[Download] Tải Tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam – Tải về File Word, PDF

Tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nội dung Text: Tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Download


Bài viết nhằm mục tiêu nghiên cứu tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018. Để đo lường hiệu quả và chỉ số đổi mới công nghệ của các NHTM Việt Nam, phương pháp phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis – DEA) được áp dụng dựa trên hai biến đầu ra và ba biến đầu vào.

Bạn đang xem: [Download] Tải Tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam File Word, PDF về máy

Tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam

  1. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 50, 2021

    TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ
    CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    NGUYỄN THỊ MỸ PHƯỢNG, ĐẶNG THỊ TRƯỜNG GIANG
    Khoa Tài chính – Ngân hàng, Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh
    nguyenthimyphuong@iuh.edu.vn

    Tóm tắt. Bài viết nhằm mục tiêu nghiên cứu tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân
    hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018. Để đo lường hiệu quả và chỉ số đổi mới
    công nghệ của các NHTM Việt Nam, phương pháp phân tích bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis –
    DEA) được áp dụng dựa trên hai biến đầu ra và ba biến đầu vào. Sau đó, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi
    quy Tobit để xem xét tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam. Kết quả
    nghiên cứu cho thấy: Chỉ số đổi mới công nghệ trung bình của các NHTM Việt Nam ở mức 0,976

  2. 20 TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    mới công nghệ đã làm cho việc thực hiện xử lý và truyền tải thông tin tại các NHTM được nhanh hơn, sản
    phẩm ngân hàng có thể dễ dàng được tiếp thị do mạng lưới quy mô được mở rộng hơn dựa trên một tập hợp
    các kết nối khu vực và toàn cầu, khả năng tiếp cận và nhận thức của khách hàng được nâng cao hơn, theo
    đó làm gia tăng đáng kể hiệu quả hoạt động ngân hàng (Campanella & cộng sự, 2017).
    Tại Việt Nam, đa số các NHTM đều khẳng định rằng đổi mới công nghệ có ý nghĩa quan trọng sống còn
    trong hoạt động kinh doanh và 96% ngân hàng đã và đang xây dựng chiến lược phát triển dựa trên các công
    nghệ 4.0 (NHNN, 2019). Mặc dù thực tế là các NHTM Việt Nam bị ảnh hưởng nhiều bởi sự đổi mới công
    nghệ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, nhưng tính đến nay, chưa có
    nghiên cứu thực nghiệm nào đi sâu nghiên cứu về tác động của của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của
    các NHTM Việt Nam. Hầu hết các nghiên cứu trong nước như Vinh (2012), Trúc & Danh (2012), Sáng
    (2013), Hoàng & Huân (2016), Thương (2017) đều tập trung nghiên cứu về các yếu tố tác động đến hiệu
    quả ngân hàng, tuy nhiên tất cả các nghiên cứu này đều chưa tính đến tác động của đổi mới công nghệ đến
    hiệu quả của các NHTM Việt Nam. Do vậy, xuất phát từ bối cảnh khoa học và thực tiễn tại Việt Nam,
    nghiên cứu này được thực hiện với kỳ vọng mang lại đóng góp mới về phương pháp tiếp cận đo lường chỉ
    số đổi mới công nghệ và bổ sung vào khoảng trống nghiên cứu thông qua cung cấp bằng chứng thực nghiệm
    về tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam.
    2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
    2.1 Đổi mới công nghệ
    Drucker (2013) cho rằng đổi mới là quá trình liên quan đến sự trang bị các khả năng mới, được cải thiện
    hoặc tiện ích gia tăng. Điều này có thể được thực hiện thông qua các sản phẩm, quy trình, dịch vụ, công
    nghệ hoặc ý tưởng hiệu quả mới có sẵn cho thị trường, chính phủ và xã hội (BCG, 2009). Trong khi đó,
    công nghệ là kiến thức và ứng dụng của các sản phẩm và quy trình, phương pháp, công cụ và hệ thống tạo
    ra hoặc sản xuất hàng hóa và dịch vụ (Khalil, 2000). Do đó, đổi mới công nghệ được tạo thành từ đổi mới
    hệ thống, đổi mới quy trình, đổi mới đội ngũ lao động và đổi mới trang thiết bị làm việc trong một tổ chức
    (Oke & Goffin, 2011). Theo lý thuyết khuyếch tán đổi mới của Rogers (1962), trong ngành ngân hàng, đổi
    mới công nghệ có một năng lực đặc biệt làm gia tăng lợi thế cạnh tranh của ngân hàng trên cơ sở cho phép
    các ngân hàng tung ra các sản phẩm trong nền tảng ngân hàng của họ nhờ các hệ thống ngân hàng lõi vượt
    trội có nguồn gốc từ các công ty chuyên phát triển, sản xuất, kinh doanh bản quyền phần mềm và hỗ trợ
    trên diện rộng các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến máy tính như IBM, Mysis và Microsoft (Langley &
    cộng sự, 2011).
    2.2 Hiệu quả ngân hàng
    2.2.1 Khái niệm hiệu quả ngân hàng
    Khái niệm về hiệu quả của ngân hàng vẫn còn được tranh cãi giữa các nhà nghiên cứu. Để xác định những
    gì tạo nên hiệu quả của các ngân hàng, trước tiên người ta nên quyết định về bản chất của phương pháp tiếp
    cận ngân hàng. Có hai cách tiếp cận chính được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu lý thuyết ngân hàng, đó
    là phương pháp sản xuất và phương pháp trung gian (Sealey & Lindley, 1977). Cách tiếp cận sản xuất giả
    định rằng ngân hàng đóng vai trò là nhà cung cấp dịch vụ cho chủ tài khoản; nghĩa là, họ nên thực hiện các
    giao dịch trên tài khoản tiền gửi và xử lý các khoản vay. Cách tiếp cận trung gian theo quan điểm là các
    ngân hàng về cơ bản đóng vai trò là trung gian tài chính với vai trò chính là lấy tiền từ người tiết kiệm để
    đổi lấy các khoản nợ của họ, và đến lượt các ngân hàng sẽ cung cấp các khoản vay cho người khác để kiếm
    lợi nhuận (Chu & Lim, 1998). Berger & Humphrey (1992) lập luận rằng cả hai cách tiếp cận này đều không
    hoàn hảo vì họ không thể nắm bắt hoàn toàn vai trò kép của ngân hàng với tư cách là nhà cung cấp dịch
    vụ/giao dịch và cũng là trung gian tài chính. Họ chỉ ra rằng phương pháp sản xuất có thể tốt hơn để đánh
    giá hiệu quả của các chi nhánh ngân hàng và phương pháp trung gian có thể phù hợp hơn để đánh giá toàn
    bộ các ngân hàng. Kablan (2009) cho rằng hiệu quả ngân hàng là thước đo mức độ quản lý phù hợp với
    công nghệ, quản lý nguồn nhân lực và các nguồn lực khác để tạo ra một mức sản lượng nhất định. Trong
    khi đó, theo Farrell (1957), hiệu quả ngân hàng có thể được chia thành hai thành phần, gồm hiệu quả kỹ
    thuật (TE) và hiệu quả phân bổ (AE).
    Hiệu quả chi phí (CE) = Hiệu quả kỹ thuật (TE) x Hiệu quả phân bổ (AE) = (OQ/OP) x (OR/OQ)
    2.2.2 Đo lường hiệu quả ngân hàng

