[Download] Tải Quan điểm lập quy và khung lý thuyết về áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp – Tải về File Word, PDF

Quan điểm lập quy và khung lý thuyết về áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp

Quan điểm lập quy và khung lý thuyết về áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp
Nội dung Text: Quan điểm lập quy và khung lý thuyết về áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp

Download


Bài viết này nghiên cứu các quan điểm lập quy trên cơ sở thông lệ kế toán phổ biến hiện nay là các nguyên tắc Kế toán Mỹ (US GAAP) và hệ thống chuẩn mực quốc tế về báo cáo tài chính (IFRS). Từ đó, bài viết đề xuất khung lý thuyết cơ bản cho việc áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán.

Bạn đang xem: [Download] Tải Quan điểm lập quy và khung lý thuyết về áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Quan điểm lập quy và khung lý thuyết về áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp File Word, PDF về máy

Quan điểm lập quy và khung lý thuyết về áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Quan điểm lập quy và khung lý thuyết về áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp

  1. Nghiên cứu trao đổi

    Quan điểm lập quy và khung lý thuyết
    về áp dụng giá trị hợp lý
    trong kế toán doanh nghiệp
     NCS. Ths. Nguyễn Tuấn Duy*
    Nhận: 10/8/2020
    Biên tập: 20/8/2020
    Duyệt đăng: 30/8/2020

    Giá trị hợp lý đã được đề cập trong các nghiên cứu về kế toán từ Đến năm 1973, APB ra Tuyên
    rất lâu. Tuy nhiên, phải đến những năm cuối của thế kỷ XX, giá trị bố số 29 – Kế toán các giao dịch về
    hợp lý mới được sử dụng phổ biến trong kế toán, được thể chế hóa tài sản phi tiền tệ. Trong tuyên bố
    trong các quy định của luật, chuẩn mực kế toán. Bài viết này này, cách thức xác định GTHL lần
    nghiên cứu các quan điểm lập quy trên cơ sở thông lệ kế toán phổ
    biến hiện nay là các nguyên tắc Kế toán Mỹ (US GAAP) và hệ thống
    đầu tiên đã được đề cập. APB 29
    chuẩn mực quốc tế về báo cáo tài chính (IFRS). Từ đó, bài viết đề khuyến nghị GTHL của các giao
    xuất khung lý thuyết cơ bản cho việc áp dụng giá trị hợp lý trong kế dịch về tài sản phi tiền tệ được xác
    toán. định theo giá niêm yết của các tài
    Từ khóa: Quan điểm lập quy, giá trị hợp lý, khung lý thuyết sản hoàn toàn giống hoặc tương tự.
    Abstract Năm 1975, SFAS 2 – Kế toán
    Fair value has been mentioned in accounting studies for a long time.
    đối với các loại chứng khoán có thể
    However, until the last years of the twentieth century, fair value were
    commonly used in accounting, institutionalized in the provisions of bán quy định các loại chứng khoản
    laws and accounting standards. This paper examines the regulatory được đánh giá thấp hơn giữa giá
    views on the basis of current popular accounting practices, the US gốc và giá thị trường. Sự biến động
    accounting principles (US GAAP) and the international financial re- giá thị trường của các chứng khoán
    porting standards (IFRS). From there, the article proposes a basic the-
    đầu tư dài hạn được trình bày thành
    oretical framework for the application of fair values in accounting.
    Key words: regulatory views, fair value, theoretical framework.
    một khoản mục riêng biệt thuộc
    vốn chủ sở hữu.
    1. Các quan điểm lập quy về trong đó có việc sử dụng cơ sở tính Đến năm 1977, SFAS 15 – Kế
    giá trị hợp lý giá ngoài giá gốc trong kế toán. toán tại bên đi vay và cho vay đối
    + Quan điểm về giá trị hợp lý Một trong những văn bản đầu với các khoản tín dụng tái cấu trúc
    theo Hội đồng Chuẩn mực kế toán tiên trong khuôn khổ quy định về đã đề cập đến khái niệm GTHL.
    Mỹ (FASB) Cũng trong văn bản này, cách tiếp
    kế toán Mỹ đề cập đến khái niệm
    cận thị trường và phương pháp
    Cách tiếp cận định giá các yếu giá trị hợp lý (GTHL) là Tuyên bố
    chiết khấu dòng tiền đã được sử
    tố trên báo cáo tài chính (BCTC) số 18 của Hội đồng Nguyên tắc Kế dụng để xác định GTHL.
    theo cơ sở giá thị trường đã xuất toán Mỹ (APB) “Phương pháp vốn
    Về khuôn mẫu lý thuyết, năm
    hiện trong thông lệ Kế toán Mỹ, từ chủ sở hữu để kế toán các khoản 1984, FASB công bố khuôn mẫu lý
    giai đoạn trước thế kỷ 20 ở Mỹ. đầu tư vào cổ phiếu phổ thông” thuyết về kế toán tài chính (FSAB)
    Tuy nhiên, do ảnh hưởng của cuộc năm 1971. Theo đó, khoản lỗ khi 05 – Ghi nhận và đo lường trong
    suy thoái kinh tế năm 1929 – 1939, GTHL của khoản đầu tư giảm báo cáo tài chính doanh nghiệp
    vấn đề sử dụng giá thị trường ở Mỹ xuống thấp hơn giá trị ghi sổ và (Recognition and Measurement in
    đã bị loại trừ một cách khá triệt để khoản lỗ này có tính lâu dài thì phải Financial Statement of Business
    cho tới những năm 1970. Cũng vào được ghi nhận vào báo cáo lãi/lỗ. Enterpries) thì cơ sở tính giá trong
    giai đoạn này, nhiều lý thuyết kế
    toán được nghiên cứu và tranh luận * Học viện Tài chính

