[Download] Tải Saeculum – chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học – Tải về File Word, PDF

Saeculum – chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học

Saeculum – chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học
Nội dung Text: Saeculum – chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học

Download


Một quan niệm mới về tính chất của thời gian: Thời gian không phải tuyến tính, mà là chu kỳ. Sử dụng phương pháp lịch sử và logic, bài viết sẽ khái quát về các truyền thuyết cổ xưa, thuyết Saeculum, và lý thuyết khoa học, từ đó bước đầu phân tích quy luật vận động nội tại của chu kỳ thời gian qua lịch sử, qua thế hệ, và qua vòng đời người; trên cơ sở này, tác giả sẽ đưa ra một số đề xuất nhằm ứng dụng tính chu kỳ vào giáo dục đại học như: Căn cứ vào đặc điểm thế hệ, chú trọng công nghệ thông tin, khuyến khích học tập độc lập, và nội dung có tính thực tế.

Bạn đang xem: [Download] Tải Saeculum – chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Saeculum – chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học File Word, PDF về máy

Saeculum – chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Saeculum – chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học

  1. Saeculum-
    chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học

    Võ Minh Tuấn
    Khoa Lý luận Chính trị, Học viện Ngân hàng

    Một quan niệm mới về tính chất của thời gian: Thời gian không phải tuyến
    tính, mà là chu kỳ. Sử dụng phương pháp lịch sử và logic, bài viết sẽ khái
    quát về các truyền thuyết cổ xưa, thuyết Saeculum, và lý thuyết khoa học, từ
    đó bước đầu phân tích quy luật vận động nội tại của chu kỳ thời gian qua
    lịch sử, qua thế hệ, và qua vòng đời người; trên cơ sở này, tác giả sẽ đưa ra
    một số đề xuất nhằm ứng dụng tính chu kỳ vào giáo dục đại học như: Căn
    cứ vào đặc điểm thế hệ, chú trọng công nghệ thông tin, khuyến khích học
    tập độc lập, và nội dung có tính thực tế.
    Từ khóa: Saeculum, chu kỳ, thế hệ, giáo dục đại học, Việt Nam.

    1. Đặt vấn đề William Strauss và Neil Howe (1991,
    1997), Darcie Vandegrift (2015), lại đưa
    Tính chất của thời gian là gì? Triết học ra đáp án khác: chu kỳ, rằng thời gian đi
    vẫn thường trả lời: tuyến tính, rằng thời như những vòng tròn nối tiếp nhau. Việc
    gian chỉ có một chiều, đi từ quá khứ, làm rõ về tính chất của thời gian lại được
    hiện tại, đến tương lai. Song, các truyền đặt ra, và đòi hỏi tiếp cận từ một góc độ
    thuyết cổ xưa, các nghiên cứu gần đây về hoàn toàn mới, vừa có tính lý luận, vừa có
    thời gian như của Alvin Toffler (1980), tính thực tiễn. Từ đó sẽ góp phần bổ sung

    Saeculum- the cycle of time and hints for university education
    Abstract: A new conception of the nature of time: time is not linear, but cyclical. By using historical and logical
    methods, the article will give an overview of ancient legends, saeculum theory, and scientific theory, thereby
    initially analyzing the internal motor laws of time through history, through the generations, and through the
    life cycles; based on it, the author will make some of proposals to apply cyclicity to university education, such
    as: base on generation characteristics, focus on information technology, encourage independent learning, and
    practical content.
    Keywords: saeculum, cycles, generation, university education, Vietnam.

    Tuan Minh Vo
    Email: tuanvm@hvnh.edu.vn
    Banking Academy of Vietnam

    Ngày nhận: 04/02/2020 Ngày nhận bản sửa: 07/04/2020 Ngày duyệt đăng: 17/04/2020

    © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
    ISSN 1859 – 011X 75 Số 215- Tháng 4. 2020

