[Download] Tải Nghiên cứu về sự thay đổi nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp – Tải về File Word, PDF

Nghiên cứu về sự thay đổi nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp

Nghiên cứu về sự thay đổi nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
Nội dung Text: Nghiên cứu về sự thay đổi nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp

Download


Bài viết này tổng quan nghiên cứu về nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp theo từng thời kỳ, trên cơ sở đó phân tích để tìm ra những điểm kế thừa giữa các nghiên cứu, cũng như những điểm mới được bổ sung nhằm làm rõ sự phát triển về mặt nội dung của kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp. Mời các bạn cùng tham khảo!

Bạn đang xem: [Download] Tải Nghiên cứu về sự thay đổi nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Nghiên cứu về sự thay đổi nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp File Word, PDF về máy

Nghiên cứu về sự thay đổi nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Nghiên cứu về sự thay đổi nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp

  1. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THAY ĐỔI NỘI DUNG KẾ TOÁN
    TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP
    RESEARCH ON INNOVATIONS IN THE EXTENT
    OF RESPONSIBILITY ACCOUNTING IN ENTERPRISES

    ThS. Chu Thị Huyến
    Trường Đại học Thương Mại
    chuthihuyendhtm@gmail.com

    Tóm tắt
    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, các nhà quản trị muốn đưa ra được các quyết
    định tối ưu thì cần thiết phải dựa vào các công cụ quản lý hiện đại. Một trong những công cụ
    quản lý có thể giúp doanh nghiệp phát triển bền vững đó chính là kế toán trách nhiệm (KTTN).
    Thực tế chỉ ra rằng, KTTN đã có những đóng góp đáng kể vào sự thành công của nhiều doanh
    nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau trên khắp thế giới. Song không phải doanh nghiệp,
    quốc gia nào cũng có thể áp dụng thành công KTTN. Tại Việt nam, KTTN vẫn là một nội dung
    khá mới mẻ cả về mặt lý luận và thực tiễn, vì thế cần được nghiên cứu về lý luận để có thể áp
    dụng vào thực tiễn một cách hiệu quả. Trên cơ sở thu thập, tổng hợp, phân tích và đánh giá các
    tài liệu nghiên cứu liên quan đến KTTN, bài viết tập trung làm rõ nội dung KTTN trong doanh
    nghiệp theo thời kỳ để thấy rõ được sự phát triển của KTTN.
    Từ khóa: Kế toán trách nhiệm, nội dung kế toán trách nhiệm, trung tâm trách nhiệm.

    Abstract
    In the context of international economic integration, businesses have realized that for better
    decision-making they shoud rely on advanced management techniques. Among them, the one that
    helps businesses develop sustainably is responsibility accounting (RA). The fact shows that re-
    sponsibility accounting has made a significant contribution to the success of businesses operating
    in different fields around the world. However, not all businesses can successfully apply RA. In
    Vietnam, RA is still a new concept in both theoretical and practical aspects, therefore it should
    be studied in theory to apply effectively in practice. On the basis of collecting, synthesizing, an-
    alyzing and evaluating research documents related to RA, the article focuses on clarifying the
    content of RA in enterprises over periods to determine the innovations of RA.
    Keywords: Responsibility accounting, Enterprises, Content of responsibility accounting,
    Responsibility centers.

    1. Đặt vấn đề
    Xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã làm cho mức độ cạnh tranh giữa các
    doanh nghiệp ngày càng trở nên khốc liệt không chỉ trong nước mà còn trên cả thị trường khu
    vực và thế giới. Các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển phải thì cần thiết phải xây dựng và

    1033

  2. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    sử dụng có hiệu quả các công cụ quản lý phục vụ cho việc ra quyết định tối ưu trong quá trình
    sản xuất kinh doanh của mình. Một trong những công cụ quản lý đắc lực, phù hợp với bối cảnh
    mới hiện nay đó chính là KTTN (Nguyễn Thị Bích Liên, 2017; Trần Trung Tuấn, 2017).
    Trên thế giới, bắt đầu từ nghiên cứu của Higgins năm 1952, KTTN đã được nghiên cứu và
    áp dụng trong các doanh nghiệp từ hơn 70 năm nay. Thực tế chỉ ra rằng, KTTN đã có những
    đóng góp đáng kể vào sự thành công của nhiều doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác
    nhau trên khắp thế giới: Sản xuất (Lin và Yu, 2002; Akenbor và cộng sự, 2013), ngân hàng (Paj-
    rok, 2014), y tế (Nyakuwanik và cộng sự, 2012; Karasioglu và cộng sự, 2012)… Song không
    phải doanh nghiệp, quốc gia nào cũng có thể áp dụng thành công KTTN. Tại Việt nam, KTTN
    vẫn là một nội dung khá mới mẻ cả về mặt lý luận và thực tiễn. Số lượng các nghiên cứu vẫn còn
    hạn chế, nội dung áp dụng KTTN trong các doanh nghiệp còn chưa triệt để. Bên cạnh đó các
    nghiên cứu vận dụng KTTN mới chỉ dừng lại ở việc vận dụng từng nội dung cụ thể của KTTN
    vào từng ngành, lĩnh vực hoặc từng loại hình doanh nghiệp mà chưa có sự thống nhất và chưa
    được tổng kết thành những hướng dẫn cụ thể giúp doanh nghiệp có thể hiểu và vận dụng một
    cách hiệu quả. Do vậy, việc tìm ra những điểm chung, những nét đặc thù bổ sung cho lý luận và
    thực tiễn về KTTN còn khá non trẻ ở Việt Nam là điều hết sức cần thiết.
    Trong nội dung bài viết, tác giả tổng quan nghiên cứu về nội dung KTTN trong doanh
    nghiệp theo từng thời kỳ, trên cơ sở đó phân tích để tìm ra những điểm kế thừa giữa các nghiên
    cứu, cũng như những điểm mới được bổ sung nhằm làm rõ sự phát triển về mặt nội dung của
    KTTN trong doanh nghiệp.
    2. Khái quát về khái niệm, vai trò, nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức kế toán trách nhiệm
    trong doanh nghiệp
    2.1. Khái niệm kế toán trách nhiệm
    KTTN là một bộ phận của kế toán quản trị, được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên
    cứu (Higgins, 1952; Schweikart, 1986; Foster và Horngren, 1987; Garrison và Noreen, 1995;
    Hoàng Văn Tưởng, 2010; Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2011…), đã được triển khai áp dụng ở
    nhiều các quốc gia khác nhau (Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Canada..).
    Khái niệm đầu tiên về KTTN do Higgins (1952) khởi xướng, theo đó KTTN là công cụ để
    kiểm soát chi phí và đánh giá kết quả hoạt động cho từng cá nhân, xác định trách nhiệm của
    người đứng đầu một tổ chức. Hệ thống này được thiết kế cho tất cả các cấp quản lý trong tổ chức,
    đơn vị. Trong khái niệm này cho thấy KTTN liên quan đến việc cung cấp thông tin tài chính về
    chi phí.
    Năm 1997, Atkinson và cộng sự đã phát triển khái niệm KTTN, theo đó KTTN không chỉ
    liên quan đến việc cung cấp các thông tin tài chính về chi phí như cách tiếp cận của Higgins
    (1952) trước đó mà nó còn cung cấp thông tin tài chính liên quan đến thu nhập, kết quả. Theo tác
    giả, KTTN là một bộ phận của kế toán quản trị có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các
    dữ liệu kế toán liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý trong tổ chức, thông qua các báo
    cáo liên quan đến chi phí, thu nhập, kết quả hoạt động của từng bộ phận mà họ có trách nhiệm
    kiểm soát nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả của mỗi nhà quản lý. Như vậy trong khái

