z_score) 1                
    LDR -0,028 1              
    LLRGL -0,088 -0,143 1            
    OC 0,013 0,224 0,364 1          
    COI -0,139 -0,082 0,032 -0,027 1        
    LEV 0,055 -0,057 0,264 0,114 -0,101 1      
    LLP 0,179 -0,095 0,101 0,402 0,028 0,209 1    
    RG 0,018 -0,035 -0,017 -0,027 -0,040 -0,020 -0,116 1  
    SIZE 0,248 -0,145 0,280 0,459 -0,079 0,153 0,676 -0,127 1
    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ phần mềm Eview 10

    lệch chuẩn lớn (độ lệch chuẩn là 419%) Bảng 2 mô tả tương quan giữa các biến
    cho thấy các ngân hàng tập trung ở nhóm trong mô hình. Các biến trong mô hình có
    có tỷ lệ chi phí hoạt động trên tổng thu tương quan không lớn. Biến sở hữu tập
    nhập cao hơn giá trị trung bình. Các ngân trung có mối tương quan dương với các
    hàng Việt Nam đang có hiệu quả chi phí biến đại diện cho sự ổn định của ngân hàng.
    thấp và có sự phân hóa mạnh giữa hai
    nhóm (nhóm ngân hàng có hiệu quả chi 4.2. Kết quả hồi quy
    phí cao và nhóm ngân hàng có hiệu quả
    chi phí thấp). Bảng 3 trình bày kết quả hồi quy mối quan
    hệ giữa sở hữu tập trung và sự ổn định của
    Tỷ lệ đòn bẩy tài chính có giá trị trung các ngân hàng Việt Nam. Kết quả cho biến
    bình là 10,82 lần (trung vị là 10,34 lần), thấy biến OC (sở hữu tập trung) có tác động
    giá trị lớn nhất đạt 30,01 lần (SCB năm âm đến biến Ln (Z_score), tác động dương
    2018) và giá trị nhỏ nhất là 0,62 lần, độ đến LLRGL và LDR với mức ý nghĩa 1%.
    lệch chuẩn đạt 5,42 lần. Số liệu thống kê Điều đó chứng tỏ rằng sở hữu tập trung làm
    thể hiện các ngân hàng Việt Nam đang sử giảm sự ổn định của ngân hàng Việt Nam.
    dụng đòn bẩy tài chính mạnh (điều này có Kết quả này ủng hộ giả thuyết cho rằng
    thể lý giải từ vai trò trung gian tài chính sở hữu tập trung và sự ổn định ngân hàng
    của NHTM- ngân hàng đi vay để cho vay có mối quan hệ âm (Houston et al. 2010;
    lại). Tuy nhiên, kết quả trên đã cho thấy Laeven & Levine 2009).
    quy mô về vốn của các ngân hàng Việt
    Nam đang rất khiêm tốn. Vốn chủ sở hữu Việt Nam là một quốc gia đang phát triển,
    đóng vai trò quan trọng tạo nên uy tín cho hệ thống pháp lý vẫn còn nhiều bất cập, kỷ
    NHTM (tạo niềm tin cho người gửi tiền). luật thị trường vẫn còn lỏng lẻo. Bên cạnh
    Vốn chủ sở hữu là tấm đệm cuối cùng bảo đó, chất lượng thanh tra giám sát chưa cao
    vệ người gửi tiền khi ngân hàng xảy ra đổ nên vẫn còn hiện tượng cổ đông, nhóm
    vỡ. Vậy nên, các ngân hàng cần phải nâng cổ đông lớn hoặc các cổ đông có quyền
    cao quy mô vốn tự có để có thể hoạt động lực chi phối hoạt động tín dụng của ngân
    trong môi trường có tính cạnh tranh cao. hàng. Tình trạng cho vay theo chỉ định,

