[Download] Tải Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam – Tải về File Word, PDF

Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam

Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam
Nội dung Text: Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam

Download


Mục tiêu của bài viết nhằm nghiên cứu về các nhân tố có tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm chi tiết hơn nội dung nghiên cứu.

Bạn đang xem: [Download] Tải Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam File Word, PDF về máy

Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam

  1. Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143 127

    Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích
    hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán của các đơn vị hành
    chính sự nghiệp ở Việt Nam
    Study on factors affecting accrual accounting application towards
    the transparency of accounting information of administrative units
    in Vietnam
    Lâm Thị Mỹ Yến1*, Phạm Đăng Tuấn2
    1
    Trường Đại học Tài chính – Kế toán, Việt Nam
    2
    BIDV Chi nhánh Sài Gòn, Việt Nam
    *
    Tác giả liên hệ, Email: lamyen89@gmail.com

    THÔNG TIN TÓM TẮT

    DOI:10.46223/HCMCOUJS. Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu về các nhân tố có tác động
    econ.vi.15.3.591.2020 đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch thông
    tin kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam. Đề
    tài sử dụng các phương pháp như phương pháp phân tích nhân tố
    khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), phân tích
    mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) và kiểm định ước lượng mô
    hình bằng Boostrap. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 nhân tố có
    Ngày nhận: 29/07/2020 tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh
    Ngày nhận lại: 28/08/2020 bạch của thông tin kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ở
    Việt Nam bao gồm thể chế chính trị, năng lực nhân viên kế toán
    Duyệt đăng: 01/09/2020 và vai trò lãnh đạo của nhà quản lý. Từ kết quả nghiên cứu, nhóm
    tác giả đưa ra một số hàm ý chính sách nhằm giúp các đơn vị khu
    vực công thúc đẩy quá trình cải cách kế toán theo cơ sở dồn tích
    hướng đến tính minh bạch của thông tin kế toán hiệu quả hơn, và
    giúp cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định đúng đắn về công
    tác quản lý nhằm nâng cao hiệu suất hoạt động của tổ chức.
    Từ khóa: ABSTRACT
    kế toán dồn tích, cơ sở dồn tích By qualitative and quantitative methods, the paper proves
    đơn vị hành chính sự nghiệp, that Hue is not only one of the pioneering localities, but also
    minh bạch thông tin kế toán invested to become Vietnam’s one of the first completely smart
    cities in the context of the Industrial Revolution 4.0. Hue’s model
    of smart city is not solely based on modernly technical
    achievements and technological advantages, but also a heritage
    city with a diverse cultural background deeply imbued with
    national identity as well as a system of historical relics and
    traditional values recognized by the whole world among the most
    Keywords: in Vietnam aside from a green-clean-beautiful city that not all
    accrual accounting, accrual basis,
    cities are able to have. Those inherent potential and available
    administrative and non-business advantages are the basis for Hue to develop into a key smart
    units, transparence of accounting heritage city in the Central Region according to the model of
    information green growth and sustainable development in the coming time.

  2. 128 Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143

    1. Giới thiệu
    Theo các nghiên cứu của Ouda (2004) và Broadbent và Guthrie (2008), cải cách tài chính
    được thực hiện trong các hệ thống kế toán chính phủ chính là cải cách kế toán theo cơ sở dồn tích
    nhằm tạo ra nhiều thông tin chất lượng và minh bạch hơn, điều này được giải thích các đơn vị áp
    dụng kế toán dồn tích sẽ bao hàm việc áp dụng ngân sách dồn tích có liên quan, kết hợp đầy đủ
    các nghĩa vụ về nợ công và sự bảo lãnh của chính phủ, bao gồm cả nợ lương hưu. Một thực tế cho
    thấy rằng hiện nay ở hầu hết các tổ chức kế toán công, các khoản nợ này không được xử lý như là
    một phần của việc chi tiêu ngân sách dẫn đến việc che giấu các khoản nợ có khả năng ngăn chặn
    ở hiện tại đồng nghĩa với việc che giấu thâm hụt ngân sách trong tương lai, ngoài ra khi áp dụng
    kế toán dồn tích thì các khoản thu thuế sẽ được hạch toán đầy đủ, điều này làm cho ngân sách và
    thông tin kế toán đáng tin cậy và có tính minh bạch cao hơn (Ouda, 2007). Do đó, hiện nay có rất
    nhiều các quốc gia đã áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích trong lĩnh vực công thông qua việc vận
    dụng chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS); tuy nhiên, việc áp dụng kế toán dồn tích không
    phải là quá trình thống nhất. Cụ thể như khảo sát của Christiaens, Reyniers, và Rolle (2010) cho
    thấy một số ít quốc gia của EU vẫn sử dụng kế toán tiền mặt (như Hy Lạp và một số khu vực ở
    Đức) trong khi các quốc gia khác thì áp dụng IPSAS theo cơ sở dồn tích như Pháp, Thụy Điển,
    Thụy Sỹ, Vương Quốc Anh. Hay các nước Nam Á cũng bước đầu áp dụng IPSAS dựa trên tiền
    mặt như một bước để tiến dần đến hội tụ với kế toán dồn tích theo IPSAS (Adhikari & Mellemvik,
    2010). Ngoài ra, cũng có các như Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Đan Mạch và Phần Lan mặc dù đã
    thực hiện kế toán dồn tích trong chính phủ nhưng họ lại không có ý định thực hiện theo IPSAS
    (Cardoso, Aquino, & Pigatto, 2014).
    Hiện nay, Việt Nam đã gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực như WTO,
    UNESCO, APEC, …Điều này đòi hỏi thông tin mà các đơn vị cung cấp phải được quốc tế thừa
    nhận, có tính chuẩn mực và có thể so sánh được; do đó, các đơn vị công ở Việt Nam đang dần
    chuyển sang kế toán dồn tích đầy đủ theo hướng vận dụng IPSAS. Xuất phát từ thực tiễn này, các
    nghiên cứu ở Việt Nam đều liên quan đến sự cần thiết phải thực hiện cải cách kế toán theo cơ sở
    dồn tích trong các tổ chức công lập như các nghiên cứu của Huynh (2014); Bui (2014),…và các
    nhân tố tác động đến quá trình cải cách kế toán theo cơ sở dồn tích (Cao, 2016; H. T. T. Nguyen,
    2015; …), tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức độ nhận diện các nhân tố tác động mà
    chưa đi sâu vào phân tích cũng như đưa ra các giải pháp cụ thể để giải quyết các nhân tố này nhằm
    giúp các đơn vị thực hiện cải cách kế toán một cách dễ dàng và hiệu quả hơn.
    Từ những lý do trên, để giúp các nhà nghiên cứu hoàn thiện mô hình cải cách kế toán theo
    cơ sở dồn tích và các nhà quản lý có thể kiểm soát được các rủi ro có thể xảy ra trong quá trình
    này, đề tài nghiên cứu về các nhân tố và mức độ tác động của chúng đến việc áp dụng kế toán dồn
    tích hướng đến tính minh bạch của thông tin kế toán tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt
    Nam. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm cung cấp thêm các bằng
    chứng thực nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu, kết quả của nghiên cứu này có thể dùng làm tài liệu
    tham khảo cho các đơn vị thuộc khu vực công ở Việt Nam trong việc đề xuất các giải pháp để tăng
    hiệu quả thực hiện kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch của thông tin kế toán.
    2. Cơ sở lý thuyết
    2.1. Các khái niệm có liên quan
    2.1.1. Khái niệm về kế toán dồn tích
    Khan và Mayes (2009) và Bellanca, Cultrera, và Vermeylen (2015) định nghĩa kế toán dồn
    tích là phương pháp ghi chép trong đó các giao dịch được ghi nhận khi giao dịch kinh tế xảy ra mà
    không liên quan đến thu chi tiền, nghiên cứu của Khan và Mayes (2009) cho rằng kế toán dồn tích