    1034

  3. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    niệm này nội dung thông tin KTTN cung cấp đã mở rộng hơn, bao gồm thông tin tài chính liên
    quan đến cả chi phí, thu nhập và kết quả. Mặt khác trong khái niệm của nhóm nghiên cứu còn
    làm rõ thêm những thông tin đó phải là những thông tin kiểm soát được của nhà quản trị
    Năm 2012, tác giả Martin đã bổ sung thêm thông tin mà KTTN cung cấp không chỉ liên
    quan đến doanh thu, chi phí, kết quả như các quan điểm nêu trên mà còn liên quan đến cả hiệu
    quả và đầu tư, theo đó KTTN là một hệ thống kế toán cung cấp thông tin về kết quả, hiệu quả
    hoạt động của các bộ phận, các đơn vị trong một doanh nghiệp. Đó là công cụ đo lường, đánh giá
    hoạt động của những bộ phận liên quan đến đầu tư, lợi nhuận, doanh thu và chi phí mà mỗi bộ
    phận có quyền kiểm soát và chịu trách nhiệm tương ứng.
    Nếu như các khái niệm về KTTN ở trên đều có đặc điểm chung khi chỉ đề cập đến thông
    tin tài chính mà KTTN cung cấp thì khái niệm về KTTN của Hansen và Mowen (2007) đã thể
    hiện sự phát triển một cách đầy đủ, toàn diện về thông tin của KTTN cung cấp, theo đó KTTN
    không chỉ cung cấp thông tin tài chính mà còn cung cấp cả thông tin phi tài chính, cụ thể: KTTN
    là một công cụ cơ bản của kiểm soát quản lý và được xác định bởi bốn yếu tố thiết yếu là giao
    trách nhiệm, thiết lập các tiêu chuẩn đo lường thành quả, đánh giá thành quả và giao phần
    thưởng. Trong đó việc đo lường, đánh giá thành quả dựa vào cả thông tin tài chính và thông tin
    phi tài chính.
    2.2. Vai trò của kế toán trách nhiệm
    Là một trong những công cụ hữu hiệu, giúp nhà quản trị trong việc điều hành toàn bộ hoạt
    động sản xuất kinh doanh để đạt được mục tiêu đã đề ra của doanh nghiệp, KTTN có những vai
    trò cơ bản sau đây (Ngô Thế Chi, 2018):
    – KTTN đo lường chi phí, doanh thu, lợi nhuận và đầu tư liên quan đến các TTTN trong
    doanh nghiệp; Thực hiện phân bổ các khoản chi phí, doanh thu nhằm lập kế hoạch, dự toán và
    đánh giá thành quả của các nhà quản trị các cấp. Qua đó, cung cấp thông tin tin cậy cho nhà quản
    trị ra quyết định kiểm soát chi phí, doanh thu và lợi nhuận và đầu tư.
    – KTTN đánh giá thành quả của các bộ phận, đơn vị từ cấp cơ sở đến cấp cao nhất trong
    doanh nghiệp bằng cách sử dụng các tiêu chuẩn đo lường thành quả ở các cấp quản trị khác nhau
    thông qua các báo cáo KTTN. Qua đó, nhà quản trị có những giải pháp tốt nhất nhằm điều chỉnh
    quá trình sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả mong muốn.
    – KTTN tạo điều kiện cho các bộ phận, đơn vị cũng như người lao động hiểu rõ hơn về bản
    chất của chi phí, doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp theo nguyên tắc gắn trách nhiệm với
    nơi phát sinh và sử dụng. Do vậy giúp các nhà quản trị quan tâm và có trách nhiệm hơn với những
    quyết định của họ trong quá trình điều hành sản xuất kinh doanh.
    – KTTN cung cấp thông tin phục vụ cho công tác dự toán một cách chi tiết, đồng thời nắm
    được chi phí thực tế phát sinh ở các TTTN. Trên cơ sở đó, giúp nhà quản trị kiểm soát được phí
    phí phát sinh nhằm tối thiểu hóa chi phí, nâng cao doanh thu và đạt lợi nhuận mục tiêu.
    – KTTN giúp các nhà quản trị trong doanh nghiệp thiết lập một hệ thống tiền lương, tiền
    thưởng hợp lý, khuyến khích những người làm tốt trong doanh nghiệp.
    – KTTN giúp các nhà quản trị các cấp xác định rõ trách nhiệm của mình đối với nhà quản

