[Download] Tải Kinh nghiệm thế giới về xây dựng trung tâm tài chính – Bài học từ Singapore và Thượng Hải – Tải về File Word, PDF

Kinh nghiệm thế giới về xây dựng trung tâm tài chính – Bài học từ Singapore và Thượng Hải

Kinh nghiệm thế giới về xây dựng trung tâm tài chính – Bài học từ Singapore và Thượng Hải
Nội dung Text: Kinh nghiệm thế giới về xây dựng trung tâm tài chính – Bài học từ Singapore và Thượng Hải

Download


Bài viết nêu lên đặc điểm của trung tâm tài chính với vai trò nền tảng cũng đóng góp rất nhiều vào sự phát triển chung của hệ thống tài chính của một quốc gia, từ đó đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế nói chung. Mời các bạn cùng tham khảo!

Bạn đang xem: [Download] Tải Kinh nghiệm thế giới về xây dựng trung tâm tài chính – Bài học từ Singapore và Thượng Hải – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Kinh nghiệm thế giới về xây dựng trung tâm tài chính – Bài học từ Singapore và Thượng Hải File Word, PDF về máy

Kinh nghiệm thế giới về xây dựng trung tâm tài chính – Bài học từ Singapore và Thượng Hải

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Kinh nghiệm thế giới về xây dựng trung tâm tài chính – Bài học từ Singapore và Thượng Hải

  1. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    14.

    1

    Lê Thị Hồng Minh*
    Huỳnh Thị Cẩm Hà *
    Lương Thị Thảo *
    Hoàng Thị Phương Anh*

    Tóm tắt
    Hệ thống tài chính đóng một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia,
    có nhiệm vụ kết nối giữa những người có vốn nhàn rỗi với các nhà đầu tư, những người
    cần sử dụng vốn. Khi nhu cầu lưu chuyển vốn vượt ra ngoài biên giới quốc gia, thì việc
    thành lập các trung tâm tài chính (TTTC) để thu hút thêm các khách hàng và tổ chức
    quốc tế không chỉ là xu thế tất yếu của kinh tế hiện đại mà còn là biểu hiện của một quốc
    gia năng động, phát triển và hội nhập. Thành công trong việc xây dựng TTTC của
    Singapore và Thượng Hải là minh chứng điển hình để Việt Nam định hình chiến lược
    thành lập các TTTC trong tương lai. Để thực hiện được điều đó, Việt Nam cần tăng cường
    nguồn nhân lực chất lượng cao, cải thiện cơ sở hạ tầng, thể chế, luật pháp, văn hóa.
    Từ khóa: Trung tâm tài chính, bài học kinh nghiệm, Singapore, Thượng Hải.

    1. Giới thiệu
    Trong chiến lược phát triển kinh tế của các quốc gia thì việc hình thành TTTC quốc tế
    không chỉ là xu hướng cần thiết mà còn là biểu hiện của một quốc gia năng động, phát
    triển và hội nhập; góp phần nâng tầm quốc gia lên một vị thế mới trong bản đồ phát triển
    của thế giới. Một TTTC phát triển sẽ mang lại nhiều thuận lợi đối với nền kinh tế của
    quốc gia và được biểu hiện qua nhiều khía cạnh. TTTC tạo ra nguồn thu nhập cho dân
    cư, tạo cơ hội việc làm trực tiếp cho nguồn nhân lực chất lượng cao trong ngành tài chính,
    cũng như các ngành có liên quan như luật, công nghệ thông tin, kế toán, kiểm toán, tư

    *Trường Đại học Kinh tế TP. HCM| Email liên hệ: anhtcdn@ @ueh.edu.vn

    194

  2. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    vấn, nhân sự, và các ngành dịch vụ khác mà các công ty tài chính sử dụng. Ngành tài
    chính cũng là một trong những ngành công nghiệp kỹ thuật cao, mang lại rất nhiều giá trị
    gia tăng và hỗ trợ rất nhiều cho sự phát triển của các doanh nghiệp. TTTC với vai trò nền
    tảng cũng đóng góp rất nhiều vào sự phát triển chung của hệ thống tài chính của một quốc
    gia, từ đó đóng góp một phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế nói chung.

    2. Tổng quan về trung tâm tài chính
    TTTC được xem là một thành phố hay một khu vực với lĩnh vực tài chính phát triển ở
    mức độ cao. Điều này thể hiện ở việc tập trung nhiều ngân hàng, các tổ chức tài chính
    lớn mạnh, cơ sở hạ tầng phát triển và các yếu tố khác phục vụ cho các giao dịch tài chính
    diễn ra thuận lợi, nhanh chóng. TTTC có các cấp độ phát triển khác nhau cũng như các
    đặc điểm nhận diện riêng.
    2.1. Các cấp độ trung tâm tài chính
    Dựa trên cách phân loại của tổ chức quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) thì TTTC có 3 cấp độ, đó là:
    ▪ TTTC quốc tế (IFC– International Financial Centre), như Thành phố New
    York, London, Tokyo.
    ▪ TTTC khu vực (RFC–Regional Financial Centre), như Frankfurt, Chicago, Sydney.
    ▪ TTTC nước ngoài (OCF – Offsore Financial Centre), như Quần đảo
    Cayman, Dublin, Hong Kong và Singapore.
    Các IFC và nhiều RFC là các TTTC có đầy đủ dịch vụ với quyền tiếp cận trực tiếp
    các nguồn vốn lớn từ các ngân hàng, các công ty bảo hiểm, các quỹ đầu tư và các thị
    trường chứng khoán niêm yết. Trong khi đó, các OFC và một số RFC có xu hướng chuyên
    về các dịch vụ dựa trên thuế hoặc quản lý tài sản và ngân hàng tư nhân cho các khách
    hàng quốc tế. IMF lưu ý về sự chồng chéo giữa RFC và OFC (ví dụ Hong Kong và
    Singapore là OFC và RFC). Kể từ năm 2010, nhiều nghiên cứu xem các TTTC nước
    ngoài (OFCs) như là thiên đường về thuế (tax heavens).
    Ở cách tiếp cận chi tiết hơn, có thể phân loại TTTC ở 5 cấp độ (hay được gọi là 5 mô
    hình TTTC), đó là: TTTC quốc gia, TTTC khu vực, TTTC nước ngoài (ví dụ như Dubai),
    TTTC quốc tế (Hong Kong, Singapore, Tokyo, Seoul), TTTC toàn cầu (London, New York).
    TTTC quốc gia: gắn liền với một quốc gia cụ thể (Robert, 1994). các TTTC quốc gia
    là những thành phố có đủ các điều kiện để đáp ứng nhu cầu dịch vụ tài chính của một
    quốc gia, là nơi tập trung của các ngân hàng, tổ chức tài chính và các giao dịch tài chính
    của quốc gia đó. Hệ thống ngân hàng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu thương mại nội địa.
    Hạ tầng thị trường như hệ thống thanh toán, hệ thống quản lý thông tin khá đơn giản và

