[Download] Tải Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký kinh nghiệm của doanh nghiệp Trung Quốc và bài học cho Việt Nam – Tải về File Word, PDF

Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký kinh nghiệm của doanh nghiệp Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký kinh nghiệm của doanh nghiệp Trung Quốc và bài học cho Việt Nam
Nội dung Text: Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký kinh nghiệm của doanh nghiệp Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

Download


Bài viết, thông qua phân tích thực trạng huy động vốn DR của các doanh nghiệp Trung Quốc, chỉ ra rằng khung pháp lý hoàn thiện, hỗ trợ phát hành và hướng dẫn phát hành DR, cũng như sự chủ động của tổ chức phát hành trong việc đáp ứng điều kiện phát hành và giao dịch trên thị trường quốc tế đóng vai trò quyết định tới mức độ thành công của kênh huy động vốn này.

Bạn đang xem: [Download] Tải Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký kinh nghiệm của doanh nghiệp Trung Quốc và bài học cho Việt Nam – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký kinh nghiệm của doanh nghiệp Trung Quốc và bài học cho Việt Nam File Word, PDF về máy

Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký kinh nghiệm của doanh nghiệp Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký kinh nghiệm của doanh nghiệp Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

  1. Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký-
    kinh nghiệm của doanh nghiệp Trung Quốc và bài học
    cho Việt Nam

    Dương Ngân Hà Ngô Thị Hằng
    Học viện Ngân hàng Học viện Ngân hàng

    Ngày nhận: 12/01/2020
    Ngày nhận bản sửa: 19/01/2021
    Ngày duyệt đăng: 28/01/2021

    Chứng chỉ lưu ký (DR) là phương thức huy động vốn phổ biến và hiệu quả của các
    doanh nghiệp trên thị trường chứng khoán (TTCK) quốc tế. Giá trị vốn huy động từ
    DRs năm 2018 đạt gần 20 tỷ đôla trên toàn cầu và khối lượng giao dịch DR tại các
    thị trường quốc tế cũng có xu hướng tăng dần từ năm 2012 đến nay, đạt mức tăng
    trưởng 16,2% vào năm 2018 so với năm 2017 (Citibank, 2019). Bên cạnh đó, việc
    phát hành DR còn giúp doanh nghiệp niêm yết bổ sung trên thị trường nước ngoài
    với những lợi ích như tiết giảm chi phí sử dụng vốn, cải thiện thanh khoản của cổ
    phiếu thị trường nội địa. Tại Việt Nam, TTCK đã chứng kiến những bước phát triển

    Foreign capital mobilization via depository receipts- experiences of Chinese corporations and
    lessons for Vietnam
    Abstract: Depository Receipt (DR) is a common and effective fund rasing method for corporations in
    foreign stock markets. Captial value raised via DRs reached 20 billion USD globally and trading volume
    of DRs in foreign markets has experienced an increasing trend since 2012 and achieved a growth
    rate of 16.2% in 2018, compared to the year of 2017 (Citibanks, 2018). Besides, issuing DRs facilitates
    issuers to proceed additional listings in various foreign stock markets with benefits such as reducing
    cost of capital, improving stock liquidity in domestic markets. In Vietnam, the stock market has
    witnessed fast-growing steps, causing funding raising channels through the domestic stock market
    to be more competitive, and hence, issusing DRs could be a new and efficient alternative approach.
    In which, issuing experiences from international firms, especially Chinese firms with similar economic
    background and business cultures will be significantly essential and valuable for Vietnamese firms. This
    paper, by analysing DR issuance practices of Chinese firms, states that a complete legal framework
    supporting DR issuings and issuers’ active moves in preparing issuing and listing conditions in
    international markets play a decesive role towards the success of this fund raising channel.
    Keywords: Depository Receipt, Capital mobilization, Chinese corporations

    Ha Ngan Duong
    Email: hadn@hvnh.edu.vn
    Hang Thi Ngo
    Email: ngohang@hvnh.edu.vn
    Organization of all: Banking Academy of Vietnam

    © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
    ISSN 1859 – 011X 47 Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  2. Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký- kinh nghiệm của doanh nghiệp
    Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

    mạnh mẽ trong thời gian gần đây, làm cho kênh huy động vốn thông qua TTCK nội
    địa ngày càng cạnh tranh hơn, và do vậy, phát hành thông qua DR có thể trở thành
    một kênh huy động vốn mới và hiệu quả hơn. Trên cơ sở đó, kinh nghiệm phát hành
    của các doanh nghiệp quốc tế, đặc biệt là các doanh nghiệp thị trường Trung Quốc
    với đặc điểm kinh tế và văn hoá kinh doanh tương đồng với Việt Nam là cần thiết
    và có nhiều giá trị với các doanh nghiệp Việt Nam. Bài viết, thông qua phân tích
    thực trạng huy động vốn DR của các doanh nghiệp Trung Quốc, chỉ ra rằng khung
    pháp lý hoàn thiện, hỗ trợ phát hành và hướng dẫn phát hành DR, cũng như sự chủ
    động của tổ chức phát hành trong việc đáp ứng điều kiện phát hành và giao dịch
    trên thị trường quốc tế đóng vai trò quyết định tới mức độ thành công của kênh huy
    động vốn này.
    Từ khóa: Chứng chỉ lưu ký, Huy động vốn, doanh nghiệp Trung Quốc.

    1. Huy động vốn thông qua phát hành ký Hong Kong (HDR), chứng chỉ lưu ký
    chứng chỉ lưu ký Trung Quốc (CDR).
    Hoạt động phát hành và niêm yết DR tại thị
    Chứng chỉ lưu ký- Depositary Receipt trường quốc tế được chứng minh mang lại
    (DR) là một công cụ tài chính có thể nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, bao gồm:
    chuyển nhượng, được phát hành bởi một Giảm chi phí vốn (Merton, 1987), cải thiện
    ngân hàng lưu ký, đại diện cho quyền sở hoạt động quản trị công ty (Coffee, 1999
    hữu cổ phiếu phổ thông hoặc trái phiếu do và Stuz, 1999), cải thiện mức độ bảo vệ cổ
    một công ty nước ngoài phát hành. Theo đông thiểu số (Reese và Weisbach, 2002),
    quy định tại Việt Nam, chứng chỉ lưu ký là cải thiện tính minh bạch trong công khai
    loại chứng khoán được phát hành dựa trên thông tin và tăng nhận thức của nhà đầu tư
    chứng khoán cơ sở của tổ chức được thành về công ty tại thị trường quốc tế (Baker và
    lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam cộng sự, 2002), cải thiện thanh khoản của cổ
    (Luật Chứng khoán, 2019). phiếu (Chouinard và D’Souza, 2004). Tuy
    DR gồm nhiều loại khác nhau tuỳ theo thị nhiên, niêm yết và giao dịch chứng khoán
    trường giao dịch DR, gồm có: (1) ADR tại một thị trường nước ngoài cũng gây ra
    (American Depository Receipt)- Chứng một số bất lợi cho doanh nghiệp như chi
    chỉ lưu ký Mỹ là loại DR được phát hành phí niêm yết và tuân thủ điều kiện niêm yết
    và giao dịch nhiều nhất trên thế giới, đây khắt khe (Zingales, 2007), rào cản văn hóa
    cũng là loại ADR lâu đời nhất trên thị giữa các quốc gia có thể dẫn tới xung đột
    trường chứng khoán: (2) EDR (European lợi ích giữa nhà quản lý và cổ đông (Frijins
    Depository Receipt) – Chứng chỉ lưu ký và cộng sự 2010). Doanh nghiệp còn có thể
    Châu Âu; (3) GDR (Global Depository đối mặt với rủi ro hủy niêm yết do không
    Receipt)- Chứng chỉ lưu ký toàn cầu. Ngoài đáp ứng các điều kiện giao dịch, đặc biệt
    ra, do nhu cầu huy động vốn tại mỗi thị là các doanh nghiệp nhỏ (Witmer, 2005).
    trường, chứng chỉ lưu ký địa phương được Quyết định hủy niêm yết dù tự nguyện hay
    thiết kế dành cho mỗi Sở Giao dịch chứng bắt buộc đều ảnh hưởng tiêu cực tới giá cổ
    khoán (SGDCK) quốc gia như Chứng chỉ phiếu trong ngắn hạn tại thị trường trong
    lưu ký Singapore (SDR), Chứng chỉ lưu nước (You và cộng sự, 2012).