    1035

  4. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    trị cấp trên trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao; Giúp cho nhà quản trị cấp dưới chủ
    động, sáng tạo trong việc ra các quyết định kinh doanh, các nhà quản trị cấp cao có điều kiện tập
    trung vào các quyết định chiến lược của doanh nghiệp.
    Tuy nhiên, bên cạnh đó, KTTN cũng có một số những hạn chế nhất định. Theo Bhandari
    và Kaur (2018), điều kiện tiên quyết cho một hệ thống KTTN thành công là doanh nghiệp phải
    thiết lập được một cấu trúc tổ chức hợp lý, trên cơ sở đó có thể xác định được rõ ràng các TTTN.
    Thêm vào đó, vấn đề giao việc và gán trách nhiệm phải thích hợp. Ngoài ra doanh nghiệp phải
    xây dựng được một hệ thống báo cáo thích hợp. Tác giả nhấn mạnh rằng nếu thiếu những điều
    kiện này thì khó có hệ thống KTTN; Ngoài phân loại chi phí theo cách truyền thống thì chi phí
    cần phải được phân tích theo cách khác, điều này là không hề dễ dàng; Khi giới thiệu hệ thống
    KTTN, một số nhà quản lý có thể yêu cầu phân loại bổ sung, đặc biệt nếu các báo cáo trách nhiệm
    khác với các báo cáo thường lệ.
    2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
    Quy mô doanh nghiệp
    Nowak (2000) và Zimnicki (2015) đều cho rằng quy mô của doanh nghiệp có ảnh hưởng
    đến việc xác định các TTTN – một trong những nội dung cơ bản của KTTN. Trong nghiên cứu
    của RaJan (2011) và Alshormaly (2013) đều kết luận rằng rằng quy mô về doanh thu, tổng tài
    sản, tổng lao động và nguồn lực tài chính trong doanh nghiệp có ảnh hưởng nhiều đến áp dụng
    KTTN. Theo đó, các doanh nghiệp có các điều kiện trên tốt hơn thì càng có khả năng cao trong
    việc áp dụng KTTN thành công. Theo nghiên cứu của Kamilah (2012) cho thấy có sự tác động
    từ quy mô của doanh nghiệp đối với việc vận dụng kế toán quản trị và tổ chức KTTN trong doanh
    nghiệp. Nghiên cứu cho rằng những doanh nghiệp có quy mô lớn, để quản lý tốt hơn cần phải
    thực hiện sự phân cấp quản lý và điều này ảnh hưởng đến tổ chức KTTN trong doanh nghiệp.
    Các kết quả nghiên cứu của Trần Trung Tuấn (2015), Ngô Thế Chi và Ngô Văn Lượng
    (2018), Huỳnh Đức Lộng và Tạ Thị Chúc Quân (2018), Ma Văn Viên và Trần Văn Long (2019),
    Trần Trung Tuấn và cộng sự (2020) Cao Thị Huyền Trang (2020) cũng cho thấy quy mô doanh
    nghiệp là nhân tố có ảnh hưởng thuận chiều đến việc áp dụng KTTN tại các đơn vị.
    Trình độ, nhận thức của nhà quản lý
    Gordon (1963) cho rằng nếu các nhà kinh tế chỉ quan tâm đến hiệu quả kinh tế mà không
    quan tâm đến thái độ quản lý và động viên cấp dưới thì KTTN sẽ không phát huy được hết vai
    trò vốn có của nó. Còn theo Belkaoui (1981), mức độ nhận thức về KTTN là một thành phần
    trong hệ thống KTTN. Koske và Muturi (2015) cho rằng xét trên góc độ quản lý, khi nhà quản
    lý có sự hiểu biết về tính hữu ích của KTTN trong đánh giá thành quả hoạt động thì càng có khả
    năng họ sẽ áp dụng KTTN vì những lợi ích mà nó mang lại.Shixian (2014) cho rằng việc áp dụng
    KTTN trong các doanh nghiệp bị ảnh hưởng không ít bởi trình độ đào tạo, trình độ quản lý của
    lãnh đạo doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào mà ở đó có đội ngũ lãnh đạo có trình độ đào tạo càng
    cao thì trình độ và hiệu quả quản lý càng tốt.
    Các kết quả nghiên cứu của Trần Trung Tuấn (2015), Trần Văn Tùng và Lý Phát Cường
    (2018), Ngô Thế Chi và Ngô Văn Lượng (2018), Huỳnh Đức Lộng và Tạ Thị Chúc Quân (2018),
    Ma Văn Viên và Trần Văn Long (2019), Trần Trung Tuấn và cộng sự (2020) Cao Thị Huyền

    1036

  5. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    Trang (2020) mức độ nhận thức của nhà quản lý là nhân tố có ảnh hưởng thuận chiều đến việc
    áp dụng KTTN tại các đơn vị.
    Đặc điểm doanh nghiệp
    Nowak (2000) cho rằng tính đặc thù trong hoạt động của doanh nghiệp, sự phức tạp của
    quá trình kinh tế là một trong những yếu tố có ảnh hưởng đến các TTTN. Trong khi đó việc xác
    định các TTTN chính là nội dung quan trọng của KTTN. Nghiên cứu của Venkatrathnam và
    Reddy (2008) cũng đã chỉ ra rằng KTTN có liên quan đến hệ thống kiểm soát của doanh nghiệp
    bởi nó dựa trên những nguyên tắc về ủy quyền, phê chuẩn và xác định trách nhiệm. Tương tự,
    Fowzia (2011) cũng nhấn mạnh rằng KTTN là một công cụ kiểm soát nằm trong hệ thống kiểm
    soát của doanh nghiệp. Vì vậy hệ thống kiểm soát là yếu tố có ảnh hưởng đến KTTN trong
    doanh nghiệp.
    Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tiến và cộng sự (2019), Bùi Thị Xuân Hà (2019) đã chỉ ra
    rằng KTTN trong đơn vị bị ảnh hưởng rất lớn bởi yếu tố đặc điểm doanh nghiệp.
    Ngoài ra, việc tổ chức KTTN trong doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khác
    như môi trường pháp lý (Nguyễn Thị Lan Anh, 2015; Nguyễn Ngọc Tiến và cộng sự, 2019), công
    nghệ thông tin (Ma Văn Viên và Trần Văn Long, 2019), chi phí tổ chức KTTN (Huỳnh Đức Lộng
    và Tạ Thị Chúc Quân, 2018)
    3. Tổng quan nghiên cứu về nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp
    Hiện nay có rất nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu về nội dung KTTN trong
    doanh nghiệp. Với mục tiêu xác định sự phát triển của KTTN theo thời gian trên cơ sở đó làm rõ
    nội dung cũng như những kỹ thuật KTTN sử dụng ở mỗi giai đoạn, tác giả tổng quan các nghiên
    cứu về nội dung KTTN trong doanh nghiệp theo thời kỳ.
    3.1. Nội dung kế toán trách nhiệm từ 1965 trở về trước
    Sự xuất hiện của quá trình công nghiệp hoá đã dẫn đến sự gia tăng về quy mô cũng như
    phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp (Garner, 1947). Vào những năm 1950 và 1960, các hoạt
    động sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đã được đa dạng hóa đáng kể (Zimnicki, 2016), kéo
    theo đó là sự xuất hiện của các Tập đoàn kinh tế lớn. Điều này dẫn đến khối lượng công việc của
    các nhà quản lý cũng tăng theo. Khi đó, người quản lý không thể một mình xử lý được tất cả các
    công việc và rất khó để có thể đưa ra quyết định tối ưu một cách kịp thời. Vì vậy quyền và trách
    nhiệm được giao xuống cho các nhà quản lý cấp dưới ở các trung tâm khác nhau trong tổ chức.
    Sự phân quyền và trách nhiệm đi liền với việc hình thành các bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp,
    lúc này yêu cầu đặt ra đối với nhà quản trị là phải kiểm soát và đánh giá được hoạt động của từng
    cấp quản lý, từng bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp. Điều này dẫn đến sự hình thành của KTTN.
    Diemer (1924) và Weger (1926) cho rằng KTTN được khởi xướng vào những năm 1920, nhưng
    chỉ đến cuối những năm 1950 và đầu những năm 1960 thì KTTN mới phát triển nhanh chóng
    (Scapens và cộng sự, 1984). Trong giai đoạn này, nội dung của KTTN bao gồm:
    – Giao quyền và phân công trách nhiệm trên cơ sở đó thiết lập các trung tâm trách nhiệm
    (TTTN) ( Botham,1924; Higgins, 1952; Vogel, 1962; Kellogg, 1962; Netten, 1963; Gordon, 1963,
    Hansen và Mowen, 2007). Việc phân công trách nhiệm thường có mối liên hệ và được xác định
    dựa vào cấu trúc tổ chức. Còn giao quyền thì căn cứ vào từng hoạt động khi xem xét trên các