  2. Saeculum- chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học

    vào quan niệm về thời gian như một thuộc theo họ là rất dài, rằng thời gian giống như
    tính khách quan của thế giới vật chất, biến một vòng tròn vĩ đại luôn tái diễn, mỗi lần
    đổi phụ thuộc vào thế giới đó, có tính chu đại diện cho một brahma (thời kỳ) bắt đầu
    kỳ thay vì tuyến tính. Quan niệm mới ấy với việc tái tạo, kết thúc, và lại tái tạo; mỗi
    sẽ giúp con người nhận thức được về thế kiếp đánh dấu một cuộc tái sinh của thế
    giới và về chính mình từ một chiều kích giới. Phật giáo cũng nói về kiếp với ba cấp
    khác: nhìn từ tính chu kỳ của thời gian, độ: tiểu kiếp, trung kiếp, và đại kiếp, hàm
    của sự nối tiếp thế hệ, của vòng đời người; ý về tính chu kỳ của thời gian vũ trụ, thời
    và đó sẽ là căn cứ để đưa ra một số gợi ý gian lịch sử, và thời gian đời người.
    cho việc ứng dụng vào giáo dục đại học
    hiện nay. Tư tưởng Trung Hoa cổ đại thì bị chi phối
    bởi ý tưởng về sự lặp lại của thời gian, khi
    2. Phương pháp nghiên cứu đưa ra thuyết Âm dương Ngũ hành, tư tưởng
    Dịch về sự thiên biến vạn hóa của muôn sự
    Lịch sử và logic là một phương pháp kép, muôn vật tuần hoàn liên tục theo thời gian.
    được thực hiện bằng cách khái quát lịch
    sử phát triển của đối tượng nghiên cứu để Với Việt Nam, cũng có một sự quan tâm
    rút ra quy luật logic nội tại của nó. Theo đến tính chất của thời gian trong truyền
    đó, tác giả sẽ phân tích các quan niệm thuyết Từ Thức gặp tiên, rằng vào thời
    truyền thống của một số dân tộc, một số Trần Thuận Tông (1388-1398), Từ Thức
    tôn giáo từ Đông sang Tây trong lịch sử tới sống nơi tiên giới được một năm, rồi
    về tính chu kỳ của thời gian, xem thời trở về trần gian, thì hóa ra nơi này đã trải
    gian như vòng tròn chứ không phải đường qua hơn 80 năm (Nguyễn Dữ).
    thẳng, là sự lặp đi lặp lại không ngừng và
    tự phục hồi thông qua tái sinh ở đạo Phật, Các lễ hội văn hóa châu Á đều được tổ
    đạo Hindu, ở người Maya, người Etrusca, chức theo chu kỳ thời gian, nhất là chu kỳ
    người Trung Hoa, người La Mã, người Mặt trăng: tròn- khuyết. Canh tác nông
    Hy Lạp… đặc biệt là những lý thuyết nghiệp cũng theo vòng quay của mùa:
    khoa học có cùng chủ đề của một số học xuân- hè- thu- đông. Người ta nhìn nhận
    giả nước ngoài, kế thừa các quan niệm sự biến đổi của vũ trụ và con người như
    truyền thống về tính chu kỳ, về Saeculum, một vòng tròn bất tận: sinh- trụ-dị- diệt.
    để khảo sát và xây dựng thành một hệ lý
    thuyết nhằm mô tả sự phát triển của lịch Các triết gia Hy Lạp cổ đại Plato,
    sử và con người theo hình xoắn ốc; trên cơ Aristotle, và Pythagoras thì hình dung
    sở đó, tác giả sẽ đưa ra một số luận điểm con người sống trong những khoảnh khắc
    ban đầu về các đặc điểm của thời gian, của quay trở lại một lần nữa, gần giống nhau.
    thế hệ, và của vòng đời người. Joseph Needham (1965) nhận xét, đối
    với thời kỳ Hy Lạp- Ấn Độ… thời gian
    3. Nội dung nghiên cứu là có tính chu kỳ và vĩnh cửu. Còn G. J.
    Whitrow thì bình luận rằng ở châu Âu,
    3.1. Thời gian không phải một chiều chừng nào quyền lực còn tập trung vào
    việc sở hữu đất đai, chừng đó còn cảm
    Thời cổ đại, người Hindu đưa ra khái niệm thấy thời gian dồi dào hơn và liên quan
    kalpas (kiếp), một đơn vị thời gian mà đến chu kỳ không thay đổi của đất đai

