[Download] Tải Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp – Tải về File Word, PDF

Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp

Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp
Nội dung Text: Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp

Download


Bài nghiên cứu xem xét tác động của mối liên hệ thể chế lên chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp, bằng việc sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng của 690 các doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2017.

Bạn đang xem: [Download] Tải Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp File Word, PDF về máy

Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp

  1. Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của
    doanh nghiệp

    Lê Thị Phương Vy
    Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh

    Bài nghiên cứu xem xét tác động của mối liên hệ thể chế lên chi phí sử dụng
    nợ của các doanh nghiệp, bằng việc sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng
    của 690 các doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên Sở Giao dịch
    Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí
    Minh (HOSE) trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2017. Sử dụng các ước
    lượng mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng thể OLS, mô hình ảnh
    hưởng ngẫu nhiên REM, mô hình ảnh hưởng cố định FEM, mô hình dữ liệu
    bảng động GMM, bài nghiên cứu đã tìm thấy tương quan ngược chiều giữa
    mối liên hệ về thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp.
    Từ khóa: Mối liên hệ thể chế, chi phí sử dụng nợ.

    1. Giới thiệu (2006) định nghĩa một công ty có liên hệ
    thể chế khi công ty có ít nhất một cổ đông
    Hiện nay, có nhiều khái niệm khác lớn hoặc nhà quản lý cấp cao là thành
    nhau về mối liên hệ thể chế (political viên của Quốc hội hoặc bộ trưởng. Cull
    connection) nhưng nhìn chung về bản và cộng sự (2015) khi nghiên cứu ở Trung
    chất đó là liên hệ giữa cổ đông lớn hoặc Quốc xác định một công ty được coi là có
    ban quản lý công ty với chính phủ thông liên kết thể chế nếu giám đốc điều hành
    qua quan hệ cá nhân hoặc cổ phần. Faccio hoặc chủ tịch hội đồng quản trị đã từng

    The impact of political connection on cost of debt
    Abstract: This paper aims to explore the association between political connection and cost of debt in
    Vietnamese listed firms. The study uses unbalance panel data from reports including annual reports and
    financial statements of 690 listed companies from 2011 to 2017. The raw data was collected from the websites
    of HNX, HOSE and DataStream. Using the least-squares regression model OLS, the random-effect model REM,
    the fixed-effect model FEM, the dynamic system GMM method, this study finds a negative association between
    a political connection and cost of debt.
    Keywords: political connection, cost of debt.

    Vy Thi Phuong Le
    Emai: phuongvyqt@ueh.edu.vn
    University of Economics Ho Chi Minh City

    Ngày nhận: 20/03/2020 Ngày nhận bản sửa: 25/05/2020 Ngày duyệt đăng: 26/05/2020

    © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
    ISSN 1859 – 011X 1 Số 217- Tháng 6. 2020

  2. Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp

    là một quan chức Chính phủ hoặc một sĩ của nghiên cứu này là để phân tích một
    quan quân đội hoặc một người có thứ hạng trong những ảnh hưởng chính của mối liên
    chính trị ở cấp tỉnh hoặc cấp bộ. Fisman hệ thể chế đó là chi phí sử dụng nợ vay
    (2001) nghiên cứu ở Indonesia định nghĩa của doanh nghiệp.
    các công ty có mối quan hệ với thể chế là
    các công ty có mối quan hệ với gia đình Phần còn lại của bài nghiên cứu được sắp
    Tổng thống. Choi (2014) thực hiện nghiên xếp theo thứ tự như sau: Phần thứ hai sẽ
    cứu ở Hàn Quốc cho rằng mối liên hệ thể trình bày tổng quan các nghiên cứu về mối
    chế có thể dưới dạng “minh bạch” hoặc liên hệ thể chế; Phần thứ ba trình bày về
    “ngầm”. Mối quan hệ “minh bạch” là khi phương pháp nghiên cứu; Phần thứ tư thảo
    một chính trị gia gia nhập công ty với tư luận kết quả; Phần thứ năm là kết luận.
    cách là thành viên hội đồng quản trị hoặc
    trở thành một cổ đông lớn. Mối quan hệ 2. Tổng quan nghiên cứu
    “ngầm” là mối quan hệ tài chính được xác
    định thông qua những đóng góp của công Các nghiên cứu trước đây đưa ra những
    ty cho chiến dịch tranh cử của chính trị quan điểm khác nhau về ảnh hưởng của
    gia. mối liên hệ thể chế lên chi phí sử dụng
    nợ của doanh nghiêp. Leuz và Oberholer
    Trong thập kỷ qua, các nhà tài chính và (2006) với nghiên cứu ở Indonesia, Cull
    các nhà nghiên cứu càng ngày càng quan và cộng sự (2015) với nghiên cứu ở Trung
    tâm ảnh hưởng của mối liên kết thể chế Quốc, và Chkir và Toukabri (2019) với
    lên các khía cạnh của công ty, đặc biệt sau nghiên cứu ở Mỹ cùng cho rằng một trong
    bài báo nghiên cứu mối liên hệ thể chế ở những lợi ích quan trọng nhất khi doanh
    47 quốc gia của Faccio (2006). Các nghiên nghiệp có mối liên hệ với thể chế đó là có
    cứu đã chứng minh rằng một công ty có thể tiếp cận được ưu đãi tín dụng. Những
    liên hệ thể chế thường có những lợi ích ưu đãi này sẽ giúp các doanh nghiệp
    kinh tế nhờ vào mối quan hệ đó. Cụ thể, giảm được chi phí sử dụng nợ một cách
    các doanh nghiệp này có thể có những hợp đáng kể. Ngược lại, Bliss và Gul (2012),
    đồng với chính phủ và được bảo vệ pháp Johnson và Mitton (2003) khi nghiên cứu
    lý (Kroszner và Stratmann, 1998); có thể mối quan hệ giữa liên kết thể chế và đòn
    được đánh thuế nhẹ hơn hay được chính bẩy trong các công ty ở Malaysia đã phát
    phủ viện trợ khi doanh nghiệp gặp khó hiện ra rằng các công ty có liên hệ thể chế
    khăn về tài chính (Faccio, 2006). thường có mức nợ cao hơn, và chi phí nợ
    cao hơn. Nghiên cứu của Bunkanwanicha
    Mặc dù, mối quan hệ giữa các công ty và và Wiwattanakantang (2009) ở Thái Lan
    chính phủ đã dần trở thành một chủ đề lại không tìm thấy bất kỳ ảnh hưởng của
    thu hút nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế mối liên hệ thể chế đối với khả năng tiếp
    giới, những nghiên cứu về vấn đề này ở cận các nguồn tài trợ hay các ưu đãi từ
    Việt Nam vẫn còn khá ít. Trong khi, Việt Chính phủ.
    Nam là một nước đang phát triển với việc
    đã chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch tập Cụ thể, Qin (2011) sử dụng dữ liệu bảng
    trung sang một nền kinh tế định hướng thị không cân bằng của 86.827 công ty ở
    trường, do đó, khá nhiều các doanh nghiệp Trung Quốc trong giai đoạn 10 năm 1998
    có mối liên hệ thể chế. Vì vậy, mục tiêu đến 2007 đã cho rằng các doanh nghiệp