    1037

  6. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    khía cạnh như chi phí, thu nhập, chi phí sử dụng vốn, đầu tư tài sản và các tiêu chí khác. Việc
    giao các công việc và trách nhiệm cho người quản lý phải đảm bảo sao cho họ chỉ phải chịu trách
    nhiệm đối với những công việc mà họ có mức độ ảnh hưởng đáng kể hoặc kiểm soát trực tiếp
    (Higgins, 1952). Việc giao trách nhiệm tập trung vào các bộ phận chức năng và các cá nhân trong
    doanh nghiệp. Do vậy, TTTN được xác định thường là một đơn vị/bộ phận trong doanh nghiệp
    như nhà máy, bộ phận hoặc dây chuyền sản xuất. Trách nhiệm được xác định căn cứ trên khía
    cạnh tài chính trong đó chủ yếu liên quan đến chi phí (Kellogg, 1962; Vogel,1962). KTTN giai
    đoạn này vì vậy đặt trọng tâm vào việc tối ưu hoá kết quả tài chính ở cấp đơn vị/bộ phận của
    doanh nghiệp
    – Về thiết lập các chỉ tiêu đo lường thành quả (Shillinglaw,1964; Scapens và cộng sự, 1984;
    Hansen và Mowen, 2007) : Việc đo lường thành quả bộ phận xuất hiện ở những năm 1950 (Ash-
    ton và cộng sự, 1991). Tuy nhiên, ứng dụng của KTTN giai đoạn này là đặt trọng tâm cho việc
    cung cấp thông tin cho nhà quản trị để hỗ trợ cho việc kiểm soát chi phí và kiểm soát quản lý
    nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức (Anthony, 1965). Do vậy, phương pháp chính để kiểm soát
    chi phí, kiểm soát quản lý đó là sử dụng chi phí tiêu chuẩn, đo lường thành quả liên quan đến các
    sai lệch (Scapens và cộng sự, 1984). Hay nói cách khác chi phí tiêu chuẩn và dự toán chi phí là
    cơ sở cho việc đánh giá thành quả. Mặt khác, việc xây dựng dự toán ngân sách được thiết lập cho
    từng bộ phận trong tổ chức (Organizational unit budgets) và là dự toán tĩnh. Do đó các chỉ tiêu
    đo lường thành quả được xây dựng phù hợp với tình trạng hiện tại và có xu hướng tương đối ổn
    định theo thời gian. Do đó KTTN nhấn mạnh vào đo lường thành quả tài chính thông qua khả
    năng đáp ứng hoặc phù hợp với tiêu chuẩn tài chính ổn định ( Hansen và Mowen, 2007).
    – Về đo lường, đánh giá thành quả: Việc đo lường, đánh giá thành quả chỉ dừng lại ở việc
    phân tích chênh lệch chi phí thực hiện so với chi phí tiêu chuẩn (Kwang and Slavin, 1962; Weber,
    1963; Zannetos,1963). Do vậy KTTN nhấn mạnh vào đo lường thành quả tài chính thông qua
    khả năng đáp ứng hoặc phù hợp với tiêu chuẩn tài chính ổn định (Hansen và Mowen, 2007). Về
    nguyên tắc, các cá nhân chỉ chịu trách nhiệm đối với những đối tượng mà họ có quyền kiểm soát.
    – Lập báo cáo kế toán trách nhiệm ( Higgins, 1952; Kellogg, 1962). Các báo cáo được lập
    nhằm mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin tài chính mà trọng tâm là thông tin về chi phí tại
    các cấp trách nhiệm trong nghiệp (Higgins, 1952). Vì vậy KTTN ở giai đoạn này có liên hệ gần
    gũi với kế toán chi phí ( Kellogg và Martin, 1962).
    Như vậy nội dung KTTN trong giai đoạn này gồm: Giao quyền và phân công trách nhiệm
    để thiết lập các TTTN; Thiết lập các chỉ tiêu đo lường và đánh giá thành quả; Lập báo cáo KTTN.
    Trong đó, nội dung trọng tâm của KTTN đó là phân công trách nhiệm và giao quyền (Higgins,
    1952). KTTN thời kỳ này đặt trọng tâm cho việc kiểm soát chi phí và kiểm soát quản lý.
    3.2. Nội dung kế toán trách nhiệm từ 1965 đến 1985
    Trong giai đoạn này, một loạt các kỹ thuật mới đã được phát triển bởi các doanh nghiệp
    Nhật Bản để cạnh tranh tích cực với sự thống trị của các doanh nghiệp nước ngoài như phương
    pháp JIT- Just in time ( Đúng sản phẩm- với đúng số lượng- tại đúng nới- vào đúng thời điểm
    cần thiết); Quản lý chất lượng toàn diện, phương pháp chi phí mục tiêu. Trong khi đó ở Mỹ, các
    nhà quản lý nhận ra rằng quản lý các hoạt động thay vì quản lý chi phí là chìa khóa để kiểm soát
    thành công cho các doanh nghiệp hoạt động trong môi trường cải tiến liên tục. Việc nhận ra rằng