    195

  3. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    chủ yếu được phát triển trong nước, có thể có giới hạn đối với những hoạt động xuyên
    biên giới. Tại Việt Nam, Hà Nội và TPHCM cũng có thể được coi là 2 TTTC quốc gia.
    TTTC khu vực (RFC): Ở cấp độ này, các TTTC tiếp tục phát triển các dịch vụ và hạ tầng
    để thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Số lượng các nhà đầu tư nước ngoài tin
    tưởng và đầu tư vào thị trường ngày càng nhiều. Tính thanh khoản của thị trường được nâng
    cao do số lượng nhà đầu tư lớn, các thành viên của thị trường bắt đầu trở nên chuyên nghiệp
    ở mức độ khu vực và quốc tế. Một mạng lưới khách hàng, nhà cung cấp và đối tác để hỗ trợ
    cho các hoạt động tài chính cũng dần được hình thành (Nguyễn Thế Phong, 2014). Hay nói
    một cách khác, TTTC khu vực là nơi có sự tập trung cao của các tổ chức tài chính và thị
    trường vốn cho phép các giao dịch tài chính trong khu vực diễn ra hiệu quả.
    TTTC nước ngoài (OFC): hay còn gọi là TTTC mở cửa với nước ngoài: Tại cấp độ
    này, một TTTC cạnh tranh với các trung tâm khác để thu hút đầu tư nước ngoài. Chính
    phủ có xu hướng áp dụng những chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài và đảm bảo
    sự công bằng của các tổ chức tài chính nước ngoài khi đầu tư tại nước sở tại. TTTC nói
    chung bắt đầu phát triển để đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng của các nhà đầu tư, tổ chức tài
    chính nước ngoài cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho dòng vốn đầu tư xuyên biên giới
    chảy vào. Có thể thấy rõ ràng rằng hiện nay Việt Nam đang ở giai đoạn phát triển này.
    TTTC quốc tế (IFC): một TTTC quốc tế cũng được xác định qua 3 đặc điểm cơ bản là:
    (1) là nơi tập trung của các ngân hàng, tổ chức tài chính lớn; (2) có trình độ phát triển cao
    trong khu vực tài chính, là nơi diễn ra nhiều các dịch vụ tài chính cấp cao (như hoạt động
    ngân hàng đầu tư, tài chính doanh nghiệp hay giao dịch chứng khoán), khối lượng giao dịch
    lớn và chuyên biệt hóa một cách rõ rệt và (3) sự phát triển của khu vực dịch vụ hỗ trợ.
    TTTC toàn cầu (GFC – Global Financial Centre): là cấp độ cao nhất của các TTTC.
    TTTC toàn cầu là các thành phố có đủ năng lực đóng vai trò là trung gian kết nối giữa
    các tổ chức tài chính và các khách hàng trên phạm vi toàn cầu. Các TTTC toàn cầu thường
    có uy tín rất lớn trên thị trường tài chính thế giới, tập trung những tổ chức tài chính lớn
    nhất và một hệ thống tài chính phát triển ở cấp độ cao nhất. Các hoạt động kinh doanh tài
    chính ở đây có thể diễn ra nhanh chóng, hiệu quả và an toàn ở mức tối đa.
    2.2 Đặc điểm nhận diện trung tâm tài chính
    ▪ Là nơi tập trung số lượng lớn các định chế tài chính, có các định chế tài chính
    phát triển mạnh về vốn và có uy tín cao trên thị trường
    Các TTTC được đặt tại các khu vực nơi các công ty có cơ hội tiếp cận nguồn vốn lớn
    hoặc nhận tài trợ từ các ngân hàng, công ty bảo hiểm và các định chế tài chính khác. Điều
    này cho thấy TTTC là nơi tập trung các tổ chức tài chính như ngân hàng thương mại,

    196

  4. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    ngân hàng đầu tư, sở giao dịch chứng khoán và các tổ chức tư vấn đầu tư. Đây có thể là
    những doanh nghiệp có lợi nhuận rất cao và như vậy thành phố được chọn là TTTC có
    thể tăng nhiều ngân sách từ thuế khi các công ty đó đặt trụ sở chính trong TTTC. Tại các
    TTTC, có rất nhiều công ty dịch vụ tài chính cung cấp dịch vụ liên quan đến sáp nhập và
    mua lại, IPO và giao dịch. Kể từ tháng 3/2021, Chỉ số TTTC Toàn cầu (GFCI) đã nêu tên
    New York là TTTC hàng đầu thế giới, sau đó là London và Thượng Hải.
    Bên cạnh đó, các TTTC đều xuất phát điểm là TTTC quốc gia trước khi tiến dần lên
    các cấp độ cao hơn là TTTC khu vực, TTTC toàn cầu. Các TTTC ở các cấp về bản chất
    là giống nhau, điểm khác nhau cơ bản là ở quy mô và mức độ lan tỏa cũng như danh tiếng
    của các TTTC ở cấp cao là vượt trội hơn so với các TTTC ở cấp thấp hơn.
    ▪ Là nơi tập trung các chuyên gia nhân sự tài chính giỏi, có trình độ chuyên môn
    cao để phát triển được những kỹ năng nghiệp vụ
    Với một hệ thống tài chính giàu kinh nghiệm và hiệu quả sẽ luôn đi kèm với đội ngũ
    nhân sự chuyên nghiệp, trình độ chuyên sâu và chất lượng cao trong lĩnh vực tài chính,
    ngân hàng, công nghệ… luôn có sẵn, do vậy các TTTC là nơi có nguồn nhân lực tài chính
    tốt nhất cũng như là nơi thu hút được các tài năng trên khắp thế giới tập trung về. Việc dễ
    dàng tiếp cận, giảm chi phí tuyển dụng cũng như chi phí đào tạo của đội ngũ nhân viên
    chất lượng cao sẽ tạo ra những lợi thế cạnh tranh không nhỏ cho các công ty trong TTTC.
    Điều này đồng nghĩa với việc tạo điều kiện thuận lợi mức độ mở cửa lao động nước ngoài
    ▪ Là nơi có các thị trường tài chính chính thức như thị trường tiền tệ ngân hàng, thị
    trường chứng khoán bao gồm thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu, thị trường bảo
    hiểm, thị trường phái sinh
    Bảng 1. 10 thị trường chứng khoán trên thế giới có giá trị vốn hóa lớn nhất
    Tỷ USD 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020
    1. NYSE 19.4 17.8 19.6 22.1 20.7 24.5 26.2
    2. Nasdaq – US 7.0 7.3 7.8 10.0 9.8 13.0 19.1
    3. Shanghai Stock Exchange 3.9 4.5 4.1 5.1 3.9 5.1 7.0
    4. Japan Exchange Group 4.4 4.9 5.1 6.2 5.3 6.2 6.7
    5. Hong Kong Exchanges and Clearing 3.2 3.2 3.2 4.4 3.8 4.9 6.1
    6. Euronext 3.3 3.3 3.5 4.4 3.7 4.7 5.4
    7. Shenzhen Stock Exchange 2.1 3.6 3.2 3.6 2.4 3.4 5.2
    8. LSE Group 4.0 3.9 3.5 4.5 3.6 4.2 4.0
    9. TMX Group 2.1 1.6 2.0 2.4 1.9 2.4 2.6
    10. National Stock Exchange of India 1.5 1.5 1.5 2.4 2.1 2.2 2.6

    Nguồn: Worldbank

    197

  5. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Các thị trường tài chính tại các TTTC đều có quy mô lớn và chi phối thị trường toàn
    cầu, chẳng hạn như quy mô vốn hóa của các sàn giao dịch chứng khoán lớn nhất thế giới
    đều đặt tại các TTTC của thế giới (như New York, Thượng Hải, Tokyo…).
    ▪ Là nơi có các điều kiện vị trí địa lý thuận lợi, mức độ phát triển về kinh tế, hạ tầng
    kỹ thuật, công nghệ hơn hẳn so với các khu vực khác
    Có thể dễ dàng nhận ra rằng các TTTC đã tồn tại trong suốt lịch sử từ những trung
    tâm cổ đại, gần như huyền thoại như Babylon, Samarkand, Constantinople, Marrakech
    hay Timbuktu cho đến London, New York, Paris, Tokyo hay Thượng Hải. Các TTTC
    trước hết thường xuất phát từ các thành phố là các trung tâm công nghiệp và thương mại.
    Tất cả các TTTC lớn trên thế giới đã từng có giai đoạn là trung tâm thương mại và công
    nghiệp, như New York (Mỹ), Amsterdam (Hà Lan), Hong Kong, Singapore, London
    (Anh), Paris (Pháp). Tuy nhiên, không phải thành phố công nghiệp và thương mại nào
    cũng có thể trở thành TTTC. Điều này cho thấy có rất nhiều thành phố đã từng là trung
    tâm công nghiệp và thương mại lại không thể phát triển thành một TTTC, mặc dù sở hữu
    các điều kiện tự nhiên về cảng biển, vị trí địa lý.
    Là một TTTC cũng có nghĩa là có một địa điểm thuận tiện để tổ chức các cuộc họp
    và hội nghị kinh doanh, từ đó thúc đẩy ngành du lịch và các khoản thu thuế liên quan.
    Điều này dẫn đến giá thuê mặt bằng, bất động sản tại các TTTC có mức giá trung bình
    tăng cao so với các nơi khác, do tại vị trí các TTTC: nhu cầu về nhà ở, mặt bằng để sử
    dụng ngày càng tăng cao và vượt xa nguồn cung ứng. Bởi vì các TTTC có các doanh
    nghiệp thu hút nhiều lao động, nhiều doanh nghiệp khác mọc lên để phục vụ cho tất cả
    các cá nhân trong khu vực, tạo nên một thành phố hoặc khu vực sầm uất. Các lĩnh vực
    kinh doanh khác có thể bao gồm từ nhà hàng đến phòng tập thể dục, cửa hàng bách hóa
    đến các trung tâm giải trí khác nhau. Cơ sở hạ tầng giao thông, thông tin và tài chính hiện
    đại, các kết nối hệ thống tài chính ngân hàng, cơ sở hạ tầng tài chính được thiết lập theo
    tiêu chuẩn khu vực và quốc tế.
    Ngoài ra, theo nghiên cứu của Dufey và Giddy (1978) thì việc nhận diện một TTTC
    được thông qua 4 đặc điểm quan trọng đó là: là nơi ổn định về kinh tế và chính trị; là nơi
    có hệ thống tài chính giàu kinh nghiệm và hiệu quả; hệ thống thông tin liên lạc tốt và đầy
    đủ các dịch vụ hỗ trợ; và có một môi trường pháp lý thuận lợi cho lĩnh vực tài chính. Với
    vị trí được chọn TTTC phải ổn định về kinh tế và chính trị bởi vì việc kinh doanh dịch vụ
    tài chính cũng như bất kỳ một ngành kinh doanh nào khác, phụ thuộc rất nhiều vào môi
    trường kinh doanh nói chung của một quốc gia như mức độ tăng trưởng kinh tế, chính
    sách kinh tế của chính phủ, thuế suất, mức độ thuận lợi cũng như chi phí kinh doanh. Các
    tổ chức tài chính khi di chuyển vào các TTTC thường là những tổ chức quốc tế lớn, tính
    linh hoạt cao, nên họ sẽ chọn những TTTC nào đáp ứng được nhu cầu. Bên cạnh đó, hệ
    198