    © 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

  3. TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG 21
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Theo Wozniewska (2008), hiệu quả ngân hàng thường được đo lường thông qua phương pháp phân tích
    hiệu quả biên. Phương pháp này tính toán chỉ số hiệu quả tương đối dựa trên việc so sánh khoảng cách của
    các đơn vị ra quyết định (Decision Making Unit – DMU) hay ngân hàng với một đơn vị thực hiện hoạt động
    tốt nhất trên biên. Công cụ này cho phép tính được chỉ số hiệu quả chung của từng ngân hàng dựa trên hoạt
    động của chúng và cho phép xếp hạng hiệu quả của các ngân hàng. Phương pháp phân tích hiệu quả biên
    có thể được chia thành 2 nhóm gồm: (i) Phương pháp tham số – Phân tích biên ngẫu nhiên (The Stochastic
    Frontier Approach – SFA), được giới thiệu bởi Aigner & cộng sự (1977) và (ii) Phương pháp phi tham số –
    Phân tích bao dữ liệu (Data envelopment approach – DEA) được đề xuất bởi Charnes & cộng sự (1978),
    sau đó là Banker & cộng sự (1984). Mặc dù cả hai phương pháp này đều có ưu và nhược điểm trong đo
    lường hiệu quả, nhưng theo thời gian, các nhà nghiên cứu đã ủng hộ rằng DEA là một kỹ thuật vượt trội
    hơn so với SFA trong tính toán điểm hiệu quả tổng thể trên các ngành công nghiệp khác nhau (Chandra &
    cộng sự, 1998; Kumar & Arora, 2011; Kumar & Gulati, 2009; Kumar, 2011).
    2.3 Đổi mới công nghệ và hiệu quả ngân hàng
    Hobe & Alas (2016) chỉ ra rằng đổi mới công nghệ là một trong những động lực sinh lời chính của các ngân
    hàng và trong thế kỷ 21, nó ngày càng trở nên quyết định trong hiệu quả và khả năng cạnh tranh của ngân
    hàng. Beccalli (2007) đã tiết lộ rằng việc đầu tư vào công nghệ thông tin và đổi mới có tác động đáng kể
    đến hiệu quả của ngành ngân hàng. Romdhane (2013) cho thấy rằng các khoản đầu tư vào internet và ngân
    hàng trên di động có thể làm tăng hiệu suất ngân hàng. Abaenewe & cộng sự (2013) tìm thấy bằng chứng
    chỉ ra tác động tích cực của máy rút tiền tự động (ATM) và máy POS đến hiệu suất và lợi thế cạnh tranh
    trong lĩnh vực ngân hàng. Ngugi & Karina (2013) đã nghiên cứu ảnh hưởng của các chiến lược đổi mới
    công nghệ đến hiệu quả các NHTM ở Kenya, họ thấy rằng các chiến lược như tái định vị sản phẩm, thay
    thế sản phẩm và chiến lược đổi mới quy trình như tuân thủ các quy định và giảm chi phí có tác động làm
    tăng hiệu quả ngân hàng. Họ kết luận rằng việc áp dụng các chiến lược đổi mới công nghệ có tác động cùng
    chiều đến hiệu quả ngân hàng. Trong khi đó, Yang & Huang (2009) khẳng định rằng việc áp dụng công
    nghệ tài chính sẽ nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh tổng thể của ngành ngân hàng tại Đài Loan.
    Từ những bằng chứng thực nghiệm nêu trên, cho thấy việc đổi mới công nghệ có tác động cùng chiều đến
    hiệu quả của các NHTM, theo đó đổi mới công nghệ là một trong những yếu tố quan trọng trong việc nâng
    cao hiệu quả và lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng.
    3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU
    Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm mục tiêu xác định mức độ tác động của đổi
    mới công nghệ đến hiệu quả của 22 NHTMVN, gồm ABB, ACB, BIDV, CTG, EIB, HDB, MBB, MSB,
    NAB, OCB, PGB, SCB, SEA, SGB, SHB, STB, TCB, TPB, VAB, VCB, VIB, VPB trong giai đoạn 2009-
    2018. Nghiên cứu tiến hành theo hai giai đoạn: (i) Đo lường hiệu quả và chỉ số đổi mới công nghệ của 22
    NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018 theo cách tiếp cận phân tích hiệu quả biên phi tham số bao dữ
    liệu DEA; (ii) Sử dụng mô hình hồi quy Tobit để xem xét tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của
    các NHTM Việt Nam.
    3.1 Đo lường hiệu quả và chỉ số đổi mới công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam
    3.1.1 Đo lường hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam
    Để đo lường hiệu quả của 22 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018, tác giả sử dụng phương pháp
    DEA do kỹ thuật vượt trội của phương pháp này so với phương pháp tham số SFA (Chandra & cộng sự,
    1998; Kumar & Arora, 2011; Kumar & Gulati, 2009; Kumar, 2011). Theo Charnes & cộng sự (1978), DEA
    là mô hình lập trình toán học được áp dụng cho dữ liệu quan sát cung cấp một cách mới để có được ước
    tính thực nghiệm về các mối quan hệ như các hàm sản xuất hoặc bề mặt khả năng sản xuất hiệu quả, được
    xem là nền tảng của kinh tế học hiện đại. Cách tiếp cận này cung cấp một giá trị hiệu quả số được xác định
    một cách khách quan bằng cách sử dụng nhiều đầu vào và đầu ra. DEA bắt đầu với một công thức lập trình
    phân đoạn tương đối đơn giản.
    Giả sử rằng có n DMU hay ngân hàng được đánh giá. Mỗi loại tiêu thụ số lượng đầu vào i khác nhau và tạo
    ra r đầu ra khác nhau, tức là DMUj tiêu thụ xji lượng đầu vào để tạo ra số lượng đầu ra yjr. Giả định rằng các
    đầu vào xji và đầu ra yjr không âm và mỗi DMU có ít nhất một giá trị đầu vào và đầu ra dương. Năng suất
    của DMU có thể được viết là:

    © 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

  4. 22 TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    s

    u y r rj
    hj = r =1
    m

    v x
    i =1
    i ij

    Trong công thức này, u và v là các trọng số được gán cho từng đầu vào và đầu ra. Bằng cách sử dụng các
    kỹ thuật lập trình toán học, DEA gán tối ưu các trọng số theo các ràng buộc sau: Các trọng số cho mỗi
    DMU được gán theo ràng buộc rằng không có DMU nào khác có hiệu suất lớn hơn 1 nếu nó sử dụng cùng
    các trọng số, ngụ ý rằng DMU hoàn toàn hiệu quả sẽ có giá trị là 1.
    Các trọng số dẫn xuất, u và v không âm. Hàm mục tiêu của DMUk là tỷ lệ của tổng đầu ra có trọng số chia
    cho tổng đầu vào có trọng số và có thể được trình bày theo công thức cơ bản sau:
    s

    u r yr 0
    max h0 (u , v ) = r =1
    m
    (1)
    v x
    i =1
    i i0

    s

    u r yrj
    (2)
    subject to h j = r =1
    m
     1, j = 1…n
    v x
    i =1
    i ij

    u r  0, r = 1,2,…., s,
    (3)
    vi  0, i = 1,2,…, m,
    3.1.2 Đo lường chỉ số đổi mới công nghệ của các ngân hàng thương mại Việt Nam
    Dựa trên các nghiên cứu của Liu & Pan (2007), Yuan & cộng sự (2007), Wuqin & Shunlin (2008), Yun
    (2011), Cruz-Cázares & cộng sự (2013), nhóm tác giả sử dụng phương pháp DEA theo cách tiếp cận chỉ số
    Malmquist để phân rã thành chỉ số đổi mới công nghệ (phản ánh sự thay đổi tiến bộ công nghệ) để đo lường
    chỉ số đổi mới công nghệ của 22 NHTM Việt Nam.
    Theo Färe & cộng sự (1994), chỉ số Malmquist được xác định như sau:
    ( )  D (x , y ) 
    1/ 2
     D0t x t +1 , y t +1 t +1 t +1 t +1
    M0 x ( t +1
    ,y t +1 t
    ,x ,y t
    ) = 
     t t t
    ( )  D (x , y ) 
    0
    t +1 t t
    (4)
     D0 x , y 0

    Trong đó, giả thiết rằng tương ứng với mỗi thời kỳ t=1, …, T có công nghệ sản xuất HT biểu thị cách kết
    hợp tất cả các đầu ra yt có thể được sản xuất bằng cách sử dụng đầu vào xt. Giả định rằng Ht thỏa mãn một
    số tiêu chuẩn nhất định để xác định hàm khoảng cách đầu ra như sau:
    ( )  (
    D0t x t , y t = inf  : x t , y t /   H t ) 
    Từ đó, phân rã (4) thành các thành phần như sau:
    ( )  D (x , y )  D (x , y )  (5)
    1/ 2
     D t +1 x t +1 , y t +1 t +1 t +1 t +1
    ( )
    t t t
    t +1 t +1 t t
    =  0 t t t
    ( )  D (x , y )  D (x , y ) 
    0 0
    M0 x ,y ,x ,y t +1 t +1 t +1 t +1 t t
     D0 x , y 0 0