    1038

  7. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    các hoạt động rất quan trọng đối với cả cải thiện và kiểm soát chi phí hiệu quả hơn đã dẫn đến
    một cách nhìn mới về quản lý kinh doanh gọi là quản lý dựa trên hoạt động (Activity-based man-
    agement-ABM). Mô hình quản lý này đã được áp dụng tại các doanh nghiệp đầu tiên của Hoa
    Kỳ là Tập đoàn General Electric (MacCoville, 1993) nhằm cắt giảm chi phí một cách hiệu quả.
    Do đó, kế toán quản trị nói chung và KTTN nói riêng ở giai đoạn này đã có sự liên kết
    nhất định vào quá trình quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là đánh giá các hoạt động không tạo ra
    giá trị gia tăng nhằm mục tiêu cắt giảm sự lãng phí nguồn lực trong hoạt động kinh doanh (IFAC,
    1998). Kết quả là nội dung KTTN ở giai đoạn này có sự khác biệt so với giai đoạn trước, cụ thể:
    – Về phân quyền và giao trách nhiệm: KTTN giao trách nhiệm cho các quy trình. Việc giao
    trách nhiệm tập trung vào các quy trình và các nhóm trong doanh nghiệp. Có thể thấy rằng, nếu
    như KTTN giai đoạn trước đặt trọng tâm vào việc tối ưu hoá kết quả tài chính ở cấp đơn vị/bộ
    phận của doanh nghiệp (local) thì KTTN giai đoạn này vì vậy đặt trọng tâm vào việc tối ưu hoá
    kết quả tài chính của toàn bộ hệ thống (Systemwide) đó là toàn bộ các quy trình và các nhóm
    (processes and teams) ( Hansen và Mowen, 2007).
    – Về thiết lập các chỉ tiêu đo lường thành quả: Vào thời điểm này, phương pháp truyền
    thống để tính toán các chênh lệch căn cứ vào chi phí tiêu chuẩn ở các TTTN trở nên không phù
    hợp vì không cung cấp được những thông tin thích hợp cho các nhà quản trị trong việc ra quyết
    định (Scapens và cộng sự, 1984). Theo đó, các nhà quản trị đứng đầu mỗi TTTN phải tham gia
    xây dựng dự toán ở bộ phận mình đảm trách (Belkaoui, 1981). Mặt khác các tiêu chuẩn đo lường
    thành quả được xây dựng phải là các tiêu chuẩn động (dynamic standards)- các tiêu chuẩn được
    thiết lập phản ánh một số mức độ cải thiện mong muốn cho một quy trình để phù hợp với các
    thay đổi của quy trình cải tiến liên tục ( Hansen và Mowen, 2007). Hay nói cách khác, KTTN sử
    dụng kỹ thuật lập dự toán linh hoạt thay vì lập dự toán tĩnh trong giai đoạn trước nhằm đáp ứng
    yêu cầu quản lý.
    – Về đo lường thành quả: Ở giai đoạn này, nhu cầu thông tin phục vụ cho việc kiểm soát
    quản lý ngày càng tăng, các nhà quản lý cần đánh giá được chính xác thành quả của các bộ phận
    hay các TTTN (Solomons, 1968). Để phục vụ cho việc đánh giá thành quả ở các TTTN chính
    xác, trong giai đoạn này, KTTN không những phải xác định chi phí kiểm soát được và không
    kiểm soát được mà còn phải xác định cả đối với doanh thu, lợi nhuận và đầu tư kiểm soát được
    và không kiểm soát được (Bhandari và Kaur, 2018). Khi đó, việc đánh giá thành quả ở các TTTN
    sẽ dựa trên những yếu tố thuộc quyền kiểm soát của họ (Baiman, 1982). Bên cạnh đó, nhằm đáp
    ứng yêu cầu quản lý mới, KTTN sử dụng phương pháp kế toán chi phí dựa trên hoạt động (ABC)
    để phân bổ chi phí, thu nhập một cách chính xác, đúng đắn qua đó cung cấp thông tin chính xác
    hơn trong đo lường và đánh giá cho các nhà quản trị, giúp họ đưa ra các quyết định đúng đắn,
    phù hợp hơn ( Trần Trung Tuấn, 2015). Mặt khác, các chỉ tiêu đo lường thành quả trong giai
    đoạn này sử dụng cả chỉ số tài chính và phi tài chính để đo lường thành quả của các TTTN (Otley,
    1999; Hansen và Mowen, 2005).
    – Lập báo cáo kế toán trách nhiệm: Vào những năm 1970, khi Mỹ và các doanh nghiệp
    ở Châu Âu đang chịu áp lực mạnh mẽ từ các nhà sản xuất Nhật Bản, buộc các doanh nghiệp
    này phải chú trọng trong việc phát triển công cụ kế toán quản trị mới. Những công cụ này bao
    gồm các hệ thống báo cáo về chất lượng, dịch vụ, khách hàng và năng suất lao động chứ không