    76 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 215- Tháng 4. 2020

  3. SAECULUM- CHU KỲ THỜI GIAN VÀ GỢI Ý CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

    (dẫn theo Alvin Toffler, 1980). “thước đo thời gian sẵn có của nhân loại là
    độ dài trung bình của cuộc sống có ý thức
    Đáng chú ý hơn cả là thuyết Saeculum của một cá nhân con người”, và Anthony
    của người Etrusca (thuộc nền văn minh Esler (1982, tr.152) thì đánh giá, “trên
    cổ Etruria, nay là vùng Toscana, Ý), được thực tế, cách tiếp cận thế hệ có thể là một
    sáng tạo ra vào thế kỷ 9 TCN. Censorinus trong các cách tiếp cận lịch sử toàn diện”.
    (234) cho biết, saeculum là khoảng thời
    gian rất dài của một đời người được xác Thế hệ là tập hợp của các cá nhân được
    định từ khi sinh ra đến lúc chết đi. Với sinh ra trong cùng một khoảng thời gian
    người Etrusca, saeculum là đơn vị trung nhất định, mang tính xã hội thay vì tính
    tâm cho lịch sử và vận mệnh của họ, và gia đình. Nghiên cứu về thế hệ nhằm tìm
    sáu saeculum trong lịch sử của họ, mỗi ra các đặc tính chung của một thế hệ,
    saeculum dài khoảng một thế kỷ, trải nhưng lưu ý là mỗi cá nhân trong cùng
    qua bốn mùa: tăng trưởng, bão hòa, hỗn một thế hệ vẫn có những nét riêng, và giữa
    loạn, tiêu hủy. Thế kỷ 2 TCN, người La các thế hệ vẫn có sự đan xen thay vì hoàn
    Mã tràn tới xứ Etruria, rồi tiếp thu thuyết toàn tách biệt. Để nhận diện cá tính của
    saeculum, và sử dụng nó để phân kỳ lịch một thế hệ, cần căn cứ vào hai thuộc tính:
    sử của mình qua các biến cố lớn. một là, vị thế chung của một thế hệ trong
    lịch sử, nơi mà một thế hệ tìm thấy mình
    Một thiên niên kỷ sau, các học giả thời trên chuỗi thời gian của các sự kiện; hai
    Phục hưng châu Âu đã tái sinh saeculum là, niềm tin và hành vi chung, cho thấy sự
    dưới cái tên siècle, tiếng Pháp có nghĩa khác biệt giữa họ với những người sinh ra
    là thế kỷ, hay thời đại, nhưng còn hàm ý ở thời điểm khác.
    về biến đổi chu kỳ và về vòng đời người.
    Arnold Toynbee (1954) nhận xét, trong Hiện nay, theo nghiên cứu của William
    hầu như toàn bộ lịch sử loài người, các Strauss và Neil Howe (1997), Darcie
    siècle cho thấy sự luân phiên định kỳ giữa Vandegrift (2015), cùng một số tác giả
    hòa bình và chiến tranh. Sau này, William khác, mỗi chu kỳ saeculum đã ngắn hơn
    Strauss và Neil Howe (1997), cùng một trước do nhịp độ của xã hội hiện đại nhanh
    số học giả khác, đã sử dụng thuật ngữ hơn, còn khoảng 80 năm, tương ứng với
    saeculum để mô tả thuyết chu kỳ thời bốn thế hệ, mỗi thế hệ trên dưới 20 năm.
    gian, vì nó tương ứng với một đời người Sự xê dịch này và cả các mốc thời gian cho
    rất dài, mà đời người thì có lẽ là chu kỳ từng thế hệ còn tùy thuộc vào đặc điểm của
    duy nhất mà người ta không thể né tránh mỗi khu vực, mỗi quốc gia- dân tộc. Tựu
    hay thay đổi được. trung, theo các tác giả này, saeculum gần
    đây nhất gồm bốn thế hệ sau, được đặt tên
    3.2. Thế hệ là những sự nối tiếp căn cứ vào đặc điểm nổi bật cũng như thời
    điểm sinh ra của mỗi thế hệ:
    Tính chu kỳ của thời gian làm nên tính
    chu kỳ của thế hệ. Về vai trò của thế hệ – Thế hệ Bùng nổ (sinh ra trong khoảng
    trong lịch sử, William Strauss và Neil 1940- 1959): đây là thế hệ được cha mẹ
    Howe (1991) nhận xét, lịch sử tạo ra các quan tâm nuôi dưỡng và dạy dỗ, được
    thế hệ, và các thế hệ lại tạo ra lịch sử, hưởng một nền hòa bình và một nền kinh
    còn Arnold Toynbee (1954, tr.319) viết, tế đang phục hồi, đề cao cái tôi, sự sáng