    8 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 215- Tháng 4. 2020

  9. VÕ XUÂN VINH – MAI XUÂN ĐỨC

    cho vay các dự án sân sau của các ông chủ phòng rủi ro trên tổng cho vay (LLRGL),
    ngân hàng vẫn còn phổ biến trong hoạt tác động âm đến tỷ lệ cho vay trên huy
    động tín dụng. Bên cạnh đó, không loại trừ động (LDR). Điều đó có nghĩa là các ngân
    nguyên nhân xuất phát từ việc các cổ đông hàng có quy mô tổng tài sản lớn thì rủi ro
    lớn gây áp lực buộc ban điều hành ngân phá sản và rủi ro thanh khoản thấp nhưng
    hàng đầu tư vào các dự án có rủi ro cao để rủi ro tín dụng cao hơn.
    thu lợi trong ngắn hạn hoặc tìm kiếm lợi
    ích riêng. Bên cạnh các vấn đề về rủi ro Các ngân hàng có tổng tài sản lớn thường
    thị trường, các vấn đề rủi ro hoạt động và là các ngân hàng đã khẳng định được
    rủi ro đạo đức đang ngày càng biểu hiện thương hiệu và uy tín trên thị trường. Uy
    rõ nét trong hoạt động của các ngân hàng. tín là nhân tố vô cùng quan trọng trong
    NHNN đã nhận định trong báo cáo định hoạt động kinh doanh ngân hàng. Chính
    hướng và giải pháp cơ cấu lại hệ thống vì vậy, các ngân hàng lớn có thể huy động
    ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011- 2015 được nguồn vốn ổn định với giá rẻ từ các
    rằng: “Nhóm lợi ích và sở hữu chéo giữa thành phần kinh tế, đặc biệt là các tập
    các TCTD rất lớn làm rủi ro hệ thống rất đoàn, tổng công ty lớn (Võ Xuân Vinh &
    cao nếu một NH gặp khó khăn hoặc đổ Mai Xuân Đức 2017). Bên cạnh đó, với
    vỡ” và “bằng nhiều kỹ thuật khác nhau thương hiệu và uy tín của mình, các ngân
    không ít đối tượng không tuân thủ các quy hàng lớn còn có thể dễ dàng huy động vốn
    định an toàn hoạt động tín dụng”. trực tiếp từ các định chế tài chính nước
    ngoài thông qua các chương trình cấp tín
    Biến Quy mô ngân hàng (SIZE) có tác dụng, nguồn vốn trực tiếp từ nước ngoài
    động dương đến chỉ số Z_score và tỷ lệ dự từ việc mở L/C… Vì vậy ngân hàng có

    Bảng 3. Kết quả hồi quy FGLS
    Ln(Z_score) LLRGL LDR
    Biến
    REM FEM REM FEM REM FEM
    OC -0,6182** -1,9992*** 0,0073*** 0,0167*** 0,2070** 0,3390***
    SIZE 0,3347*** 0,4643*** 0,0017*** 0,0020*** -0,0939* -0,1023**
    COI -0,0179*** -0,0152*** 0,0001 0,0001 -0,0045*** -0,0055***
    LEV 0,0000 0,0166 -0,0003 -0,0003 0,0041 0,0011
    LLP -0,0391 -0,0098 0,0032* 0,0040*** -0,0305 -0,0433
    RG 0,0329*** 0,0524*** 0,0000 0,0001*** -0,0034 -0,0054
    C 0,1117 -1,2345 -0,0061 -0,0122 1,8736 1,9654
    R-squared 0,0924 0,4353 0,1853 0,5936 0,0787 0,1816
    F-statistic 4,0745 4,3548 10,1940 9,3937 3,8293 9,9481
    Prob(F-stat) 0,0007 0,0000 0,0000 0,0000 0,0011 0,0000
    Durbin-Wats 1,2482 1,6228 1,0467 1,2629 1,8049 1,3903
    Observations 311 402 404
    Ghi chú (*), (**) và (***) tương ứng với mức ý nghĩa thống kể 10%, 5% và 1%
    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả từ phần mềm Eview 10