  3. Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143 129

    trong lĩnh vực công có nghĩa là một hình thức ghi chép và lập báo cáo tài chính dựa trên dồn tích
    để cung cấp cho chính phủ. Hay theo IPSAS, kế toán dồn tích được định nghĩa là một cơ sở ghi
    chép, phản ánh thông tin của kế toán, trong đó kế toán sẽ ghi nhận doanh thu khi hàng hóa và dịch
    vụ đã được chuyển quyền sở hữu cho khách hàng, ghi nhận là một khoản chi phí của đơn vị khi
    nguồn lực của đơn vị đã được sử dụng. Báo cáo tài chính được lập trên cơ sở dồn tích giúp cho
    người sử dụng thông tin có thể đánh giá được mức độ sử dụng nguồn lực, đánh giá hiệu quả của
    quá trình thực hiện công việc cùng với tình hình tài chính của đơn vị giúp cho việc lập kế hoạch,
    quản lý tài chính và ra quyết định trong chính phủ để chính sách công trở nên hiệu quả hơn
    (Bellanca et al., 2015).
    2.1.2. Khái niệm về tính minh bạch của thông tin
    Khái niệm của tính minh bạch là mức độ công khai mà một tổ chức cho phép các tác nhân
    bên ngoài giám sát và đánh giá hoạt động nội bộ cũng như hiệu suất làm việc của họ
    (Grimmelikhuijsen & Meijer, 2014). Trong kế toán, tính minh bạch của thông tin đáp ứng ngưỡng
    chất lượng và số lượng công bố để đảm bảo rằng tất cả các sự kiện quan trọng diễn ra bên trong tổ
    chức đều được nhìn thấy rõ từ các đối tượng bên ngoài (Heald & Hood, 2006). Ở góc độ này, có
    thể nói rằng khái niệm về tính minh bạch có liên quan mật thiết đến một khái niệm đó là tính mở
    (openess) (Pham, 2017) hay đây chính là sự rõ ràng trong truyền thông.
    2.2. Giả thuyết nghiên cứu
     Thể chế chính trị
    Một số nghiên cứu thực nghiệm về kinh nghiệm của một số nước đang phát triển trên thế
    giới, các yếu tố về kỹ thuật và thể chế có khả năng cản trở những nỗ lực của chính phủ trong việc
    cải cách kế toán khu vực công để nâng cao hiệu quả (Samaratunge & Bennington, 2002) hay nói
    cách khác quá trình cải cách kế toán bị chi phối bởi thể chế chính trị của đất nước. Cụ thể, từ quan
    điểm thể chế trong nghiên cứu của Harun và Kamase (2012) việc áp dụng hệ thống kế toán mới theo
    cơ sở dồn tích ở Indonesia được thể hiện bằng sự cưỡng chế của các tổ chức chính quyền địa phương
    và các đơn vị có nghĩa vụ tuân thủ các quy tắc kế toán do chính quyền trung ương ban hành, điều
    này khác với quá trình cải cách kế toán khu vực công ở New South Wales, Australia – nơi các nhà
    tư vấn kế toán và các quan chức chính quyền địa phương đóng vai trò chủ đạo trong việc khuếch tán
    các ý tưởng áp dụng tích lũy tài chính (Christensen, 2001). Ngoài ra, trong một nghiên cứu khác của
    Ouda (2004) khi thực hiện ở các nước đang phát triển, tác giả đã nhận định việc thiếu cam kết chính
    trị, thiếu sự lãnh đạo của Bộ tài chính trong việc cải cách kế toán sẽ ảnh hưởng lớn đến sự thành
    công của việc chuyển đổi kế toán sang dồn tích.
    H1: Thể chế chính trị có tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích
     Năng lực của nhân viên kế toán
    Kế toán là người tham gia trực tiếp vào quá trình cải cách và là người vận hành hệ thống
    thông tin kế toán để sản xuất ra thông tin, nếu nguồn nhân lực không đủ trình độ, phẩm chất và
    năng lực phụ trách kế toán, kết quả chắc chắn là thông tin kế toán sẽ kém chất lượng (Okpala,
    2012). Ouda (2004) cũng nhận định rằng các nước đang phát triển sẽ gặp nhiều khó khăn trong
    việc thực hiện kế toán dồn tích trong lĩnh vực công hơn là các nước phát triển bởi vì một trong
    những đặc điểm các nước đang phát triển chính là thiếu nhân sự có trình độ chuyên môn, đặc biệt
    là nhân viên kế toán. Để giải thích cho vấn đề này, một số nghiên cứu chỉ ra rằng khi trình độ học
    vấn đạt ở mức cao hơn, các nhân viên của tổ chức sẽ đánh giá cao tính hữu dụng và có khả năng
    sử dụng các kỹ thuật kế toán mới hơn và do đó thúc đẩy việc thực hiện kế toán dồn tích ở khu vực
    công cũng như tạo ra được thông tin chất lượng, minh bạch hơn (Venieris, Cohen, & Sykianakis,
    2003).