    Số 215- Tháng 4. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 77

  4. Saeculum- chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học

    tạo phá cách. Ở Việt Nam, họ còn chịu Tính chu kỳ thế hệ tương ứng với vòng đời
    ảnh hưởng ít nhiều của thời bao cấp, cẩn người. Về mặt sinh học, Jared Diamond
    trọng, e ngại, và ít dám đột phá; hiện tại, (1993, tr.59) nhận xét, “Với bất cứ loài nào,
    hầu hết đã lui về hậu trường, một số còn cũng có thể mô tả đôi điều về thuật ngữ
    tiếp tục vai trò xã hội của mình, trong đó sinh học ‘vòng đời’ của nó”. Về mặt xã hội,
    số ít giữ các vị trí quan trọng. William Strauss và Neil Howe (1997, tr.16)
    khẳng định, “Trong mọi chu kỳ mà nhân
    – Thế hệ X (viết tắt Gen X, 1960- 1979): loại biết đến, một chu kỳ mà tất cả chúng ta
    đây là thế hệ có trình độ học vấn cao, tự biết rõ nhất chính là vòng đời con người”.
    chủ, suy nghĩ độc lập, muốn tự tạo dựng
    sự nghiệp, hầu hết họ đều rất quan tâm đến Khi nói tới vòng đời người, người ta
    tương lai của con cái mình. Ở Việt Nam, thường nói đến bốn giai đoạn. Người Bắc
    vì lớn lên trong thời kỳ chiến tranh, nên họ Mỹ chia cuộc đời một con người thành bốn
    là những người độc lập, có bản lĩnh, can ngọn đồi; người Hindu thì coi đó là một
    đảm; hiện họ là nguồn nhân lực quan trọng hành trình qua bốn ashramas, bốn giai đoạn
    của đất nước, một số giữ trọng trách trong phát triển của tâm linh; người La Mã cũng
    nhiều lĩnh vực. chia vòng đời người thành bốn: pueritia
    (thơ ấu), iuventus (thanh niên), virilitas
    – Thế hệ Y (viết tắt Gen Y, 1980- 1999): (trưởng thành), và senectus (tuổi già).
    đây là thế hệ có điều kiện thuận lợi để
    phát triển, được giáo dục và có sức khỏe Hiện nay tuổi thọ trung bình đang tăng
    tốt, có nhiều cơ hội, có ý thức xã hội cao, lên, nhưng kéo dài không đáng kể bốn giai
    quan tâm đến các vấn đề cộng đồng, có đoạn này của đời người, và chủ yếu chỉ
    suy nghĩ và lối sống thực tế, sử dụng các kéo dài ở giai đoạn cuối. Bốn giai đoạn ấy,
    thiết bị công nghệ và mạng xã hội. Ở Việt theo Daniel J. Levinson (1978), William
    Nam, họ bắt đầu thể hiện rõ nét vai trò của Strauss và Neil Howe (1997), và Guobin
    mình, đặc biệt là trong các lĩnh vực đòi Yang (2016), bao gồm:
    hỏi sự nhanh nhạy bắt kịp với xu thế hiện
    nay như kinh doanh, khoa học công nghệ, (1) Thời niên thiếu (0-20 tuổi): sinh ra, lớn
    tin học… lên, được nuôi dưỡng, học tập, tiếp thu các
    giá trị và truyền thống.
    – Thế hệ Z (viết tắt Gen Z, 2000- 2019):
    đây là thế hệ của Internet, của công nghệ (2) Thời thanh niên (21-41 tuổi): trưởng
    thông tin ở trình độ cao và đa dạng, cho thành, khởi nghiệp, lập gia đình, đóng vai
    nên họ có khả năng tiếp cận nhanh và trò xã hội, mà Daniel J. Levinson (1978)
    rộng, đa dạng hóa và thay đổi cách giao cho đây là thời điểm hóa giải được xung
    tiếp, gia tăng tính độc lập cá nhân, thể hiện đột cảm xúc của thời thơ ấu nhưng phải
    mình chủ yếu qua các hoạt động hướng vất vả đối phó với các yêu cầu của gia
    ngoại. Ở Việt Nam, họ đa phần còn đang đình, công việc, và cộng đồng.
    trong quá trình học tập và trưởng thành,
    đồng thời đang bắt đầu bộc lộ đặc trưng (3) Thời trung niên (42-60 tuổi): nắm
    thế hệ của mình. quyền quản lý hoặc là các chuyên gia, phát
    huy tối đa vai trò xã hội, định hướng và
    3.3. Đời người như những vòng xoay chuyển giao các giá trị.