  6. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    thống chính trị ổn định của quốc gia có TTTC được các nhà đầu tư cũng như các tổ chức
    tài chính đánh giá cao.
    2.3 Xếp hạng các TTTC trên toàn cầu
    Để xếp hạng các TTTC trên toàn cầu, có 2 chỉ số cơ bản được chọn làm căn cứ để xếp hạng
    các TTTC của thế giới, đó là chỉ số TTTC toàn cầu (GFCI – Global Financial Centres
    Index của Anh) và chỉ số IFCDI (International Financial Centres Development Index- của
    Mỹ và Trung Quốc). Trong đó, GFCI xuất hiện trước IFCDI và đã là thước đo năng lực
    cạnh tranh của các thủ đô tài chính thế giới từ năm 2007. GFCI được tính toán dựa trên
    đánh giá của 29,000 TTTC lớn trên toàn cầu cùng với 100 chỉ số từ các tổ chức uy tín như
    Ngân hàng Thế Giới World Bank, OECD, Cơ quan Tình báo Kinh tế EIU. Báo cáo xếp
    hạng của GFCI được Z/Yen Group (hãng nghiên cứu và tư vấn về tài chính của Anh) nghiên
    cứu và công bố vào 2 lần mỗi năm, thực hiện vào tháng 9 và tháng 3 hàng năm.
    Bảng 2. Bảng xếp hạng 10 TTTC toàn cầu, tháng 3/2021
    10 GFC hàng đầu thế giới 10 GFC hàng đầu khu vực hâu 10 GFC hàng đầu trong lĩnh vực
    Á Thái Bình Dương FinTech

    NewYork Thượng Hải NewYork
    London Hong Kong Thượng Hải
    Thượng Hải Singapore Bắc Kinh
    Hong Kong Bắc Kinh Thâm Quyến
    Singapore Tokyo London
    Bắc Kinh Thâm Quyến Hong Kong
    Tokyo Seoul Singapore
    Thâm Quyến Sydney Los Angeles
    Frankfurt Quảng Châu San Francisco
    Zurich Melbourne Tel Aviv
    Nguồn: Z/Yen, March 2021

    Trong các trung tâm tài chính hàng đầu ở châu Á thì Hong Kong là nơi đặt trụ sở
    nhiều cơ quan truyền thông quốc tế, nhờ chính sách cởi mở với doanh nghiệp nước ngoài
    và quan hệ mật thiết với Trung Quốc đại lục. Tuy nhiên, sau khi Trung Quốc thông qua
    luật an ninh quốc gia áp dụng với Hong Kong vào tháng 7/2020, tình trạng bất ổn chính
    trị tại Hong Kong gia tăng khiến nhiều doanh nghiệp có xu hướng chuyển khỏi thành phố
    này. Trên thực tế, giá thuê văn phòng tại các quận chính ở Hong Kong đang biến động.
    Nếu quan hệ Mỹ-Trung không có dấu hiệu cải thiện, Hong Kong có thể mất đi vị thế tài
    chính khu vực, và dòng vốn đầu tư và nhân sự có thể tháo chạy khỏi thị trường này. Một
    số thành phố châu Á đang nỗ lực thu hút vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp rời khỏi
    Hong Kong. Singapore hưởng lợi nhiều nhất nhờ các điều kiện ngôn ngữ, thời tiết và môi
    trường tương tự Hong Kong. Trung Quốc cũng có kế hoạch riêng, tích cực quảng bá thành

    199

  7. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    phố Thượng Hải và Thâm Quyến thông qua nới lỏng các quy định nhằm tạo điều kiện
    thuận lợi cho các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại thị trường này.
    Việc Singapore và Thượng Hài nhận được sự quan tâm rất lớn của các công ty đa
    quốc gia cho thấy sự thành công trong việc duy trì vị thế TTTC của hai khu vực này. Lịch
    sử phát triển cũng như các trụ cột trong sự thành công của TTTC Singapore và Thượng
    Hải sẽ là những bài học kinh nghiệm quý giá cho các các gia trong khu vực châu Á trong
    chiến lược xây dựng TTTC quốc gia vươn mình trở thành TTTC khu vực và quốc tế.

    3. Kinh nghiệm xây dựng trung tâm tài chính Singapore
    Trong 55 năm kể từ khi giành được độc lập năm 1965, Singapore đã khẳng định mình là
    một trong những TTTC hàng đầu toàn cầu. Singapore được xếp hạng 2 trong chỉ số Thành
    phố Cơ hội (City of Opportunity index) của PriceWaterHouseCooper và hạng 2 về xếp
    hạng Trung tâm quản trị tài sản toàn cầu (Global Wealth Management Centre Ranking)
    của Deloitte. Những nhân tố chính đóng góp cho sự thành công của Singapore bao hàm
    cả yếu tố lịch sử và các phát kiến chính sách.
    3.1. Lịch sử phát triển
    Việc Singapore trở thành một TTTC có thể được bắt nguồn từ nguồn gốc thuộc địa của
    quốc gia này, khi Stamford Raffles lần đầu tiên thành lập một chi nhánh giao dịch của
    Công ty Đông Ấn thuộc Anh trên đảo vào năm 1819. Singapore sau đó trở thành thuộc
    địa của Anh vào năm 1826. Với vị trí địa lý chiến lược, Singapore nhanh chóng trở thành
    một trung tâm trung chuyển thương mại lớn dưới thời Đế quốc Anh, cũng như là một căn
    cứ hải quân của Anh. Sự xuất hiện sớm này của hoạt động thương mại và vận chuyển là
    rất quan trọng đối với sự hình thành của lĩnh vực dịch vụ tài chính ở Singapore. Trong
    nhiều trường hợp trên khắp thế giới, sự xuất hiện của các luồng giao thương thương mại
    lớn sẽ phát triển dịch vụ tài chính liên quan đến hoạt động thương mại và vận chuyển,
    chẳng hạn như trao đổi tiền tệ, bảo hiểm vận tải và tài trợ hàng hải và các dịch vụ tài
    chính liên quan khác. Với vị trí gần các kho hàng dọc sông Singapore, các ngân hàng và
    các định chế tài chính dễ dàng tiếp cận với khách hàng của họ – các công ty vận chuyển
    và chủ kho hàng – những người có nhu cầu về dịch vụ tài chính và bảo hiểm.
    Tuy nhiên, chỉ khi giành được độc lập, Singapore mới phát triển thành một TTTC
    toàn cầu với việc chính phủ thực hiện các chính sách tích cực hướng tới thành lập ngành
    dịch vụ tài chính ở Singapore. Albert Winsemius là người đầu tiên gợi ý rằng múi giờ
    chiến lược của Singapore có thể cho phép kết nối khoảng trống trong giờ giao dịch của
    thị trường tài chính toàn cầu. Điều này dẫn đến việc thành lập Thị trường đô la Châu Á
    (Asian Dollar Market – ADM) vào năm 1968, nhằm mục đích tạo cầu nối giữa thời điểm

