[Download] Tải Tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế với bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới – Tải về File Word, PDF

Tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế với bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới

Tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế với bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới
Nội dung Text: Tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế với bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới

Download


Bài viết xây dựng bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới bao gồm cả bốn tiêu chí là: độ sâu tài chính, khả năng tiếp cận, tính hiệu quả và tính ổn định của hệ thống tài chính của cả các tổ chức tài chính và trên thị trường vốn. Qua đó phân tích tác động của tài chính lên tăng trưởng kinh tế một cách đầy đủ và toàn diện nhất. Mời các bạn cùng tham khảo!

Bạn đang xem: [Download] Tải Tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế với bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế với bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới File Word, PDF về máy

Tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế với bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế với bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới

  1. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    41.

    1

    Nguyễn Khắc Quốc Bảo *

    Huỳnh Thị Thúy Vy *
    Phạm Dương Phương Thảo*

    Tóm tắt
    Bài nghiên cứu này xây dựng bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới bao gồm cả bốn
    tiêu chí là: độ sâu tài chính, khả năng tiếp cận, tính hiệu quả và tính ổn định của hệ thống
    tài chính của cả các tổ chức tài chính và trên thị trường vốn. Qua đó phân tích tác động
    của tài chính lên tăng trưởng kinh tế một cách đầy đủ và toàn diện nhất. Từ các bằng
    chứng thực nghiệm được tìm thấy, chúng tôi đã giải thích được các mâu thuẫn trước đây
    khi phân tích mối quan hệ giữa tài chính – tăng trưởng. Đó là, nghiên cứu tìm thấy được
    tác động tích cực (là do độ sâu tài chính của các tổ chức tài chính và khả năng tiếp cận
    vốn của thị trường vốn) và tác động tiêu cực (là do tính bất ổn của hệ thống tài chính)
    của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế, cũng như độ sâu tài chính trong thị
    trường vốn, khả năng tiếp cận lẫn tính hiệu quả của các tổ chức tài chính không ảnh
    hưởng lên tăng trưởng kinh tế. Các nhà hoạch định chính sách tại mỗi quốc gia có thể
    dựa trên các kết quả này để xây dựng cũng như hoàn thiện hệ thống tài chính của mình
    trong giai đoạn mà hệ thống tài chính thế giới đang được định hình lại để có thể thúc đẩy
    sự phát triển kinh tế bền vững tại quốc gia mình.
    Từ khóa: Phát triển tài chính, tăng trưởng kinh tế, bộ chỉ số phát triển tài chính.

    1. Giới thiệu
    Mối quan hệ giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế luôn là một trong những chủ
    đề được quan tâm trong các cuộc thảo luận về học thuật và chính sách xuyên suốt nhiều
    thế kỷ qua. Mặc dù đã có rất nhiều nghiên cứu học thuật về mối quan hệ giữa phát triển