    2 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 217- Tháng 6. 2020

  3. LÊ THỊ PHƯƠNG VY

    có mối liên hệ về thể chế có thể hưởng quả cho thấy mối liên hệ về thể chế làm
    những ưu đãi từ chính phủ bao gồm: (1) tăng giá trị, giảm chi phí giám sát, rủi ro
    Khía cạnh xã hội: các thành viên ban lãnh tín dụng và giảm chi phí đi vay của doanh
    đạo hay mối quan hệ của thành viên ban nghiệp. Hơn nữa, khi xem xét giai đoạn
    lãnh đạo là nguồn vốn xã hội của doanh 2005-2007, các doanh nghiệp vay mượn từ
    nghiệp. Do đó, ở những nước xem trọng ngân hàng cả trước và sau khi chiến thắng
    mối quan hệ thì những doanh nghiệp có của Đảng Dân Chủ trong cuộc bầu cử
    mối liên hệ thể chế sẽ có thể tiếp cận các năm 2006, thì thấy rằng các doanh nghiệp
    khoản vay từ chính phủ dễ dàng hơn. có mối quan hệ với Đảng Dân Chủ được
    (2) Khía cạnh thông tin: trong một môi giảm chi phí vay ngay sau cuộc bầu cử,
    trường bất cân xứng thông tin, các quan ngược lại các doanh nghiệp có mối quan
    chức chính phủ thường tin tưởng hơn vào hệ với Đảng Cộng Hòa thì có sự tăng lên
    những doanh nghiệp mà họ đã từng làm về chi phí đi vay sau cuộc bầu cử. Tương
    việc hay thân thuộc. Vì thế khi xem xét tự, nghiên cứu của Infante and Piazza
    các dự án hay ưu đãi, họ sẽ ưu tiên các (2014) về mối quan hệ thể chế và cho vay
    doanh nghiệp có mối liên hệ về thể chế ưu đãi ở cấp địa phương từ thị trường tín
    nhằm đảm bảo việc đầu tư hiệu quả. (3) dụng ở Ý cũng tìm ra bằng chứng cho thấy
    Xây dựng danh tiếng: Khi các quan chức các doanh nghiệp có mối liên hệ về thể
    chỉnh phủ trở thành lãnh đạo các doanh chế được hưởng lãi suất thấp hơn khi có
    nghiệp thì các doanh nghiệp này nhận mối liên hệ về thể chế ở cấp địa phương.
    được nhiều quan tâm từ công chúng. Nếu Các khoản ưu đãi sẽ mạnh mẽ hơn khi các
    doanh nghiệp phát triển tốt, sẽ tạo hình doanh nghiệp có mối liên hệ về thể chế
    ảnh tốt cho sự nghiệp tương lai của họ. Do vay vốn từ các ngân hàng mà các chính trị
    đó, họ thường muốn chuyển các nguồn lực gia nằm trong hội đồng quản trị.
    cho các doanh nghiệp để thúc đẩy sự phát
    triển của các doanh nghiệp nhằm xây dựng Ngược lại, nghiên cứu của Bliss và Gul
    danh tiếng của mình. Ngoài ra khi đối (2012) về mối liên hệ thể chế với chi phí
    mặt với khó khăn tài chính trong các cuộc nợ ở các doanh nghiệp Malaysia trong
    khủng hoảng tài chính hay suy thoái kinh khoảng thời gian 2001-2004 cho thấy,
    tế, những người cho vay dự đoán rằng các doanh nghiệp có mối liên hệ về thể
    chính phủ nhiều khả năng sẽ ra tay để giải chế thường chịu một chi phí đi vay cao
    cứu các doanh nghiệp này. Những ưu đãi hơn so với những doanh nghiệp không
    và lợi ích như vậy làm cho doanh nghiệp có mối quan hệ này. Họ lập luận rằng các
    có mối liên hệ về thể chế có thể đi vay doanh nghiệp có mối liên hệ với thể chế
    nhiều hơn, với chi phí thấp hơn các doanh thường sử dụng đòn bẩy tài chính cao, khả
    nghiệp khác. năng báo cáo lỗ cao hơn, do đó rủi ro cao
    hơn, vì vậy sẽ phải gánh chịu chi phí sử
    Ủng hộ cho lập luận trên, nghiên cứu của dụng vốn cao hơn các doanh nghiệp khác.
    Houston và cộng sự (2014) đã phân tích Cùng quan điểm này, bài nghiên cứu của
    xem các mối liên hệ về thể chế ảnh hưởng các tác giả Xu và cộng sự (2016) ở các
    như thế nào tới chi phí sử dụng nợ và các doanh nghiệp ở Trung Quốc trong giai
    điều khoản của hợp đồng vay. Bằng việc đoạn 2003-2014 cho thấy rằng, các doanh
    nghiên cứu trên các doanh nghiệp niêm nghiệp có mối liên hệ thể chế thường gặp
    yết Mỹ trong giai đoạn 2003-2008, kết khó khăn hơn trong việc có được tín dụng