    48 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  3. DƯƠNG NGÂN HÀ – NGÔ THỊ HẰNG

    Bước 1: Tại thị trường trong nước, HAG có nhu cầu tăng vốn trên thị trường quốc tế, họ thuê tổ chức tư
    vấn tài chính, tư vấn pháp lý về bảo lãnh phát hành
    Bước 2: HAG sẽ ký thỏa thuận lưu ký với Deutsche Bank trên cơ sở bán cho Deutsche Bank một lượng cổ
    phần tương ứng với số lượng GDR dự tính phát hành.
    Bước 3: HAG sẽ phát hành cổ phiếu cho Deutsche Bank chi nhánh tại Việt Nam theo thỏa thuận lưu ký đã
    ký trước đó.
    Bước 4: Deutsche Bank sẽ thông qua các tổ chức tư vấn, bảo lãnh để phát hành GDRs tại SGDCK London.
    Hình 1. Quy trình phát hành GDR của Công ty Cổ phần Hoàng Anh Gia Lai (HAG)
    năm 2010 tại SGDCK London (LSE)
    Nguồn: London Stock Exchange (2020)

    DR được phát hành dựa trên nhu cầu huy tư vấn pháp luật (tham khảo Hình 1).
    động vốn của doanh nghiệp hoặc nhu cầu Quyết định phát hành DR phụ thuộc vào
    đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. nhu cầu huy động vốn cũng như định hướng
    Đứng trên quan điểm huy động vốn, doanh tiếp cận thị trường quốc tế của doanh nghiệp
    nghiệp sẽ xác định mức vốn mong muốn và (Bancel và Mittoo, 2001; Pagano và cộng
    ký kết thỏa thuận lưu ký với các ngân hàng sự, 2002; King và Mittoo, 2007). Ngoài ra,
    lưu ký (có cung cấp dịch vụ phát hành DR). quyết định này còn bị chi phối bởi cấu trúc
    Vốn huy động từ phát hành DR sẽ bổ sung sở hữu doanh nghiệp, cụ thể là tỷ lệ sở hữu
    nguồn vốn cho doanh nghiệp, tuy nhiên của các nhà đầu tư nước ngoài hoặc sở hữu
    người sở hữu DR (cổ đông nước ngoài) Nhà nước tại các doanh nghiệp (Abdallah và
    thường sẽ không có quyền biểu quyết, chỉ Goergen, 2016). Sự phát triển của thị trường
    được nhận cổ tức (thông qua ngân hàng lưu vốn trong nước cũng như đặc điểm của thị
    ký) và nhận thông tin từ tổ chức phát hành. trường chứng khoán mục tiêu cũng được
    Hoạt động phát hành DR cần có sự phối chứng minh có tác động tới quyết định tiếp
    hợp chặt chẽ của nhiều chủ thể, bao gồm: cận thị trường vốn quốc tế của doanh nghiệp
    Ngân hàng lưu ký, tổ chức phát hành chứng (Claessens và Schmukler, 2007; Erruanza
    khoán cơ sở, nhà đầu tư, tổ chức lưu ký, và Losq, 1985).
    ngân hàng đầu tư, tổ chức bảo lãnh, tổ chức

    Số 224+225- Tháng 1&2. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 49

  4. Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký- kinh nghiệm của doanh nghiệp
    Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