    *Trường Đại học Kinh tế TP. HCM | Email liên hệ: nguyenbao@ueh.edu.vn

    578

  2. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    tài chính và tăng trưởng kinh tế có từ đầu thế kỷ 20 nhưng đáng ngạc nhiên cho đến nay
    không có sự đồng thuận nào được đưa ra. Liên kết giữa phát triển tài chính và tăng trưởng
    kinh tế đã trở thành một câu đố phức tạp không chỉ trong nghiên cứu riêng lẻ từng quốc
    gia mà đòi hỏi sự đánh giá đầy đủ trong nghiên cứu của chung cả khu vực và toàn thế
    giới. Vì sự mâu thuẫn của các bằng chứng được đưa ra, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh
    sự cần thiết phải tinh chỉnh liên tục các công cụ nghiên cứu được sử dụng để phân tích
    mối quan hệ tài chính – tăng trưởng. Mâu thuẫn xung quanh mối quan hệ tài chính – tăng
    trưởng xảy ra vào thời điểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đang chiến đấu để cải thiện
    tốc độ tăng trưởng kinh tế hoặc ít nhất là duy trì chúng, để cải thiện mức sống của công
    dân và hạn chế thâm hụt (Claessens và cộng sự, 2010). Trong lúc tăng trưởng kinh tế bền
    vững luôn là một thách thức đối với nhiều quốc gia và cũng như là mục tiêu của họ thì
    cuộc khủng hoảng tài chính đã làm cho tình hình tồi tệ hơn. Do đó, nhiều quốc gia, đặc
    biệt là các nước thu nhập trung bình và thấp, phải đối mặt với những thách thức lớn trong
    nỗ lực tăng trưởng, giảm tỷ lệ nghèo đói, thất nghiệp và hòa nhập vào nền kinh tế thế
    giới. Với tốc độ toàn cầu hóa ngày càng nhanh chóng và năng động hơn đã tạo nên áp lực
    rất lớn đối với một số nước đang phát triển để hiện đại hóa các lĩnh vực tài chính theo xu
    hướng toàn cầu, để tránh bị bỏ lại phía sau trong động lực cố gắng thúc đẩy nhanh hơn,
    tốt hơn và an toàn hơn giao dịch tài chính. Ngay cả đối với các nền kinh tế đã phát triển
    cũng đang chịu áp lực rất lớn để tăng cường tăng trưởng kinh tế và phát triển các lĩnh vực
    tài chính của họ, để ít nhất duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện có và tiếp tục thiết lập
    xu hướng toàn cầu. Trong tất cả những điều này, vẫn còn câu hỏi liệu phát triển tài chính
    có còn quan trọng đối với quá trình tăng trưởng kinh tế nữa hay không, và tác động thật
    sự của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế là gì? Là ảnh hưởng tích cực lên tăng
    trưởng kinh tế hay tăng trưởng kinh tế bị ảnh hưởng bất lợi bởi việc có “quá nhiều tài
    chính” hay không?
    Để phân tích mối quan hệ này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều thước đo khác
    nhau để đo lường phát triển tài chính. Các chỉ số được sử dụng phổ biến nhất chủ yếu tập
    trung vào 3 nhóm chính là: độ sâu tài chính, các chỉ số liên quan đến hoạt động của ngân
    hàng và hoạt động tài chính. Hoặc phát triển hơn là sử dụng chỉ số tổng hợp về độ sâu tài
    chính. Tuy nhiên, phát triển tài chính là một khái niệm đa chiều và hệ thống tài chính
    ngày càng phát triển, hiện đại và đa dạng hơn. Mặc dù các ngân hàng vẫn đóng vai trò là
    lớn nhất và quan trọng nhất, các công ty bảo hiểm, quỹ tương hỗ, quỹ hưu trí, công ty đầu
    tư mạo hiểm và nhiều loại hình tổ chức tài chính phi ngân hàng khác hiện ngày càng phát
    triển hơn và đóng vai trò thực chất. Tương tự, thị trường tài chính đã phát triển theo cách
    cho phép các cá nhân và doanh nghiệp đa dạng hóa tiền tiết kiệm của họ với các hình thức
    khác nhau. Hơn nữa, một trong tính năng quan trọng của hệ thống tài chính là khả năng
    tiếp cận và tính hiệu quả của chúng. Các hệ thống tài chính lớn được sử dụng hạn chế nếu

    579

  3. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    chúng không thể tiếp cận được với tỷ lệ đủ lớn người dân và các doanh nghiệp. Ngay cả
    khi các hệ thống tài chính có quy mô lớn và có phạm vi rộng, đóng góp của chúng cho
    phát triển kinh tế sẽ bị hạn chế nếu bị lãng phí và không hiệu quả (Svirydzenka, 2016).
    Thêm vào đó, sự đa dạng của hệ thống tài chính giữa các quốc gia cũng ngụ ý cần phải
    xem xét nhiều chỉ số để đo lường sự phát triển tài chính. Xem xét tầm quan trọng của vấn
    đề này, nhóm nghiên cứu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã ủng hộ việc xây dựng chỉ số
    phát triển tổ chức tài chính và thị trường tài chính về quy mô của các tổ chức tài chính và
    thị trường (độ sâu tài chính), mức độ mà cá nhân có thể và sử dụng dịch vụ tài chính (khả
    năng tiếp cận), và hiệu quả của các trung gian tài chính và thị trường trong việc trung gian
    các nguồn lực và tạo điều kiện cho các giao dịch tài chính (tính hiệu quả). Trong khi đó,
    theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới (World Bank –WB) phát triển tài chính còn cần
    phải tính đến sự ổn định của các tổ chức tài chính và thị trường tài chính (tính ổn định).
    Theo Lown và cộng sự (2000), Cihak và cộng sự (2008), Trew (2008), Hakkio và
    Keeton (2009) cho rằng bất ổn tài chính có thế ảnh hưởng lên mối quan hệ giữa phát triển
    tài chính và tăng trưởng kinh tế. Theo họ bất ổn tài chính có thể dẫn đến tăng trưởng kinh
    tế chậm lại thông qua việc gia tăng chi phí cho các doanh nghiệp và chi tiêu tài chính của
    hộ gia đình, do đó có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, khi phân tích tác
    động của phát triển tài chính cần phải xem xét đến cả 4 tiêu chí: độ sâu tài chính, tiếp cận
    tài chính, tính hiệu quả và tính ổn định tài chính. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm
    hiện tại không xem xét phương pháp đa chiều này để xây dựng chỉ số phát triển tài chính,
    và tính đến hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu nào đưa ra cách tính chỉ số phát triển tài chính
    khái quát nhất với đầy đủ bốn đặc tính của phát triển tài chính. Do đó, vẫn chưa có nghiên
    cứu nào phân tích tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế một cách khái
    quát và toàn diện nhất, bao gồm tác động tổng thể và tác động của từng thành phần trong
    phát triển tài chính, cũng như tác động thật sự của phát triển tài chính lên tăng trưởng
    kinh tế là độ sâu tài chính, khả năng tiếp cận, tính hiệu quả hay tính ổn định của hệ thống
    tài chính. Và nếu tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế là do tất cả bốn
    thành phần này cùng tác động lên hoặc là do một trong những thành phần nào tác động
    mạnh nhất thì đây cũng thật sự là một thách thức lớn đối với các nhà hoạch định chính
    sách trong việc đưa ra các chính sách quản lý lại hệ thống tài chính của quốc gia.
    Bài nghiên cứu xây dựng bộ chỉ số tài chính tổng hợp mới dựa trên 4 tiêu chí: độ sâu
    tài chính, khả năng tiếp cận, tính hiệu quả và tính ổn định của hệ thống tài chính. Từ đó
    phân tích tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế dựa trên 11 chỉ số phát
    triển tài chính của 33 quốc gia trên thế giới.