     D t x t +1 , y t +1
    Trong đó, thành phần  t 0+1 t +1 t +1
    t +1 t
    (t
    )  D (x , y )  thể hiện sự đổi mới công nghệ biên giữa hai thời
    ( )  D (x , y ) 
    0
     t +1 t t
     D0 x , y 0

    kỳ t và t+1.
    3.1.3 Dữ liệu các biến trong mô hình DEA
    Để lựa chọn các biến trong phân tích DEA nhằm đo lường hiệu quả và chỉ số đổi mới công nghệ của các
    NHTM Việt Nam, nghiên cứu dựa trên cách tiếp cận trung gian theo quan điểm của Berger & Humphrey
    (1992). Theo cách tiếp cận này, các biến đầu vào (Input), đầu ra (Output) và biến giá các đầu vào (Input
    Price) của các NHTM Việt Nam được trình bày tại Bảng 1 & kết quả thống kê mô tả các biến này được

    © 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

  5. TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG 23
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    trình bày tại Bảng 2. Nguồn dữ liệu các biến được thu thập từ báo cáo tài chính (BCTC) của 22 NHTM
    Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018.
    Bảng 1: Các biến đầu vào, đầu ra và biến giá của các đầu vào trong phân tích DEA
    Biến Ký hiệu Cách tính Đơn vị tính
    OUTPUT
    Thu lãi và các khoản tương đương Y1 Thu lãi và các khoản tương đương Triệu đồng
    Thu ngoài lãi và các khoản tương đương Y2 Thu ngoài lãi và các khoản tương đương Triệu đồng
    INPUT
    Chi phí lao động X1 Chi phí cho nhân viên Triệu đồng
    Tổng tài sản cố định ròng X2 Tổng tài sản cố định ròng Triệu đồng
    Tổng vốn huy động từ khách hàng X3 Tổng vốn huy động từ khách hàng Triệu đồng
    INPUT PRICE
    Triệu
    Giá của lao động P1 Chi cho nhân viên/Tổng số nhân viên
    đồng/người
    Giá của tài sản P2 Chi về tài sản/Tổng tài sản cố định ròng Lần
    Chi trả lãi và các khoản tương đương/Tổng
    Giá của vốn huy động P3 Lần
    vốn huy động từ khách hàng
    Nguồn: Tổng hợp và đề xuất của nhóm tác giả

    Bảng 2: Kết quả thống kê mô tả các biến trong phân tích DEA
    Biến Số quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
    Y1 242 12.400.000 14.700.000 198.427 90.100.000
    Y2 242 1.463.048 1.818.389 2.219 8.418.656
    X1 242 1.472.183 2.446.785 19.571 22.200.000
    X2 242 983.918,6 1.327.780 41.536 6.422.388
    X3 242 120.000.000 166.000.000 1.171.843 990.000.000
    P1 242 174,329 78,896 53,45 446,7
    P2 242 6,192 5,483 0,04 34,12
    P3 242 0,088 0,049 0 0,29
    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả
    3.2 Mô hình nghiên cứu tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại
    Việt Nam
    Để xác định tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các NHTMVN, tác giả sử dụng mô hình
    Tobit được phát triển bởi Tobin (1958) với biến phụ thuộc là hiệu quả ngân hàng. Cách tiếp cận này được
    sử dụng trong các nghiên cứu của Havrylchyk (2006), Ariff & Can (2008), Sari & Saraswati (2017), Batir
    & cộng sự (2017) để phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả ngân hàng. Theo Gujarati (2003), mô hình
    Tobit được sử dụng trong phân tích hồi quy cho trường hợp biến phụ thuộc bị kiểm duyệt.
    Mô hình hồi quy Tobit có dạng như sau:
    n n
    Y* = β0 +  i X i +   j D j +  i ,  i ~ N(0,σ2) với 0 < Y* < 1
    i =1 j =1
    (6)

    Y = Y *, Y *  0
    Y = 0, Y *  0

    © 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

  6. 24 TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Trong đó:
    Yi* là các biến phụ thuộc phản ánh hiệu quả chi phí của ngân hàng được ước lượng bằng phương
    pháp hợp lý cực đại
    Yi là biến phụ thuộc phản ánh hiệu quả chi phí của ngân hàng được đo lường từ phương pháp DEA
    Xi là các biến độc lập; Dj là các biến kiểm soát; βi, βj là các tham số được ước lượng; δi là sai số
    theo phân phối chuẩn
    Các biến phụ thuộc, độc lập và các biến kiểm soát của mô hình Tobit trình bày tại Bảng 3, được
    nhóm tác giả đề xuất dựa trên các nghiên cứu trước của Mercan & cộng sự (2003), Williams & Nguyen
    (2005), Rezitis (2007), Hassan &Sanchez (2007), Havrylchyk (2006), Ariff & Can (2008), Sufian & Noor
    (2009), Vu & Nahm (2013), GarzaGarcía (2012), Said & cộng sự (2013), Adjei-Frimpong & cộng sự
    (2014), Batir & cộng sự (2017), Sari & Saraswati (2017); bối cảnh thực tiễn và nguồn số liệu sẵn có của
    Việt Nam được thu thập từ Thống kê Tài chính Quốc tế (International Financial Statistics – IFS) của Quỹ
    Tiền tệ Quốc tế, Tổng Cục Thống kê Việt Nam (General Statistics Office of Vietnam – GSO) và BCTC của
    22 NHTM Việt Nam.
    Bảng 3: Các biến sử dụng trong mô hình Tobit
    Kỳ Nguồn
    Biến Ký hiệu Cách đo lường Nghiên cứu tham khảo
    vọng dữ liệu
    Biến phụ thuộc
    Havrylchyk (2006); Ariff
    Hiệu quả chi phí CE Ước lượng từ DEA BCTC & Can (2008); Sari &
    Saraswati (2017); Batir
    & cộng sự (2017);
    Biến độc lập
    Đổi mới công nghệ TECH Ước lượng từ DEA dựa + BCTC Liu & Pan (2007), Yuan
    trên chỉ số Malmquist & cộng sự (2007), Wuqin
    & Shunlin (2008), Yun
    (2011), Cruz-Cázares &
    cộng sự (2013);
    Biến kiểm soát
    Khả năng sinh lời ROA Lợi nhuận sau + BCTC Sari & Saraswati (2017);
    thuế/Tổng tài sản Adjei-Frimpong & cộng
    sự (2014); Hassan &
    Sanchez (2007); Sufian
    & Noor (2009) ;
    Nợ xấu NPL Nợ xấu/tổng dư nợ tín – BCTC Havrylchyk (2006); Vu
    dụng & Nahm (2013); Sufian
    & Noor (2009);
    Vu & Nahm (2013);
    Qui mô ngân hàng SIZE Logarithm tự nhiên của + BCTC Mercan & cộng sự
    Tổng tài sản (2003); Williams &
    Nguyen (2005); Rezitis
    (2007), Sufian & Noor
    (2009), Said & cộng sự
    (2013);
    Vốn chủ sở hữu/Tổng tài EA Vốn chủ sở hữu/Tổng + BCTC Said & cộng sự (2013);
    sản tài sản Vu & Nahm (2013);
    Biến giả, nhận giá trị 1
    nếu là ngân hàng có vốn Vu & Nahm (2013);
    Sở hữu nhà nước SO đầu tư Nhà nước và 0 – BCTC
    nếu ngược lại