    2. Thực trạng huy động vốn thông qua thị trường trong nước1.
    chứng chỉ lưu ký của doanh nghiệp Điều này đã thúc đẩy các doanh nghiệp
    Trung Quốc Trung Quốc tìm kiếm các kênh huy động
    vốn mới, đặc biệt là từ thị trường quốc tế
    Tại Trung Quốc, từ những năm 1990, số ngay từ những thời gian đầu TTCK trong
    lượng doanh nghiệp trong nước tăng nhanh nước mới thành lập và hoạt động. Cụ thể,
    kéo theo nhu cầu huy động vốn tài trợ cho ngay sau khi Ủy ban Chứng khoán Trung
    hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư Quốc thành lập vào năm 1992, Qingdao
    của doanh nghiệp. Tuy nhiên, quá trình Beer trở thành công ty Trung Quốc đầu
    huy động vốn của các doanh nghiệp Trung tiên niêm yết nước ngoài. Làn sóng niêm
    Quốc gặp nhiều rào cản do: yết quốc tế của các doanh nghiệp Trung
    Thứ nhất, hoạt động huy động vốn tại thị Quốc thực sự bùng nổ sau cuộc khủng
    trường trong nước thông qua kênh truyền hoảng tài chính Châu Á. Nhiều công ty đã
    thống- tín dụng ngân hàng thương mại trở vực dậy và phát triển mạnh mẽ sau khủng
    nên khó khăn hơn. Đặc biệt, tín dụng ngân hoảng, thu hút được sự quan tâm lớn từ các
    hàng cho khối doanh nghiệp tư nhân bắt nhà đầu tư trên các TTCK lớn như Hong
    đầu sụt giảm mạnh từ sau năm 2013, sau Kong, Singapore, Mỹ, Anh và Úc (Zhang
    khi Chính phủ Trung Quốc, trước sự phát Yi, 2002).
    triển mạnh mẽ, đặc biệt về số lượng, của Trong số các kênh huy động vốn từ thị
    các doanh nghiệp tư nhân, đã có những trường quốc tế, thì huy động vốn thông qua
    quyết sách, đặc biệt về tín dụng, để tạo điều phát hành DR được nhiều doanh nghiệp
    kiện, hỗ trợ sự phát triển các doanh nghiệp Trung Quốc lựa chọn sử dụng. Quá trình
    nhà nước nhằm giữ vững vị thế của các tiếp cận vốn trên thị trường quốc tế về DR
    doanh nghiệp nhà nước (Hình 2). Do đó, của doanh nghiệp Trung Quốc được chia
    các doanh nghiệp Trung Quốc dần chuyển thành hai giai đoạn với những đặc trưng
    hướng tiếp cận vốn thông qua các kênh riêng biệt về tổ chức phát hành. Giai đoạn
    thay thế như thị trường chứng khoán, bao đầu tiên (bắt đầu từ giữa những năm 1990
    gồm cả thị trường chứng khoán trong nước đến đầu năm 2000): Doanh nghiệp huy động
    và quốc tế. vốn chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực sản
    Thứ hai, thị trường chứng khoán nội địa xuất và công nghiệp của Trung Quốc bao
    của Trung Quốc bộc lộ một số điểm hạn gồm nhiều doanh nghiệp nhà nước (SOE)
    chế, gây khó khăn cho nhu cầu huy động đã niêm yết tại thị trường trong nước trong
    vốn của các doanh nghiệp trong nước. Các một khoảng thời gian dài. Giai đoạn thứ hai
    SGDCK nội địa của Trung Quốc giai đoạn (bắt đầu vào đầu năm 2000): Doanh nghiệp
    những năm 1990 còn sơ khai và chưa hoạt trong giai đoạn này chủ yếu thuộc lĩnh vực
    động hiệu quả dẫn tới những định giá sai truyền thông, du lịch và giải trí. Trong đó,
    cổ phiếu tại thị trường trong nước, gây nhiều công ty không đáp ứng được các tiêu
    mất niềm tin với nhà đầu tư nội địa và ảnh chuẩn phát hành cổ phiếu hạng A tại thị
    hưởng trực tiếp tới khả năng huy động vốn trường trong nước nhưng vẫn có thể chào
    của doanh nghiệp. Thêm vào đó, quy trình bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng thông
    và thủ tục niêm yết tại các SGDCK Trung qua DR tại Mỹ. Sau năm 2010, nhiều doanh
    Quốc khá tốn kém về chi phí và thời gian nghiệp Trung Quốc có xu hướng hủy niêm
    (có thể lên tới 4-5 năm) cho một đợt IPO tại
    1
    Tham khảo điều kiện niêm yết tại SGDCK Thượng
    Hải – www.sse.com.cn

    50 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  5. DƯƠNG NGÂN HÀ – NGÔ THỊ HẰNG