  4. 130 Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143

    H2: Năng lực của nhân viên kế toán có tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích
     Vai trò lãnh đạo của nhà quản lý
    Nhà quản lý là người lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và giám sát toàn bộ các hoạt động của
    nhân viên trong tổ chức (Hart & Tummers, 2014) và yếu tố lãnh đạo của tổ chức có ảnh hưởng rất
    lớn đến hiệu quả làm việc của nhân viên (Tummers & Knies, 2016). Do đó, hiệu quả của quá trình
    hoạt động của tổ chức phụ thuộc một phần vào sự lãnh đạo của nhà quản lý vì họ là người đóng
    một vai trò rất quan trọng đối với tổ chức nói chung và quá trình cải cách kế toán diễn ra bên trong
    tổ chức nói riêng (Van der Voet, Kuipers, & Groeneveld, 2015) và những cải cách kế toán mới
    còn đòi hỏi kỹ năng và thái độ trong một phần của cả nhà quản lý (Samaratunge & Bennington,
    2002). Từ những phân tích từ lý thuyết đến thực tiễn cho thấy vai trò lãnh đạo của nhà quản lý có
    ảnh hưởng đến áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích.
    H3: Vai trò lãnh đạo của nhà quản có tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích
     Kế toán dồn tích và tính minh bạch thông tin kế toán
    Các nghiên cứu trước đây cho thấy rằng rằng công cuộc cải cách kế toán theo cơ sở dồn
    tích đều hướng đến việc cải thiện chất lượng của thông tin kế toán, tăng tính minh bạch của thông
    tin và trách nhiệm giải trình của các nhà quản lý. Cụ thể, nghiên cứu của Stamatiadis (2009) đã
    chỉ ra rằng để tăng trách nhiệm giải trình, tính minh bạch và cải thiện đo lường hiệu suất của khu
    vực chính phủ chính là chuyển đổi từ phương pháp kế toán tiền mặt truyền thống của họ thành hệ
    thống kế toán theo cơ sở dồn tích. Hay nói cách khác, xu hướng của việc áp dụng kế toán dồn tích
    được giải thích bởi sự cần thiết phải minh bạch, hiệu quả của thông tin kế toán và quản lý hiệu
    suất của đơn vị, từ đó giúp những người ra quyết định có được sự kiểm soát chi phí và trách nhiệm
    giải trình tốt hơn (Christiaens et al., 2010).
    H4: Áp dụng kế toán dồn tích có tác động đến tính minh bạch thông tin kế toán
    2.3. Mô hình nghiên cứu đề xuất
    Từ cơ sở lý thuyết được trình bày ở trên, mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau:

    H1 +
    Thể chế chính trị (TCCT) Việc áp dụng kế toán dồn tích
    (CCKT)

    Năng lực của nhân viên kế
    toán (NLKT) H4 +

    Vai trò lãnh đạo của nhà quản Minh bạch thông tin kế toán
    lý (NQL) (MBTT)

    Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
    Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất

    Trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đây, bộ thang đo của của nghiên cứu được hình
    thành với biến quan sát. Các biến quan sát được đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ bao gồm
    (1) hoàn toàn không đồng ý, (2) không đồng ý, (3) trung bình, (4) đồng ý và (5) hoàn toàn đồng ý.
    Trước khi thực hiện phỏng vấn chính thức, việc phỏng vấn với 10 chuyên gia trong lĩnh vực công
    và khảo sát thử với 10 đối tượng là nhân viên kế toán ở các đơn vị hành chính sự nghiệp nhằm

  5. Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143 131

    thực hiện những điều chỉnh trong bảng câu hỏi cho phù hợp hơn với hoàn cảnh nghiên cứu.
    3. Phương pháp nghiên cứu
    3.1. Phương pháp thu thập số liệu
    Nghiên cứu tiến hành khảo sát với các đối tượng là kế toán trưởng và kế toán viên đang
    làm việc tại các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam.
    Cỡ mẫu
    Việc xác định cỡ mẫu trong nghiên cứu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ tin cậy cần
    thiết, phương pháp xử lý dữ liệu là hồi quy hay phân tích nhân tố khám phá EFA hay mô hình cấu
    trúc tuyến tính SEM, … Hiện nay, hầu hết các nhà nghiên cứu trên thế giới xác định cơ mẫu cần
    thiết dựa vào phương pháp xử lý dữ liệu của đề tài, kích thước mẫu cần phải được xem xét trong
    sự tương quan với số lượng các thông số ước lượng và nếu sử dụng phương pháp ước lượng ML
    (Maximum Likelihood) thì kích thước mẫu tối thiểu phải từ 100 đến 150 (Hair, Anderson, Babin,
    & Black, 2010). Hơn nữa, mô hình và các chỉ số như TLI, CFI là tương đối ổn định và nhất quán
    dựa trên phương pháp ước lượng ML tại cỡ mẫu 250 hoặc lớn hơn (Hair et al., 2010). Do vậy, để
    đảm bảo độ tin cậy cho phân tích nhân tố khám phá EFA và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM),
    các khái niệm trong mô hình nghiên cứu được kiểm định trên cơ sở dữ liệu điều tra với kích thước
    mẫu tối thiểu là 250 quan sát.
    Phương pháp chọn mẫu
    Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu theo định mức. Về phương diện lý thuyết, phương
    pháp này có nhược điểm là mẫu được chọn không tổng quát hóa cho đám đông nghiên cứu (T. D.
    Nguyen, 2014) nhưng đây là phương pháp được đánh giá cao nhất trong nghiên cứu khoa học vì
    nó có thể đại diện cho đám đông trong thực tiễn (Hair et al., 2010). Cụ thể, với số lượng mẫu dự
    kiến là 300 tác giả sử dụng thuộc tính kiểm soát của đám đông nghiên cứu (khu vực công hay khu
    vực nhà nước) là theo loại hình hoạt động của đơn vị công bao gồm cơ quan hành chính là 66 đơn
    vị (tỷ lệ 22,0%), đơn vị sự nghiệp công lập là 166 đơn vị (tỷ lệ 55,4%) và các loại hình khác như
    tổ chức chính trị, đoàn thể, hiệp hội, … là 68 đơn vị (tỷ lệ 22,6%).
    Với mỗi đơn vị, tác giả chọn phỏng vấn trực tiếp cho các kế toán viên và kế toán trưởng
    của đơn vị bằng cách liên hệ trước với phòng tổ chức hành chính và tiếp cận với đối tượng khảo
    sát trước và sau giờ làm; đồng thời, kết hợp với phỏng vấn qua email, điện thoại. Bên cạnh đó,
    việc tham gia giảng dạy các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu ở các địa phương đã giúp cho tác
    giả tiếp cận với các đối tượng khảo sát một cách dễ dàng hơn.
    3.2. Phương pháp phân tích số liệu
    Đánh gíá độ tin cậy thang đo
    Phương pháp phổ biến nhất để tính toán sự thống nhất giữa các biến trong khảo sát là kiểm
    tra hệ số Cronbach’s Alpha cho thang đo đa biến (Sekaran & Bougie, 2003), một thang đo có độ
    tin cậy tốt khi Cronbach’s Alpha ≥ 0.6 (Nunnally & Bernstein, 1994). Ngoài ra, các biến trong
    cùng một thang đo phải có mối tương quan chặt chẽ với nhau khi có hệ số tương quan biến tổng
    (đã hiệu chỉnh) ≥ 0.3 (Nunnally & Bernstein, 1994).
    Phân tích nhân tố khám phá (EFA)
    Để đánh giá giá trị thang đo, nhóm tác giả xem xét ba thuộc tính trong kết quả EFA là (1)
    chỉ số Eigenvalue ≥ 1, (2) trọng số nhân tố λi > 0.3 (Hair et al., 2010) và (3) tổng phương sai trích
    ≥ 50% (T. D. Nguyen, 2014).