    78 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 215- Tháng 4. 2020

  5. SAECULUM- CHU KỲ THỜI GIAN VÀ GỢI Ý CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

    (4) Thời lão niên (61 trở đi): một số tiếp công nghệ, bất ổn dễ đổi, chi tiêu vượt trội,
    tục làm việc, một số lui vào hậu trường, coi trọng vật chất, khát vọng lớn lao. Nhà
    đóng vai trò cố vấn, và chuyển dần sang giáo dục cần căn cứ vào các đặc điểm này
    trạng thái phụ thuộc. để định hướng và triển khai công tác giáo
    dục đúng đối tượng, đúng phương pháp.
    Theo đó, có thể lần lượt áp dụng tính chu
    kỳ của thời gian, tính chu kỳ của thế hệ, Đối với đặc điểm vòng đời người, nhà
    và tính chu kỳ của vòng đời người để giáo dục cần tập trung vào cuối giai đoạn
    nghiên cứu tính quy luật của các biến cố thứ nhất và đầu giai đoạn thứ hai (vì sinh
    xã hội, các đặc trưng thế hệ, và các đặc viên đang ở các giai đoạn này), chú trọng
    trưng vòng đời người. Chẳng hạn, về tính giáo dục nghề nghiệp, hoàn thiện nhân
    chu kỳ của thời gian, rằng một chu kỳ hiện cách, hình thành khả năng tự học suốt đời,
    nay kéo dài 80 năm, đồng nghĩa với hai chuẩn bị cho sinh viên bước vào thời kỳ
    biến cố lớn của loài người sẽ cách nhau 80 trưởng thành và lập nghiệp.
    năm, từ đó có thể dự đoán rằng vào năm
    2025, hoặc chậm nhất là đến 2030, sẽ có Bản thân sinh viên cũng cần biết kế thừa
    một xung đột lớn xảy ra trên thế giới, kể và đổi mới như một sự nối tiếp thế hệ
    từ năm 1945 khi Thế chiến II kết thúc. để phát triển: kế thừa thế hệ trước, phát
    Một vài chỉ dấu đầu tiên của chu kỳ khủng huy sức mạnh của thế hệ mình; tích cực
    hoảng này mà chúng ta đang chứng kiến, học tập, rèn luyện, và đổi mới. Điều này
    mang tính báo hiệu, phải chăng đó là cuộc cũng tương đồng với quan điểm mà Hegel
    chiến thương mại Mỹ- Trung ảnh hưởng (1807) đưa ra, rằng để phát triển, phải đi
    đến nền kinh tế thế giới, dịch COVID-19 qua hai lần phủ định, dường như lặp lại cái
    đang lan rộng ở nhiều nước, và các thảm cũ nhưng trên cơ sở cao hơn.
    họa môi trường?
    Thứ hai, chú trọng công nghệ thông tin,
    4. Một số gợi ý cho giáo dục đại học kỹ thuật số trong hoạt động dạy và học;
    bởi Gen Y là người tiên phong kỹ thuật số,
    Thứ nhất, cần căn cứ vào đặc điểm thế còn Gen Z là công dân kỹ thuật số thực sự
    hệ, vòng đời người để có kế hoạch giáo (Steven Mowforth, 2018). Neha Parashar
    dục phù hợp; vì mỗi thế hệ, mỗi giai đoạn và Farida Rasiwala (2018) đánh giá cao
    đời người có những đặc điểm khác nhau, vai trò của phương tiện truyền thông xã
    do đó phải quan tâm, thúc đẩy, và đối xử hội qua cách mà Gen Y và Gen Z sử dụng
    khác nhau, có kế hoạch giáo dục khác nó. Cho nên, hệ thống giáo dục cần có
    nhau nhằm phát huy ưu điểm, hạn chế phản ứng tích cực với giới trẻ vốn lớn lên
    nhược điểm đối với mỗi thế hệ, mỗi giai trọn vẹn trong thế giới công nghệ số, nhận
    đoạn đời người. diện và chia sẻ những gì mà giới trẻ đang
    quan tâm (Frances Valintine, 2018).
    Đối với đặc điểm thế hệ, hầu hết sinh viên
    hiện nay đều thuộc các thế hệ cuối Y và Trước hết, cần thay đổi nhận thức về
    đầu Z, nên họ có sự pha trộn giữa các đặc phương pháp giáo dục đại học hiện nay
    điểm của Gen Y (đang nổi trội) với Gen Z trong bối cảnh sinh viên ưa thích sử
    (mới xuất hiện): điều kiện thuận lợi, tính dụng phương tiện truyền thông xã hội
    thực tế cao, xã hội hóa rộng, chìm đắm và ứng dụng di động để giao tiếp (Hasan