    Hình 2. Cơ cấu vốn tín dụng ngân hàng theo nhóm doanh nghiệp tại Trung
    Quốc, giai đoạn 2010- 2016
    Đơn vị: % – Nguồn: Lardy (2019)

    yết DR trên thị trường Mỹ (ADR) và quay Tính cho tới tháng 10 năm 2020, có 416
    lại giao dịch cổ phiếu tại thị trường nội địa. ADRs của Trung Quốc hiện đang niêm yết
    Tính tới năm 2019, Trung Quốc hiện là tại các SGDCK Mỹ (NYSE và NASDAQ)
    quốc gia có số lượng doanh nghiệp huy (SEC, 2020) với giá trị giao dịch lên tới
    động vốn thông qua DR lớn nhất toàn cầu 1,52 nghìn tỷ đôla Mỹ vào năm 2019.
    (về số lượng thương vụ và giá trị phát hành Trong số những doanh nghiệp Trung Quốc
    DR) (Citibank, 2019). Giá trị vốn huy động niêm yết tại Mỹ, doanh nghiệp thuộc các
    thông qua DR trong giai đoạn 10 năm từ ngành truyền thông và thương mại điện
    2009 đến 2019 luôn chiếm tỷ trọng cao tử chiếm tỷ trọng lớn (7/10 doanh nghiệp
    so với tổng giá trị huy động vốn DR toàn Trung Quốc đang niêm yết tại Mỹ có giá
    cầu. Đặc biệt giai đoạn 2016 đến 2019 tỷ trị vốn hóa lớn nhất thuộc hai nhóm ngành
    trọng này đạt trên 55% (bao gồm cả phát này – Bảng 1).
    hành DR lần đầu và phát hành DR bổ sung) Huy động vốn trên thị trường quốc tế thông
    (Hình 2). qua DR đòi hỏi các doanh nghiệp Trung

    Hình 3. Giá trị vốn huy động thông qua phát hành DR của
    doanh nghiệp Trung Quốc trong giai đoạn từ 2009 đến 2019
    Đơn vị: Tỷ đô la Mỹ – Nguồn: Citibanks (2019)

    Số 224+225- Tháng 1&2. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 51

  6. Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký- kinh nghiệm của doanh nghiệp
    Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

    Quốc phải chủ động trong kế hoạch huy nghiệp nhỏ, đồng thời các thị trường này
    động vốn của đơn vị nhằm gia tăng mức độ giúp các doanh nghiệp tận dụng lợi thế huy
    thành công của phương án phát hành, trong động vốn với chi phí thấp, cải thiện thanh
    đó việc xác định thị trường mục tiêu và khoản, cải thiện giá cổ phiếu và hấp dẫn
    phương thức phát hành đóng vai trò hết sức các nhà đầu tư có nhu cầu đa dạng hóa rủi
    quan trọng. Bên cạnh đó, sự hỗ trợ từ phía ro danh mục đầu tư (Yin, 2011).
    cơ quan chức năng cũng góp phần đáng kể Trong khi đó, Mỹ và Châu Âu lại trở thành
    vào việc nâng cao tính khả thi của các kế mục tiêu của những doanh nghiệp muốn cải
    hoạch huy động vốn quốc tế của các doanh thiện quy mô vốn và tính thanh khoản. Từ
    nghiệp Trung Quốc. những năm 1990, các doanh nghiệp Trung
    Quốc đã nhận thấy sự tương đồng về các
    Thị trường mục tiêu điều kiện niêm yết giữa thị trường Mỹ và
    Quyết định lựa chọn thị trường mục tiêu của Hong Kong, trong khi đó với đặc điểm của
    doanh nghiệp Trung Quốc phụ thuộc nhiều TTCK mang tính chất toàn cầu, quy mô
    vào loại hình doanh nghiệp, chiến lược tiếp giao dịch lớn nhất thế giới cũng như những
    cận thị trường quốc tế cũng như khả năng điều kiện thuận đăng ký giao dịch thuận
    đáp ứng các điều kiện niêm yết quốc tế. lợi, Mỹ nhanh chóng trở thành thị trường
    Dựa trên các yếu tố về sự tương đồng địa có sức hút lớn đối với các doanh nghiệp
    lý và văn hóa, Hong Kong và Singapore trở Trung Quốc. Quan trọng hơn nữa, khác với
    thành thị trường mục tiêu của các doanh các thị trường quốc tế khác, thị trường Mỹ

    Bảng 1. Top 10 doanh nghiệp Trung Quốc có giá trị vốn hóa lớn nhất đang niêm yết ADRs
    tại TTCK Mỹ (năm 2020)