  6. 132 Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143

    Phân tích nhân tố khẳng định (CFA)
    Các tiêu chí đánh giá trong phân tích gồm có: (1) đo lường tính đơn hướng: mô hình phù
    hợp với dữ liệu thị trường khi P-value < 0,05 và CMIN/df ≤ 3 (Carmines & McIver, 1981); TLI
    và CFI ≥ 0.9 (Bentler & Bonett, 1980) và RMSEA ≤ 0.08 (Steiger, 1990); (2) đánh giá độ tin cậy
    tổng hợp thông qua hệ số pc (Composite Reliability) > 0.7 (Joreskog, 1971), pvc (Variance
    Extracted) > 0.5 (Fornell & Larcker, 1981) và Cronbach’s Alpha ≥ 0.6 (Nunnally & Bernstein,
    1994); (3) thang đo đạt được giá trị hội tụ với trọng số chuẩn hóa của các thang đo lớn hơn 0.5 và
    có ý nghĩa thống kê (Anderson & Gebring, 1988); (4) giá trị phân biệt được kiểm định thông qua
    mô hình tới hạn (Saturated Model), trong đó các khái niệm nghiên cứu có quan hệ tự do với nhau
    và (5) giá trị liên hệ với lý thuyết nhằm thể hiện sự phù hợp giữa mô hình nghiên cứu với cơ sở lý
    thuyết xây dựng nên mô hình.
    Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)
    Để khám phá một mô hình với ba thuộc tính: (1) mô hình có ý nghĩa lý thuyết, (2) phân
    tích hợp lý và (3) sự tương ứng của nó với dữ liệu được chấp nhận chặt chẽ, nhóm tác giả sử dụng
    SEM để kiểm định mô hình lý thuyết (Kline, 2011). SEM cho phép các nhà nghiên cứu khám phá
    những sai số đo lường và hợp nhất những khái niệm trừu tượng và khó phân biệt. SEM không chỉ
    liên kết lý thuyết với dữ liệu mà còn đối chiếu lý thuyết với dữ liệu. Phương pháp hợp lý tối đa
    (ML) được sử dụng để ước lượng các tham số trong mô hình nghiên cứu nếu dữ liệu có phân phối
    chuẩn (Kline, 2011).
    4. Kết luận và thảo luận
    4.1. Kết quả phân tích EFA
    Sau khi kiểm định độ tin cậy, các thang đo đều có Cronbach’s Alpha ≥ 0,6 và có hệ số
    tương biến tổng đều lớn hơn 0,3 nên tất cả thang đo như đề xuất ban đầu đều được giữ lại để tếp
    tục đưa vào phân tích nhân tố khám phá EFA. Tác giả thực hiện cách trích Principal Axis Factoring
    và phép quay Promax. Trong bước này, tác giả thực hiện phân tích EFA 1 lần và kết quả là hệ số
    KMO = 0,867, Sig. = 0,000 (có ý nghĩa thống kê), phương sai trích đạt 72,201% và có 5 nhóm
    nhân tố được trích; kết quả là các biến quan sát đều được nhóm vào các nhân tố ban đầu và có yếu
    tố tải đảm bảo điều kiện đã nêu ra, không có sự biến động của các biến, độ tin cậy của từng thang
    đo mới đảm bảo tiêu chí kiểm định.
    Kết quả cụ thể được thể hiện trong Bảng 1 như sau:
    Bảng 1
    Kết quả phân tích nhân tố EFA các biến trong mô hình nghiên cứu
    Biến quan sát Nhóm nhân tố
    Mã hóa Nội dung 1 2 3 4 5
    MBTT1 Sự công khai thông tin với người sử dụng 0.994
    MBTT2 Sự rõ ràng của thông tin được công bố 0.934
    MBTT4 Sự dễ dàng trong việc tiếp cận thông tin của
    0.900
    người sử dụng
    MBTT5 Sự dễ hiểu của thông tin được cung cấp với
    0.893
    người sử dụng
    MBTT7 Thông tin phản ánh đầy đủ về tình hình tài
    0.882
    chính của đơn vị