    Số 215- Tháng 4. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 9

  10. Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ
    các ngân hàng Việt Nam

    quy mô tài sản lớn sẽ tăng vị thế thanh sản của ngân hàng tăng theo. Tuy nhiên
    khoản, từ đó làm giảm rủi ro thanh khoản chi phí hoạt động tăng có thể do các ngân
    của ngân hàng (Võ Xuân Vinh & Mai hàng tập trung đầu tư nâng cao chất lượng
    Xuân Đức 2017). hạ tầng kỹ thuật, mở rộng mạng lưới giao
    dịch, tăng tiền lương để kích thích người
    Các ngân hàng lớn thường đầu tư vào lao động nâng cao chất lượng dịch vụ và
    nhiều dự án lớn, thời gian thu hồi vốn hiệu suất làm việc của nhân viên. Từ đó
    dài nên rất nhạy cảm với sự biến động sẽ tạo điều kiện để các ngân hàng đa dạng
    của kinh tế vĩ mô. Mặt khác, xuất phát từ hóa dịch vụ (giảm tỷ trọng dịch vụ tín
    tâm lý “to big to fail- quá lớn để thất bại” dụng), tăng doanh số huy động vốn, nâng
    (Brown & Dinç 2011; Demirgüç-Kunt & cao năng lực và vị thế thanh khoản cho
    Huizinga 2013), các ngân hàng lớn có thể ngân hàng làm cho ngân hàng hoạt động
    sẽ tham gia các dự án có rủi ro cao. Tỷ lệ an toàn hơn.
    dư phòng rủi ro tín dụng ở các ngân hàng
    có quy mô lớn sẽ cao hơn. Tỷ lệ dự phòng rủi ro trên thu nhập từ lãi
    vay (LLP) thể hiện chất lượng và quy mô
    Ngân hàng lớn thường hoạt động hiệu quả các khoản đầu tư rủi ro của ngân hàng.
    và có sự biến động lợi nhuận ổn định hơn Khi tỷ lệ này tăng chứng tỏ rằng chất
    các ngân hàng có quy mô nhỏ. Điều đó lượng các khoản đầu tư đang giảm. Vì vậy
    có thể được giải thích rằng do khả năng biến LLP có mối quan hệ cùng chiều với
    đa dạng hóa rủi ro của các ngân hàng lớn rủi ro tín dụng.
    trên các dòng sản phẩm lớn hơn (Brown
    & Dinç 2011; Demirgüç-Kunt & Huizinga 5. Kết luận và hàm ý chính sách
    2013). Hơn nữa, khách hàng của các ngân
    hàng lớn thường có nền tảng tài chính tốt, 5.1. Kết luận
    các dự án có tính khả thi cao nên ngân
    hàng có thể thu được lợi nhuận ổn định Bài báo nghiên cứu tác động của sở hữu
    và bền vững (Võ Xuân Vinh & Mai Xuân tập trung đến sự ổn định của NHTM Việt
    Đức 2017). Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy sở hữu
    tập trung càng cao, sự bất ổn của NHTM
    Biến COI có tác động âm đến Z_score càng cao. Cụ thể, các ngân hàng có sở hữu
    và LDR. Điều đó có nghĩa là tỷ lệ chi phí tập trung tăng sẽ tác động làm rủi ro phá
    hoạt động trên tổng thu nhập tăng sẽ có tác sản, rủi ro thanh khoản và rủi ro tín dụng
    động làm rủi ro phá sản tăng nhưng rủi ro tăng. Kết quả này phù hợp với các nghiên
    thanh khoản lại giảm xuống. Theo thuyết cứu của (Hou et al. 2016) và (Laeven &
    minh báo cáo tài chính của các ngân hàng, Levine 2009) nhưng trái ngược với một số
    chi phí hoạt động của các ngân hàng chủ nghiên cứu khác (García-Marco & Robles-
    yếu bao gồm chi phí cho nhân viên, chi Fernández 2008; Iannotta et al. 2007;
    về tài sản và chi cho hoạt động quản lý, Shehzad et al. 2010). Kết quả nghiên cứu
    công vụ. Chi phí hoạt động tăng làm sụt của bài báo đã đóng góp thêm bằng chứng
    giảm lợi nhuận cũng như năng lực tài thực nghiệm trong chủ đề nghiên cứu về
    chính của các ngân hàng (giảm vốn chủ sở tác động của sở hữu tập trung đến hoạt
    hữu). Vốn chủ sở hữu giảm và biến động động của các NHTM.
    lợi nhuận tăng lên sẽ làm cho rủi ro phá