    200

  8. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    đóng cửa của thị trường Mỹ với thời điểm mở cửa thị trường châu Âu vào ngày giao dịch
    tiếp theo. ADM đặt nền tảng cho sự phát triển của hệ thống tài chính ngân hàng ở
    Singapore, với Đơn vị tiền tệ Châu Á (ACU) được thành lập cùng với ADM cho phép
    tham gia của các ngân hàng và tổ chức tài chính nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ tài
    chính của Singapore. Như vậy, chính phủ Singapore ngay từ đầu đã coi ngành dịch vụ tài
    chính không chỉ đơn giản là một phương tiện để hỗ trợ sự phát triển của các ngành công
    nghiệp hiện có khác, mà còn chú trọng thúc đẩy sự tăng trưởng của riêng ngành này.
    Việc xem ngành dịch vụ tài chính là một động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bắt nguồn
    từ từ việc Singapore tuân thủ cách tiếp cận “nhà nước phát triển” để phát triển kinh tế, theo
    đó nhà nước có xu hướng xác định các lĩnh vực chính có thể đóng góp vào tăng trưởng kinh
    tế và ban hành các chính sách phù hợp để phát triển các ngành này. Dựa vào quan điểm trên
    và kết hợp với nhu cầu kinh tế của một quốc gia mới độc lập, Singapore đã bắt tay vào phát
    triển ngành dịch vụ tài chính để tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Cách tiếp cận này
    đã thúc đẩy sự phát triển của Singapore trở thành một TTTC toàn cầu. Ở giai đoạn phát triển
    của Singapore, sự can thiệp của nhà nước là rất quan trọng cho nỗ lực hình thành nền tảng
    thị trường tài chính, chẳng hạn như việc thành lập ADM.
    3.1.1 Sự phát triển về mặt thể chế
    Khi ngành dịch vụ tài chính của Singapore ngày càng phát triển phức tạp và quốc tế hóa
    với cả sự gia tăng của các tổ chức tài chính trong nước lẫn sự gia nhập của các tổ chức
    tài chính nước ngoài, ngày càng có nhu cầu về một cách tiếp cận hợp nhất hơn để quản
    lý và điều chỉnh các định chế này. Do vậy, Đạo luật Cơ quan Quản lý Tiền tệ Singapore
    đã được ban hành vào năm 1971, cho phép thành lập Cơ quan tiền tệ Singapore
    (Monetary Authority of Singapore – MAS), đóng vai trò kép của ngân hàng trung ương
    và cơ quan quản lý tài chính.
    Sở giao dịch chứng khoán Singapore (SES) sau đó được thành lập vào năm 1973, cho
    phép các công ty huy động vốn thông qua thị trường vốn cổ phần. SES là sau đó hợp nhất
    với Sở giao dịch tiền tệ quốc tế Singapore để hình thành Sở giao dịch Singapore (SGX),
    đáp ứng với chiều sâu tài chính và sự đa dạng ngày càng tăng của thị trường vốn
    Singapore. Sở giao dịch tiền tệ quốc tế Singapore (SIMEX) được thành lập vào năm 1983,
    và sàn SESDAQ ra đời năm 1987 cho phép niêm yết các công ty có quy mô nhỏ.
    Việc hình thành các tổ chức quản lý như MAS và SGX là một quyết định mang tính
    thể chế để đáp ứng tốc độ phát triển nhanh chóng của lĩnh vực dịch vụ tài chính ở
    Singapore trong giai đoạn này. Khi nhu cầu các tổ chức tài chính về quy mô giao dịch
    ngày càng tăng và phức tạp hơn đã dẫn đến sự ra đời của các nền tảng giao dịch như SGX,

    201

  9. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    SIMEX, hoặc SASDAQ, điều này cũng cho thấy các cơ quan quản lý đã đảm bảo một
    nền tảng thị trường và hệ thống phù hợp với sự tăng trưởng của khu vực tài chính.
    Trong khi MAS đóng vai trò quản lý thị trường tài chính thì SGX cũng giữ vai trò
    quản lý đặc biệt, cụ thể là quản lý các thành viên và đảm bảo rằng các giao dịch được
    thực hiện là hợp pháp. Các tổ chức khác cũng có vai trò quản lý bao gồm Hội đồng quản
    trị Quỹ dự phòng trung ương (Central Provident Fund – CPF), cơ quan quản lý khoản
    tái đầu tư nguồn ngân quỹ được nắm giữ trong hệ thống quỹ hưu trí bắt buộc của
    Singapore, và Cơ quan quản lý kế toán và doanh nghiệp (Accounting and Corporate
    Regulatory Authority – ACRA), giữ vai trò quản lý các tổ chức kinh doanh, kế toán và
    các nhà cung cấp dịch vụ doanh nghiệp ở Singapore.
    3.1.2. Quốc tế hóa, đa dạng hóa và hợp nhất
    Ngành dịch vụ tài chính của Singapore trải qua tiến trình quốc tế hóa và đa dạng hóa
    trong những năm 1980 và 1990. Điều này bắt đầu thực hiện sau cuộc suy thoái kinh tế
    1984-1985, với việc vào năm 1985, Ủy ban Đánh giá Kinh tế (Economic Review
    Committee – ERC) xác định 7 lĩnh vực tăng trưởng của ngành tài chính Singapore, trong
    đó có quản lý rủi ro, quản lý quỹ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán chưa niêm yết,
    hợp đồng tương lai hàng hóa và tài chính, thị trường tài trợ cho hoạt động thương mại và
    tái bảo hiểm của nước thứ ba.
    Tuy nhiên, việc xác định các khu vực tăng trưởng mới này không chỉ nhằm phục hồi
    sau suy thoái mà còn là một phần trong nỗ lực của chính phủ Singapore nhằm thiết lập
    các khu vực tăng trưởng mới trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng tăng từ các TTTC khác,
    vốn đang nhanh chóng tự do hóa và bãi bỏ quy định thị trường của họ. Trong những năm
    1980, ngành quản lý tài sản của Singapore phát triển nổi bật nhất. Được sự hỗ trợ của của
    chính phủ cũng như tận dụng lợi thế về sự mở rộng nhanh chóng trong quy mô và sự đa
    dạng hóa của thị trường tài chính Singapore, ngành công nghiệp quản lý tài sản đã trở
    thành một lĩnh vực tăng trưởng quan trọng của của quốc gia này.
    Ngoài quốc tế hóa và đa dạng hóa, ngành dịch vụ tài chính của Singapore cũng đã trải
    qua một giai đoạn hợp nhất, đặc biệt là giữa các các ngân hàng quốc doanh trong nước. Khi
    tự do hóa thị trường tài chính làm tăng sự tham gia bởi các ngân hàng và tổ chức tài chính
    nước ngoài trên thị trường tài chính của mình, các nhà hoạch định chính sách của Singapore
    nhận thấy nhu cầu ngày càng tăng trong việc mở rộng quy mô và năng lực của các ngân
    hàng địa phương để đảm bảo khả năng cạnh tranh toàn cầu. Dưới sự cố vấn của MSA, các
    ngân hàng địa phương nhỏ hơn đã được sáp nhập, điển hình là việc tiếp quản Post Office
    Savings Bank (POSB) của Ngân hàng Phát triển Singapore (DBS) và sự hợp nhất của
    Overseas Union Bank vào United Overseas Bank Limited (UOB).