    1039

  8. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    phải là tóm lược tài chính đơn giản về hiệu quả của từng bộ phận trong tổ chức. Do vậy thông
    tin trên các báo cáo trách nhiệm được lập phải cung cấp được cả thông tin tài chính và thông
    tin phi tài chính
    3.3. Nội dung kế toán trách nhiệm từ 1985 đến nay
    Trong khoảng thời gian từ năm 2000-2005 diễn ra hàng loạt các vụ phá sản của các tập
    đoàn kinh tế lớn như vụ phá sản của tập đoàn năng lượng Enron cùng sự sụp đổ của công ty kiểm
    toán hàng đầu thế giới Arthur Andersen năm 2002 đã làm rúng động thị trường chứng khoán thế
    giới. Tiếp sau sự sụp đổ của Arthur Andersen là hàng loạt các vụ bê bối khác đã được phát hiện
    như vụ gian lận của Health South năm 2003, vụ phá sản của công ty viễn thông Worldcom năm
    2005…Sau đó không lâu là giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu nổ ra vào những năm 2007-
    2008, bắt đầu ở Mỹ…Các vụ việc trên buộc các nhà quản lý phải đánh giá và xem xét lại các
    công cụ quản lý của mình, trong đó có liên quan đến quản trị nội bộ và KTTN. Đặc biệt trong
    những năm gần đây, hoạt động của các doanh nghiệp có sự thay đổi rất lớn do toàn cầu hóa (Su-
    laiman và cộng sự, 2008), cạnh tranh khốc liệt (Kariyawasam, 2009), công nghệ thông tin (Talha
    và cộng sự, 2010) …Hơn nữa, những tiến bộ trong công nghệ sản xuất bao gồm các công nghệ
    sản xuất tiên tiến, hoạt động sản xuất kinh doanh với sự hỗ trợ của máy tính cũng mang lại những
    tác động đáng kể đối với các doanh nghiệp (Cooper và Dart 2009).
    Nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp trong môi trường cạnh
    tranh ngày càng khốc liệt, KTTN giai đoạn này gắn liền với định hướng chiến lược và tầm nhìn
    tổng thể của doanh nghiệp (Hansen và Mowen, 2005). KTTN ban đầu có 4 yếu tố (Hansen và
    Mowen, 2007) được phát triển thành 7 yếu tố (Gharayba và đồng nghiệp,2011; Hanini (2013)
    bao gồm:
    – Phân chia cấu trúc tổ chức thành các TTTN khác nhau dựa vào những đặc điểm cụ thể
    của từng doanh nghiệp;
    – Phân quyền cho các nhà quản lý ở các TTTN với quyền hạn rõ ràng và họ phải chịu
    trách nhiệm về thành quả của trung tâm mình. Nhà quản trị cần được ủy quyền phù hợp với
    các hoạt động ở TTTN mà họ đảm trách để đưa ra các quyết định phù hợp nhằm đạt được kết
    quả theo kế hoạch;
    – Phân bổ chi phí và doanh thu cho các TTTN theo khả năng và quyền hạn của trung tâm
    đó. Vì vậy, KTTN sẽ xác định và tính toán chi phí trực tiếp, doanh thu trực tiếp, chi phí gián tiếp,
    doanh thu gián tiếp và giá chuyển nhượng nội bộ giữa các TTTN một cách phù hợp và chính xác
    để xác định trách nhiệm rõ ràng;
    – Liên kết giữa dự toán với thành quả thực tế tại các TTTN. KTTN khuyến khích tất cả
    nhân viên của mỗi trung tâm tham gia vào xây dựng dự toán để đảm bảo tính phù hợp, khả thi
    nhằm có thể đạt được các mục tiêu chung của doanh nghiệp;
    – Kiểm soát và đo lường thành quả thông qua việc so sánh giữa dự toán với kết quả thực tế
    của từng TTTN. Phương pháp đo lường thành quả đã được bổ sung thêm phương pháp đo lường
    thành quả hiện đại bên cạnh phương pháp đo lường thành quả truyền thống như phương pháp thẻ
    điểm cân bằng (BSC) (Trần Trung Tuấn, 2015), Ma trận đo lường hiệu suất (The Performance
    Measurement Matrix), Kỹ thuật báo cáo và phân tích đo lường chiến lược (SMART- Strategic

    1040

  9. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    Measurement Analysis and Reporting Technique- còn gọi là Kim tự tháp hiệu suất SMART), Ma
    trận nhân tố ảnh hưởng và kết quả (R&DM- Results and Determinants Matrix), Mô hình Đầu
    vào- Quy trình- Đầu ra- Kết quả (The input- process- output- outcome framework) (Lương Thị
    Thanh Việt, 2018).
    – Lập báo cáo kế toán trách nhiệm. KTTN phải chuẩn bị báo cáo để phân tích sự khác biệt
    giữa kết quả thực tế với các ước tính để xác định ai sẽ chịu trách nhiệm cho sự khác biệt. Tất cả
    các nhà quản trị phải phân tích lý do cho sự khác biệt giữa kết quả thực tế đạt được và ước tính
    được thực hiện. Báo cáo kế toán được phân loại theo các cấp trách nhiệm khác nhau;
    – Thiết lập hệ thống khen thưởng. Việc thiết lập hệ thống khen thưởng phải có mối quan hệ
    chặt chẽ với kết quả ước tính ở TTTN nhằm hạn chế sự chênh lệch không mong muốn và thúc
    đẩy sự khác biệt tốt, đồng thời xác định ai chịu trách nhiệm cho sự khác biệt để khuyến khích
    nhân viên cải thiện kết quả của họ và đóng góp vào thành công chung của toàn doanh nghiệp.
    Có thể khái quát nội dung KTTN qua các giai đoạn phát triển của KTTN, nội dung mỗi
    giai đoạn chứa đựng giai đoạn trước và có sự khác biệt như thế nào qua hình 1 như sau:

    Nguồn: Tác giả tổng hợp

    Hình 1: Nội dung kế toán trách nhiệm qua các giai đoạn

    4. Kết quả nghiên cứu
    Qua tổng quan nghiên cứu về nội dung KTTN có thể thấy rằng, cho đến nay, nội dung
    KTTN bao gồm một số vấn đề cơ bản như sau:
    – Phân chia đơn vị thành các TTTN: TTTN là một bộ phận hoặc một chức năng mà những