    © 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

  7. TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG 25
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Kỳ Nguồn
    Biến Ký hiệu Cách đo lường Nghiên cứu tham khảo
    vọng dữ liệu
    Biến giả, nhận giá trị 1 Havrylchyk (2006);
    Sở hữu nước ngoài FO nếu là ngân hàng có vốn + BCTC
    đầu tư nước ngoài và 0
    nếu ngược lại
    Vu & Nahm (2013);
    Tăng trưởng kinh tế GDP Tăng trưởng GDP + GSO GarzaGarcía (2012);
    Hassan & Sanchez
    (2007);
    Lạm phát INF Tăng trưởng CPI – IFS Vu & Nahm (2013);
    Hassan & Sanchez
    (2007);
    Lãi suất RATE Chênh lệch giữa lãi suất + IFS Vu & Nahm (2013);
    cho vay và lãi suất tiền Hassan & Sanchez
    gửi (2007);
    Nguồn: Tổng hợp và đề xuất của nhóm tác giả
    Theo Bảng 2, mô hình hồi quy Tobit xác định tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các
    NHTMVN được viết lại cụ thể theo phương trình sau:
    CE = β0 + β1TECH + β2ROA + β3NPL + β4SIZE + β5EA + β6GDP + β7INF + β8RATE + δi (7)
    Từ đó, nghiên cứu này đặt ra giả thuyết H1: “Đổi mới công nghệ có tác động cùng chiều đến hiệu quả của
    các NHTM Việt Nam”.
    4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
    4.1 Hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018
    Kết quả ướng lượng DEA tại Bảng 4 cho thấy, hiệu quả chi phí (hiệu quả kinh tế toàn bộ) trung bình của
    các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018 ở mức 78,74%, trong đó hiệu quả kỹ thuật trung bình ở
    mức 92,18% và hiệu quả phân bổ trung bình ở mức 84,92%, cho thấy trong thời gian qua để tạo ra cùng
    một mức sản lượng đầu ra như nhau thì các NHTM Việt Nam đã chưa sử dụng tối đa các nguồn lực đầu
    vào của mình và còn lãng phí các đầu vào ở mức trung bình 27%. Các ngân hàng có hiệu quả chi phí trung
    bình thấp hơn mức trung bình chung của cả mẫu nghiên cứu gồm có ABB (55,92%), EIB (59,33%), SHB
    (61,58%), HDB (61,99%), MBB (65,46%), ACB (69,74%), VIB (71,2%), SEA (72,96%), OCB (77,11%),
    NAB (78,08%). Các NHTM Việt Nam có hiệu quả chi phí trung bình cao hơn mức trung bình chung của
    cả mẫu nghiên cứu, gồm có BIDV (98,79%), VCB (96,57%), TCB (94,23%), SCB (90,63%), STB
    (89,55%), CTG (89,54%), VAB (87,28%), SGB (84,87%), MSB (83,61%), VPB (82,73%), PGB (80,90%),
    TPB (80,29%). Xét trong toàn giai đoạn nghiên cứu, năm 2008, 2011, 2012, 2015 – 2018 là các năm các
    NHTM Việt Nam có hiệu quả chi phí trung bình thấp hơn mức trung bình chung của toàn giai đoạn, trong
    đó năm 2012 là năm các NHTM có hiệu quả chi phí trung bình thấp nhất ở mức 68,8% và nhìn chung hiệu
    quả của các NHTM Việt Nam đều giảm dần theo thời gian (Hình 2).
    Bảng 4: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả chi phí trung bình của các NHTM Việt Nam trong giai
    đoạn 2008-2018
    Hiệu quả kỹ thuật Hiệu quả phân bổ Hiệu quả chi phí
    Ngân hàng
    (TE) (AE) (CE)
    ABB 0,7361 0,7605 0,5592
    ACB 0,8642 0,7924 0,6974
    BIDV 0,9987 0,9891 0,9879
    CTG 0,9552 0,9319 0,8954
    EIB 0,8001 0,7548 0,5933
    HDB 0,8368 0,7382 0,6199
    MBB 0,8483 0,7900 0,6546