    Số 215- Tháng 4. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 79

  6. Saeculum- chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học

    Denizalp và Fezile Ozdamli, 2019). R. sẽ tạo ra một hệ thống giúp sinh viên
    Nandhakumar (2019) cho biết, trung bình truy vấn thông tin. Bên cạnh đó là các
    sinh viên dành 10-12 giờ/ngày trên mạng. ứng dụng như Facebook, WhatsApp,
    Lakni C. Tennakoon và cộng sự (2018) Instagram, và Twitter cũng hỗ trợ đáng
    nhận thấy Gen Z thích tìm kiếm trên kể việc dạy và học. Ryan Michael Flores
    Internet vì bốn lý do chính: bảo mật, phản Oducado (2019) cho biết, sinh viên sử
    hồi, chất lượng, tiện lợi. Mas Anom Abdul dụng Facebook ở mức độ vừa phải cho
    Rashid và Azman Othman (2019) gọi đó mục đích giao tiếp, chia sẻ tài liệu học tập;
    là “hành vi công nghệ” và được 79% sinh nhiều sinh viên Gen Z sử dụng Instagram
    viên thực hiện. Giữa Gen Z và công nghệ để học tiếng Anh (Muhammad Sandy Al
    là không thể tách rời: họ sử dụng nhiều Fath và Aris Sugianto, 2018). Bên cạnh
    thông tin nhất mọi thời đại, tìm thấy chính đó, sử dụng các ứng dụng dạy học trực
    mình, khám phá thế giới, kết bạn, giao tuyến sẽ cho phép sinh viên truy cập nội
    tiếp, học hỏi, và chơi cùng công nghệ. dung khóa học và tài nguyên khá tiện lợi.
    Hiện tượng này quyết định xu hướng dạy Kết hợp lớp học trực tiếp truyền thống với
    và học, tái định hình phương pháp và hệ lớp học trực tuyến hiện đại, tài liệu in với
    thống đại học. Theo Clare E. Thomas tài liệu số, sẽ đưa lại cả cơ hội lẫn thách
    (2019), công nghệ kỹ thuật số ngày càng thức cho giảng viên và sinh viên.
    trở thành tiêu chuẩn trong trải nghiệm dạy
    và học ở đại học. Phương pháp dạy học Thứ ba, giáo dục đại học phải dựa trên
    như giảng lý thuyết, thuyết trình power tinh thần học tập độc lập, hay học tập tự
    point sẽ dần trở thành truyền thống, và do quyết; do mục đích thực sự của giáo dục
    đó phải được bổ sung bằng công nghệ số đại học hiện đại là sự trưởng thành của
    để phù hợp với sinh viên thế hệ mới. sinh viên thay vì chuyển giao kiến thức
    ​​
    (Craig Klafter, 2020). Để trưởng thành,
    Tiếp đến, cần khai thác tính năng của các sinh viên cần phải biết học tập độc lập.
    thiết bị di động và các ứng dụng trong Ya Yee The và Moy Tow Yoon (2018)
    giáo dục đại học, vì sinh viên sử dụng chủ trương hình thức học tập hợp tác vì
    các thiết bị di động khá phổ biến (Sonal có thể tận dụng được các sinh viên có
    Dekhane và cộng sự, 2020). Cụ thể, kinh nghiệm học tập. Camille Huser và
    Pragati Chaudhari và cộng sự (2020) đề cộng sự (2019), Brian P. Coppola và
    xuất, chatbot (tác nhân đàm thoại thông Jason K Pontrello (2020) cũng cho rằng,
    minh) nếu được tích hợp với website nên khuyến khích sinh viên tự tạo ra tài

    Bảng 1. Thứ tự ưu tiên lựa chọn việc làm của ba thế hệ gần đây
    Thứ tự
    Baby Boomers Gen X Gen Y
    ưu tiên
    1 Công ty nổi tiếng Mức lương cạnh tranh Mức lương cạnh tranh
    2 Chính sách ưu đãi Cơ hội học hỏi Cơ hội học hỏi
    3 Mức lương cạnh tranh Tên tuổi công ty Môi trường quốc tế
    4 Cơ hội thăng tiến Cân bằng công việc và cuộc sống Tên tuổi công ty
    Cân bằng công việc và
    5 Tên tuổi công ty Cơ hội thăng tiến
    hoạt động xã hội
    Nguồn: Hay Group (2011)

    80 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 215- Tháng 4. 2020

  7. SAECULUM- CHU KỲ THỜI GIAN VÀ GỢI Ý CHO GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

    Bảng 2. Nhu cầu của các thế hệ trong đời sống
    Các thế hệ truyền thống Coi trọng quyền lực, làm việc chăm chỉ, “hãy là người hùng”, “làm
    hoặc làm mà không cần”.
    Baby Boomers Tham công tiếc việc, “là bất cứ điều gì bạn muốn là”, “tuổi trẻ vĩnh
    cửu- nghỉ hưu như tự do”.
    Gen X Không phụ thuộc quyền lực, muốn được lắng nghe, “không tính toán”,
    cân bằng giữa cuộc sống với công việc.
    Gen Y Nhu cầu được tôn trọng, “bạn thật đặc biệt”, “đạt được ngay bây giờ”’,
    am hiểu công nghệ, định hướng mục tiêu và thành đạt.
    Gen Z Công dân kỹ thuật số, ra quyết định nhanh, kết nối cao, hướng đích.
    Nguồn: Tolbize (2008)