    10 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 215- Tháng 4. 2020

  11. VÕ XUÂN VINH – MAI XUÂN ĐỨC

    5.2. Hàm ý chính sách thực hiện thỏa thuận và ủy thác để tạo
    thành nhóm cổ đông có quyền kiểm soát
    Kết quả nghiên cứu cho thấy sở hữu tập chi phối hoạt động ngân hàng (Gomes &
    trung cao kéo theo sự bất ổn trong hoạt Novaes 1999; Gomes & Novaes 2005).
    động ngân hàng. Hệ thống ngân hàng có
    mức độ sở hữu cao nếu không có sự giám Hai là, để thực hiện tốt việc giám sát tỷ lệ
    sát chặt chẽ có thể sẽ tác động không tốt sở hữu của các cổ đông ngân hàng, NHNN
    đến tình hình kinh tế- xã hội. Chính vì (Thanh tra giám sát ngân hàng) và Bộ Tài
    vậy, cơ quan quản lý nhà nước phải có chính (Ủy ban Chứng khoán Nhà nước)
    những giải pháp thích hợp để giám sát cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ để chia sẻ
    vấn đề sở hữu tập trung trong ngân hàng thông tin liên quan đến cổ đông của ngân
    một cách tốt nhất. Từ kết quả nghiên cứu, hàng. Mặt khác, cần có quy định riêng về
    bài báo gợi mở một số hàm ý đến các nhà công bố thông tin của cổ đông cá nhân sở
    hoạch định chính sách. hữu ngân hàng theo hướng giảm giới hạn
    sở hữu. Thực tế cho thấy, có rất ít cổ đông
    Một là, Cơ quan quản lý Nhà nước (Chính cá nhân của ngân hàng phải công bố thông
    phủ và NHNN) phải giám sát chặt chẽ tin, và cơ quan quản lý không thể giám sát
    và sát sao việc thực thi các quy định về được thông tin về các cổ đông cá nhân của
    giới hạn cổ phần của các cổ đông NHTM ngân hàng. 7Vấn đề thỏa thuận và ủy thác
    theo quy định của Luật Các TCTD. 6Quán đã đề cập ở trên có thể được hình thành và
    triệt và thực hiện tốt công tác “ngăn ngừa gây nên sự bất ổn cho hoạt động của ngân
    việc lạm dụng quản trị, điều hành, quyền hàng.
    cổ đông lớn để thao túng hoạt động của
    TCTD” của Đề án 1058. Theo đó, các Cuối cùng, kết quả nghiên cứu đã cho thấy
    nhà quản lý có thể đề nghị giảm tỷ lệ sở quy mô ngân hàng, hiệu quả quản lý chi
    hữu tối đa của một số cổ đông và những phí hoạt động và tốc độ tăng trưởng doanh
    người có liên quan so với quy định hiện thu có tác động đến sự ổn định của ngân
    hành. Mặt khác, NHNN, cụ thể là Cơ hàng. Ngân hàng có quy mô tổng tài sản
    quan Thanh tra giám sát ngân hàng cần cao sẽ hoạt động ổn định và hiệu quả. Vì
    có những giải pháp giám sát chặt chẽ các vậy các ngân hàng cần quản lý tốt chất
    nhóm cổ đông, bao gồm các nhóm cổ lượng tài sản, từng bước tăng tỷ trọng thu
    đông không thuộc đối tượng người có liên nhập hoạt động phi tín dụng để giảm thiểu
    quan theo luật định nhưng tiềm ẩn rủi ro nguy cơ hao hụt tổng tài sản ■
    đối với hoạt động của NHTM. Bên cạnh 7
    Điều 55 Luật Các TCTD 2010 (được sử đổi bổ sung bởi
    đó, cần quan tâm đến các cổ đông không Khoản 14 Điều 1 Luật Các TCTD sửa đổi 2017) quy định
    có cổ phần kiểm soát. Bởi vì sở hữu tập giới hạn sở hữu cổ phần của một cá nhân không quá
    5%. Mặt khác, theo Luật công bố thông tin, 5% cũng là
    trung có thể tăng cao khi các cổ đông nhỏ tỷ lệ sở hữu mà cổ đông phải công bố thông tin. Ngân
    hàng TMCP là một công ty đại chúng có vốn điều lệ rất
    6
    “Một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá lớn, một cá nhân muốn sở hữu 5% cổ phần của một
    5% điều lệ của một TCTD” và “Một cổ đông là tổ chức ngân hàng sẽ phải bỏ ra một số tiền ít nhất 150 tỷ đồng
    không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một (vốn pháp định tối tiểu của ngân hàng là 3.000 tỷ đồng
    TCTD”, trừ một số trường hợp đặc biệt được luật quy theo luật định). Vì vậy, ở Việt Nam, có rất ít cá nhân có
    định riêng. sở hữu trên 5% vốn của một ngân hàng.