    © 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

  8. 26 TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    Hiệu quả kỹ thuật Hiệu quả phân bổ Hiệu quả chi phí
    Ngân hàng
    (TE) (AE) (CE)
    MSB 0,9765 0,8528 0,8361
    NAB 0,9617 0,8045 0,7808
    OCB 0,9328 0,8187 0,7711
    PGB 0,9453 0,8501 0,8090
    SCB 0,9212 0,9805 0,9063
    SEA 0,8979 0,8101 0,7296
    SGB 0,9420 0,8958 0,8487
    SHB 0,9126 0,6851 0,6158
    STB 0,9552 0,9319 0,8955
    TCB 0,9946 0,9456 0,9423
    TPB 1,0000 0,8029 0,8029
    VAB 0,9613 0,9101 0,8728
    VCB 0,9657 0,9994 0,9657
    VIB 0,9272 0,7671 0,7120
    VPB 0,9475 0,8708 0,8273
    Trung bình 0,9218 0,8492 0,7874
    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

    1
    0.9
    0.8
    0.7
    0.6
    0.5
    0.4
    0.3
    0.2
    0.1
    0
    2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018

    TE AE CE Trung bình CE

    Hình 1: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ và hiệu quả chi phí trung bình của các NHTM Việt Nam trong giai
    đoạn 2008-2018
    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả
    4.2 Mức độ đổi mới công nghệ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018
    Kết quả phân rã chỉ số Malmquist trong DEA cho thấy chỉ số đổi mới công nghệ (TECH) trung bình của
    các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018 ở mức 0,976

  9. TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG 27
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    hiện nay như BIDV, CTG, VCB đều chưa chú trọng đầu tư vốn mạnh vào cải tiến công nghệ ngân hàng.
    Chỉ có một số ít ngân hàng như HDB, MBB, MSB, SHB, TPB, VPB tập trung đẩy mạnh cải tiến công nghệ
    (TECH >1). Kết quả trên cho thấy, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, các NHTM Việt
    Nam cũng đã chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả ngân hàng, song nhìn chung mức
    độ thay đổi tiến bộ công nghệ vẫn chưa cao, các NHTM Việt Nam vẫn còn chú trọng nhiều về những công
    nghệ sử dụng nhiều lao động.
    Bảng 5: Chỉ số đổi mới công nghệ trung bình của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018
    Ngân hàng ABB ACB BIDV CTG EIB HDB MBB MSB NAB OCB PGB
    TECH 0,958 0,979 0,965 0,925 0,972 1,013 1,002 1,033 0,957 0,943 0,974
    Ngân hàng SCB SEA SGB SHB STB TCB TPB VAB VCB VIB VPB
    TECH 0,901 0,938 0,938 1,001 1,012 0,985 1,005 0,961 0,984 0,989 1,057
    Trung bình 0,976
    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả
    4.3 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Tobit
    Kết quả ước lượng mô hình Tobit tại Bảng 6 cho thấy tốc độ đổi mới công nghệ có tác động cùng chiều
    đến hiệu quả chi phí của các NHTM Việt Nam tại mức ý nghĩa thống kê 1%. Điều này có nghĩa là khi tốc
    độ đổi mới công nghệ tăng thì sẽ làm tăng hiệu quả chi phí của các NHTM Việt Nam và ngược lại. Hình 3
    cho thấy, trong các năm 2010, 2013, 2016, 2018, khi tốc độ đổi mới công nghệ tăng lên tương ứng với các
    mức 1,064 – 1,008 – 1,171 – 1,102 thì hiệu quả chi phí của các NHTM Việt Nam cũng tăng tương ứng với
    các mức 0,858 – 0,815 – 0,758 – 0,7. Ngược lại, khi tốc độ đổi mới công nghệ giảm xuống trong các năm
    2009, 2011, 2012, 2014, 2015, 2017 tương ứng với các mức 0,811 – 1,038 – 0,83 – 0,946 – 0,925 – 0,996
    thì hiệu quả chi phí của các NHTM Việt Nam cũng giảm tương ứng với các mức 0,819 – 0,77 – 0,688 –
    0,796 – 0,71 – 0,679. Kết quả nghiên cứu chấp nhận giả thuyết H1 và tương đồng với kết quả nghiên cứu
    của Beccalli (2007), Ngugi & Karina (2013), Yang & Huang (2009). Phát hiện này hàm ý rằng vấn đề đổi
    mới công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của các NHTMVN.
    Bên cạnh đó, kết quả mô hình Tobit cũng cho thấy các biến kiểm soát gồm khả năng sinh lời, sở hữu nhà
    nước, tăng trưởng kinh tế, lãi suất có tác động cùng chiều, trong khi đó nợ xấu và lạm phát tác động cùng
    chiều đến hiệu quả chi phí của các NHTM Việt Nam tại mức ý nghĩa thống kê 1% và 5%. Kết quả này
    tương đồng với kết quả nghiên cứu của Sari & Saraswati (2017), Hassan &Sanchez (2007), Sufian & Noor
    (2009), Havrylchyk (2006), Vu & Nahm (2013), GarzaGarcía (2012).
    Bảng 6: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Tobit thể hiện tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các
    NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018
    Biến Hệ số hồi quy Sai số chuẩn z
    TECH 0,5309*** 0,0744 7,14
    ROA 0,0745*** 0,0265 2,81
    NPL -0,0350*** 0,0110 -3,17
    SIZE 0,0117 0,0296 0,40
    EA 0,0047 0,0055 0,86
    SO -0,1614** 0,0660 -2,44
    FO -0,0079 0,0594 -0,13
    GDP 0,0498** 0,0246 2,02
    INF -0,0099*** 0,0032 -3,13
    RATE 0,0170** 0,0065 2,60
    C 1,0318*** 0,3249 3,18
    Ghi chú: *, **, *** Ý nghĩa thống kê lần lượt ở mức 10%, 5% và 1%
    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