    nguyên học tập trực tuyến dành cho sinh Qua đó, có thể nhận định rằng giáo dục đại
    viên. Tại Việt Nam, sinh viên vẫn thường học cần cung cấp cho sinh viên kiến thức,
    tự xây dựng kiến thức, phát triển tính độc kỹ năng, và phương pháp có tính thực tế,
    lập thông qua việc thực hiện các bài thuyết vì đây là điều họ cần khi vào đại học để
    trình, video clip, sơ đồ, bảng biểu, tiểu chuẩn bị cho việc gia nhập thị trường việc
    luận… mà với công nghệ hiện đại, có thể làm tương lai. Một bằng chứng khác về
    khuyến khích họ chia sẻ chúng trên mạng. tính thực tế là nghiên cứu của Seval E.
    Đối với sinh viên Gen Z, giảng viên cần Küçüktepe (2014) về hành vi gian lận của
    thu hút họ bằng cách hình thành sự tôn sinh viên hiện nay, cho thấy họ thường
    trọng lẫn nhau và chia sẻ trách nhiệm học không cảm thấy hối tiếc khi gian lận nếu
    tập, việc này đòi hỏi giảng viên phải tìm đề thi yêu cầu câu trả lời chỉ phụ thuộc
    ra những cách dạy mới về cả nội dung lẫn vào ghi nhớ, hoặc nếu họ tin rằng kiến
    hình thức. Cách đánh giá cũng cần thay thức đó không có ích cho sự nghiệp hoặc
    đổi, sao cho khuyến khích được các sinh cuộc sống tương lai của mình. Cho nên,
    viên vượt trội, vì sự mong đợi vượt trội sẽ hướng đích là kỳ vọng của sinh viên Gen
    có ảnh hưởng tích cực đến họ. Y và Gen Z đối với trường đại học, có vai
    trò gần như quyết định trong việc lựa chọn
    Thứ tư, nội dung giảng dạy phải hướng tới ghi danh vào trường nào.
    tính thực tế; vì đặc điểm của sinh viên Gen
    Y và Gen Z là đề cao tính thực tế, tính ứng 5. Kết luận
    dụng, và sáng tạo. Bảng 1 cho thấy thứ tự
    ưu tiên khi lựa chọn việc làm: có một sự Không phải ngẫu nhiên mà các quan niệm
    khác biệt đáng kể giữa Gen X và Gen Y cổ xưa và lý thuyết khoa học lại quan tâm
    với Baby Boomers, khi Gen X và nhất là đến tính chu kỳ của thời gian, của thế hệ,
    Gen Y nghiêng sang các tiêu chí về lợi ích và của vòng đời người, vì nó vừa phản ánh
    cá nhân thay vì quan tâm đến các tiêu chí một cách nhìn mới, vừa đem tới những
    chung như Baby Boomers. hiểu biết ở một khía cạnh khác về thế giới
    và con người. Đặc biệt, những hiểu biết
    Bảng 2 thể hiện rằng Gen Y và Gen Z rất này sẽ đem lại cho chúng ta một số gợi ý
    quan tâm đến cơ hội khẳng định bản thân, hữu ích cho giáo dục đại học. Với tư cách
    và do am hiểu công nghệ nên họ yêu thích một hệ thống, trường đại học cần có sự
    những gì mới mẻ nhất, đề ra mục đích rõ phối hợp chặt chẽ hơn giữa mục tiêu của
    ràng và nhanh chóng thực hiện. mình với nhu cầu của xã hội. Với tư cách

    Số 215- Tháng 4. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 81

  8. Saeculum- chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học

    một trung tâm giáo dục, trường đại học Vấn đề tính chu kỳ được giới khoa học
    cần tạo ra các kênh tương tác hiện đại hơn quốc tế ngày càng chú ý nhiều hơn, không
    giữa giảng viên với sinh viên. Nếu trường chỉ về lý thuyết mà về cả thực tiễn. Ở Việt
    đại học cung cấp không gian hoạt động Nam, các nghiên cứu về cùng chủ đề là
    rộng hơn cho sinh viên, sẽ khuyến khích hầu như chưa có, cho nên bài viết này có
    họ trở thành công dân tích cực sau này, và tính gợi mở ban đầu về một hướng đi mới
    đưa được bài học vào cuộc sống (Thomas đang xuất hiện trong khoa học ■
    Andrew Bryer và cộng sự, 2020).