    Tạp chí Kế toán & Kiểm toán số tháng 8/2020 33

  2. Nghiên cứu trao đổi

    các quy định về kế toán ở Mỹ đã GTHL và giá phí này được phân bổ hơn so với các quy định tương ứng
    được mở rộng, bao gồm, giá gốc, cho các tài sản/nợ phải trả trên cơ ở Mỹ. Cách tiếp cận giá đầu ra đã
    giá phí hiện hành, giá thị trường sở GTHL. được IASB vận dụng trong các
    hiện hành, giá trị thuần có thể thực Như vậy, có thể nhận thấy, chuẩn mực kế toán ban hành từ
    hiện được, giá trị hiện tại. Tuy trong những năm cuối của thế kỷ những năm 1970, trong đó tiêu biểu
    nhiên, có thể nhận thấy khái niệm XX, GTHL đã bước đầu được sử là sử dụng giá trị thuần có thể thực
    chung về GTHL chưa được đề cập dụng khá nhiều trong khuôn khổ hiện được trong chuẩn mực kế toán
    trong khuôn mẫu này. quy định về kế toán ở Mỹ. Tuy quốc tế (IAS) 02 – Hàng tồn kho.
    Năm 1991, SFAS 107 – Công bố nhiên, việc sử dụng GTHL mới Tuy nhiên, khái niệm GTHL chỉ
    về GTHL của các công cụ tài chính gắn với các chuẩn mực kế toán cụ được đề cập khi IASB ban hành các
    được ban hành và yêu cầu GTHL thể mà chưa có sự nhất quán trong chuẩn mực kế toán về công cụ tài
    của các tài sản và nợ phải trả tài cách hiểu và quy định về nội dung, chính, gồm IAS 25 – Kế toán các
    chính phải được công bố bất kể các cách tiếp cận và đặc biệt là phương khoản đầu tư, ban hành năm 1986;
    khoản mục này có được coi là trọng pháp chung để xác định GTHL. Để IAS 39 – Công cụ tài chính: Ghi
    yếu hay không trên các BCTC. xử lý vấn đề này, FASB thấy rằng nhận và đo lường, ban hành năm
    Năm 1993, SFAS 115 – Kế toán cần nghiên cứu và ban hành một 1998. Từ khi ban hành đến nay,
    các khoản đầu tư vào chứng khoản chuẩn mực kế toán riêng về đo IAS 39 đã được sửa đổi, bổ sung
    nợ và chứng khoản vốn được ban lường GTHL. nhiều lần. Đến năm 2014, IAS 39
    hành. Trong đó, các khoản đầu tư đã chính thức được IASB thay thế
    Tháng 9/2006, FASB ban hành
    vào chứng khoán được phân loại bởi IFRS 09 – Công cụ tài chính để
    FAS 157 – Đo lường GTHL. Sau
    thành 3 nhóm: Chứng khoán nợ phù hợp với quan điểm mới về kế
    đó, FAS 157 được chính thức hóa
    nắm giữ đến khi đáo hạn, chứng toán các công cụ tài chính.
    thành khung khái niệm (ASC) 820.
    khoán thương mại và chứng khoán Đây là chuẩn mực quy định một Đối với các tài sản phi tài
    nắm giữ để bán. Chuẩn mực này chính, GTHL bắt đầu được sử
    cách tổng thể và có hệ thống về áp