    Số 217- Tháng 6. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 3

  4. Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp

    thương mại từ các nhà cung cấp và phải doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu của
    chịu một chi phí cao hơn do các công ty hai tác giả này chưa đi sâu phân tích ảnh
    này có tỷ lệ thanh toán chậm các khoản hưởng của mối liên hệ thể chế đến chi phí
    phải trả cao và nhiều khoản quá hạn. sử dụng nợ, hay lãi suất phải gánh chịu.
    Hơn nữa, các bằng chứng thực nghiệm
    Ngoài ra, cũng có nghiên cứu cho rằng trên thế giới cũng đưa ra những kết quả
    mối liên hệ về thể chế không ảnh hưởng khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm riêng
    đến chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp. biệt của từng quốc gia. Do đó, nghiên cứu
    Cụ thể, nghiên cứu của Khwaja và Mian ảnh hưởng của mối liên hệ thể chế lên chi
    (2005) điều tra về mối liên hệ về thể chế phí sử dụng nợ ở các doanh nghiệp niêm
    và ưu đãi đi vay tại các doanh nghiệp ở yết Việt Nam trong bài viết này kỳ vọng
    Parkistan trong giai đoạn 1996- 2002. Bài sẽ cung cấp thêm một bằng chứng cũng
    nghiên cứu phân loại một doanh nghiệp có như những hàm ý quan trọng cho các
    mối liên hệ về thể chế nếu giám đốc tham doanh nghiệp cũng như nhà đầu tư, hay
    gia vào cuộc tranh cử cấp quốc gia và cấp người làm chính sách.
    tỉnh và sử dụng dữ liệu đi vay của 90.000
    công ty ở Parkistan từ cơ sở dữ liệu của 3. Phương pháp nghiên cứu
    Ngân hàng Trung ương Pakistan. Kết quả
    là chí phí sử dụng nợ ở các doanh nghiệp 3.1. Dữ liệu
    có mối liên hệ về thể chế gần bằng chi
    phí sử dụng nợ của doanh nghiệp không Mẫu dữ liệu bao gồm 690 doanh nghiệp
    có mối quan hệ này, từ đó có thể kết luận được niêm yết trên hai sàn giao dịch HNX
    rằng mối liên hệ về thể chế không ảnh và HOSE tại Việt Nam trong giai đoạn từ
    hưởng đến chi phí sử dụng nợ của doanh năm 2011- 2017. Các doanh nghiệp tài
    nghiệp. chính được loại ra khỏi mẫu vì các công
    ty này có báo cáo tài chính khác đáng kể
    Tổng quan nghiên cứu cho thấy, đã có khá so với các công ty còn lại. Nghiên cứu
    nhiều nghiên cứu ảnh hưởng của mối liên sử dụng dữ liệu thu thập từ các bản báo
    hệ thể chế đến chi phí vay nợ, tuy nhiên cáo thường niên và báo cáo tài chính của
    theo như hiểu biết của tác giả, chưa có các doanh nghiệp phi tài chính niêm yết.
    nghiên cứu chuyên sâu nào đánh giá tác Cụ thể, dữ liệu kế toán được thu thập từ
    động của mối liên hệ thể chế đến chi phí cơ sở dữ liệu Datastream của Thomson
    sử dụng nợ ở các doanh nghiệp Việt Nam. Reuters. Dữ liệu mối quan hệ thể chế được
    Cụ thể, gần đây ở Việt Nam có nghiên tác giả thu thập bằng tay dựa vào lịch sử
    cứu của Vũ và Lê (2017) sử dụng dữ liệu quá trình công tác của ban lãnh đạo được
    của các công ty niêm yết ở Việt Nam từ thể hiện trên báo cáo thường niên của các
    2009 đến 2013 để xem xét ảnh hưởng của doanh nghiệp niêm yết. Vì một số quan sát
    mối quan hệ thể chế đến khả năng tiếp cận bị thiếu thông tin, do đó, dữ liệu của bài
    thị trường vốn. Vũ và Lê (2017) đã kết nghiên cứu này là một dữ liệu bảng không
    luận rằng mối liện hệ thể chế giúp giảm cân bằng (unbalance pabel data).
    sự phân biệt đối xử, vượt qua những trở
    ngại về mặt pháp lí, giảm các rào cản và 3.2. Mô hình nghiên cứu
    bất cân xứng thông tin, và từ đó làm gia
    tăng khả năng tiếp cận thị trường vốn của Để kiểm định mối quan hệ giữa mối liên