  7. Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143 133

    Biến quan sát Nhóm nhân tố
    Mã hóa Nội dung 1 2 3 4 5
    MBTT8 Thông tin phản ánh đầy đủ về tình hình và
    0.829
    kết quả hoạt động của đơn vị
    NLKT1 Hiểu biết của kế toán về các quy định pháp
    0.917

    NLKT2 Sự linh hoạt của nhân viên kế toán 0.898
    NLKT3 Kỹ năng tin học của nhân viên kế toán 0.780
    NLKT4 Sự chuyên nghiệp trong thái độ làm việc 0.739
    NLKT5 Đào tạo nhân viên kế toán 0.713
    TCCT1 Các quy tắc và quy định được ban hành bởi
    0.883
    các cơ quan quản lý nhà nước
    TCCT2 Đơn vị hoạt động theo niềm tin và tiêu chuẩn
    0.848
    chung của xã hội
    TCCT3 Đơn vị thực hiện các hoạt động dưới sự chỉ
    0.832
    đạo của các cơ quan cấp trên
    TCCT4 Đơn vị thực hiện các hoạt động theo quy định
    0.790
    do cơ quan nhà nước ban hành
    TCCT7 Đơn vị muốn thay đổi hệ thống kế toán mới
    0.741
    phải xin ý kiến của cơ quan cấp trên
    CCKT1 Các nghiệp vụ kinh tế được ghi nhận khi giao
    dịch kinh tế xảy ra mà không liên quan đến 0.856
    việc đã thu hay chi tiền
    CCKT2 BCTC được lập dựa trên cơ sở dồn tích 0.766
    CCKT3 Thông tin trên BCTC phản ánh rõ ràng về tài
    0.707
    sản của đơn vị
    CCKT4 Thông tin trên BCTC phản ánh rõ ràng các
    0.700
    khoản nợ phải thu, nợ phải trả của đơn vị
    CCKT5 Thông tin trên BCTC phản ánh rõ ràng về
    0.671
    doanh thu, chi phí của đơn vị
    NQL1 Nhà quản lý luôn luôn lắng nghe ý kiến của
    0.897
    nhân viên
    NQL2 Nhà quản lý hiểu rõ về các hoạt động của
    0.815
    công tác kế toán trong đơn vị
    NQL3 Nhà quản lý cung cấp đầy đủ phương tiện để
    0.764
    nhân viên thực thi các quy định của pháp luật
    NQL4 Nhà quản lý khuyến khích nhân viên trả lời
    0.723
    các câu hỏi từ các bên liên quan
    Nguồn: Kết quả phân tích dữ liệu của nhóm nghiên cứu

  8. 134 Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143

    4.2. Kết quả phân tích nhân tố khẳng định (CFA)
    CFA các biến độc lập
    Kết quả CFA (chuẩn hóa) các biến độc lập được thể hiện ở Hình 2. Mô hình này có 74 bậc
    tự do, kết quả CFA cho thấy các thông số của mô hình như sau: Chi-square = 177.554 (p = 0.000);
    CMIN/df = 2.399 < 3. Các chỉ tiêu CFI = 0.957, TLI = 0.947 và RSMEA = 0.067 nhỏ hơn 0.08
    cho thấy mô hình phù hợp với dữ liệu thị trường.

    Hình 2. Kết quả CFA (chuẩn hóa) các biến độc lập
    Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra

    Dựa trên tiêu chuẩn kiểm định nêu ở mục 3.2, kết quả CFA các thang đo đơn hướng có các
    tiêu chuẩn phù hợp, thang đo đạt tính đơn hướng, đạt giá trị hội tụ (các trọng số đều lớn hơn 0.5),
    các nhóm nhân tố đều có liên hệ với nhau theo kỳ vọng lý thuyết và đảm bảo độ tin cậy trong từng
    thang đo.
    Bảng 2
    Kiểm định giá trị phân biệt các biến độc lập
    Estimate S.E. C.R. P
    NLKT TCCT .088 .028 3.108 .002
    NQL NLKT .114 .022 5.196 ***
    NQL TCCT .030 .015 1.954 .004
    Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra
    Bảng 3 cho thấy độ tin cậy tổng hợp (Pc) của các thang đo đều lớn hơn 0.7 và tổng phương
    sai trích (Pvc) của hai thang đo đều lớn hơn 0.5. Điều này khẳng định độ tin cậy của hai thang đo
    này tốt và được chấp nhận. Thông thường, người ta thường ứng dụng hệ số Cronbach’s Alpha và
    độ tin cậy tổng hợp vì các hệ số này đo lường sự nhất quán xuyên suốt tập hợp các biến quan sát
    trong một thang đo.

  9. Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143 135

    Bảng 3
    Độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích thang đo các nhân tố rào cản
    Thang đo Số biến Độ tin cậy Giá trị
    α Pc Pvc
    TCCT 5 0.885 0.846 0.524
    NLKT 5 0.863 0.817 0.512 Đạt yêu cầu
    NQL 4 0.836 0.784 0.510
    Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra

    CFA đơn hướng
    Theo kết quả phân tích CFA ở Hình 3, mô hình có 41 bậc tự do, Chi-square = 117.684
    (p=0.000), CMIN/df=2.870 < 3. Các chỉ số CFI và TLI lần lượt là 0.975 và 0.966 và chỉ số RMSEA
    = 0.077 nhỏ hơn 0.08 nên mô hình phù hợp với dữ liệu thị trường.

    Hình 3. CFA (chuẩn hóa) các thang đo đơn hướng
    Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra

    Kết quả phân tích ở Bảng 4 cho thấy, hệ số tương quan ước lượng liên kết với sai số chuẩn
    (SE) của mối tương quan của các cặp khái niệm cho giá trị p=0.000 nên hệ số tương quan của cặp
    khái niệm này khác biệt so với 1 ở độ tin cậy 95%. Do đó, những cặp khái niệm này đạt được giá
    trị phân biệt.
    Bảng 4
    Kết quả kiểm định giá trị phân biệt các thang đo đơn hướng
    Estimate S.E. C.R. P Label
    CCKT MBTT .147 .032 4.644 ***
    Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra

  10. 136 Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143

    Bảng 5
    Độ tin cậy tổng hợp và phương sai trích các thang đo đơn hướng

    Độ tin cậy
    Thang đo Số biến Giá trị
    α Pc Pvc

    CCKT 5 0.876 0.841 0.528
    Đạt yêu cầu
    MBTT 6 0.941 0.928 0.685
    Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra

    Theo kết quả Bảng 5, độ tin cậy tổng hợp (Pc) của thang đo CCKT và MBTT có hệ số lần
    lượt là 0.841 và 0.928 đều lớn hơn 0.7 và tổng phương sai trích (Pvc) của hai thang đo đều lớn hơn
    0.5; điều này khẳng định độ tin cậy của hai thang đo này tốt và được chấp nhận.