    580

  4. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    2. Xây dựng bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới
    Chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới được xây dựng dựa trên đề xuất của Svirydzenka
    (2016) – IMF và WB với sự kết hợp của 4 thành phần là chiều sâu tài chính, khả năng
    tiếp cận, tính hiệu quả và tính ổn định tài chính với tổng cộng 25 chỉ số được thu thập từ
    IMF, BIS và WB. Bảng 1 trình bày các chỉ số được sử dụng để đo lường chỉ số phát triển
    tài chính tổng hợp mới trong bài nghiên cứu.
    Bảng 1. Các chỉ số đo lường chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới theo IMF và WB
    Chỉ số
    Tiêu chí
    Tổ chức tài chính Thị trường tài chính

    Tín dụng tư nhân trên GDP Vốn hóa thị trường chứng khoán trên GDP

    Giá trị tài sản quỹ hưu trí trên GDP Tổng gia trị cổ phiếu giao dịch trên GDP

    Chứng khoán nợ quốc tế của chính phủ trên
    GDP
    Độ sâu
    Giá trị phí bảo hiểm nhân thọ trên GDP Tổng các chứng khoán nợ tư nhân trong nước
    trên GDP

    Giá trị phí bảo hiểm phi nhân thọ trên Tổng các chứng khoán nợ công cộng trong
    GDP nước trên GDP

    Chi nhánh ngân hàng trên 100.000 Phần trăm vốn hóa thị trường ngoài Top 10
    người công ty lớn nhất
    Khả năng tiếp cận ATM trên 100.000 người Phần trăm giá trị giao dịch ngoài Top 10 công
    ty lớn nhất

    Tỷ lệ thu nhập lãi thuần Tỷ lệ doanh thu thị trường chứng khoán

    Thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập

    Chi phí chung trên tổng tài sản
    Tính hiệu quả
    Lợi nhuận trên tổng tài sản

    Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu

    Chỉ số Z Biến động giá chứng khoán

    Nợ xấu ngân hàng trên tổng nợ
    Tính ổn định Tín dụng ngân hàng trên tiền gửi ngân
    hàng
    Tỷ lệ vốn điều lệ so với tài sản điều
    chỉnh theo trọng số rủi ro
    Tỷ lệ tài sản lưu động so với tổng tiền
    gửi và quỹ đầu tư ngắn hạn

    Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ IMF và WB

    581

  5. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Phương pháp tính chỉ số tổng hợp mới được dựa trên kết hợp phương pháp của
    Svirydzenka (2016) – IMF và Cẩm nang xây dựng chỉ số tổng hợp của OECD (2008).
    Các bước cụ thể để xây dựng bộ chỉ số phát triển tài chính mới theo thứ tự như sau:
    Bước 1: Mỗi chuỗi dữ liệu được winsorize để ngăn chặn các giá trị vượt quá làm biến
    dạng chỉ số giữa 0 – 1;
    Bước 2: Các chỉ số đã được winsorize tiếp tục được chuẩn hóa giữa 0 – 1 bằng cách
    sử dụng phương pháp min – max;
    Bước 3: Các chỉ số sau đó được tổng hợp thành tám chỉ số phụ ở hàng dưới cùng của
    Hình 1. Mỗi một chỉ số tổng hợp là trung bình tuyến tính có trọng số của chuỗi bên dưới,
    trong đó các trọng số có được từ phương pháp phân tích thành phần chính (PCA);
    Bước 4: Tất cả các chỉ số phụ tiếp tục chuẩn hóa lại một lần nữa bằng phương pháp
    min – max để giữ cho các chỉ số luôn nằm giữa 0 và 1;
    Bước 5: Cuối cùng, các chỉ số phụ được tổng hợp thành chỉ số cao hơn bằng cách sử
    dụng quy trình tương tự từ bước 1 đến bước 4 và cuối cùng là xây dựng chỉ số phát triển
    tài chính tổng hợp cuối cùng theo như ma trận Hình 1.
    Hình 1: Ma trận chỉ số phát triển tài chính mới theo WB