    202

  10. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Quá trình hợp nhất này không chỉ giới hạn ở các ngân hàng hoặc khu vực tư
    nhân. Trên quan điểm về một khu vực tài chính ngày càng đa dạng và tích hợp, MAS đã
    tìm cách củng cố chính sách của mình bằng cách nhấn mạnh hai quyết sach chính của
    mình là cải cách quy định và thúc đẩy phát triển lĩnh vực tài chính. Điều này dẫn đến đến
    việc tái cơ cấu tổ chức đáng kể vào năm 1997, và hình thành Ban Xúc tiến Khu vực Tài
    chính, nơi tập trung vào việc thúc đẩy các hoạt động tài chính và phát triển Singapore
    thành một TTTC quốc tế hàng đầu.
    3.2 Các lĩnh vực chính
    Một số lĩnh vực hoặc thị trường tài chính có vị thế đặc biệt quan trọng đối với sự thành
    công của Singapore. Những lĩnh vực này đại diện cho thế mạnh của Singapore với tư cách
    một TTTC toàn cầu, cũng như thu hút các nhà đầu tư và tổ chức tài chính nước ngoài.
    3.2.1 Ngân hàng và Tài chính
    Singapore có vai trò quan trọng trong khu vực và toàn cầu như một trung tâm ngân hàng
    lớn. Theo MAS, các ngân hàng ở Singapore nắm giữ tổng tài sản hơn 2 nghìn tỷ đô la Mỹ
    tính đến năm 2019. Số ngân hàng thương mại là 155, trong đó 5 ngân hàng trong nước
    và 150 ngân hàng nước ngoài, trong số này có 97 là ngân hàng bán buôn. Đặc biệt, 3 ngân
    hàng địa phương lớn nhất của Singapore là DBS, UOB và OCBC đã được xếp hạng trong
    nhóm các thương hiệu ngân hàng mạnh nhất và có giá trị nhất thế giới.
    Hơn nữa, lĩnh vực ngân hàng của Singapore còn có khả năng tạo ra hiệu ứng lan tỏa
    kinh tế. Khu vực ngân hàng hỗ trợ các hoạt động thương mại, tài chính doanh nghiệp và
    xây dựng cơ sở hạ tầng. Do đó khu vực ngân hàng của Singapore đóng một vai trò quan
    trọng, không chỉ đơn giản là một lĩnh vực tăng trưởng mà còn tạo điều kiện cho các hoạt
    động kinh tế và tài chính khác nữa. Tuy nhiên, lĩnh vực ngân hàng của Singapore cũng
    phải đối mặt với những thách thức về quy định, đặc biệt là về các hoạt động rửa tiền và
    thao túng lãi suất.
    3.2.2. Quản lý tài sản (Assets Under Management – AUM)
    Quản lý tài sản đã được xác định là một lĩnh vực tăng trưởng quan trọng trong những năm
    1980, Singapore kể từ đó vươn lên trở thành một trung tâm quản lý tài sản hàng đầu Châu
    Á. Theo Khảo sát Quản lý Tài sản năm của MAS, trong năm 2019, tài sản đặt dưới sự
    quản lý của các tổ chức ở Singapore lên tới 3,97 nghìn tỷ đô la Singapore, tăng trưởng
    16% so với năm trước. Tài sản này được quản lý bởi 895 nhà quản lý quỹ đã đăng ký và
    được cấp phép. Quan trọng hơn, Singapore đã nhanh chóng vươn lên trở thành một trung
    tâm quản lý tài sản hàng đầu trong khu vực và toàn cầu, đóng một vai trò trung gian quan
    trọng cho các luồng vốn đầu tư tư nhân toàn cầu. 76% AUM của Singapore có nguồn gốc

    203

  11. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    từ bên ngoài, với 69% AUM đầu tư vào khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Singapore
    đã trở thành một trung tâm cho các nhà đầu tư tổ chức tìm kiếm cơ hội tiếp cận thị trường
    vốn tư nhân ở Châu Á.
    Sự nổi lên của Singapore như là một trung tâm quản lý tài sản hàng đầu dựa trên vị
    trí chiến lược của nó trong một khu vực đang phát triển. Điển hình là, với sự phát triển
    kinh tế mạnh của các quốc gia như Trung Quốc và Indonesia, ngày càng có nhiều cá nhân
    có giá trị tài sản ròng cao ở các quốc gia này đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của
    lĩnh vực quản lý tài sản của Singapore. Tuy nhiên, giống như ngân hàng, lĩnh vực quản
    lý tài sản của Singapore phải đối mặt với những thách thức về quy định, chẳng hạn như
    như trốn thuế, đòi hỏi cải cách quy định và hợp tác giữa MAS và các cơ quan quản lý tài
    chính khác.
    3.2.3. Thị trường vốn
    Vị thế TTTC lớn của Singapore thể hiện qua chiều sâu và tính thanh khoản của thị trường
    vốn, với thị trường trái phiếu, vốn cổ phần, ngoại hối và thị trường phái sinh phi tập
    trung. Về trái phiếu công ty thì tổng giá trị phát hành trong năm 2019 là 233 tỷ đô la
    Singapore, bao gồm cả nợ định danh bằng SGD và nợ không phải SGD (trong đó nợ định
    danh bằng ngoại tệ chiếm 87,6%), được phát hành bởi một nhóm đa dạng các tổ chức
    phát hành nước ngoài. Sự đa dạng về loại hình phát hành và tổ chức phát hành trái phiếu
    này đã phản ánh vị thế một trung tâm quốc tế về thị trường giao dịch chứng khoán có thu
    nhập cố định.
    Thị trường vốn cổ phần của Singapore được biết đến là một trong những thị trường
    có quy mô lớn nhất trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, với gần 800 công ty niêm
    yết trên SGX, quy mô vốn hóa thị trường là 697,27 tỷ USD và giá trị giao dịch chứng
    khoán trung bình hàng ngày vượt quá 1,1 tỷ USD vào năm 2019. Giống như các thị trường
    tài chính khác, thị trường vốn cổ phần của Singapore có tính quốc tế hóa cao, với các
    công ty nước ngoài chiếm 40% danh sách niêm yết trên SGX. Tuy nhiên, thị trường vốn
    này đang bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự biến động trên thị trường khu vực và toàn cầu.
    Ngoài trái phiếu và cổ phiếu, Singapore cũng là một trung tâm giao dịch ngoại hối
    quan trọng lớn nhất ở Châu Á Thái Bình Dương và đứng thứ ba trên thế giới, sau London
    và New York. Theo thống kê của BIS, trong năm 2019, khối lượng giao dịch trung bình
    hàng ngày lên tới 633 tỷ USD, chiếm 7,6% thị phần toàn cầu.
    3.2.4. Bảo hiểm
    Quyết định tự do hóa lĩnh vực bảo hiểm của MAS vào năm 2000 mở ra nhu cầu về hoạt
    động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm cho thị trường quốc tế, tạo điều kiện để

    204

  12. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Singapore đóng tring tâm bảo hiểm và tái bảo hiểm hàng đầu ở Châu Á và tổng phí bảo
    hiểm tăng lên 4,36 tỷ đô la Singapore vào năm 2019. Phần lớn sự tăng trưởng này được
    cho là nhờ hoạt động kinh tế gia tăng liên tục ở khu vực Châu Á, dân số già và sự gia tăng
    của các thảm họa thiên nhiên. Tổng cộng 182 công ty bảo hiểm được cấp phép đã giao
    dịch tại Singapore, bao gồm 80 công ty bảo hiểm trực tiếp (trong số trong đó 17 doanh
    nghiệp bảo hiểm nhân thọ, 56 doanh nghiệp bảo hiểm tổng hợp và 7 doanh nghiệp bảo
    hiểm hỗn hợp) và 31 doanh nghiệp tái bảo hiểm. Bên cạnh quy mô thị trường, lĩnh vực
    bảo hiểm cũng đã trải qua một mức độ đa dạng hóa đáng kể trong loại hình dịch vụ bảo
    hiểm. Nhiều dịch vụ trong số này đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nói chung và tác động
    đến các thị trường tài chính khác trong vai trò phân bổ lại rủi ro và cung cấp rủi ro dịch
    vụ tư vấn.
    3.2.5. FinTech
    Khi nền kinh tế Singapore tiến hành số hóa trong những năm 2000, sự xuất hiện của các
    công ty khởi nghiệp công nghệ cao kết hợp với ngành tài chính của Singapore đã hình
    thành nên lĩnh vực FinTech (Công nghệ tài chính). Tuy nhiên, sự xuất hiện của lĩnh vực
    FinTech không phải mang tính ngẫu nhiên mà chính là từ chiến lược Sáng kiến Quốc gia
    thông minh của chính phủ Singapore, nhằm áp dụng các công nghệ kỹ thuật số tiên tiến
    vào quy trình chính sách của các cơ quan hành chính, cũng như khai thác các lợi thế tiềm
    năng của lĩnh vực này.
    Một thành phần quan trọng của Sáng kiến Quốc gia thông minh chính là mục tiêu của
    MAS về thiết lập “TTTC thông minh”, nhằm tận dụng các công nghệ kỹ thuật số để nâng
    cao các quy chế tài chính. Theo GIFC, Singapore được xếp hạng thứ chín trong số các trung
    tâm FinTech hàng đầu thế giới, và là trung tâm FinTech hàng đầu khu vực Đông Nam Á.
    3.3 Trụ cột duy trì và phát triển vị thế trung tâm tài chính
    MAS đã xác định ba trụ cột nền tảng giúp Singapore giữ vững vai trò một TTTC toàn cầu là:
    ▪ Môi trường kinh doanh chuyên nghiệp thuận lợi
    ▪ Khả năng cạnh tranh về chi phí và cơ sở hạ tầng kinh doanh
    ▪ Lực lượng lao động lành nghề
    Ba trụ cột trên đã góp phần vào khả năng cạnh tranh của Singapore trên thế giới khi
    tập trung vào các yếu tố xếp hạng năng lực cạnh tranh bao gồm: môi trường kinh doanh,
    phát triển khu vực tài chính, vốn nhân lực và danh tiếng.
    Trong báo cáo năm 2020 của Worldbank về Mức độ Dễ dàng Kinh doanh (Ease of
    Doing Business), Singapore xếp hạng 2 về các quy định thân thiện với doanh nghiệp và
    tiếp tục là điểm thu hút lớn đối với các tổ chức tài chính toàn cầu tìm cách thiết lập sự