    4 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 217- Tháng 6. 2020

  5. LÊ THỊ PHƯƠNG VY

    hệ về thể chế và chi phí sử dụng nợ của nam đều có tiền thân là các doanh nghiệp
    doanh nghiệp, tác giả dựa trên bài nghiên Nhà nước. Do đó, biến mối liên hệ về
    cứu của Bliss và Gul (2012), Bliss và cộng thể chế (PCON) sẽ có giá trị bằng 1 nếu
    sự (2018) với mô hình sau: thành viên lãnh đạo doanh nghiệp (gồm
    giám đốc điều hành hoặc chủ tịch hội
    IR = βo + β1PCON + β2AGE + đồng quản trị) đã từng làm việc cho các
    β3AUDITOR + β4LEV + β5CF + β6SIZE + cơ quan, đoàn thể thuộc chính phủ từ cấp
    β7PPE + β8GROWTH + β9CR + β10LOSS địa phương đến trung ương hoặc đã từng
    +ε làm việc và nắm giữ chức vụ lãnh đạo cấp
    cao tại doanh nghiệp nhà nước, và bằng 0
    Giả thiết đưa ra là có mối tương quan âm trong các trường hợp khác.
    (ngược chiều) giữa mối liên hệ về thể chế
    và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp. Các biến kiểm soát
    Do đó, theo giả thuyết này dấu của β1 ở
    phương trình hồi quy được kỳ vọng là âm Dựa trên các nghiên cứu của Bliss và
    và có ý nghĩa thống kê. Gul (2012), Bliss và cộng sự (2018), và
    Chkir và Toukabri (2019), các biến sau
    Đo lường các biến trong mô hình đây được đưa vào mô hình bao gồm:
    tuổi của doanh nghiệp (AGE), kiểm toán
    Biến phụ thuộc (AUDITOR), đòn bẩy (LEV), dòng tiền
    (CF), quy mô (SIZE), bất động sản, nhà
    Chi phí vay (IR): được đo bằng chi phí lãi máy và thiết bị (PPE), tăng trưởng doanh
    vay của doanh nghiệp chia cho trung bình thu (GROWTH), hệ số khả năng thanh
    nợ ngắn hạn và nợ dài hạn trong năm. Chi toán nợ hiện tại (CR) và doanh nghiệp báo
    phí lãi vay trong năm được công bố trong lỗ (LOSS).
    báo cáo thu nhập, nợ ngắn hạn và nợ dài
    hạn được trình bày trong bảng cân đối tài Tuổi của doanh nghiệp (AGE): được đo
    chính. lường bằng lấy năm hiện tại trừ đi năm
    thành lập doanh nghiệp. Tuổi của doanh
    Biến độc lập nghiệp được dự đoán sẽ có mối quan hệ
    ngược chiều với chi phí nợ vì các doanh
    Mối liên hệ thể chế (PCON): Hiện nay, nghiệp theo thời gian có thể tạo ra lịch sử
    không tồn tại một thước đo chung để xác tín dụng tốt, do đó giảm rủi ro cho người
    định mối liên hệ thể chế, mà các nghiên cho vay.
    cứu ở mỗi quốc gia khác nhau sẽ xây
    dựng một thước đo riêng biệt, phù hợp Kiểm toán (AUDITOR): bằng 1 nếu được
    với quốc gia đó. Bài nghiên cứu này dựa kiểm toán bởi một trong 4 công ty kiểm
    trên nghiên cứu của Vũ và Lê (2017) để toán lớn nhất hiện nay (big4), và có giá
    đo lường mối liên hệ với thể chế ở Việt trị bằng 0 trong các trường hợp còn lại.
    Nam. Vũ và Lê (2017) lập luận rằng đặc Bởi vì báo cáo tài chính của được kiểm
    thù của Việt Nam là một quốc gia có nền toán bởi công ty kiểm toán lớn sẽ đáng
    kinh tế chuyển đổi với văn hóa kinh doanh tin cậy hơn, do đó tác giả kỳ vọng rằng
    coi trọng mối quan hệ cũng như khá nhiều việc doanh nghiệp được kiểm toán bởi các
    các công ty cổ phần niêm yết tại Việt doanh nghiệp kiểm toán lớn sẽ có chi phí

    Số 217- Tháng 6. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 5

  6. Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp

    nợ thấp hơn. nghiệp có qui mô lớn được dự kiến sẽ
    ​​ có
    chi phí nợ thấp hơn vì được xem là ít rủi
    Đòn bẩy (LEV): được đo lường bằng ro hơn.
    tổng nợ chia cho tổng tài sản. Nếu doanh
    nghiệp có tỉ lệ nợ quá cao, thì rủi ro sẽ Tài sản cố định gồm bất động sản, nhà
    càng gia tăng. Vì vậy, đòn bẩy và chi phí máy và thiết bị máy móc (PPE): được đo
    nợ được dự kiến sẽ có mối tương quan lường bằng tài sản cố định gồm bất động
    dương. sản, nhà máy thiết bị chia cho tổng tài sản.
    Một doanh nghiệp có PPE cao tức là có
    Dòng tiền (CF): được đo lường bằng dòng tài sản cố định lớn, sẽ đảm bảo tốt cho các
    tiền hoạt động của doanh nghiệp. Một khoản vay. Vì vậy, chi phí sử dụng nợ của
    dòng tiền cao dự kiến sẽ làm giảm rủi ro các doanh nghiệp này có thể thấp hơn.
    vì doanh nghiệp sẽ có nhiều khả năng để
    trả nợ, do đó làm giảm chi phí nợ. Tăng trưởng (GROWTH): được đo bằng
    doanh thu bán hàng trong năm t trừ doanh
    Quy mô (SIZE): được đo lường bằng thu bán hàng trong năm t-1 chia cho doanh
    logarit tự nhiên của tổng tài sản. Doanh thu bán hàng trong năm t-1. Các doanh