    © 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

  10. 28 TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    1.4

    1.2 1.171
    1.064 1.102
    1 1.038 1.008 0.996
    0.946 0.925
    0.819 0.858 0.83
    0.8 0.815 0.796
    0.77 0.758
    0.688 0.71 0.679 0.7
    0.6

    0.4

    0.2

    0
    2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018

    CE TECH

    Hình 3: Đổi mới công nghệ và hiệu quả chi phí của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2018
    Nguồn: Tính toán của nhóm tác giả

    5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý
    Bài viết này nghiên cứu tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của 22 NHTM Việt Nam trong giai
    đoạn 2008-2018. Đầu tiên, nghiên cứu đo lường hiệu quả và chỉ số đổi mới công nghệ của các NHTM Việt
    Nam trong giai đoạn 2008-2018 theo cách tiếp cận DEA. Sau đó, nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy
    Tobit để xem xét tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên
    cứu cho thấy: Tốc độ đổi mới công nghệ trung bình của các NHTM Việt Nam ở mức mức 0,976

  11. TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG 29
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    [4] Ariff, M., & Can, L. (2008). Cost and Profit Efficiency of Chinese Banks: A Non-Parametric Analysis. China
    Economic Review, 19, 2, 260–273.
    [5] Banker R.D., A. Charnes and W.W. Cooper, (1984), “Some Models For Estimating Technical and Scale
    Inefficiencies In Data Envelopment Analysis”, Management Science.
    [6] Batir, T. E., Volkman, D. A., & Gungor, B. (2017). Determinants of bank efficiency in Turkey: Participation
    banks versus conventional banks. Borsa Istanbul Review, 17(2), 86-96.
    [7] BCG (2009). Boston Consulting Group – BCG Innovation 2009 Report.
    [8] Beccalli E (2007) Does IT Investment Improve Bank Performance? Evidence from Europe. J Banking Finance
    31: 2205-2230.
    [9] Berger, A. & Humphrey, D. (1992). Measurement and Efficiency Issues in Commercial Banking. National
    Bureau of Economic Research, 245–300.
    [10] Campanella, F., Della Peruta, M. R., & Del Giudice, M. (2017). The effects of technological innovation on the
    banking sector. Journal of the Knowledge Economy, 8(1), 356-368.
    [11] Chaarani & Abiad (2018). The impact of technological innovation on bank performance. Journal of Internet
    Banking and Commerce. http://www.icommercecentral.com/open-access/the-impact-of-technological-
    innovation-on-bank-performance.php?aid=87293.
    [12] Chandra, P., Cooper, W. W., Li, S., & Rahman, A. (1998). Using DEA to evaluate 29 Canadian textile
    companies—considering returns to scale. International Journal of Production Economics, 54(2), 129-141.
    [13] Charnes, A., Cooper, W. & Rhodes, E. (1978). Measuring the efficiency of decision-making units. European
    Journal of Operational Research, 2, 429–444.
    [14] Cruz-Cázares, C., Bayona-Sáez, C., & García-Marco, T. (2013). You can’t manage right what you can’t measure
    well: Technological innovation efficiency. Research policy, 42(6-7), 1239-1250.
    [15] DeYoung R (2001) The Financial Performance of Pure Play Internet Banks. Econ Perspectives 25: 60-75.
    [16] Färe, R, S Grosskopf and CAK Lovell (1994). Production Frontiers, Cambridge: University Press Cambridge.
    [17] Farrell, M. J. (1957). The Measurement of Productive Efficiency. Journal of the Royal Statistical Society, 120
    (3) 253–81.
    [18] Garza-García, J. G. (2012). Determinants of bank efficiency in Mexico: a two-stage analysis. Applied Economics
    Letters, 19(17), 1679-1682.
    [19] Gujarati, D. (2003). Basic econometrics. McGraw Hill, Boston, USA.
    [20] Hassan, M. K., & Sanchez, B. (2007). Efficiency determinants and dynamic efficiency changes in Latin
    American banking industries. Available at SSRN 3263102.
    [21] Havrylchyk, O. (2006). Efficiency of the Polish Banking Industry: Foreign Versus Domestic Banks. Journal of
    Banking and Finance, 30, 7, 1975–1996.
    [22] Hoàng,T. H. & Huân, N. H. (2016). Phân tích các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân
    hàng thương mại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập tài chính quốc tế. Tạp chí Phát Triển KH & CN, Tập 19, Số
    Q1 – 2016, 88-101.
    [23] Hobe l, Alas R (2016). A Financial Innovation Management Model For Banks. J Manage p: 138-155.
    [24] Kablan, S. (2009). Banking Efficiency and Financial Development in Sub-Saharan Africa. African Finance
    Journal, 11(2), 28–50.
    [25] Khalil, M (2000), Management of technology, McGraw-Hill, Burr Ridge, IL.
    [26] Kumar, M., & Vincent, C. (2011). Benchmarking Indian banks using DEA in post-reform period: a progressive
    time-weighted mean approach. The Service Industries Journal, 31(14), 2455-2485.
    [27] Kumar, S., & Arora, N. (2011). Assessing technical efficiency of sugar industry in Uttar Pradesh: an application
    of data envelopment analysis. Indian Economic Review, 323-353.
    [28] Kumar, S., & Gulati, R. (2009). Technical efficiency and its determinants in the Indian domestic banking
    industry: an application of DEA and Tobit analysis. American Journal of Finance and Accounting, 1(3), 256-
    296.
    [29] Langley et al., (2011). Credit derivatives and bank credit supply‟ Staff Report No 276-2007. Federal Reserve
    Bank of New York.
    [30] Liu, F. C., & Pan, X. F. (2007). Evaluate of science and technology innovation efficiency based on malmquist
    index approach [J]. Studies in Science of Science, 5.