    1041

  10. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    thành quả của nó được chịu trách nhiệm trực tiếp bởi một nhà quản trị cụ thể (ACCA, 2010).
    Neal (2004) cho rằng, mỗi TTTN nên đặt dưới quyền kiểm soát của ít nhất một nhà quản lý. Tiêu
    chí quan trọng để thiết lập một TTTN là bộ phận của tổ chức phải có thể tách rời và nhận dạng
    được cho các mục đích hoạt động và có thể đo lường được thành quả của nó (Bhandari và Kaur,
    2018). Việc xác định các loại TTTN phụ thuộc vào quy mô của doanh nghiệp. Trong đó, quy mô
    của doanh nghiệp không chỉ căn cứ vào mức độ doanh thu, giá trị tài sản, mà quy mô của doanh
    nghiệp nên được nhìn nhận từ quan điểm của hệ thống quản lý theo chức năng (Zimnicki, 2015).
    Ngoài quy mô của doanh nghiệp, các loại TTTN bị ảnh hưởng bởi các nhân tố khác như phạm vi
    và tính đặc thù trong hoạt động của doanh nghiệp, sự phức tạp của quá trình kinh tế và khả năng
    xác định phạm vi về quyền hạn và trách nhiệm (Nowak, 2000). Theo quan điểm của kế toán quản
    trị, dưới góc độ của KTTN trong phạm vi trách nhiệm, phạm vi về phân cấp quản lý (hoặc chịu
    trách nhiệm về chi phí, hoặc chịu trách nhiệm về doanh thu, hoặc chịu trách nhiệm đồng thời cả
    về chi phí về doanh thu hoặc chịu trách nhiệm trong dài hạn liên quan đến đầu tư) thì TTTN bao
    gồm 4 loại: trung tâm chi phí, trung tâm doanh thu, trung tâm lợi nhuận và trung tâm đầu tư (Ha-
    nini, 2013; Zimnicki, 2015).
    – Phân quyền và giao trách nhiệm cho các nhà quản lý ở các TTTN: Phân công trách
    nhiệm và giao quyền là một trong những nội dung trọng tâm của KTTN (Higgins, 1952). Trong
    đó, việc phân công trách nhiệm thường có mối liên hệ và được xác định dựa vào cấu trúc tổ chức
    còn việc giao quyền thì căn cứ vào từng hoạt động khi xem xét trên các khía cạnh như chi phí,
    thu nhập, chi phí sử dụng vốn, đầu tư tài sản và các tiêu chí khác. Do vậy, sau khi đã thiết lập
    được các TTTN, các nhà quản trị cấp trên trong doanh nghiệp cần thực hiện uỷ quyền cho nhà
    quản trị cấp dưới ở các TTTN với quyền lực rõ ràng để quản lý và nhà quản trị ở mỗi TTTN phải
    chịu trách nhiệm về kết quả cũng như hiệu quả thực hiện ở trung tâm của mình. Các nhà quản trị
    nên được uỷ quyền với quyền lực phù hợp với bản chất của các hoạt động tại các TTTN và phù
    hợp với trách nhiệm cần thiết để đưa ra các quyết định liên quan đến trách nhiệm của các trung
    tâm và trách nhiệm trong quản trị đối với kết quả và thành quả cuối cùng của TTTN do nhà quản
    trị chịu trách nhiệm quản lý
    – Lập dự toán: Bước tiếp theo sau khi đã phân chia trách nhiệm tức đã giao quyền và nghĩa
    vụ cho các TTTN, để các trung tâm này thực thi các nhiệm vụ được giao thì mỗi mỗi trung đó
    phải tự cân đối các nguồn lực của mình. Việc cân đối các nguồn lực đó chính là việc lập dự toán.
    Do vậy các nhà quản trị ở từng TTTN phải có trách nhiệm lập dự toán. Sau khi dự toán đã được
    phê duyệt thì bản dự toán chính là cơ sở để cấp trên phân bổ nguồn lực, đồng thời cũng là căn cứ
    để cấp dưới thực thi các nhiệm vụ của mình để đạt được các mục tiêu đề ra. Chẳng hạn với trung
    tâm chi phí thực hiện lập các dự toán như dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi
    phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất chung…Với trung tâm doanh thu lập dự toán về
    sản lượng tiêu thụ, dự toán doanh thu bán hàng…
    – Tổ chức thực hiện: Thông tin thực hiện do KTTN cung cấp nhấn mạnh đến trách nhiệm
    của các nhà quản lý thuộc các cấp quản lý, trong đó tập trung vào cấp quản trị cấp thấp như các
    tổ, đội, phân xưởng sản xuất hay bộ phận quản lý- nơi trực tiếp phát sinh các chi phí nhằm gắn
    trách nhiệm của các nhà quản trị với các chỉ tiêu phát sinh thông qua hình thức thông tin thực
    hiện được cung cấp theo các TTTN (Nguyễn Thị Hồng Vân, 2018). Để thu thập các thông tin
    thực hiện ở các TTTN, KTTN vận dụng các phương pháp kế toán nói chung như phương pháp

    1042

  11. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá và tổng hợp cân đối (Chanko, 1967);
    Vos và O’Connell, 1968; Nguyễn Thị Minh Phương, 2013; Lương Thị Thanh Việt, 2018; Trần
    Thị Hồng Mai và cộng sự, 2020) và các phương pháp kỹ thuật của kế toán quản trị phù hợp với
    từng trung tâm (Trần Thị Hồng Mai và cộng sự, 2020). Chẳng hạn để thu thập thông tin thực
    hiện của trung tâm chi phí, KTTN căn cứ vào các chứng từ liên quan như phiếu xuất kho nguyên
    vật liệu, công cụ dụng cụ, Bảng tính lương và các khoản trích theo lương, Bảng tính và phân bổ
    khấu hao tài sản cố định…
    – Đánh giá thành quả ở các TTTN: Sau mỗi kỳ hoạt động, KTTN sẽ xác định các chỉ tiêu
    đánh giá trách nhiệm của các trung tâm này nhằm xác định nguyên nhân và đề xuất giải pháp
    nhằm hỗ trợ cho các nhà quản trị ra quyết định (Lương Thị Thanh Việt, 2018). Để đánh giá TTTN
    quản lý, hệ thống chỉ tiêu của doanh nghiệp phải bao gồm các chỉ tiêu giao nhiệm vụ (chỉ tiêu dự
    toán đầu kỳ), chỉ tiêu phản ánh kết quả thực hiện nhiệm vụ (chỉ tiêu kỳ thực hiện) và chỉ tiêu
    đánh giá các TTTN quản lý đó đồng thời trong các nhóm chỉ tiêu này phải được xác định rõ là
    chỉ tiêu tài chính hay phi tài chính (Lương Thị Thanh Việt, 2018). Khi đó, KTTN sẽ đánh giá
    thành quả đạt được cũng như giá trách nhiệm của các nhà quản trị tại các TTTN bằng cách lấy
    kết quả thực hiện của các TTTN, so sánh đối chiếu với số liệu dự toán ban đầu trên cả hai mặt
    hiệu quả và hiệu năng. Trong đó, các chỉ tiêu dự toán, thực hiện cũng như đánh giá TTTN quản
    lý phải gắn với nhiệm vụ mà doanh nghiệp đã giao cho các TTTN quản lý tương ứng (Đoàn Ngọc
    Quế và cộng sự, 2011). Chẳng hạn việc đánh giá thành quả đối với trung tâm chi phí được thực
    hiện bằng cách so sánh chi phí thực hiện với chi phí dự toán, sau đó tiến hành xác định nguyên
    nhân chênh lệch giữa chi phí thực hiện với chi phí dự toán. Trên cơ sở đó xác định nguyên nhân
    và đề xuất giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp.
    5. Kết luận
    KTTN đã được phát triển từ mới đầu chỉ tập trung vào cung cấp thông tin chi chí, trong đó
    ban đầu chỉ là chi phí kiểm soát được (Higgins, 1952; Kellog 1962; Ferrara, 1964) sau đó mở
    rộng sang cả chi phí không kiểm soát được (Fowzia, 2011; Anstine và Scott, 1980; Callen và
    Livnat, 1989). Tiếp theo đó là KTTN liên quan đến cả doanh thu, rồi tiếp đến cả kết quả (lợi
    nhuận), và đầu tư. Tức là nội dung KTTN gia tăng theo mức độ phân cấp trách nhiệm cũng như
    trình độ phân cấp quản lý ngày càng cao của đơn vị kế toán. Từ ban đầu thông tin KTTN chỉ
    thuần tuý là thông tin tài chính sau đó phát triển bao gồm cả thông tin phi tài chính. Nội dung
    KTTN ở mỗi giai đoạn đều có những đặc trưng riêng, KTTN ở giai đoạn sau vừa có tính kế thừa,
    vừa có tính phát triển nhằm phù hợp với yêu cầu quản lý ở từng bối cảnh. Cho đến nay nội dung
    KTTN bao gồm 5 vấn đề cơ bản như sau: (1) Phân chia đơn vị thành các TTTN; (2) Phân quyền
    và giao trách nhiệm cho các nhà quản lý ở các TTTN; (3) Lập dự toán; (4) Tổ chức thực hiện và
    (5) Đánh giá thành quả ở các TTTN.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    Tiếng Việt
    1. Lương Thị Thanh Việt “Xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá trung tâm trách nhiệm
    quản lý trong các doanh nghiệp thuộc ngành sản xuất Cao su Việt Nam”, Luận án tiến sỹ đại học
    Kinh tế Quốc dân, 2018