    CFA mô hình đo lường tới hạn

    Hình 4. CFA (chuẩn hóa) mô hình đo lường tới hạn
    Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra

    Kết quả CFA của mô hình đo lường sau cùng (Hình 4) cho thấy mô hình có 265 bậc tự do,
    Chi-square=626.753 với p=0.000; các chỉ số TLI=0.927, CFI=0.936 và RMSAE=0.066 nhỏ hơn
    0.08. Các chỉ số trên khẳng định mô hình là phù hợp.

  11. Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143 137

    Bảng 6
    Kết quả kiểm định giá trị phân biệt mô hình đo lường tới hạn

    Estimate S.E. C.R. P Label
    MBTT CCKT .178 .033 5.401 ***
    NLKT TCCT .087 .028 3.104 .002
    NLKT CCKT .003 .013 .222 ***
    NLKT NQL .113 .022 5.179 ***
    TCCT CCKT .103 .022 4.698 ***
    TCCT NQL .030 .015 1.971 .004
    CCKT NQL .029 .009 3.153 .002
    Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra

    Kết quả kiểm định giá trị phân biệt giữa các biến trong mô hình tới hạn được thể hiện trong
    Bảng 6. Các hệ số tương quan ước lượng liên kết với sai số chuẩn (SE) đều nhỏ hơn 1 và có ý
    nghĩa thống kê. Do đó, các khái niệm nêu trên đều đạt được giá trị phân biệt.

    Bảng 7
    Tóm tắt kết quả kiểm định các thang đo của mô hình

    Độ tin cậy
    Thang đo Số biến Pvc Sự phù hợp
    α Pc
    TCCT 5 0.885 0.846 0.524 Phù hợp
    NLKT 5 0.863 0.817 0.512 Phù hợp
    NQL 4 0.836 0.784 0.510 Phù hợp
    CCKT 5 0.876 0.841 0.528 Phù hợp
    MBTT 6 0.941 0.928 0.685 Phù hợp
    Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp

    Tóm lại, kết quả phân tích và đánh giá cho thấy tất cả các thang đo đều đạt được mức giá
    trị và độ tin cậy. Tất cả các kết quả CFA đều phù hợp và kiểm định các mô hình CFA đều có sự
    phù hợp với dữ liệu thị trường.
    4.3. Kết quả kiểm định mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)
    Ứng dụng phần mềm AMOS để kiểm định SEM cho kết quả như Hình 5. Mô hình có 268
    bậc tự do, Chi-square=656.121 với p=0.000; Chi-square/df=2.448 nhỏ hơn 3; các chỉ số
    TLI=0.923, CFI=0.931 và RMSAE=0.068 nhỏ hơn 0.08. Điều này khẳng định mô hình phù hợp
    với dữ liệu thị trường.

  12. 138 Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143

    Hình 5. Kết quả SEM chuẩn hóa của mô hình lý thuyết
    Nguồn: Kết quả xử lý từ dữ liệu điều tra

    Hệ số hồi quy chuẩn hóa của các tham số được trình bày ở Bảng 8 cho thấy các mối quan
    hệ này đều là cùng chiều và dương, nghĩa là có ảnh hưởng tỷ lệ thuận từ các nhân tố đến việc áp
    dụng kế toán theo cơ sở dồn tích và cải cách kế toán theo cơ sở dồn tích có tác động cùng chiều
    đến tính minh bạch của thông tin kế toán. Bên cạnh đó, các mối quan hệ còn lại đều có ý nghĩa
    thống kê (p < 0.05).

    Bảng 8
    Hệ số hồi quy của mô hình lý thuyết
    Estimate S.E. C.R. P
    CCKT

  13. Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143 139

    Bảng 9
    Kết quả ước lượng Boostrap (N=1.000)

    Quan hệ SE SE-SE Mean Bias SE-Bias CR
    CCKT

  14. 140 Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143

    cơ sở dồn tích thành công thì điều kiện tiên quyết phải có một đội ngũ kế toán chuyên nghiệp, có
    trình độ và kỹ năng tốt (Okpala, 2012).
    Có thể nói rằng nhận thức và cách quản lý đúng đắn của nhà quản lý sẽ giúp cho các hoạt
    động của đơn vị diễn ra hiệu quả, trong đó có quá trình áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích (Ouda,
    2004). Điều này cũng có nghĩa là nếu nhà quản lý có văn hóa quản lý quan liêu, ngại đổi mới chính
    là một trong những cản trở của việc áp dụng kế toán dồn tích ở các nước đang phát triển (Chan,
    2005).
    Kế toán dồn tích có ảnh hưởng đáng kể đến việc tiết lộ các thông tin của các đơn vị công,
    đơn vị thực hiện tốt kế toán dồn tích thì sẽ tiết lộ nhiều thông tin đáng tin cậy hơn. Do đó, theo kết
    quả nghiên cứu, áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích có tác động tích cực đến tính minh bạch của
    thông tin kế toán bởi vì việc áp dụng kế toán dồn tích trong khu vực công tạo ra các báo cáo tài
    chính toàn diện và chất lượng cao, điều này phù hợp với các nghiên cứu của Christiaens và cộng
    sự (2010); Abushamsieh, López-Hernández, and Ortiz-Rodríguez (2014).
    5.2 Một số đề xuất
    Về thể chế chính trị: cần làm rõ mối quan hệ giữa cơ quan hành pháp và cơ quan giám sát
    của Chính phủ, xác định rõ vai trò của kiểm toán nhà nước trong việc kiểm tra tình hình thực hiện
    ngân sách và quy định rõ trong Luật NSNN. Ngoài ra, Chính phủ phối hợp cùng với các cơ quan
    hành chính khác như Kiểm toán nhà nước, Kho bạc nhà nước, Bộ Tài chính, …) để lắng nghe
    mong đợi của những tổ chức này vì đây là những đơn vị thực hiện trực tiếp những nhiệm vụ do
    Chính phủ đề ra.
    Về năng lực của nhân viên kế toán: các đơn vị cần phát triển đội ngũ cán bộ có chất lượng,
    chú trọng đến việc đào tạo cho các chuyên gia kế toán, có trình độ chuyên môn và kinh nghiệm
    nghề nghiệp nhằm đáp ứng các yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp, ý thức
    tuân thủ các pháp luật về kế toán và kinh tế khác; bên cạnh đó nâng cao khả năng thích ứng với
    những sự thay đổi trong tổ chức cũng như kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin ở các đơn vị cho
    phù hợp với giai đoạn Cách mạng công nghiệp 4.0 như hiện nay.
    Về vai trò lãnh đạo của nhà quản lý: nâng cao nhận thức về sự cần thiết và mức độ quan
    trọng của việc áp dụng kế toán dồn tích và sự ảnh hưởng của quá trình này đến tính minh bạch của
    thông tin kế toán. Ngoài ra, nhà quản lý cần có những thay đổi tư duy trong cách thức quản lý, có
    sự chuyển đổi từ cách thức quản lý một chiều từ trên xuống sang cách thức tiếp nhận ý kiến của
    nhân viên các cấp nhằm nâng cao tinh thần sáng tạo và cởi mở của nhân viên giúp cho quá trình
    áp dụng kế toán theo cơ sở dồn tích được thực hiện một cách hiệu quả hơn.