    Nguồn: WB
    Về xử lý dữ liệu bị thiếu, chúng tôi dựa vào thuật toán K – nearest neighbour (KNN).
    Thuật toán này dựa trên giả định là những thứ có tính chất gần giống nhau sẽ nằm ở vị trí
    gần nhau, với giả định như vậy thì KNN được xây dựng trên các công thức toán học để
    tính toán khoảng cách giữa hai điểm dữ liệu để xem xét mức độ giống nhau của chúng.
    Một điểm hữu ích của thuật toán KNN khi tính toán giá trị bị thiếu là KNN không cần
    dựa trên các tham số khác nhau để tiến hành phân loại dữ liệu, không đưa ra bất kỳ kết
    luận cụ thể nào giữa các biến đầu vào và biến mục tiêu, mà chỉ dựa trên khoảng cách giữa
    điểm dữ liệu cần phân loại với điểm dữ liệu đã phân loại trước đó. Đây là điểm cực kỳ
    hữu ích vì hầu hết dữ liệu trong thế giới thực không thực sự tuân theo bất kỳ giả định lý
    thuyết nào.

    582

  6. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    3. Mô hình nghiên cứu
    3.1. Dữ liệu nghiên cứu
    Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của tất cả các quốc gia trên thế giới. Để xây dựng bộ chỉ
    số phát triển tài chính mới và phân tích tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng
    kinh tế. Chúng tôi dựa vào bộ chỉ số phát triển tài chính của WB và loại trừ các quốc gia
    không có thị trường chứng khoán cũng như không cung cấp đầy đủ thông tin. Khi đó,
    mẫu nghiên cứu cuối cùng bao gồm 33 quốc gia cụ thể: Argentina, Australia, Austria,
    Brazil, Canada, Chile, China, Colombia, Germany, Greece, Hongkong, Hungary, Ireland,
    Israel, Italy, Japan, Korea, Luxembourg, Malaysia, Mexico, Norway, Peru, Philippines,
    Poland, Russian, Singapore, South Africa, Spain, Switzerland, Thailand, Turkey, United
    Kingdom, United States). Vì bộ dữ liệu các chỉ số phát triển tài chính của WB chỉ gần
    như đầy đủ các chỉ số của các quốc gia bắt đầu từ năm 2004 và cập nhật đến 2017. Do
    đó, thời gian nghiên cứu của chúng tôi trong giai đoạn 2004-2017.
    Bảng 2: Kết quả trọng số theo phương pháp phân tích thành phần chính

    FI FM

    Độ Khả Khả
    Tính Độ sâu Tính Tính FD
    sâu năng Tính ổn năng
    hiệu tài hiệu ổn FI FM
    tài tiếp định tiếp
    quả chính quả định
    chính cận cận

    0.515 0.682 0.609 0.3519 0.3819 0.909 0.418 0.469 0.778
    PC1

    PC2 0.254 0.231 0.2379 0.2427 0.265 0.277

    PC3 0.2009

    Nguồn: Tính toán của tác giả

    3.2. Mô hình nghiên cứu
    Chúng tôi xây dựng mô hình nghiên cứu dựa trên dữ liệu bảng để phân tích tác động của
    phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế, trong đó tập trung vào cả phân tích tuyến tính
    và phi tuyến giữa hai biến số này
    Đầu tiên chúng tôi xây dựng mô hình dữ liệu bảng dựa trên tác động tuyến tính của
    phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế cụ thể như sau:
    GROWTH i ,t =  0 + 1FDi ,t +  2 Z i ,t +  t
    (1)