    Bảng 1. Tóm tắt đo lường các biến trong Mô hình
    Tên biến Mô tả/Đo lường biến
    Chi phí sử dụng nợ (IR) Chi phí lãi vay của doanh nghiệp chia cho trung bình nợ ngắn
    hạn và nợ dài hạn trong năm.
    Mối liên hệ thể chế (PCON) Là một biến giả, sẽ có giá trị bằng 1 nếu thành viên lãnh đạo
    doanh nghiệp (gồm giám đốc điều hành hoặc chủ tịch hội
    đồng quản trị) đã từng làm việc cho các cơ quan, đoàn thể
    thuộc chính phủ từ cấp địa phương đến trung ương, hoặc đã
    từng làm việc và nắm giữ chức vụ lãnh đạo cấp cao tại doanh
    nghiệp nhà nước, và bằng 0 trong các trường hợp khác.
    Tuổi của doanh nghiệp (AGE) Năm hiện tại trừ đi năm thành lập doanh nghiệp.
    Bằng 1 nếu được kiểm toán bởi một trong 4 công ty kiểm
    Kiểm toán (AUDITOR) toán lớn nhất hiện nay (big4), và có giá trị bằng 0 trong các
    trường hợp còn lại.
    Đòn bẩy (LEV) Tổng nợ chia cho tổng tài sản.
    Dòng tiền (CF) Dòng tiền hoạt động của doanh nghiệp.
    Quy mô (SIZE) Logarit tự nhiên của tổng tài sản.
    Tài sản cố định gồm bất động sản, Được đo lường bằng tài sản cố định gồm bất động sản, nhà
    nhà máy và thiết bị máy móc (PPE) máy thiết bị chia cho tổng tài sản.
    Tăng trưởng (GROWTH) Được đo bằng doanh thu bán hàng trong năm t trừ doanh thu
    bán hàng trong năm t-1 chia cho doanh thu bán hàng trong
    năm t-1.
    Hệ số khả năng thanh toán (CR) Tài sản ngắn hạn chia cho nợ ngắn hạn.
    Doanh nghiệp báo lỗ (LOSS) Bằng 1 nếu doanh nghiệp báo lỗ trong năm tài chính trước
    đó, và bằng 0 trong các trường hợp còn lại.
    Nguồn: Tác giả đề xuất dựa trên các nghiên cứu Bliss và Gul (2012), Bliss và cộng sự (2018) và Chkir và
    Toukabri (2019)

    6 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 217- Tháng 6. 2020

  7. LÊ THỊ PHƯƠNG VY

    Bảng 2. Thống kê mô tả biến
    Biến Số quan sát Giá trị trung bình Độ lệch chuẩn Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất
    *

    PCON 4.767 0,6641 0,4723 0 1
    IR 3.892 0,0748 0,1530 0 7,9097
    AGE 4.767 12,2029 3,8874 2 41
    AUDITOR 4.473 0,2164 0,4118 0 1
    LEV 4.360 0,5169 0,2259 0,0020 0,9836
    CF 4.346 0,0497 0,1621 -1,3350 1,9027
    SIZE 4.360 26,9998 1,6340 20,9746 34,3770
    PPE 4.358 0,2419 0,2164 -0,6485 0,9764
    GROWTH 4.185 0,4141 3,7030 -1 176,1942
    CR 4.250 2,6478 7,4591 0,0577 242,5772
    LOSS 4.767 0,0543 0,2267 0 1
    Nguồn: Tác giả tự tính toán từ phần mềm Stata
    *dữ liệu không cân bằng (unbalance panel data) với một số quan sát (year-firm observation) bị thiếu do thiếu thông
    tin trong năm đó.

    nghiệp có tăng trưởng doanh số bán hàng 4.1. Thống kê mô tả
    sẽ có nhiều khả năng để trả các khoản vay
    hơn và vì thế chi phí nợ sẽ thấp hơn. Thống kê mô tả của tất cả các biến sử
    dụng trong mô hình được trình bày ở Bảng
    Hệ số khả năng thanh toán (CR): được đo 2. Kết quả cho thấy, trong tổng cộng gồm
    bằng tài sản ngắn hạn chia cho nợ ngắn 4.767 mẫu quan sát, giá trị trung bình của
    hạn. Những doanh nghiệp có hệ số này biến mối liên hệ về thể chế là 0,66. Điều
    cao nghĩa là có nhiều khả năng để có thể này có nghĩa là khoảng 66% doanh nghiệp
    đáp ứng các nghĩa vụ nợ ngắn hạn, do đó niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX có
    có thể giảm chi phí sử dụng nợ. ban lãnh đạo đã từng làm việc cho chính
    phủ hoặc nắm giữ chức vụ ở các doanh
    Doanh nghiệp báo lỗ (LOSS): được đo nghiệp nhà nước. Nếu so với các nghiên
    lường bằng 1 nếu doanh nghiệp báo lỗ cứu trên thế giới, tỷ lệ các doanh nghiệp
    trong năm tài chính trước đó, và bằng 0 có mối liên hệ về thể chế ở các doanh
    trong các trường hợp còn lại. Người cho nghiệp Việt Nam cao hơn so với các
    vay có thể xem xét doanh nghiệp báo nước khác. Cụ thể tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ
    cáo về các khoản lỗ trong năm tài chính 20,76% trong nghiên cứu của Bliss và Gul
    và đánh giá rủi ro nhiều hơn nếu doanh (2012) cho các công ty ở Malaysia, 32%
    nghiệp tồn tại các khoản lỗ này, từ đó làm ở các doanh nghiệp Trung Quốc trong
    tăng chi phí nợ. nghiên cứu của Harjan và cộng sự (2019).
    Giá trị trung bình của chi phí lãi vay là
    Cách đo lường các biến trong mô hình 0,0748, có nghĩa là chi phí lãi vay trung
    được tóm tắt ở Bảng 1. bình của các doanh nghiệp trong giai đoạn
    này là 7,48% một năm. Chi phí này là cao
    4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận hơn chi phí sử dụng nợ 7% của các doanh