    Tài liệu tham khảo
    Abushamsieh, K., López-Hernández, A. M., & Ortiz-Rodríguez, D. (2014). The development of
    public accounting transparency in selected Arab countries. International Review of
    Administrative Sciences, 80(2), 1-22. doi:10.1177/0020852313514522
    Adhikari, P., & Mellemvik, F. (2010). The adoption of IPSASs in South Asia: A comparative study
    of seven countries. Research in Accounting in Emerging Economies, 10, 169-199.
    doi:10.1108/S1479-3563(2010)0000010012
    Anderson, J. C., & Gerbing, D. W. (1988). Structural equation modelling in practice: A review and
    recommended two-step approach. Psychological Bulletin, 103(3), 411-23. doi:10.1037/0033-
    2909.103.3.411

  15. Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143 141

    Azmi, A. H., & Mohamed, N. (2014). Readiness of Malaysian public sector employees in moving
    towarda accural accounting for improve accountability: The case of Ministry of Education (MOE).
    Procedia-Social and Behavioral Sciences, 164, 106-111. doi:10.1016/j.sbspro.2014.11.057
    Bellanca, S., Cultrera, L., & Vermeylen, G. (2015). Analysis of public accounting systems in the
    European Union. Research in World Economy, 6(3), 23-35. doi:10.5430/rwe.v6n3p23
    Bentler, P., M., & Bonett, D. G. (1980). Significance tests and goodness of fit in the analysis of
    covariance structures. Psychological Bulletin, 88, 588-606. doi:10.1037/0033-
    2909.88.3.588
    Bowrey, G. (2007). Have recent financial reforms improved financial accountability in the
    Australian commonwealth public sector? Australian Accounting, Business and Finance
    Journal, 1(3), 34-48. doi:10.14453/aabfj.v1i3.4
    Broadbent, J., & Guthrie, J. (2008). Public sector to public services: 20 years of “contextual”
    accounting research. Accounting, Auditing & Accountability Journal, 21(2), 129-169.
    doi:10.1108/09513570810854383
    Bui, L. T. Y. (2014). Tổ chức công tác kế toán ở các cơ sở y tế công lập tỉnh Quảng Ngãi
    [Organizing accounting work at healthn centers established in Quang Ngai province] (Doctoral disertation, The Academy of Finance (AOF), Vietnam). Retrieved May 10, 2020,
    from https://tailieu.vn/doc/luan-an-tien-si-kinh-te-to-chuc-cong-tac-ke-toan-tai-cac-co-so-
    y-te-cong-lap-tinh-quang-ngai-1719571.html
    Cao, V. T. C. (2016). Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng chuẩn mực kế toán
    công Việt Nam trong điều kiện vận dụng kế toán công quốc tế [Studying the factors affecting
    the development of Vietnamese public accounting standards in terms of applying
    international public accounting] (Doctoral disertation, University of Economics Ho Chi
    Minh City, Vietnam). Retrieved March 10, 2020, from http://oldsdh.ueh.edu.vn/nghien-cuu-
    sinh/lats-chuan-bi-bao-ve/luan-an-tien-si-cao-thi-cam-van/
    Cardoso, R. L., Aquino, A. C. B., & Pigatto, J. A. M. (2014). Brazilian governmental accounting
    reforms: IPSAS and accrual accounting adoption. SSRN Electronic Journal. Retrieved
    March 20, 2020 from https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=2466484
    Carmines, E. G., & McIver, J. P. (1981). Analyzing models with unobserved variables: Analysis of
    covariance structures. In G. W. Bohmstedt & E. F. Borgatta (Eds.), Social measurement:
    Current issues (pp. 65-115). Beverly Hills, LA: Sage Publications. doi:10.117/0049124183011003003
    Chan, J. L. (2005). IPSAS and government accounting reform in developing countries. In E. Lande
    & J.-C. Scheid (Eds.), Accounting reform in the public sector: Mimicry, fad or Necessity
    (pp. 31-41). Paris, France: Experts Comptables Media.
    Christensen, M. (2001). Public sector accrual accounting: Who made the emperor’s clothes?
    Retrieved March 21, 2020, from https://citeseerx.ist.psu.edu/viewdoc/download?
    doi=10.1.1.199.577 &rep=rep1&type=pdf
    Christiaens, J., Reyniers, B., & Rolle´, C. (2010). Impact of IPSAS on reforming governmental
    financial information systems: A comparative study. International Review of Administrative
    Sciences, 76(3), 537-554. doi:10.1177/0020852310372449
    Fornell, C., & Larcker, D. F. (1981). Evaluating structural equation models with unobservable
    variables and measurement error. Journal of Marketing Research, 18(1), 39-50.
    doi:10.2307/3151312