    583

  7. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Trong đó: GROWTH là tốc độ tăng trưởng kinh tế, FD là bộ mười một chỉ số phát
    triển tài chính theo như ma trận Hình 1, Z là nhóm các biến kiểm soát bao gồm: độ mở
    thương mại (chỉ số đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố quốc tế trong việc ảnh hưởng
    đến hoạt động kinh tế), tích lũy tài sản cố định gộp (chỉ số đánh giá đầu tư vào vốn vật
    chất), tỷ lệ gia tăng dân số (chỉ số đánh giá sự tăng trưởng của lực lượng lao động).
    Một trong các giả định thường gặp trong dữ liệu bảng là dữ liệu phải độc lập từng
    phần. Các ước lượng bị sai lệch có thể là kết quả của việc không xem xét đến sự phụ
    thuộc chéo, từ đó dẫn đến kết quả không chính xác trong kiểm định nghiệm đơn vị. Do
    đó, trong bài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng kiểm định sự phụ thuộc chéo của Pesaran
    (2004) với thống kê CD, vì kiểm định này áp dụng cho cả mẫu có phụ thuộc chéo lớn và
    nhỏ và cung cấp kết quả cho cả dữ liệu bảng cân bằng và không cân bằng. Nếu có sự phụ
    thuộc chéo trong dữ liệu bảng, thì không thể sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị thế hệ đầu
    tiên. Trong trường hợp này, kiểm định nghiệm đơn vị thế hệ thứ hai CIPS (cross-
    sectionally augmented IPS) của Pesaran (2007) được sử dụng để thay thế. Tiếp đó, nếu
    các biến dừng ở cùng một mức sai phân thì có thể áp dụng kỹ thuật đồng liên kết bảng để
    phân tích mối quan hệ dài hạn. Ngược lại nếu các biến số này tích hợp ở các mức sai phân
    bậc gốc I(0) và bậc một I(1) thì kỹ thuật ước lượng mô hình ARDL được sử dụng để lựa
    chọn mô hình tối ưu nhất. Khi đó mô hình nghiên cứu theo Loayza và Ranciere (2006)
    và Samargandi và cộng sự (2015) như sau:

     
    p −1 q −1
    GROWTH i ,t =   JI GROWTH i ,t − j +   ijJ X +  i GROWTH i ,t −1 −  0i + 1i X i ,t −1  +  t
    j =1 j =0
    (2)
    Trong đó: X là nhóm các biến độc lập bao gồm các biến phát triển tài chính và các
    biến kiểm soát, tương ứng với các độ trễ q1, q2, q3, q4 lần lượt là biến phát triển tài chính,
    TRADE, GROSS và POP.
    Phương trình (2) có thể được ước lượng bởi hai công cụ ước lượng khác nhau: mô
    hình nhóm trung bình (MG) của Pesaran và Smith (1995), mô hình nhóm trung bình gộp
    (PMG) được phát triển bởi Pesaran và cộng sự. (1999).
    4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
    Kết quả của Bảng 3 cho thấy rằng ngoại trừ biến POP, FI, FID và FIS thì tất cả các biến còn
    lại đều đã bác bỏ giả thuyết H0 – không có sự phụ thuộc chéo với mức ý nghĩa là 1%. Kiểm
    định CD của Pesaran của mô hình tìm thấy bằng chứng sự phụ thuộc chéo giữa các bảng.
    Phát hiện này cho thấy chúng ta cần tiến hành kiểm định nghiệm đơn vị thế hệ thứ hai.

    584

  8. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Bảng 3: Kết quả kiểm định sự phụ thuộc chéo

    Biến CD_Test P_Value CD_test(Model)
    GROWTH 47.643 0.000*
    GROSS 4.57 0.000*
    TRADE 11.256 0.000*
    POP 0.379 0.705
    41.608
    FD 17.426 0.000*
    (0.000)*
    44.959
    FI 0.775 0.439
    (0.000)*
    41.266
    FM 17.788 0.000*
    (0.000)*
    41.608
    FID 1.091 0.275
    (0.000)*
    44.593
    FIA 27.456 0.000*
    (0.000)*
    39.645
    FIE 19.101 0.000*
    (0.000)*
    45.964
    FIS 0.088 0.930
    (0.000)*
    40.818
    FMD 14.485 0.000*
    (0.000)*
    47.130
    FMA 7.422 0.000*
    (0.000)*
    46.683
    FME 22.575 0.000*
    (0.000)*
    34.065
    FMS 57.714 0.000*
    (0.000)*
    Thống kê CD của mô hình dựa trên mô hình hiệu ứng cố định. Trong ngoặc đơn là giá trị P-Value.
    * có ý nghĩa ở mức 1%.
    Nguồn: Tính toán của tác giả