    1043

  12. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    2. PGS.TS.Trần Thị Hồng Mai, TS.Đặng Thị Hoà, “Giáo trình kế toán quản trị doanh
    nghiệp”, Nhà xuất bản Thống kê, 2020
    3. Ngô Thế Chi (2018), “Kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp”, Hội thảo quốc tế
    về Phát triển kinh tế bền vững và quản lý kinh doanh trong bối cảnh toàn cầu hóa, Học viện Tài
    chính, tr. 793-802.
    4. Nguyễn Hữu Phú (2014), Tổ chức kế toán trách nhiệm trong các Tổng công ty xây dựng
    thuộc Bộ Giao thông vận tải, Luận án tiến sĩ, đại học Kinh tế Quốc dân
    5. Nguyễn Thị Bích Liên, Th.S Nguyễn Thị Mai Hiên (2017), “Ứng dụng kế toán trách
    nhiệm trong hoạt động của doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, số tháng 3/2017, truy
    cập ngày 20 tháng 7 năm 2017, .
    6. Nguyễn Thị Hồng Vân (2018), Kế toán trách nhiệm tại công ty trách nhiệm hữu hạn
    một thành viên điện tử Sao Mai, Luận văn thạc sĩ kinh tế, đại học Thương Mại.
    7. Nguyễn Thị Minh Phương, Nguyễn Hoàn, “Phương hướng ứng dụng kế toán trách nhiệm
    cho các doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chi kinh tế và phát triển số 194 (II) tháng 8 năm 2013, tr.
    75-81.
    8. Nguyễn Thị Minh Phương (2013), Xây dựng mô hình kế toán trách nhiệm trong các
    doanh nghiệp sản xuất sữa Việt Nam, Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường đại học Kinh tế Quốc dân.
    9. Nguyễn Thị Quý (2016), “Kế toán trách nhiệm tại tổng công ty cổ phần bảo hiểm quân
    đội”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Lao động – xã hội
    10. Nguyễn Linh Giang (2012), Tổ chức kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp ở
    Việt Nam, luận văn thạc sĩ kinh tế, trường cao đẳng công nghệ thông tin- Đại học Đà Nẵng
    11. Trần Trung Tuấn “ Kế toán trách nhiệm trong các doanh nghiệp sản xuất xi măng Việt
    Nam”, Luận án tiến sỹ, đại học Kinh tế Quốc dân, 2015
    Tiếng Anh
    12. Ahmed Belkaoui (1981), “The Relationship between self – disclosure Style and Attitude
    to Responsibility Accounting” ,Organization and Society
    13. Amanjeet Singh Bhandari , Satinder Jeet Kaur (2018), “Responsibility Accounting –
    An innovative technique of accounting system”, International Journal of Management, Technology
    And Engineering
    14. Chima, C. Christian Ph.D & Obiah, Mmadubuike Emmanuel (2018), “Internal Control
    and Responsibility Accounting in Corporate Governance of Nigerian Organizations”, Journal of
    Accounting and Financial Management Vol. 4 No. 8
    15. Don R. Hansen & Maryanne M.Mowen (2007), Managerial accounting, 8th Editon,
    Thomson South-Western Corporation
    16. Eman Al Hanini (2013), “The Extent of Implementing Responsibility Accounting Fea-
    tures in the Jordanian Banks”, European Journal of Business and Management, Vol.5, No.1, 2013

    1044

  13. INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020
    ICYREB 2020

    17. Ismara Arum Sari, Mekar Meilisa Amalia (2018), “The Effect of Responsibility Ac-
    counting and Strategy Implementation on Organizational Performance”, Sustainable Business
    Accounting and Management Review, Volume 1 No 1 June 2019
    18. Iffat Mahmud (2018), “Revisiting responsibility accounting: What are the relationships
    among responsibility centers”, Global Journal of Accounting and Finance, Volume 2, Number 1.
    19. Owino P, Munene J.C, Ntayi J.M (2016) “Does responsibility accounting in public uni-
    versities matter?”, Cogent Business & Management.
    20. Zimnicki, T. (2016). Responsibility accounting inspiration for segment reporting.
    Copernican Journal of Finance & Accounting, 5(2), 219–232.
    21. Rani R, Rani M (2015), “The role of responsibility accounting in organizational struc-
    ture” , international journal of science, technology and management.
    22. Tanmay Biswas (2017), “Responsibility accounting: A review of related literature”,
    International Journal of Multidisciplinary Research and Development, Volume 4; Issue 8; August
    2017; Page No. 202-20.
    23. Yan Zhang, Yulin Xia (2017), “The Preliminary Study Of The New Responsibility Ac-
    counting”, Advances in Social Science, Education and Humanities Research, volume 123.

    1045

Download tài liệu Nghiên cứu về sự thay đổi nội dung kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp File Word, PDF về máy