  16. 142 Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143

    Grimmelikhuijsen, S., & Meijer, A. (2014). Effects of transparency on the perceived
    trustworthiness of a government organization: Evidence from an online experiment. Journal
    of Public Administration Research and Theory, 24(1), 137-157. doi:10.1093/jopart/mus048
    Hair, J. F., Anderson, R. E., Babin, B. J., & Black, W. C. (2010). Multivariate data
    analysis (7th ed.). New York, NY: Prentice Hall.
    Hart, P., & Tummers, L. (2014). Understanding public leadership (2nd ed.). London, UK: Red
    Globe Press.
    Harun, H., & Kamase, H. P. (2012). Accounting change and institutional capacity: The case of a
    provincial government in Indonesia. Australasian Accounting Business and Finance
    Journal, 6(2), 35-50.
    Heald, D. A., & Hood, C. (2006). Transparency: The key to better governance? Oxford, UK:
    Oxford University Press.
    Hladika, M., Vasicek, V., & Dragija, M. (2010). Impact of public internal financial control on
    public administration in Croatia. Theoretical and Applied Economics, 17(4), 71-86.
    Huynh, H. T. H. (2014). Phân tích và thiết kế hệ thống thông tin kế toán trong các bệnh viện công
    [Analyzing and designing accounting information systems in public hospitals] (Doctoral
    disertation, Da Nang University, Vietnam). Retrieved April 10, 2020, from
    https://123doc.net//document/2523386-luan-an-tien-si-phan-tich-va-thiet-ke-he-thong-
    thong-tin-ke-toan-trong-cac-benh-vien-cong.htm
    Jensen, M. C., & Meckling, W. H. (1976). Theory of the firm: Manageral behaviour, agency costs
    and ownership structure. Journal of Financial Economics, 3(4), 305-360. doi:10.1016/0304-
    405X(76)90026-X
    Joreskog, K. G. (1971). Statistical analysis of sets of congeneric tests. Psychometrika, 36(2), 109-
    133. doi:10.1007/BF02291393
    Khan, A., & Mayes, S. (2009). Transition to accrual accounting. Fiscal affairs department.
    Retrieved March 21, 2020, from International Monetary Fund website:
    https://www.imf.org/external/pubs/ft/tnm/2009/tnm0902.pdf
    Kline, R. B. (2011). Methodology in the social sciences. Principles and practice of structural
    equation modeling (3rd ed.). New York, NY: Guilford Press.
    Nguyen, H. T. T. (2015). Hoàn thiện báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam [Completing
    Vietnam’s public sector financial statements] (Doctoral disertation, University of Economics
    Ho Chi Minh City, Vietnam). Retrieved May 15, 2020, from http://oldsdh.ueh.edu.vn/
    nghien-cuu-sinh/lats-chuan-bi-bao-ve/luan-an-tien-si-nguyen-thi-thu-hien/
    Nguyen, T. D. (2014). Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
    [Curriculum Methods of scientific research in business]. Ho Chi Minh City, Vietnam: Nhà
    xuất bản Tài chính.
    Nunnally, J. C., & Bernstein, I. H. (1994). Psychometric theory (3rd ed.). NewYork, NY: McGraw-
    Hill.
    Okpala, K. E. (2012). Fiscal accountability dilemma in Nigeria public sector: A warning model
    for economic retrogression. Research Journal of Finance and Accounting, 3(6), 113-132.

  17. Lâm T. M. Yến, Phạm Đ. Tuấn. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 15(8), 127-143 143

    Ouda, H. A. G. (2004). Basic requirements model for successful implementation of accrual
    accounting in the public sector. International Consortium on Governmental Financial
    Management, 4(1), 78-99.
    Ouda, H. A. G. (2007). Accrual accounting in the government sector, background, concepts,
    benefits and costs. The International Consortium on Governmental Financial Management,
    4(1), 39-52.
    Pham, H. Q. (2017). Bàn về tính minh bạch thông tin kế toán công và mối quan hệ với trách nhiệm
    giải trình [Discussion on public accounting information transparency and its relationship
    to accountability]. Retrieved March 10, 2020, from Industry and Trade Magazine website:
    http://tapchicongthuong.vn/bai-viet/ban-ve-tinh-minh-bach-thong-tin-ke-toan-cong-va-
    moi-quan-he-voi-trach-nhiem-giai-trinh-48834.htm
    Samaratunge, R., & Bennington, L. A. (2002). Public sector reforms in Sri Lanka: An empirical
    study. In D. Lamaond (Ed.), Management in a global context: Prospects for the 21st century
    (pp. 1-9). Queensland, Australia: Griffith University.
    Sekaran, U., & Bougie, R. (2003). Reasearch methods for business: A skill building approach (4th
    ed.). New York, NY: John Willey and Sons.
    Stamatiadis, F. (2009). Investigating the governmental accounting reform of Greek national health
    system (ESY): Some preliminary evidence. International Journal on Governmental
    Financial Management, 9(2), 73-97.
    Steiger, J. H. (1990). Structural model evaluation and modification: An interval estimation
    approach. Multivariate Behavioral Research, 25(2), 173-180.
    doi:10.1207/s15327906mbr2502_4
    Tummers, L., & Kinies, E. (2016). Measuring public lesdership: Developing scales for four key
    public leadership roles. Public administration, 94(2), 433-451. doi:10.1111/padm.12224
    Van der Voet, J., Kuipers, B. S., & Groeneveld, S. (2015). Implemeting change in public
    organizations: The relationship between leadership and affective commitment to change in
    a public sector context. Public Management Review, 18(6), 842-865.
    doi:10.1080/14719037.2015.1045020
    Venieris, G., Cohen, S., & Sykianakis, N. (2003). The accounting reform attempt in the Greek
    NHS. International Journal of Management Cases, 14(1), 283-294.
    doi:10.5848/APBJ.2012.00027

Download tài liệu Nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc áp dụng kế toán dồn tích hướng đến tính minh bạch thông tin kế toán của các đơn vị hành chính sự nghiệp ở Việt Nam File Word, PDF về máy