    Bảng 4 trình bày các kết quả kiểm định nghiệm đơn vị CIPS bao gồm có xu hướng và
    không có xu hướng. Kết quả cho thấy, tất cả các biến đều dừng ở mức sai phân bậc 1
    I(1)với trường hợp không có xu hướng, ngoại trừ các biến GROWTH, FIE, FMA, FME,
    FMS là dừng ở bậc. Bởi vì các biến trong mô hình dừng ở I(0) và I(1), do đó chúng tôi
    thực hiện kiểm định đồng liên kết dựa trên mô hình ARDL có sự phụ thuộc chéo (CS-

    585

  9. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    ARDL) để tránh kết quả ước lượng sai lệch trong phân tích mối quan hệ dài hạn cũng như
    ngắn hạn giữa các biến. Trong đó 2 mô hình Mean Group (MG), Pooled Mean Group
    (PMG) được sử dụng. Để lựa chọn mô hình nào phù hợp nhất chúng tôi dựa trên kiểm
    định Hausman. Kết quả kiểm định 2 mô hình được trình bày trong Bảng 5.
    Bảng 4: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị dữ liệu bảng
    CIPS CIPS CIPS CIPS
    Biến
    (Constant) (Constant) (Constant&Trend) (Constant & Trend)
    Bậc gốc Sai phân bậc 1 Bậc gốc Sai phân bậc 1
    GROWTH -2.374* -4.351* -2.998* -4.296*
    GROSS -1.333 -2.603* -1.493 -2.968*
    TRADE -1.293 -2.689* -1.713 -2.846*
    POP -1.744 -2.467* -2.037 -2.777**
    FD -1.691 -3.443* -2.567*** -3.537*
    FI -1.469 -2.288* -1.810 -2.391
    FM -1.691 -3.443* -2.567*** -3.537*
    FID -2.003 -3.554* -2.425 -3.654*
    FIA -1.416 -2.440* -1.717 -2.824*
    FIE -3.318* -4.492* -3.688 -4.509
    FIS -1.946 -2.210*** -1.900 -2.455
    FMD -1.400 -2.755* -1.788 -3.062
    FMA -2.110*** -3.603* -2.394 -3.829
    FME -2.141** -3.472* -3.653** -3.492*
    FMS -2.073*** -3.524* -2.816* -3.368*
    * , **, *** lần lượt có ý nghĩa ở mức 1%, 5% và 10%
    Nguồn: Tính toán của tác giả

    Để lựa chọn độ trễ tối ưu cho mô hình ARDL chúng tôi dựa sử dụng kỹ thuật
    Kripfganz và Schneider (2018) bằng cách hồi quy mô hình ARDL và thực hiện lệnh cho
    từng quốc gia (bằng cách sử dụng vòng lặp). Kết quả độ trễ tối ưu cho mỗi biến phát triển
    tài chính trong từng mô hình được trình bày trong bảng 4 như sau:

    586

  10. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Bảng 5: Kết quả độ trễ tối ưu cho mô hình ARDL dữ liệu bảng

    Mô hình Độ trễ tối ưu mô Mô hình Độ trễ tối ưu mô
    hình ARDL (p q1 hình ARLD (p q1
    q2 q3 q4) q2 q3 q4)

    FD ARDL (1 1 0 1 0) FM ARDL (1 1 0 1 0)

    FI ARDL (1 1 1 1 0) FMD ARDL (1 1 1 1 0)

    FID ARDL (1 0 1 1 0) FMA ARDL (1 1 1 1 0)

    FIA ARDL (1 0 0 1 0) FME ARDL (1 0 0 1 0)

    FIE ARDL (1 1 0 1 0) FMS ARDL (1 1 1 0 1)

    FIS ARDL (1 0 1 1 0)

    Nguồn: Tính toán của tác giả

    Bằng chứng thực nghiệm tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế
    trong dài hạn và ngắn hạn được trình bày cụ thể trong Bảng 6. Tác động tích cực của phát
    triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế là do tác động của độ sâu tài chính, khi mà hệ thống
    tài chính càng phát triển theo chiều sâu thì có khuynh hướng thúc đẩy sự phát triển của
    nền kinh tế. Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước đây khi sử dụng thước đo là
    độ sâu tài chính đại diện cho phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế. Thêm vào đó,
    bằng chứng thực nghiệm này đã giải thích được lý do tại sao độ sâu tài chính thường được
    sử dụng trong nghiên cứu mối quan hệ giữa tài chính – tăng trưởng, đó là do hệ số hồi
    quy của chiều sâu tài chính (6.576) là lớn nhất trong các đại diện của phát triển tài chính,
    điều mà các nghiên cứu trước đây chưa giải thích được, kết quả này của chúng tôi đã giải
    quyết được vấn đề này. Kết quả này bổ sung thêm vào bằng chứng thực nghiệm của các
    nghiên cứu trước khi không chỉ ngân hàng mà các tổ chức tài chính khác trong hệ thống
    tài chính càng phát triển theo chiều sâu thì nền kinh tế sẽ càng phát triển.
    Ngoài ra, nghiên cứu cũng lần đầu tìm thấy tác động tích cực của khả năng tiếp cận
    thị trường vốn càng dễ dàng thì sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế. Như vậy tác động tích
    cực của hệ thống tài chính lên tăng trưởng kinh tế là do sự phát triển của chiều sâu tài
    chính của các tổ chức tài chính và khả năng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn của thị trường
    vốn. Trong khi đó, tác động tiêu cực của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế là do