    Số 217- Tháng 6. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 7

  8. Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp

    Bảng 3. Mô tả thống kê các biến tại các doanh nghiệp niêm yết có và không có mối liên hệ về
    thể chế
    Các DNNY có mối liên hệ thể chế Các DNNY không có mối liên hệ thể chế
    Số Giá trị Độ Giá trị Số Giá trị Giá trị
    Giá trị Độ lệch Giá trị
    Biến quan trung lệch nhỏ quan trung nhỏ
    lớn nhất chuẩn lớn nhất
    sát bình chuẩn nhất sát bình nhất
    IR 2.752 0,0716 0,0656 0 0,9994 1.140 0,0826 0,2637 0 7,9097
    AGE 3.166 12,7603 3,6815 3 41 1.601 11,1006 4,0463 2 27
    AUDITOR 3.130 0,1901 0,3924 0 1 1.343 0,2777 0,4480 0 1
    LEV 3.057 0,5351 0,2239 0,0081 0,9706 1.303 0,4743 0,2247 0,002 0,9836
    CF 3.049 0,0537 0,1556 -1,0813 1,9027 1.297 0,0403 0,1756 -1,3350 1,5086
    SIZE 3.057 26,9915 1,6508 23,2820 34,3770 1.303 27,0192 1,6142 20,9746 32,8436
    PPE 3.055 0,2441 0,2188 -0,6485 0,9764 1.303 0,2369 0,2106 0 0,9661
    GROWTH 2.960 0,2621 1,5248 -1 40,7637 1.225 0,7814 6,4079 -1 176,1942
    CR 2.963 2,2266 3,9254 0,0577 110,4666 1.287 3,6173 12,1241 0,1434 242,5772
    LOSS 3.166 0,0467 0,2111 0 1 1.601 0,0693 0,2541 0 1
    Nguồn: Tác giả tự tính toán từ phần mềm Stata

    nghiệp Trung Quốc (Harjan và cộng sự, 4.2. Kết quả hồi qui
    2019), 4,6% ở các công ty Mỹ (Chkir và
    cộng sự, 2019) hay 5,56% ở các công ty Đầu tiên, bài nghiên cứu sử dụng mô hình
    Malaysia (Bliss và Gul, 2012). hồi quy bình phương nhỏ nhất OLS để
    phân tích ảnh hưởng của mối liên hệ thể
    Bảng 3 trình bày thống kê mô tả của các chế lên chi phí sử dụng nợ. Tuy nhiên, độ
    biến trong mô hình ở hai nhóm là các vững và tính hiệu quả của các hệ số trong
    doanh nghiệp có mối liên hệ thể chế (có phân tích dữ liệu bảng dựa trên phương
    giá trị PCON bằng 1) và các doanh nghiệp pháp hồi quy OLS có thể không tốt vì mô
    không có mối liên hệ thể chế (có giá trị hình này không xem xét đến các yếu tố
    PCON bằng 0). Khi so sánh giữa các không thể quan sát được hoặc ảnh hưởng
    doanh nghiệp có và không có mối liên riêng lẻ, đặc thù từng doanh nghiệp, trong
    hệ về thể chế thì những doanh nghiệp có khi vấn đề ảnh hưởng riêng lẻ là một trong
    mối liên hệ về thể chế có chi phí lãi vay những hiện tượng xảy ra thường xuyên ở
    trung bình thấp hơn, cụ thể chi phí vay ở những nghiên cứu thực nghiệm (Baltagi,
    các doanh nghiệp có mối liên hệ về thể 2008). Vì thế, để xử lý vấn đề về các yếu
    chế là 0,716 trong khi đó ở các doanh tố không quan sát được, mô hình ảnh
    nghiệp không có mối liên hệ thể chế thì hưởng ngẫu nhiên (RE) và ảnh hưởng cố
    tới 0,0826. Đồng thời, ta cũng thấy rằng định (FE) được sử dụng. Tuy nhiên, theo
    các doanh nghiệp có mối liên hệ thể chế Firth và cộng sự (2012), hầu hết các mô
    có đòn bẩy cao hơn, tuổi doanh nghiệp lớn hình hồi quy trong nghiên cứu tài chính
    hơn so với những doanh nghiệp không có doanh nghiệp đều có thể xảy ra vấn đề
    mối liên hệ này. nội sinh. Thiếu biến là một trong những
    nguyên nhân dẫn đến hiện tượng nội sinh,

    8 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 217- Tháng 6. 2020

  9. LÊ THỊ PHƯƠNG VY

    Bảng 4. Ảnh hưởng của mối liên hệ thể chế lên chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp
    OLS RE FE GMM
    PCON -0,0076** -0,004 -0,0122 -0,0242**
    AGE 0,0004 0,0006 0,0044 -0,0005
    AUDITOR -0,0177*** -0,0167*** -0,0138* -0,0837**
    LEV 0,0288*** 0,0113 0,0696*** 0,1913***
    CF 0,0196** 0,0242*** 0,0305*** 0,1638
    SIZE -0,0008 -0,0003 0,0002 -0,0528***
    PPE 0,0604*** 0,0575*** 0,0529*** 0,0049
    GROWTH -0,0003 -0,0003 -0,0002 -0,0157
    CR -0,0001 -0,0001 0,0001 -0,0069**
    LOSS 0,0475*** 0,0467*** 0,0493*** 0,1315**
    Constant 0,0637** 0,0477 0,0245 1,3891***
    Observation 3.724 3.724 3.724 3.156
    R-square 0,0544 0,0523 0,0114
    Ftest 21,36 11,5
    Wald chi 2 148,6
    Hausman test 53,22
    P value (0,0000)
    Breusch and Pagan test 502,65
    P value (0,0000)
    AR(1) 0,039
    AR(2) 0,582
    Hansen 0,575
    Nguồn: Tác giả tự tính toán từ phần mềm Stata
    Ghi chú: * mức ý nghĩa 10%, ** mức ý nghĩa 5%, *** mức ý nghĩa 1%