    yêu cầu GTHL là cơ sở tính giá cơ dụng trong các khuôn khổ quy
    dụng GTHL trong khuôn khổ kế
    bản đối với nhóm chứng khoán định liên quan đến nhà xưởng, máy
    toán Mỹ hiện nay.
    thương mại và nắm giữ để bán. móc thiết bị (IAS 16), bất động sản
    Biến động GTHL chưa thực hiện Từ năm 2002, FASB và Hội đầu tư (IAS 40), nông nghiệp (IAS
    của chứng khoán thương mại được đồng Chuẩn mực Kế toán quốc tế 41), tổn thất tài sản (IAS 36), thuê
    ghi nhận vào báo cáo lãi/lỗ. Ngược (IASB) đã thực hiện chung một dự tài sản (IAS 17, IFRS 16), tài sản
    lại, biến động GTHL của chứng án, nhằm hài hòa các quy định của vô hình (IAS 38)…
    khoán nắm giữ để bán được ghi hệ thống chuẩn mực kế toán do hai
    Kể từ khi IASB chuyển sang
    nhận vào vốn chủ sở hữu. tổ chức này ban hành. Một trong
    ban hành các chuẩn mực quốc tế
    Năm 2000, FASB công bố những vấn đề quan trọng của dự án về báo cáo tài chính ( IFRSs),
    Chuẩn mực số 133 (FAS133) – Kế này là các quy định về đo lường một số chuẩn mực mới được ban
    toán các công cụ phái sinh và GTHL. Và kết quả ban đầu đạt hành trong thời gian gần đây
    phòng ngừa rủi ro, yêu cầu GTHL được là, FASB đã ban hành văn bản cũng áp dụng mô hình GTHL như
    được áp dụng để đánh giá các về cập nhật Chuẩn mực (ASU) một mô hình tính giá cơ bản như
    chứng khoán phái sinh. Việc ghi 2004 – 4 sửa đổi, bổ sung các quy IFRS 02 – Thanh toán trên cơ sở
    nhận biến động GTHL phụ thuộc định của ASC 820 và IASB ban cổ phiếu, IFRS 05 – Tài sản dài
    vào cách phân loại chứng khoán hành IFRS 13 – Đo lường GTHL. hạn nắm giữ để bán và các hoạt
    phái sinh và hoạt động phòng ngừa Như đã trình bày ở trên, có thể động bị ngừng,…
    rủi ro. khẳng định quan điểm của FASB Quan điểm của IASB được thể
    Năm 2001, FASB công bố và IASB là tương đồng trong hiện, thông qua ban hành khuôn
    Chuẩn mực số 141 – Hợp nhất kinh những vấn đề cơ bản về xác định và mẫu lý thuyết về kế toán. Tuy
    doanh. Chuẩn mực này quy định áp dụng GTHL. nhiên, trong khuôn mẫu lý thuyết
    các giao dịch hợp nhất kinh doanh + Quan điểm về giá trị hợp lý kế toán ban hành năm 1989 và lần
    phải được kế toán theo phương theo IASB sửa đổi gần đây nhất năm 2010,
    pháp mua lại. Theo đó, giá phí hợp Khuôn khổ quy định về GTHL IASB đều chưa đề cập đến khái
    nhất kinh doanh được xác định theo của IASB được hình thành muộn niệm GTHL và quan điểm chính