    587

  11. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    sự bất ổn định của hệ thống tài chính bao gồm cả sự bất ổn định của các tổ chức tài chính
    lẫn trên thị trường vốn và do tính hiệu quả của thị trường vốn.
    Như vậy, rõ ràng kết luận không đồng thuận từ các nghiên cứu trước đây khi nghiên
    cứu mối quan hệ giữa phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế đã được chúng tôi giải
    quyết khi tìm thấy lý do tại sao phát triển tài chính có tác động tích cực (là do tác động
    của chiều sâu tài chính và khả năng tiếp cận nguồn vốn), tác động tiêu cực (là do tính bất
    ổn định của hệ thống tài chính và tính hiệu quả của thị trường vốn) và không tìm thấy
    mối quan hệ giữa phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế (là do khi sử dụng đại diện
    của phát triển tài chính là độ sâu tài chính trong thị trường vốn, khả năng tiếp cận lẫn tính
    hiệu quả của các tổ chức tài chính).
    Các nhà hoạch định chính sách tại mỗi quốc gia có thể dựa trên các kết quả thực
    nghiệm trong bài nghiên cứu để đưa ra các hàm ý chính sách trong việc tối ưu hóa phát
    triển chiều sâu tài chính trong các tổ chức tài chính cũng như cách thức để tiếp cận thị
    trường vốn dễ dàng hơn từ đó đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng và hoàn thiện hệ thống tài
    chính của mình trong giai đoạn mà hệ thống tài chính thế giới đang được định hình lại để
    có thể thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững tại quốc gia mình.

    588

  12. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM
    Bảng 6: Kết quả ước lượng mô hình ARDL dữ liệu bảng

    MH1 MH2 MH3 MH4 MH5 MH6 MH7 MH8 MH9 MH10 MH11
    Long-run

    -2.714
    FD
    (0.001)*
    -1.504
    FI
    (0.131)
    -3.671
    FM
    (0.001)*
    6.576
    FID
    (0.000)*
    -0.406
    FIA
    (0.485)
    0.289
    FIE
    (0.633)
    -3.227
    FIS
    (0.000)*)
    -0.803
    FMD
    (0.327)
    2.698
    FMA
    (0.000)*
    -2.481
    FME
    (0.000)*
    -1.772
    FMS
    (0.000)*
    0.019 -0.013 0.019 -0.019 0.009 -0.001 -0.025 0.022 0.006 -0.004 -0.044
    TRADE
    (0.017)** (0.091)*** (0.017)** (0.013)** (0.278) (0.861) (0.002)* (0.004)* (0.472) (0.619) (0.000)*
    -.1295 -0.01 -0.13 0.034 0.071 -0.08 -0.012 -0.134 0.033 -0.036 0.046
    GROSS
    (0.000)* (0.837) (0.000)* (0.322) (0.044)** (0.059)*** (0.785) (0.000)* (0.407) (0.368) (0.184)
    -0.371 0.244 -0.371 0.456 -0.525 -0.103 -0.772 -0.725 -0.175 -0.638 -0.056
    POP
    (0.042)** (0.257) (0.042)** (0.01)* (0.01)* (0.623) (0.001)* (0.000)* (0.429) (0.004)* (0.785)

    589

  13. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Short-Run
    -7.453
    ∆FD
    (0.136)
    -15.367
    ∆FI
    (0.002)*
    -0.922
    ∆FM
    (0.000)*
    21.552
    ∆FID
    (0.74)
    -2.355
    ∆FIA
    (0.798)
    1.905
    ∆FIE
    (0.141)
    -14.379
    ∆FIS
    (0.089)***
    -0.922
    ∆FMD
    (0.000)*
    -1.17
    ∆FMA
    (0.743)
    5.239
    ∆FME
    (0.377)
    -4.336
    ∆FMS
    (0.000)*
    0.217 0.190 0.217 0.2 0.178 0.195 0.193 0.206 0.207 0.236 0.103
    ∆TRADE
    (0.000)* (0.000)* (0.000)* (0.000)* (0.000)* (0.000)* (0.000)* (0.000)* (0.000)* (0.000)* (0.032)**
    0.772 0.80 0.772 0.841 0.844 0.812 0.762 0.808 0.803 0.782 0.705
    ∆GROSS
    (0.001)* (0.001)* (0.001)* (0.000)* (0.001)* (0.001)* (0.001)* (0.000)* (0.000)* (0.001)* (0.002)*
    -0.796 -5.127 -0.796 -4.102 -4.40 -4.852 -4.793 -2.636 -2.327 -2.236 -4.807
    ∆POP
    (0.682) (0.132) (0.682) (0.244) (0.260) (0.175) (0.225) (0.396) (0.556) (0.388) (0.203)