    205

  13. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    hiện diện ở Châu Á. Các quy định thân thiện với doanh nghiệp này đã được bổ sung bởi
    Quỹ Phát triển Khu vực Tài chính của MAS, với quy định ưu đãi thuế và trợ cấp cho các
    tổ chức tài chính để thành lập hoặc mở rộng hoạt động của họ trong Singapore.
    Định hướng thứ hai xuất phát từ khả năng cạnh tranh về mặt chi phí và cơ sở hạ tầng
    cho kinh doanh. Tiền thuê văn phòng ở Singapore vẫn thấp hơn đáng kể so với các TTTC
    đối thủ hàng đầu như London, New York, Hong Kong và Tokyo. Lợi thế của Singapore
    với tư cách là một TTTC toàn cầu còn nằm ở nhóm cơ sở hạ tầng, bao gồm hệ thống giao
    thông công cộng hiệu quả, cơ sở hạ tầng công nghệ tiên tiến, và mức độ tự do hóa thương
    mại cao trên cơ sở các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) mà Singgapore đã tham gia.
    Hơn nữa, Singapore còn có sức hấp dẫn cao đối với các chuyên gia trong lĩnh vực tài
    chính, từ đó đóng góp vào lực lượng lao động lành nghề của Singapore. Đây được xem
    là yếu tố quan trọng then chốt đối với sự phát triển thành công của Singapore. Để đảm
    bảo duy trì nguồn lao động có kỹ năng như vậy, MAS đã giới thiệu các sáng kiến như Kế
    hoạch phát triển nhân tài khu vực tài chính, Đề án đào tạo lĩnh vực tài chính và Chương
    trình học bổng tài chính nhằm tạo điều kiện phát triển các kỹ năng và chuyên môn trong
    lĩnh vực tài chính.
    3.5 Các bài học về mặt chính sách
    Lịch sử phát triển của Singapore với tư cách là một TTTC lớn được quyết định bởi năng
    lực điều hành của chính phủ với các quyết sách thích hợp.
    3.5.1 Định hướng phát triển theo ngành và hoạch định chính sách dài hạn
    Chính phủ Singapore ngay từ đầu đã tìm cách xác định các thị trường tài chính cụ thể và
    những lĩnh vực tăng trưởng tiềm năng, đi liền với đó là thực thi chính sách nhằm phát
    triển các lĩnh vực này. Cách tiếp cận của chính phủ trong việc hoạch định chính sách kinh
    tế và tài chính mang tính dài hạn, như việc thành lập các ủy ban lập kế hoạch tập trung
    như Ủy ban đánh giá kinh tế hoặc Ủy ban về nền kinh tế tương lai. Các ủy ban này bao
    gồm các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia trong ngành và các nhà học thuật
    giúp đưa ra các đề xuất mang tính đột phá trong phát triển của Singapore. Do đó, trong
    khi việc xây dựng và thực thi chính sách tài chính ở Singapore có dấu ấn của quy hoạch
    và chỉ đạo từ chính phủ.
    3.5.2 Đồng kiến tạo chính sách
    Các ủy ban hoạch định chính sách thường có sự tham gia của nhà quản trị khu vực tư
    nhân, các nhà nghiên cứu và các chuyên gia độc lập. Sự tham gia này của các tổ chức phi
    nhà nước trong các quy trình thiết lập chính sách của chính phủ hướng đến định hướng
    trong điều hành là đồng kiến tạo chính sách. Quan trọng hơn, việc đồng kiến tạo chính

    206

  14. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    sách đã góp phần vào việc gia tăng tuân thủ quy định, do các nhà hoạch định chính sách
    kết hợp những phản hồi nhận được từ các bên tham gia thị trường và thiết kế lại các quy
    định để giảm thiểu chi phí phát sinh từ các quy định quá khắt khe, đồng thời đảm bảo tính
    ổn định chung của hệ thống. Ngoài các ủy ban hoạch định chính sách chính thức, chính
    sách đồng sáng tạo cũng diễn ra thông qua các buổi tham vấn không chính thức giữa các
    cơ quan quản lý và hoạch định chính sách với các chủ thể khác, tạo ra một mạng lưới
    “quan hệ chính sách” dày đặc giữa các chủ thể nhà nước và phi nhà nước.

    4. Kinh nghiệm xây dựng trung tâm tài chính Thượng Hải
    Nằm ở bờ biển phía Đông của Trung Quốc và là một trong 04 thành phố trực thuộc trung
    ương; Thành phố Thượng Hải có tổng diện tích 6,340.5 km2, chiếm chỉ khoảng 0.06%
    tổng diện tích của cả Trung Quốc. Dân số Thượng Hải năm 2019 là 24,28 triệu người,
    giữ vị trí dẫn đầu tại Trung Quốc, mật độ dân số tại thành phố rất cao, khoảng 3.830
    người/km2. Năm 2019, Thượng Hải đạt tổng GDP khoảng 3.816 tỷ Nhân dân tệ (gần 4%
    giá trị GDP toàn Trung Quốc), tương đương gần 600 tỷ USD, trong đó lĩnh vực dịch vụ
    đóng góp chủ chốt với tỷ trọng gần 73%. GDP bình quân đầu người liên tục cải thiện qua
    các năm với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2007-2019 gần 8,7%/năm. Thượng
    Hải hiện được xem là thủ đô kinh tế của Trung Quốc.
    Bảng 3. Tổng GDP và GDP bình quân đầu người của Thượng Hải qua các năm
    Công nghiệp-
    GDP Nông nghiệp Dịch vụ GDP bình quân đầu người
    Xây dựng
    (tỷ
    Năm Giá Tỷ Giá Tỷ Giá
    yuan) Tỷ trọng yuan/người USD/người
    trị trọng trị trọng trị
    2007 1,288 10 0.77% 568 44.08% 710 55.14% 63,951 8,410
    2008 1,454 11 0.75% 622 42.76% 821 56.49% 69,154 9,957
    2009 1,574 11 0.71% 618 39.29% 945 60.00% 72,363 10,593
    2010 1,792 11 0.64% 743 41.50% 1,037 57.86% 79,396 11,728
    2011 2,001 13 0.63% 817 40.83% 1,171 58.54% 86,061 13,326
    2012 2,131 13 0.61% 817 38.37% 1,300 61.03% 90,127 14,278
    2013 2,320 13 0.57% 829 35.71% 1,479 63.72% 96,773 15,626
    2014 2,527 13 0.52% 863 34.16% 1,650 65.31% 104,402 16,996
    2015 2,689 13 0.47% 841 31.27% 1,835 68.26% 111,081 17,835
    2016 2,989 11 0.38% 857 28.68% 2,120 70.94% 123,628 18,612
    2017 3,293 11 0.34% 953 28.93% 2,329 70.73% 136,109 20,159
    2018 3,601 10 0.29% 1,036 28.77% 2,555 70.94% 148,744 22,478
    2019 3,816 10 0.27% 1,030 26.99% 2,775 72.74% 157,279 22,799