    34 Tạp chí Kế toán & Kiểm toán số tháng 8/2020

  3. Nghiên cứu trao đổi

    thức về GTHL. Như trình bày trong Khi tài sản được mua hoặc – Giao dịch với các bên liên
    phần quan điểm về GTHL theo khoản nợ phải trả phát sinh, mức quan. Trong nhiều trường hợp giá
    FASB ở trên, kể từ năm 2002, giá của giao dịch hình thành tài sản cả trong giao dịch với các bên
    IASB và FASB đã bắt đầu triển hoặc làm phát sinh khoản nợ này liên quan không phản ánh GTHL
    khai một dự án chung nhằm hài hòa được gọi là giá đầu vào. Trong một của tài sản/nợ phải trả, trừ khi
    khuôn khổ quy định của hai tổ chức số trường hợp, giá đầu vào và giá đơn vị chứng minh được rằng
    lập quy có ảnh hưởng nhất hiện đầu ra của tài sản/ nợ phải trả trên giao dịch này được thực hiện theo
    nay. Một trong những kết quả đặc cùng một thị trường ở cùng một các điều kiện hoàn toàn phù hợp
    biệt quan trọng của dự án này là sự thời điểm là giống nhau, tuy nhiên với thị trường.
    hài hòa quan điểm về đo lường về mặt khái niệm, giá đầu vào và – Giao dịch diễn ra trong các
    GTHL. Năm 2013, IASB ban hành giá đầu ra là khác nhau. Vấn đề đặt điều kiện không bình thường, trong
    IFRS 13 – Đo lường GTHL nhằm ra đối với đơn vị báo cáo là, khi giá đó bên mua hoặc bên bán bị buộc
    thống nhất việc xác định và sử đầu vào và giá đầu ra (GTHL) là phải mua hoặc bán tài chính. Ví dụ,
    dụng GTHL trong khuôn khổ hệ khác nhau thì đơn vị báo cáo sẽ bên bán có thể bị buộc phải bán tài
    thống chuẩn mực kế toán/chuẩn phải xử lý như thế nào? sản do gặp khó khăn tài chính.
    mực quốc tế về BCTC. Có hai trường hợp xảy ra khi xử – Trường hợp mà giao dịch mua
    GTHL gây ra nhiều tranh luận lý vấn đề này: tài sản/phát sinh nợ thực tế xảy ra
    về mặt lý thuyết cũng như việc ứng không phải là thị trường chủ yếu để
    Trường hợp 1 – Giá giao dịch
    dụng trong thực tiễn như đã được xác định GTHL của tài sản/nợ phải
    phản ánh đúng GTHL
    trình bày trong phần Tổng quan trả. Ví dụ, đơn vị báo cáo chủ yếu
    Khi giá giao dịch phản ánh kinh doanh bán buôn nhưng lại
    nghiên cứu. Có nhiều ý kiến ủng hộ
    đúng GTHL, giá giao dịch sẽ được thực hiện giao dịch mua tài sản với
    và cũng không ít ý kiến cảnh báo
    sử dụng để ghi nhận ban đầu cho khách hàng trên thị trường bán lẻ.
    hậu quả của GTHL, đặc biệt là
    các tài sản/nợ phải trả. Trường hợp Khi đó, thị trường phát sinh giao
    trong các giai đoạn khủng hoảng
    kinh tế, tài chính. Tuy nhiên, việc này không làm phát sinh các khoản dịch thực tế khác với thị trường chủ
    các cơ quan lập quy về kế toán thu nhập/tổn thất khi ghi nhận ban yếu mà tài sản được giao dịch (thị
    quốc tế (IASB, FASB) đã ban hành đầu đối với các tài sản/nợ phải trả. trường bán buôn).
    các quy định về GTHL cũng như kế Trường hợp 2 – Giá giao dịch – Đối tượng tài sản/nợ phải trả
    toán các quốc gia vẫn hướng đến, không phản ánh GTHL trong giao dịch khác biệt với đối
    hội tụ kế toán toàn cầu theo các quy Khi giá giao dịch thực tế hình tượng tài sản/nợ phải trả trên thị
    định và thông lệ chung thì GTHL thành tài sản hoặc làm phát sinh trường chủ yếu để xác định GTHL.
    vẫn đang được áp dụng triển khai các khoản nợ không phản ánh đúng Đây là trường hợp thường xảy ra
    trên thực tế ở nhiều quốc gia, nền GTHL. Theo một số chuẩn mực kế khi đơn vị báo cáo mua một nhóm
    kinh tế. toán cụ thể đơn vị phải xác định tài sản hoặc các tài sản phức hợp
    2. Khung lý thuyết áp dụng GTHL của tài sản/nợ phải trả để mà trên thị trường không giao dịch
    giá trị hợp lý trong kế toán ghi nhận ban đầu. Trong trường theo đơn vị tương tự.
    + Nguyên tắc ghi nhận ban hợp này có thể làm phát sinh các Tất cả những khía cạnh này đều
    đầu các đối tượng kế toán theo giá khoản thu nhập/tổn thất khi ghi có thể khiến cho GTHL của tài
    trị hợp lý nhận ban đầu (gains/loses in day sản/nợ phải trả phát sinh trong giao
    one). IFRS 13 và FAS 157, cho dịch có thể được xác định mà thiếu
    Trên thực tế, trong những năm
    phép các khoản chênh lệch này đi độ tin cậy và tính hợp lý.
    gần đây, một số chuẩn mực kế toán
    tài chính Mỹ và IAS/IFRS cho phép được ghi nhận vào báo cáo lãi/lỗ + Nguyên tắc xử lý sau ghi
    việc sử dụng GTHL để ghi nhận trừ khi các chuẩn mực kế toán cụ nhận ban đầu các đối tượng kế
    ban đầu đối với một số tài sản và nợ thể có quy định khác. toán theo giá trị hợp lý
    phải trả. Để đảm bảo tính thống Khi xem xét giá giao dịch thực – Đánh giá sau ghi nhận ban
    nhất trong vấn đề này, IFRS 13 và tế có khác biệt với GTHL của tài đầu theo GTHL
    FAS 157 đều đề cập và hướng dẫn sản và nợ phải trả hay không, đơn Theo mô hình GTHL, GTHL
    việc sử dụng GTHL khi ghi nhận vị báo cáo cần cân nhắc các khía được sử dụng để đánh giá sau ghi
    ban đầu các tài sản/nợ phải trả. cạnh sau: nhận ban đầu đối với các khoản