    © 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

  12. 30 TÁC ĐỘNG CỦA ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ ĐẾN HIỆU QUẢ CỦA CÁC NGÂN HÀNG
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

    [31] Mercan, M., Arnold R., Reha Y., & Ahmet, B. E. (2003). The Effect of Scale and Mode of Ownership on the
    Financial Performance of the Turkish Banking Sector: Results of a DEA-Based Analysis. Socio-Economic
    Planning Sciences, 37, 185-202.
    [32] Ngugi, K. & Karina, B. (2013), Effect of Innovation Strategy on performance of Commercial Banks in Kenya.
    International Journal of Social Sciences and Entrepreneurship,Vol.1, Issue 3, 2013, 1 (3), 158-170.
    [33] Oke and Goffin (2011). Technology adoption and consumer payments: evidence from survey data. Review of
    Network Economics, 2(2).
    [34] Oligopolistic Market: Evidence from Singapore. Journal of Multinational Financial Management 8, 155-168.
    [35] Ratten, V. (2008). Technological innovations in the m-commerce industry: A conceptual model of WAP banking
    intentions. The Journal of High Technology Management Research, 18(2), 111–117.
    [36] Rezitis, N. A. (2007). Efficiency and Productivity Effects of Bank Mergers: Evidence from the Greek Banking
    Industry. Economic Modelling, 25, 236-254.
    [37] Rishi,M., & Saxena, S. C. (2004). Technological innovations in the Indian banking industry: the late bloomer.
    Accounting, Business & Financial History, 14(3), 339–353.
    [38] Rogers, E. (1962). Diffusion of innovations. New York: The Free Press.
    [39] Romdhane, S. B. (2013) Impact of Information Technology on the Performance of Tunisian Banks: A Stochastic
    Frontier Analysis with Panel Data. Asian Academy Manage J Accounting Financ 9: 95-125.
    [40] Said, J., Hasnan, S., Ismail, F., Majid, M. S. A., & Rahim, R. A. (2013). Efficiency of Islamic and conventional
    banks in Malaysia. Journal of Financial Reporting and Accounting.
    [41] Sáng, N. M. (2013). Phân tích nhân tố tác động đến hiệu quả sử dụng nguồn lực của các ngân hàng thương mại
    trên địa bàn TPHCM. Tạp chí Phát triển & Hội nhập, Số 11 (21) – Tháng 07-08/2013, 10-15.
    [42] Sari, P. Z., & Saraswati, E. (2017). The Determinant of Banking Efficiency in Indonesia (DEA
    Approach). Journal of Accounting and Business Education, 1(2), 208-229.
    [43] Sealey, C. & Lindley, J. (1977). Inputs, Outputs and Theory of Production Cost at Depository Financial
    Institutions. Journal of Finance 32 (4) 1251-1266.
    [44] Sufian, F., & Noor, M. A. N. M. (2009). The determinants of Islamic banks’ efficiency changes. International
    Journal of Islamic and Middle Eastern Finance and Management.
    [45] Thương, N. T. T. (2017). Hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
    Tạp chí Khoa học Trường đại học Cần Thơ. Tập 50, Phần D (2017): 52-62.
    [46] Tobin, J. (1958), “Estimation of Relationships for Limited Dependent Variables”, Econometrica, 26 (1), 24-36.
    [47] Trúc, L. T. & Danh, V. T. (2012). Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của hệ
    thống ngân hàng thương mại cổ phần việt nam giai đoạn 2006-2009. Tạp chí Khoa học 2012:21a 148-157.
    [48] Vu, H., & Nahm, D. (2013). The determinants of profit efficiency of banks in Vietnam. Journal of the Asia
    Pacific Economy, 18, 615-631.
    [49] Williams, J., & Nguyen, N. (2005). Financial Liberalisation, Crisis, and Restructuring: A Comparative Study of
    Bank Performance and Bank Governance in South East Asia. Journal of Banking and Finance, 29, 8–9, 2119–
    2154.
    [50] Wozniewska, G. (2008). Methods of Measuring the Efficiency of Commercial Banks: An Example of Polish
    Banks. Ekonomika. ISSN 1392-1258.
    [51] Wuqin, S., & Shunlin, Z. (2008). The Efficiency of Finance Development on Improving Technological
    Innovation – Based on the Malmquist Index Analysis [J]. Statistical Research, 3.
    [52] Yang, Y.L., Huang, C. J. (2009). Estimating the malmquist productivity index in the Taiwanese banking
    industry: A production and cost approach. Taiwan Economic Review 37(4), 353–378.
    [53] Yuan, P., Chen, Q., & Hu, R. (2007). Dynamic Change of Region Innovation Performance in China: An Analysis
    of Malmquist Index [J]. Science of Science and Management of S. & T, 1.
    [54] Yun, L. (2011). The efficiency study of regional technological innovation: Based on the provinces level. Energy
    Procedia, 5, 1579-1583.

    Ngày nhận bài: 25/04/2021
    Ngày chấp nhận đăng: 23/07/2021

    © 2021 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh

Download tài liệu Tác động của đổi mới công nghệ đến hiệu quả của các ngân hàng thương mại Việt Nam File Word, PDF về máy