    Biến phụ thuộc GROWTH, biến độc lập phát triển tài chính, TRADE, GROSS, POP. Trong đó từ MH1 đến MH11 biến độc lập tài chính lần
    lượt là FD, FI, FM, FID, FIA, FIE, FIS, FMD, FMA, FME, FMS. Kết quả báo cáo mô hình được trình bày dựa trên kiểm định Hausman
    được sử dụng để lựa chọn giữa hai mô hình MG và PMG. *, **, ** lần lượt ở mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%.
    Nguồn: Tính toán của tác giả

    590

  14. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    5. Kết luận
    Chúng tôi mong đợi rằng những kết quả nghiên cứu tìm thấy sẽ góp phần giúp các nhà
    hoạch định chính sách tại mỗi quốc gia nhận định rõ hơn và chính xác hơn những tác
    động lên tăng trưởng kinh tế gây ra bởi sự phát triển tài chính thông qua việc chúng tôi
    xây dựng bổ sung thêm một chiều đánh giá tác động vào bộ chỉ số của IMF. Qua đó, các
    quốc gia có thể xây dựng cũng như hoàn thiện hệ thống tài chính của mình trong giai
    đoạn mà hệ thống tài chính thế giới đang được định hình lại để có thể thúc đẩy sự phát
    triển kinh tế bền vững tại quốc gia mình.
    Tài liệu tham khảo
    Claessens, S., Djankov, S., and Lang, H.P. 2010. The Separation of Ownership and Control in
    East Asian Corporations. Journal of Financial Economics 58, 81-112
    Cihak, M., Bauducco, S., and Bulir, A. 2008. Taylor Rule unde financial Instability.,IMF
    Working Papers.
    Hakkio, C, S., Keeton, W,C. 2009. Financial Stress: What Is It, How Can It Be Measured, and
    Why Does It Matter? Economic Review, 5-50.
    Kripfganz, S., and Schneider, D,C. 2018. Ardl: Estimating autoregressive distributed lag and
    equilibrium correction models. Proceedings of the 2018 London Stata Conference.
    Loayza, N,V., and Ranci re, R., 2006. Financial Development, Financial Fragility, and Growth.
    Journal of Money, Credit and Banking, 38(4), 1051-1076.
    Lown, C, D Morgan, and S Rohatgi. 2000. Listening to Loan Officers: The Impact of Commercial
    Credit Standards on Lending and Output. Federal Reserve Bank of New York Economic
    Policy Review, 6(2), pp 1-16.
    Pesaran, M.H., Shin, Y. and Smith, R.P., 1999. Pooled Mean Group Estimation of Dynamic
    Heterogeneous Panels. Journal of the American Statistical Association, 94(446), 621-634.
    Pesaran, H. and Smith, R., (1995). Estimating Long-Run Relationships from Dynamic
    Heterogeneous Panels, Journal of Econometrics, 68(1),79-113.
    Pesaran, M., 2004. General Diagnostic Tests for Cross Section Dependence in
    Panels. Cambridge Working Papers in Economics 435, and CESifo Working
    Paper Series 1229.
    Pesaran, M., 2007. A simple panel unit root rest in the presence of cross-section
    dependence. Journal of Applied Econometrics, 22, 265-312.
    Samargandi, N., Fidrmuc, J., and Ghosh, S. 2015. Is the Relationship Between Financial
    Development and Economic Growth Monotonic? Evidence from a Sample of Middle-Income
    Countries. World Development 68, 66-81.
    Svirydzenka, K. 2016. Introducing a New Broad-based Index of Financial Development. IMF
    Working Paper, WP/16/5, January 2016.
    Trew, A. 2008. Efficiency, depth and growth: Quantitative implications of finance and growth
    theory. Journal of Macroeconomics 30, 1550–1568.

    591

Download tài liệu Tác động của phát triển tài chính lên tăng trưởng kinh tế với bộ chỉ số phát triển tài chính tổng hợp mới File Word, PDF về máy