    Tài liệu tham khảo
    1. Admati, A.R., Pfleiderer, P. & Zechner, J. (1994), ‘Large shareholder activism, risk sharing, and financial market

    Số 215- Tháng 4. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 11

  12. Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ
    các ngân hàng Việt Nam

    equilibrium’, journal of Political Economy, 102(6), 1097-1130.
    2. Agusman, A., Cullen, G.S., Gasbarro, D., Monroe, G.S. & Zumwalt, J.K. (2014), ‘Government intervention, bank
    ownership and risk-taking during the Indonesian financial crisis’, Pacific-Basin Finance Journal, 30, 114-131.
    3. Azofra, V. & Santamaría, M. (2011), ‘Ownership, control, and pyramids in Spanish commercial banks’, Journal of
    Banking Finance, 35(6), 1464-1476.
    4. Barry, T.A., Lepetit, L. & Tarazi, A. (2011), ‘Ownership structure and risk in publicly held and privately owned banks’,
    Journal of Banking & Finance, 35(5), 1327-1340.
    5. Beck, T., De Jonghe, O. & Schepens, G. (2013), ‘Bank competition and stability: Cross-country heterogeneity’, Journal
    of financial Intermediation, 22(2), 218-244.
    6. Berger, A.N., Klapper, L.F. & Turk-Ariss, R. 2017, ‘Bank competition and financial stability’, Handbook of Competition
    in Banking and Finance, Edward Elgar Publishing.
    7. Berle, A. & Means, G. 1933, ‘The modern corporation and private capital’, New York: Macmillan.
    8. Brown, C.O. & Dinç, I.S. (2011), ‘Too many to fail? Evidence of regulatory forbearance when the banking sector is
    weak’, The Review of Financial Studies, 24(4), 1378-1405.
    9. Burkart, M., Gromb, D. & Panunzi, F. (1997), ‘Large shareholders, monitoring, and the value of the firm’, The quarterly
    journal of economics, 112(3), 693-728.
    10. Chalermchatvichien, P., Jumreornvong, S., Jiraporn, P. & Singh, M. (2014), ‘The effect of bank ownership concentration
    on capital adequacy, liquidity, and capital stability’, Journal of Financial Services Research, 45(2), 219-240.
    11. Delbariragheb, M. & Zadeh, N. (2015), ‘The effect of bank ownership concentration on capital adequacy and liquidity’,
    Management Science Letters, 5(8), 715-720.
    12. Delis, M.D. & Kouretas, G.P. (2011), ‘Interest rates and bank risk-taking’, Journal of Banking Finance, 35(4), 840-855.
    13. Demirgüç-Kunt, A. & Detragiache, E. (2002), ‘Does deposit insurance increase banking system stability? An empirical
    investigation’, Journal of monetary economics, 49(7), 1373-1406.
    14. Demirgüç-Kunt, A. & Huizinga, H. (2004), ‘Market discipline and deposit insurance’, Journal of Monetary Economics,
    51(2), 375-399.
    15. Demirgüç-Kunt, A. & Huizinga, H. (2013), ‘Are banks too big to fail or too big to save? International evidence from