    Nguồn: Shanghai Statistical Yearbook

    207

  15. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    4.1. Lịch sử phát triển
    Xuất phát từ một làng chài hẻo lánh, Thượng Hải đã trở thành một thành phố quan trọng
    bậc nhất của Trung Quốc và hiện là hải cảng sầm uất nhất thế giới. Trong những năm
    1930, Thượng Hải được ví là “Paris của phương Đông”, là trung tâm tài chính của Châu
    Á Thái Bình Dương với mức vốn hóa của thị trường chứng khoán xếp thứ 3 trên thế giới,
    thu hút được 33 ngân hàng nước ngoài mở chi nhánh hoạt động, nhiều hơn ở Hồng Kông
    (21) hoặc Singapore (17). Khủng hoảng tiền tệ toàn cầu, lạm phát thời chiến, cuộc xâm
    lược của Nhật Bản cùng với sự tiếp quản của cộng sản vào năm 1949 đã đẩy các doanh
    nhân, chủ ngân hàng rút vốn khỏi Trung Quốc. Dưới nền kinh tế chỉ huy, các tổ chức tài
    chính được tái lập ở Bắc Kinh. Từ năm 1956 đến năm 1978, sự phát triển của Thượng
    Hải được định hướng theo phương thức công nghiệp nặng của Liên Xô. Các chính sách
    kinh tế và chính trị không thực tế trên toàn quốc cũng tác động nghiêm trọng đến nền
    kinh tế và cơ sở hạ tầng của thành phố. Cùng lúc đó, Tokyo, Hong Kong, Singapore và
    các trung tâm khác đã phát triển nhanh chóng và đảm bảo vị trí hàng đầu trong nền kinh
    tế toàn cầu. Năm 1990-1991, Thượng Hải đã được trao cho những đặc quyền trong đợt
    cải cách kinh tế thứ hai của Trung Quốc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thượng Hải đã
    vượt qua tốc độ tăng trưởng của quốc gia vào năm 1992 và tăng trung bình khoảng
    12,75%/năm trong giai đoạn 1992-2007.
    Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải được tái thành lập vào tháng 12 năm 1990 với
    tư cách là một trong hai sàn giao dịch (Thẩm Quyến có quy mô nhỏ hơn) ở đại lục, kích
    thích sự phát triển của thị trường tài chính Trung Quốc. Các tổ chức tài chính nước ngoài
    tại Thượng Hải được phép mở chi nhánh vào năm 1990 và hoạt động kinh doanh nội tệ
    từ năm 1996. Các hoạt động tài chính dần dần mở rộng sự hiện diện của họ ở Thượng
    Hải, đặc biệt là ở khu Lujiazui ở Phố Đông. Tuy nhiên, Sở giao dịch chứng khoán Thượng
    Hải vẫn không hoàn toàn mở cửa cho các nhà đầu tư nước ngoài và thường bị ảnh hưởng
    bởi các quyết định của chính quyền trung ương, do các biện pháp kiểm soát tài khoản vốn
    do chính quyền Trung Quốc đại lục thực hiện. Chứng khoán được niêm yết tại SSE bao
    gồm ba loại chính là cổ phiếu, trái phiếu và quỹ. Trái phiếu được giao dịch trên SSE bao
    gồm trái phiếu kho bạc (T-bond), trái phiếu công ty và trái phiếu công ty chuyển đổi. Thị
    trường cổ phiếu SSE là thị trường sôi động nhất của loại hình này ở Trung Quốc. Có hai
    loại cổ phiếu đang được phát hành tại Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải: cổ phiếu
    “A” và cổ phiếu “B”. Cổ phiếu A được định giá bằng đồng nhân dân tệ địa phương, trong
    khi cổ phiếu B được định giá bằng đô la Mỹ. Ban đầu, việc giao dịch cổ phiếu A chỉ được
    áp dụng cho các nhà đầu tư trong nước trong khi cổ phiếu B được cung cấp cho cả nhà
    đầu tư trong nước (từ năm 2001) và nước ngoài. Tuy nhiên, sau khi các cải cách được
    thực hiện vào tháng 12 năm 2002, các nhà đầu tư nước ngoài hiện được phép (có giới

    208

  16. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    hạn) giao dịch cổ phiếu A theo chương trình Nhà đầu tư tổ chức nước ngoài đủ điều kiện
    (QFII) được chính thức triển khai vào năm 2003.
    Năm 2009, Thượng Hải là TTTC và thương mại lớn nhất của Trung Quốc đại lục, có
    133 ngân hàng, 307 nhà cung cấp bảo hiểm và 93 công ty chứng khoán. Trong tổng số
    787 tổ chức tài chính, 170 tổ chức là tổ chức nước ngoài. Vào tháng 3 năm 2009 khi chính
    phủ trung ương Trung Quốc thông qua kế hoạch đưa Thượng Hải thành một trung tâm
    vận tải và tài chính toàn cầu vào năm 2020. Theo đó, các quan chức thành phố đã cam
    kết các lợi ích về nhà ở và chăm sóc sức khỏe để lôi kéo các chuyên gia tài chính trở lại
    Thượng Hải. Và để thu hút các quỹ và nhà quản lý toàn cầu, từ tháng 8/2009 các nhà quản
    lý đã nới lỏng các hạn chế đối với các công ty cổ phần tư nhân nước ngoài huy động nội
    tệ từ các nhà đầu tư Trung Quốc cũng như đề xuất các công ty nước ngoài sẽ được phép
    niêm yết cổ phiếu tại đại lục từ 2010. Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc cũng nỗ lực thúc
    đẩy một tỷ lệ cao trong khối lượng giao dịch tài chính ngày càng tăng của Trung Quốc
    chảy qua Thượng Hải, thông qua luật pháp và quy định, chẳng hạn như bằng cách cấp
    phép giao dịch và các hoạt động diễn ra chủ yếu ở Thượng Hải. Nhờ đó, nền kinh tế
    Thượng Hải tiếp tục tăng trưởng ở mức cao với đóng góp ngày càng gia tăng của lĩnh vực
    dịch vụ và vào năm 2020, thị trường chứng khoán Thượng Hải đã trở lại vị trí thứ 3 toàn
    cầu về mức vốn hóa. Bên cạnh đó, Thượng Hải cũng đẩy mạnh phát triển thị trường trái
    phiếu và thị trường phái sinh nhằm đa dạng công cụ huy động vốn cũng như sản phẩm
    đầu tư.
    Hình 1: Giá trị vốn hóa và số lượng công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải

    Nguồn: sse.com.cn

    209

  17. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    4.2 Trụ cột duy trì và phát triển vị thế trung tâm tài chính
    Dựa trên các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành TTTC của Solovjova và cộng sự, (2018)
    có thể thấy, Thượng Hải có nền tảng thuận lợi để phát triển thành TTTC khu vực Châu Á
    cũng như toàn cầu.
    Hình 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của trung tâm tài chính quốc tế

    Nguồn: Solovjova et al., (2018)

    Thực tế, kể từ năm 2009 trở lại đây, Thượng Hải đã có những bước cải thiện đáng kể
    trong bảng xếp hạng Chỉ số TTTC Toàn cầu (GFCI) của Z/Yen Group.
    Hình 3. Đánh giá về khả năng cạnh tranh của trung tâm tài chính Thượng Hải