    Tạp chí Kế toán & Kiểm toán số tháng 8/2020 35

  4. Nghiên cứu trao đổi

    mục trên BCTC. IFRS 13 và FAS – Ghi nhận biến động GTHL tài sản/nợ phải trả. Tuy nhiên,
    157 không đề cập cụ thể vấn đề vào báo cáo kết quả toàn diện khuôn khổ quy định của các tổ
    này. Tuy nhiên, trong các chuẩn Khái niệm kết quả toàn diện là chức lập quy kế toán thường không
    mực kế toán cụ thể của hệ thống một trong những biểu hiện cụ thể thiên về một quan điểm cụ thể nào
    Chuẩn mực Kế toán Mỹ và hệ của việc áp dụng quan điểm kinh mà có sự vận dụng kết hợp các
    thống IASs/IFRSs, việc sử dụng tế học trong khuôn khổ quy định quan điểm này đối với từng nhóm
    về kế toán trong những năm cuối tài sản/nợ phải trả cụ thể.
    GTHL sau ghi nhận ban đầu đã
    của thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21. Theo
    được đề cập khá phong phú. Trong
    đó, kết quả toàn diện không chỉ
    phần tiếp theo, tác giả sẽ trình bày bao gồm lợi nhuận thực hiện từ
    cụ thể việc áp dụng GTHL sau ghi Tài liệu tham khảo
    hoạt động thông thường và hoạt
    nhận ban đầu theo khuôn khổ kế động khác của doanh nghiệp mà
    toán của IAS/IFRS và FAS. còn bao gồm biến động đánh giá [1]. Bộ Tài chính (2005), Hệ thống
    – Ghi nhận biến động GTHL sau lại tài sản/nợ phải trả trong một số Chuẩn mực Kế toán Việt Nam, NXB Tài
    ghi nhận ban đầu trường hợp. chính.
    Khi GTHL được sử dụng để [2]. Quốc Hội (2015), Luật Kế toán
    Một vấn đề đặc biệt quan trọng Việt Nam năm 2015.
    trong áp dụng mô hình GTHL là đánh giá tài sản/nợ phải trả sau ghi
    [3] Báo cáo đánh giá sự tuân thủ các
    nhận ban đầu. Biến động GTHL
    vấn đề xử lý kế toán đối với các chuẩn mực và quy tắc (ROSC) – lĩnh vực
    của một số tài sản/ nợ phải trả được kế toán và kiểm toán, công bố tháng
    khoản biến động theo GTHL sau
    ghi nhận vào kết quả toàn diện. 5/2016.
    ghi nhận ban đầu. Vấn đề này cần Thông thường, các biến động này [4]. FASB, các văn bản, tuyên bố và
    được xem xét gắn với từng loại tài cần được trình bày riêng biệt và khung khái niệm Chuẩn mực Kế toán Mỹ.
    sản/nợ phải trả và có sự khác biệt trên cơ sở thuần. Cần lưu ý rằng, [5].IASB, các Chuẩn mực Kế toán
    quốc tế/Chuẩn mực quốc tế về BCTC.
    giữa các quy định khác nhau. khi các biến động GTHL (Gains or
    [6].Sterling Robert (1970), Theory of
    Tuy nhiên, về góc độ lý thuyết, loses) đã được trình bày vào kết measurement of Enterprise income, Uni-
    việc xử lý biến động do thay đổi quả toàn diện thì khi các biến động versity Press of Kansa.
    GTHL của tài sản và nợ phải trả có này được thực hiện (khi bán tài sản [7].Sterling Robert (1971), Asset valu-