    trong khi có rất nhiều yếu tố tác động đến hợp với dữ liệu bảng trong nghiên cứu này
    chi phí sử dụng nợ mà các yếu tố này khó với thời gian ngắn 7 năm nhưng số doanh
    có thể thu thập được hết. Do đó, tiếp theo nghiệp lên đến 690. Sử dụng hai kiểm
    nghiên cứu sử dụng phương pháp ước định chủ chốt để kiểm tra tính hiệu lực của
    lượng GMM được đề xuất bởi Arellano mô hình GMM cho thấy chỉ số Hansen
    và Bond (1991). Một trong những ưu test lớn hơn 0,1, AR(1) có giá trị nhỏ hơn
    điểm của mô hình là dễ dàng chọn các 0,1 trong khi AR(2) có giá trị lớn hơn
    biến công cụ để xử lý vấn đề nội sinh bởi 0,1. Vì vậy có thể kết luận, các điều kiện
    vì độ trễ của các biến có thể sử dụng như về tính hợp lý của mô hình GMM là thỏa
    biến công cụ cho các biến nội sinh tại thời mãn và do đó kết quả nghiên cứu sẽ dựa
    điểm hiện tại. Bên cạnh đó, phương pháp trên mô hình GMM.
    ước lượng này còn thích hợp trong việc sử
    dụng dữ liệu bảng có T nhỏ, N lớn, phù Kết quả hồi quy ở Bảng 4 cho thấy, hệ

    Số 217- Tháng 6. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 9

  10. Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp

    số của biến PCON mang dấu âm và có ý dương với hệ số là 0,1315 tại mức thống
    nghĩa thống kê ở mức 5% theo phương kê là 5% có ý nghĩa là nếu doanh nghiệp
    pháp OLS và GMM. Kết quả này là phù tồn tại khoản lỗ lớn điều này sẽ làm tăng
    hợp với các nghiên cứu trước đây của rủi ro nhận thức của người cho vay về vấn
    Houston và cộng sự (2014) hay Chkir và đề thực hiện các nghĩa vụ nợ từ đó tăng
    cộng sự (2019). Kết quả này có thể giải chi phí sử dụng nợ. Tất cả kết quả ở trên
    thích như sau: Mối liên hệ thể chế có thể đều phù hợp với nghiên cứu của Bliss và
    giúp doanh nghiệp giảm sự phân biệt đối Gul (2012), hay Bliss và cộng sự (2018).
    xử, vượt qua những trở ngại về mặt pháp
    lí, giảm các rào cản và bất cân xứng thông Kết quả phương trình hồi quy theo GMM
    tin. Vì vậy, các doanh nghiệp có mối liên có thể được viết lại như sau:
    hệ thể chế có khả năng tiếp cận thị trường
    vốn tốt hơn và chi phí sử dụng nợ thấp IR = 1,3891 – 0,0242PCON – 0,0005AGE
    hơn (Vũ và Lê, 2017). Ngoài ra, mối liên – 0,0837AUDITOR + 0,1913LEV +
    hệ thể chế có thể giúp doanh nghiệp giảm 0,1638CF – 0,0528SIZE + 0,0049PPE
    thiểu rủi ro, bởi vì các doanh nghiệp này – 0,0157GROWTH – 0,0069CR +
    có thể nhận được những ưu đãi về thuế 0,1315LOSS + ε
    hay những khoản cứu trợ từ chính phủ
    khi gặp khó khăn về mặt tài chính. Do đó, 5. Kết luận
    doanh nghiệp có mối liên hệ về thể chế
    có chi phí sử dụng nợ thấp hơn các doanh Bài nghiên cứu thực hiện nhằm xem xét
    nghiệp khác (Houston và cộng sự, 2014). tác động mối liên hệ thể chế tới chi phí sử
    dụng nợ của doanh nghiệp, của các doanh
    Ngoài ra, các biến như LEV cho thấy một nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch chứng
    mối quan hệ đồng biến giữa đòn bẩy của khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch
    doanh nghiệp và chi phí sử dụng vốn, thể chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) từ
    hiện thông qua hệ số 0,1913 có ý nghĩa năm 2011 đến năm 2017.
    thống kê ở mức 1% tức là các doanh
    nghiệp có đòn bẩy quá cao sẽ kéo theo Thực hiện hồi quy mô hình với các ước
    việc tăng chi phí sử dụng nợ. Biến SIZE lượng OLS, REM. FEM, GMM đã cho
    có hệ số là -0,0528 tại ý nghĩa thống kê ở thấy, có một tương quan âm giữa mối
    mức 1%, điều này cho thấy rằng có mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của
    quan hệ nghịch biến giữa quy mô của doanh nghiệp. Cụ thể, khi doanh nghiệp có
    công ty và chi phí sử dụng nợ tức là khi mối liên hệ về thể chế thì doanh nghiệp có
    doanh nghiệp có tổng tài sản lớn sẽ có thể sẽ hưởng được những ưu đãi mà những
    chi phí nợ thấp hơn vì được xem là ít rủi doanh nghiệp không có mối quan hệ này
    ro hơn. Với biến CR ta nhận thấy có mối sẽ không có được. Những doanh nghiệp
    quan hệ nghịch biến với chi phí sử dụng này có thể tiếp cận được ưu đãi tín dụng
    nợ của doanh nghiệp (hệ số là -0,0069) và như có thể tiếp cận với các khoản vay dài
    có ý nghĩa thống kê ở mức 5% cho thấy hạn, tiếp cận khoản vay của chính phủ từ
    nếu hệ số khả năng thanh toán càng cao đó giúp giảm được chi phí sử dụng nợ của
    tức là doanh nghiệp có nhiều khả năng đáp doanh nghiệp một cách đáng kể.
    ứng nghĩa vụ nợ thì sẽ có chi phí sử dụng
    nợ thấp. Biến LOSS có mối tương quan Kết quả này là tương đồng với nhiều