    Nguồn: GFCI 1-29

    210

  18. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Mặc dù ngày càng khẳng định vai trò của một TTTC khu vực và có thứ hạng cao về
    năng lực cạnh tranh nhưng Thượng Hải vẫn chưa thể trở thành TTTC toàn cầu vào năm
    2020 như kế hoạch. Một trong những cản trở lớn có lẽ đến từ sự chưa phù hợp của cơ sở
    hạ tầng và môi trường pháp lý cần thiết cho các nhà giao dịch, nhà quản lý tài sản và các
    ngân hàng toàn cầu thực hiện các giao dịch. Nhiều nhà kinh tế cho rằng, việc Trung Quốc
    sử dụng một loại tiền tệ không thể chuyển đổi, một mạng internet khép kín là chưa phù
    hợp với đặc tính của một trung tâm thương mại toàn cầu.
    5. Kết luận
    TTTC là một khu vực địa lý (ở mức độ thành phố hoặc tương đương) trong đó lĩnh vực
    tài chính phát triển ở mức độ cao, thể hiện ở việc tập trung nhiều ngân hàng và các tổ
    chức tài chính lớn mạnh, cơ sở hạ tầng phát triển và các yếu tố khác phục vụ cho các giao
    dịch tài chính diễn ra thuận lợi, nhanh chóng. Theo đó, khi trung tâm đi vào hoạt động sẽ
    trở thành một động lực mới quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút các dòng
    vốn đầu tư quốc tế, đẩy mạnh các hoạt động thương mại, đầu tư, tài chính, góp phần quan
    trọng trong việc nâng tầm quốc gia lên một vị thế mới trong bản đồ các trung tâm phát
    triển của thế giới. Từ bài học kinh nghiệm về xây dựng TTTC của Singapore và Thượng
    Hải cho thấy cả hai TTTC này đều có xuất phát điểm là một khu vực kinh tế kém phát
    triển, nhưng với quyết tâm cao của trong việc hoạch định chính sách, kiên trì duy trì xây
    dựng một môi trường pháp lý ổn định, đồng thuận trên cơ sở đồng kiến tạo chính sách đã
    đưa thị trường tài chính phát triển vượt bậc và có tầm ảnh hưởng trong khu vực cũng như
    toàn cầu.
    Ý tưởng xây dựng một TTTC ở Việt Nam đã được nhận được nhiều sự quan tâm của
    Chính phủ, các bộ ngành trong thời gian qua. Theo đánh giá của các chuyên gia trên thế
    giới, cũng như rất nhiều nghiên cứu trong nước, thị trường tài chính Việt Nam là một thị
    trường phát triển rất nhanh và có tiềm năng rất lớn trong khu vực. Việt Nam hiện nay
    cũng đã có hai TTTC quốc gia là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, TP.HCM
    đang có nhiều điều kiện thuận lợi để ghi tên mình trên bản đồ thị trường tài chính toàn
    cầu. Theo báo cáo của Cục Thống kê TPHCM, năm 2020 TP.HCM đóng góp trên 22%
    GDP của cả nước, 27% tổng thu ngân sách cả nước, 23% tổng kim ngạch xuất khẩu, 22%
    tổng vốn FDI cả nước, vốn hóa thị trường chứng khoán khoảng 286.270 tỷ đồng và chiếm
    một lượng lớn đầu tư gián tiếp qua kênh mua bán – sáp nhập (M&A), các quỹ đầu tư mạo
    hiểm, kiều hối… Điều này cho thấy, nhu cầu hoạt động tài chính ở khu vực TP.HCM là
    rất lớn, là điều kiện tốt để hình thành và phát triển một TTTC. Bên cạnh đó, Việt Nam có
    múi giờ khác biệt với 21 TTTC lớn nhất toàn cầu. Đây là lợi thế của Việt Nam trong việc
    thu hút dòng vốn nhàn rỗi trong thời gian nghỉ giao dịch từ các TTTC hiện có. Đồng thời,
    chỉ mất khoảng 3h để bay từ TP.HCM đến các nền kinh tế năng động như: Singapore,

    211

  19. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Phillippines; nếu xa hơn chút là Nhật
    Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.
    Tuy nhiên, để vươn tới tầm TTTC khu vực và thế giới thì chúng ta còn rất nhiều việc
    phải làm. Thứ nhất, hệ thống tài chính của Việt Nam hiện tại vẫn dựa nhiều vào kênh huy
    động vốn từ ngân hàng, kênh huy động vốn từ trái phiếu và cổ phiếu chưa phát triển tương
    xứng với tiềm năng khi chỉ chiếm khoảng. Điều này trái ngược với các quốc gia có hệ
    thống tài chính phát triển như Singapore hay Mỹ, khi thị trường vốn chiếm tỉ trọng rất
    lớn, có vai trò quan trọng và hoạt động rất nhộn nhịp, ví dụ như Singapore thị trường cổ
    phiếu chiếm 149,8% GDP và thị trường trái phiếu chiếm 79.37% GDP
    Thứ hai, về hệ thống luật pháp, chính phủ Việt Nam đã và đang cố gắng xây dựng
    những bộ luật đạt tiêu chuẩn quốc tế , tuy nhiên hệ thống luật pháp Việt Nam phản ứng
    khá chậm với những biến đổi của thị trường. Ngoài ra, chính sách đối với các công ty
    nước ngoài ở Việt Nam cũng còn nhiều bất cập nên khó thu hút được các nhà đầu tư nước
    ngoài. Sự linh hoạt trong khuôn khổ pháp lý là chưa có. Các quy tắc ứng xử và chuẩn
    mực chung cho các giao dịch tài chính nói chung còn thiếu.
    Thứ ba, về hạ tầng tài chính, cơ bản là Việt Nam đã có đầy đủ những cấu phần cần
    thiết của một TTTC. Nhưng chất lượng của chúng thì vẫn chưa tương xứng với tiềm năng
    phát triển. Cụ thể, thị trường tài chính của Việt Nam chưa có tính kết nối cao với thị
    trường thế giới, các hoạt động xuyên biên giới vẫn đòi hỏi những thủ tục tương đối phức
    tạp. Hạ tầng viễn thông và Internet phát triển nhanh chóng nhưng chưa đủ để đáp ứng yêu
    cầu khắt khe của TTTC. Hà Nội và TPHCM đã có những sân bay quốc tế tương đối tốt,
    nhưng chưa đủ khả năng phục vụ một lượng khách lớn.
    Cuối cùng, trong những năm gần đây, chính phủ Việt Nam đã đầu tư mạnh mẽ vào
    việc phát triển đội ngũ nhận sự chất lượng cao, sử dụng thành thạo tiếng Anh. Tuy nhiên,
    trình độ ngoại ngữ mặt bằng chung còn thấp so với các nước trong khu vực và thế giới.
    TTTC của Việt Nam còn rất nhiều tiềm năng để phát triển tuy nhiên hiện nay quốc
    gia nào cũng muốn trở thành TTTC thế giới nên Việt Nam sẽ gặp phải sự cạnh tranh gay
    gắt, trong khi những trung tâm tài chính cũ đã khẳng định được vị thế trong thời gian dài.
    Để đạt được mục tiêu có một TTTC quốc tế thì cần có sự ủng hộ tối đa của chính phủ
    trong việc xem mục tiêu này là một chính sách quốc gia. Chúng ta phải tập trung giải
    quyết những vấn đề còn tồn tại của nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng
    như như xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất, cơ sở hạ tầng văn hóa, đánh giá tài năng và phát
    triển một hệ thống giáo dục giúp mọi người có kỹ năng phù hợp với yêu cầu đòi hỏi của
    thị trường.

    212

  20. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Tài liệu tham khảo
    Bank for International Settlements (2019). Triennial Central Bank Survey of Foreign Exchange
    and Over-the-counter (OTC) Derivatives Markets in 2019.
    Dufey, G. and I.H. Giddy (1978). Financial centres and external financial markets, Appendix 2
    of The International money market, Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall, pp. 35–47.
    Lee, K. Yeu (2016). Singapore’s Transformation into a Global Financial Hub. School of Public
    Policy, National University of Singapore.
    Monetary Authority of Singapore (2019). 2019 Singapore Asset Management Survey:
    Singapore – Global City, World of Opportunities.
    Monetary Authority of Singapore (2019). 2019 Singapore Asset Management Survey Singapore
    – The Asset Management and Sustainability Centre in Asia Pacific.
    Monetary Authority of Singapore (2020). Singapore Corporate Debt Market Development 2020
    Singapore – Global City, World Of Opportunitie.
    Roberts, R. (1994), ‘Introduction’, in R. Roberts (ed.), International financial
    centres: concepts, development and dynamics, Aldershot, Hanphire: Edward Elgar
    Publishing Limited
    Solovjova, Irina & Rupeika-Apoga, Ramona & Romānova, Inna. (2018). Competitiveness
    enhancement of international financial centres. European Research Studies Journal. 21. 5-17.
    World Bank (2020). Ease of Doing Business rankings.
    Z/Yen (2020). The Global Financial Centres Index.

    213

Download tài liệu Kinh nghiệm thế giới về xây dựng trung tâm tài chính – Bài học từ Singapore và Thượng Hải File Word, PDF về máy