    Tài liệu tham khảo
    1. Bryer, Thomas Andrew and Cristian Pliscoff, Cristian Pliscoff, Ashley Wilt Connors, 2020. Student Engagement. In book: Promoting
    Civic Health Through University-Community Partnerships. Springer, New York, pp 171-178.
    2. Censorinus, 234. De die natali. Rome.
    3. Chaudhari, Pragati and Tarun Wakharkar, Sunit Kale, Arjun Gaikwad, Nikhil Ghadge, 2020. Student Information Chatbot System.
    International Journal for Research in Applied Science & Engineering Technology. Vol 8, Issue II, pp 491-492.
    4. Coppola, Brian P. and Jason K Pontrello, 2020. Student-Generated Instructional Materials. In book: Active Learning in College Science.
    Springer, New York, pp 385-407.
    5. Dekhane, Sonal and Mai Yin Tsoi, Cynthia Johnson, 2020. Mobile Application Development by Students to Support Student Learning.
    Mobile Devices in Education: Breakthroughs in Research and Practice. IGI Global, USA, pp 576-598.
    6. Denizalp, Hasan and Fezile Ozdamli, 2019. Determination of Student Opinions on Usage of Social Media and Mobile Tools in Student-
    Teacher, Student-Student Communication. International Journal of Emerging Technologies in Learning. Vol 14, No 22, pp 19-28.
    7. Diamond, Jared, 1993. The Third Chimpanzee. Harper Perennial, New York.
    8. Nguyễn Dữ, Truyền kỳ mạn lục. Trúc Khê dịch. Nxb. Trẻ, 2016, TP. Hồ Chí Minh.
    9. Esler, Anthony, 1982. Generations in History: An Introduction to the Concept. New York.
    10. Fath, Muhammad Sandy Al and Aris Sugianto, 2018. Investigating Gen Z students’ perceptions on the use of Instagram to improve
    vocabulary. Conference: The 2nd INACELT (International Conference on English Language Teaching). IAIN Palangka Raya, Indonesia.
    11. Hegel, G. W. F., 1807. Hiện tượng học tinh thần. Bùi Văn Nam Sơn dịch. Nxb. Văn học, Hà Nội, 2006.
    12. Huser, Camille and Leah Marks, Aileen Linn, Sarah Meek, 2019. Student-Created Online Teaching Resources for Students. In book:
    Biomedical Visualisation. Vol 4, pp 37-46.
    13. Klafter, Craig, 2020. Undergraduate Education and the Maturation of Students. Springer, New York.
    14. Küçüktepe, Seval E., 2014. College Students’ Cheating Bahaviors. Social Behavior and Personality. 42, pp 101-111.
    15. Levinson, Daniel J., 1978. The Seasons of a Man’s Life. Ballantine Books.
    16. Mowforth, Steven, 2018. “The world is your oyster”: Exploring the career conceptions of Gen-Z students. Journal of the National Institute
    for Career Education and Counselling. Issue 41.
    17. Nandhakumar, R., 2019. A study on the Learning Pattern of Generation-Z (Gen-Z) & their perception on Curriculum, Course
    Deliverance and Infrastructure. International Journal of Management and Social Sciences. Vol 9, pp 625-634.
    18. Needham, Joseph, 1965. Time and Eastern Man. Royal Anthropological Institute of Great Britain & Ireland.
    19. Oducado, Ryan Michael Flores, 2019. Facebook for Educational Purposes among Gen Z Nursing Students: A Positive or Negative
    Disruptive Innovation? Conference: International Conference of Nurses 2019. West Visayas State University, Cebu City, Philippines.
    20. Parashar, Neha and Farida Rasiwala, 2018. A Study on Usage and Awareness of Social Media and Digital Wallets in Banking Sector
    with special reference to Gen Y and Gen Z. Jaipuria International Journal of Management Research. Vol. 4, No 2, pp 59-69.
    21. Rashid, Mas Anom Abdul and Azman Othman, 2019. Technology Intimacy: The Extend of Malaysian Generation Z Dependency on
    Technology. Conference: Issues and Challenges in Business and Accounting. Kuala Lumpur, Malaysia.
    22. Strauss, William and Neil Howe, 1991. Generations: A History of America’s Future, 1584-2069. William Morrow and Company, New
    York.
    23. Strauss, William and Neil Howe, 1997. The Fourth Turning: An American Prophecy. Broadway Books, New York.
    24. Tennakoon, Lakni C. and Niranjala Tennakoon, Janani M Lasanthika, 2018. An Assessment of the Role of the Internet as a Tool for
    Searching a Job by Generation Z. Conference: International Conference on Management Research. Sri Lanka.
    25. The, Ya Yee and Moy Tow Yoon, 2018. Evaluation of Cooperative Learning: Does it Enhance Learning Among the Gen Learners?
    Conference: International Conference on Education. Vol. 4, pp 28-38.
    26. Thomas, Clare E., 2019. Teacher and student experiences in learning. Pacific Journal of Technology Enhanced Learning. Vol 2, No 1.
    27. Toffler, Alvin, 1980. Third Wave. William Morrow and Company, New York.29. 10
    28. Tolbize, A., 2008. Generational Differences in the Workplace. University of Minnesota: Research and Training Center on Community
    Living.
    29. Toynbee, Arnold, 1934-1961. A Study of History. Vol VIII, 1954: Heroic Ages; Contacts between Civilizations in Space (Encounters
    between Contemporaries). Oxford University Press.
    30. Valintine, Frances, 2018. Educating Gen Z in a digital world. Conference: ANZEA Conference. Waipuna Lodge, Auckland, New Zealand.
    31. Vandegrift, Darcie, 2015. “We don’t have any limits”: Russian young adult life narratives through a social generations lens. Journal of
    Youth Studies. (2), pp 1-16.
    32. Yang, Guobin, 2016. The Red Guard Generation and Political Activism in China. Columbia University Press, New York.

    82 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 215- Tháng 4. 2020

Download tài liệu Saeculum – chu kỳ thời gian và gợi ý cho giáo dục đại học File Word, PDF về máy