    equity prices and CDS spreads’, Journal of Banking Finance, 37(3), 875-894.
    16. DeYoung, R., Spong, K. & Sullivan, R.J. (2001), ‘Who’s minding the store? Motivating and monitoring hired managers
    at small, closely held commercial banks’, Journal of Banking & Finance, 25(7), 1209-1243.
    17. Dong, Y., Meng, C., Firth, M. & Hou, W. (2014), ‘Ownership structure and risk-taking: Comparative evidence from
    private and state-controlled banks in China’, International Review of Financial Analysis, 36, 120-130.
    18. Edwards, J. & Nibler, M. (2000), ‘Corporate governance in Germany: the role of banks and ownership concentration’,
    Economic Policy, 15(31), 238-267.
    19. Esty, B.C. (1998), ‘The impact of contingent liability on commercial bank risk taking’, Journal of Financial Economics,
    47(2), 189-218.
    20. Fernández, A.I., González, F. & Suárez, N. (2016), ‘Banking stability, competition, and economic volatility’, Journal of
    Financial Stability, 22, 101-120.
    21. Fu, X.M., Lin, Y.R. & Molyneux, P. (2014), ‘Bank competition and financial stability in Asia Pacific’, Journal of Banking
    Finance, 38, 64-77.
    22. Galai, D. & Masulis, R.W. (1976), ‘The option pricing model and the risk factor of stock’, Journal of Financial
    economics, 3(1-2), 53-81.
    23. García-Marco, T. & Robles-Fernández, M.D. (2008), ‘Risk-taking behaviour and ownership in the banking industry: The
    Spanish evidence’, Journal of Economics Business, 60(4), 332-354.
    24. Gomes, A. & Novaes, W. (1999), ‘Multiple large shareholders in corporate governance’, Working Paper. The Wharton
    School, Philadelphia, PA.
    25. Gomes, A.R. & Novaes, W. (2005), ‘Sharing of control as a corporate governance mechanism’, PIER Working Paper No.
    01-029.
    26. Hou, W., Lee, E., Stathopoulos, K. & Tong, Z. (2016), ‘Executive compensation and the split share structure reform in
    China’, The European Journal of Finance, 22(4-6), 506-528.
    27. Houston, J.F., Lin, C., Lin, P. & Ma, Y. (2010), ‘Creditor rights, information sharing, and bank risk taking’, Journal of
    financial Economics, 96(3), 485-512.
    28. Iannotta, G., Nocera, G. & Sironi, A. (2007), ‘Ownership structure, risk and performance in the European banking
    industry’, Journal of Banking Finance, 31(7), 2127-2149.
    29. Jensen, M.C. & Meckling, W.H. (1976), ‘Theory of the firm: Managerial behavior, agency costs and ownership
    structure’, Journal of financial economics, 3(4), 305-360.
    30. Kim, K.A., Lee, S.-H. & Rhee, S.G. (2007), ‘Large shareholder monitoring and regulation: The Japanese banking
    experience’, Journal of Economics and Business, 59(5), 466-486.