    10 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 217- Tháng 6. 2020

  11. LÊ THỊ PHƯƠNG VY

    nghiên cứu thực nghiệm tại các quốc gia liên quan đến nền kinh tế đến mối quan hệ
    khác (Houston và cộng sự 2014; Chkir này. ■
    và cộng sự, 2019), Tuy nhiên, bài nghiên
    cứu vẫn còn một số hạn chế nhất định.
    Thứ nhất, việc đo lường mối liên hệ thể
    chế mới chỉ xem xét các mối liên hệ có
    tính minh bạch và công khai, các mối liên
    hệ ngầm như quan hệ bạn bè, gia đình
    chưa được xem xét trong nghiên cứu này.
    Thứ hai, mô hình nghiên cứu chưa kiểm
    soát hết các yếu tố tác động đến chi phí
    sử dụng nợ như yếu tố liên quan đến nền
    kinh tế cũng như các yếu tố quản trị doanh
    nghiệp. Cụ thể các nghiên cứu tiếp theo có
    thể xem xét thêm ảnh hưởng của cấu trúc
    sở hữu, cổ đông lớn hay các yếu tố khác
    Tài liệu tham khảo
    1. Bliss, M. A., Goodwin, J. A., Gul, F. A., & Wong, A. (2018). The association between cost of debt and Hong Kong
    politically connected firms. Journal of Contemporary Accounting & Economics, 14(3), 321-334.
    2. Bliss, M., & Gul, F. (2012). Political connection and leverage: Some Malaysian evidence. Journal of Banking &
    Finance, 36(8), 2344–2350.
    3. Johnson, S., & Mitton, T. (2003). Cronyism and capital controls: Evidence from Malaysia. Journal of Financial
    Economics, 67(2), 351–382.
    Bunkanwanicha, P., & Wiwattanakantang, Y. (2009). Big business owners in politics. Review of Financial Studies,
    22(9), 2133–2168.
    4. Chkir, I., Gallali, M. I., & Toukabri, M. (2019). Political connections and corporate debt: Evidence from two US
    election campaigns. The Quarterly Review of Economics and Finance.
    5. Choi, M. (2014). The value of political connections: evidence from Korean chaebols (Doctoral dissertation,
    Queensland University of Technology).
    6. Cull, R., Li, W., Sun, B., & Xu, L. C. (2015). Government connections and financial constraints: Evidence from a
    large representative sample of Chinese firms. Journal of Corporate Finance, 32, 271–294
    7. Faccio, M (2006). Politically connected firms. The American Economic Review 96 (1),369–386.
    8. Fisman, R., 2001. Estimating the value of political connections. American Economic Review, 91, 1095–1102.
    9. Harjan, S. A., Teng, M., Shah, S. S. H., & Mohammed, J. H. (2019). Political Connections and Cost of Debt
    Financing: Empirical Evidence from China. International Journal of Economics and Financial Issues, 9(1), 212.
    10. Houston, J. F., Jiang, L., Lin, C., & Ma, Y. (2014). Political connections and the cost of bank loans. Journal of
    Accounting Research, 52(1), 193-243.
    11. Infante, L., & Piazza, M. (2014). Political connections and preferential lending at local level: Some evidence from
    the Italian credit market. Journal of Corporate Finance, 29, 246-262.
    12. Khwaja, A. I., & Mian, A. (2005). Do lenders favor politically connected firms? Rent provision in an emerging
    financial market. The Quarterly Journal of Economics, 120(4), 1371-1411.
    13. Kroszner, R. S., & Stratmann, T. (1998). Interest-group competition and the organization of congress: theory and
    evidence from financial services’ political action committees. American Economic Review, 1163-1187.
    14. Leuz, C., & Oberholzer-Gee, F. (2006). Political relationships, global financing, and corporate transparency:
    Evidence from Indonesia. Journal of Financial. Economics, 81(2), 411–439.
    15. Qin, B. (2011). Political connection and government patronage: Evidence from Chinese manufacturing firms.
    In Institute for International Economic Studies (pp. 1-36). IIES. Stockholm University.
    16. Vũ Việt Quảng, Lê Thị Phương Vy (2016). Mối quan hệ về thể chế và khả năng tiếp cận thị trường vốn của doanh
    nghiệp. Tạp chí phát triền kinh tế, 27(6), 80-101.
    17. Xu, N., Jing, C., Nan, G., & Tian, G. (2016). The dark side of political connections in access to finance: Evidence
    from the use of trade credit of entrepreneurial firms in China. Unpublished Working Paper.

    Số 217- Tháng 6. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 11

Download tài liệu Mối liên hệ thể chế và chi phí sử dụng nợ của doanh nghiệp File Word, PDF về máy