    thể được thực hiện theo các phương hoặc thanh toán nợ), đơn vị không ation and Income determination, Scholar
    trình bày lại các khoản thu nhập/tổn book Co. 1971.
    án sau: [8].Larson. K and Schattke, R (1966),
    thất liên quan vào báo cáo lãi/lỗ.
    – Ghi nhận biến động GTHL Current cash equivalent, Additivity and Fi-
    – Ghi nhận biến động GTHL nancial action, Accouting Review, October
    vào báo cáo lãi/lỗ trực tiếp vào VCSH 1966.
    Việc ghi nhận biến động GTHL Nhiều ý kiến của các học giả [9].Jammes McKeown (1973), Com-
    vào báo cáo lãi/lỗ của kỳ hiện tại, cho rằng, biến động GTHL của các parative application of market and cost
    thể hiện quan điểm xác định kết based accounting models, Journal of Ac-
    tài sản/nợ phải trả mà doanh nghiệp
    counting research, Spring 1973.
    quả hoạt động theo cách tiếp cận hiện đang nắm giữ không liên quan [10].Rechard Mattessich (1971), The
    kinh tế học. Cách tiếp cận này đã trực tiếp đến hoạt động tạo ra kết market value method accounting to Ster-
    được đề xuất trong thập kỷ 1960 và quả của doanh nghiệp. Vì vậy, việc ling: A review article, Abacus, Vol 7, No2,
    ghi nhận biến động GTHL vào báo 1971.
    1970, bởi các học giả ủng hộ mô
    cáo lãi/lỗ hoặc báo cáo kết quả toàn [11].Ernst & Young (2012), Applying
    hình kế toán theo giá hiện hành và IFRS 13, October 2012.
    giá đầu ra. Tuy nhiên, việc ghi diện đều không phù hợp. Các ý
    [12]Ian E. Scot (2010), Fair value,
    kiến này khuyến nghị ghi nhận biến
    nhận biến động GTHL vào báo cáo friend or toe?, William & Marry Business
    động GTHL trực tiếp vào vốn chủ law review, Volume 1, issue 2, 2010.
    lãi/lỗ mâu thuẫn với nguyên tắc
    sở hữu, cho đến khi các biến động [13].Andrea Enria (Europea central
    thực hiện và thiếu sự thận trọng, này được thực hiện sẽ điều chỉnh bank), Fair value and financial stability,
    nên phương pháp này chủ yếu ghi nhận vào báo cáo lãi/lỗ. 2004.
    được áp dụng với các tài sản mà Như vậy, về góc độ lý thuyết có [14].David J.Emmerson (2010), Fair
    GTHL biến động thường xuyên và value accounting: A historical aspect of the
    những quan điểm nghiên cứu khác most controversial accounting issues in
    thời gian biến động GTHL được nhau về phương pháp ghi nhận biến decades, Journal of economics and busi-
    thực hiện là ngắn. động GTHL sau ghi nhận ban đầu ness research, April, 2010.

    36 Tạp chí Kế toán & Kiểm toán số tháng 8/2020

Download tài liệu Quan điểm lập quy và khung lý thuyết về áp dụng giá trị hợp lý trong kế toán doanh nghiệp File Word, PDF về máy