    12 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 215- Tháng 4. 2020

  13. VÕ XUÂN VINH – MAI XUÂN ĐỨC

    31. Kim, K.A. & Rhee, S.G. (2000), ‘A note on shareholder oversight and the regulatory environment: the Japanese banking
    experience’.
    32. Kiruri, R.M. (2013), ‘The effects of ownership structure on bank profitability in Kenya’, European Journal of
    Management Sciences Economics Letters, 1(2), 116-127.
    33. La Porta, R., Lopez‐de‐Silanes, F. & Shleifer, A. (1999), ‘Corporate ownership around the world’, The journal of
    finance, 54(2), 471-517.
    34. Laeven, L. (2002), ‘Bank risk and deposit insurance’, the world bank economic review, 16(1), 109-137.
    35. Laeven, L. & Levine, R. (2009), ‘Bank governance, regulation and risk taking’, Journal of financial economics, 93(2),
    259-275.
    36. Mandaci, P. & Gumus, G. (2010), ‘Ownership concentration, managerial ownership and firm performance: Evidence
    from Turkey’, South East European Journal of Economics and Business, 5(1), 57-66.
    37. Martinez Peria, M.S. & Schmukler, S.L. (2001), ‘Do depositors punish banks for bad behavior? Market discipline,
    deposit insurance, and banking crises’, The journal of finance, 56(3), 1029-1051.
    38. Meslier, C., Morgan, D.P., Samolyk, K. & Tarazi, A. (2016), ‘The benefits and costs of geographic diversification in
    banking’, Journal of International Money and Finance, 69, 287-317.
    39. Nier, E. & Baumann, U. (2006), ‘Market discipline, disclosure and moral hazard in banking’, Journal of Financial
    Intermediation, 15(3), 332-361.
    40. Pedersen, T. & Thomsen, S. (1999), ‘Economic and systemic explanations of ownership concentration among Europe’s
    largest companies’, International Journal of the Economics of Business, 6(3), 367-381.
    41. Saunders, A., Strock, E. & Travlos, N.G. (1990), ‘Ownership structure, deregulation, and bank risk taking’, the Journal
    of Finance, 45(2), 643-654.
    42. Shehzad, C.T., de Haan, J. & Scholtens, B. (2010), ‘The impact of bank ownership concentration on impaired loans and
    capital adequacy’, Journal of Banking Finance, 34(2), 399-408.
    43. Shleifer, A. & Vishny, R. (1997), ‘A Survey Of Corporate Governance’, Journal Of Finance, 52(2), 737-783.
    44. Shleifer, A. & Vishny, R.W. (1986), ‘Large shareholders and corporate control’, Journal of political economy, 94(3, Part
    1), 461-488.
    45. Võ Xuân Vinh & Mai Xuân Đức (2017), ‘Sở hữu nước ngoài và rủi ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại Việt
    Nam’, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, 33(3), 1-11.
    46. Võ Xuân Vinh & Trần Thị Phương Mai (2015), ‘Lợi nhuận và rủi ro từ đa dạng hóa thu nhập của ngân hàng thương mại
    Việt Nam’, Tạp chí Phát triển kinh tế, 26(8), 54-70.
    47. Wen, Y. & Jia, J. (2010), ‘Institutional ownership, managerial ownership and dividend policy in bank holding
    companies’, International Review of Accounting, Banking Finance, 2(1), 8-21.

    tiếp theo trang 55 nền kinh tế, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn gia tăng.
    mở rộng bao phủ BHXHTN nói riêng
    và BHXH nói chung. Cần đặc biệt nhấn Biến Lạm phát (LP): Lạm phát có tác
    mạnh vai trò của các yếu tố (như thiết kế động thuận chiều đến rủi ro ngân hàng.
    các chế độ hưởng BHXHTN, mức đóng- Tức là lạm phát tăng, rủi ro các ngân hàng
    mức hưởng, các chế độ hỗ trợ tài chính và cũng gia tăng. Bởi ảnh hưởng của khủng
    phi tài chính, thủ tục và quá trình đăng ký hoảng năm 2008, lạm phát của nền kinh tế
    tham gia, đóng, hưởng BHXH, mở rộng Việt Nam năm 2008 là 23,1%, năm 2011
    BHXHTN với người lao động di cư quốc là 18,68%. Vào những thời điểm này, hệ
    tế) là những vấn đề quan trọng quyết định thống NHTM gặp rất nhiều khó khăn khi
    sự thành công của mục tiêu mở rộng sự thị trường bất động sản đóng băng, hoạt
    bao phủ BHXHTN mà Việt Nam có thể động sản xuất kinh doanh của các doanh
    tiếp thu từ kinh nghiệm quốc tế. ■ nghiệp không thuận lợi, nhiều khó khăn
    dẫn đến khả năng kiệt quệ trong việc trả
    nợ ngân hàng… làm cho rủi ro hệ thống
    tiếp theo trang 43 NHTM Việt Nam cao, và phải đối phó với
    hàng dễ rơi vào tình trạng nới lỏng các điều khó khăn bằng nhiều cách như: cắt giảm
    kiện tín dụng để đáp ứng nhu cầu vốn cho quy mô, giảm nhân sự, siết chặt tín dụng.

    Số 215- Tháng 4. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 13

Download tài liệu Tác động của sở hữu tập trung đến sự ổn định ngân hàng: Bằng chứng thực nghiệm từ các ngân hàng Việt Nam File Word, PDF về máy