    Giá trị vốn hóa
    STT chứng Công ty Ngành
    (USD)
    khoán
    Alibaba Group Holding Ltd
    1 BABA Hàng tiêu dùng không thiết yếu
    ADRs 779.954.122.125
    2 CHL China Mobile Ltd ADRs Truyền thông
    132.189.828.000
    3 JD JD.com Inc ADRs Hàng tiêu dùng không thiết yếu
    100.851.383.298
    4 NTES NetEase Inc ADRs Truyền thông
    62.620.594.880
    5 PDD Pinduoduo Inc. ADRs Hàng tiêu dùng không thiết yếu
    60.912.859.660
    KE Holdings Inc ADRs of
    6 BEKE Bất động sản
    Class A 49.942.737.100
    7 CEO CNOOC Ltd ADRs Năng lượng
    43.111.626.000
    8 BIDU Baidu Inc ADRs of Class A Truyền thông
    33.999.916.390
    9 TAL TAL Education Group ADRs Hàng tiêu dùng không thiết yếu
    30.534.087.548
    10 BGNE BeiGene ADRs Chăm sóc sức khỏe
    27.670.253.477
    Nguồn: U.S Securities and Exchange Commission (2020)

    52 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  7. DƯƠNG NGÂN HÀ – NGÔ THỊ HẰNG

    chấp nhận các doanh nghiệp có cấu trúc Quốc có tình hình tài chính và quản trị
    đặc biệt (VIE)2 đăng ký phát hành DR và công ty tốt. Những doanh nghiệp này sẽ
    giao dịch DR tại Mỹ, gia tăng cơ hội tiếp niêm yết cổ phiếu tại SGDCK Hong Kong
    cận vốn cho các doanh nghiệp Trung Quốc. sau đó đăng ký niêm yết song song tại Mỹ
    Ngoài các thị trường trên, vào tháng 7 năm thông qua ADR (Mak và Ngai, 2005). Cổ
    2019, SGDCK Thượng Hải và SGDCK phiếu được niêm yết song song thường gặp
    London đã ký kết biên bản thỏa thuận cho vấn đề về tỷ lệ chuyển đổi giữa cổ phiếu
    phép các công ty Trung Quốc tiếp cận với và ADR do yết giá cổ phiếu theo các đồng
    thị trường Anh (London Stock Exchange, tiền khác nhau. Điều này cũng gây ra khó
    2020). Sự hợp tác này cho phép các nhà đầu khăn cho doanh nghiệp do xét theo tỷ giá,
    tư nước ngoài có thể tiếp cận doanh nghiệp nhiều ADR bị xếp vào nhóm cổ phiếu nhỏ
    Trung Quốc thông qua các GDR được niêm (penny stock) và được phân loại vào nhóm
    yết tại SGDCK London và ngược lại, nhà cổ phiếu có rủi ro cao, dễ bị hủy niêm yết
    đầu tư Trung Quốc có thể tiếp cận cổ phiếu khỏi thị trường Mỹ khi thị giá giao dịch
    của doanh nghiệp niêm yết tại SGDCK thấp trong khoảng thời gian dài.
    London thông qua CDR. Biên bản thỏa Phương thức phát hành đơn lẻ hiện là
    thuận này đã mở ra thị trường mục tiêu phương thức được nhiều doanh nghiệp
    mới, cho phép doanh nghiệp Trung Quốc Trung Quốc lựa chọn khi tiếp cận thị
    có thêm sự lựa chọn cho nhu cầu huy động trường Mỹ khi phương thức này giúp các
    vốn quốc tế. doanh nghiệp loại bỏ được rủi ro tỷ giá như
    phương thức phát hành song song. Tuy
    Phương thức phát hành nhiên, cũng bởi cổ phiếu cơ sở không được
    DRs của Trung Quốc được phát hành theo niêm yết tại thị trường trong nước, khi ADR
    hai phương thức, bao gồm phát hành song bị hủy niêm yết sẽ gây rủi ro cho các nhà
    song (Dual- listing hoặc niêm yết song đầu tư sở hữu ADR do tính thanh khoản
    song) và phát hành đơn lẻ (Single- listing kém của cổ phiếu tại thị trường trong nước.
    hoặc niêm yết đơn lẻ). Phát hành song Rõ ràng có thể thấy, so với phương thức
    song được thực hiện khi doanh nghiệp phát phát hành riêng lẻ, phương thức phát hành
    hành DR tại thị trường nước ngoài và có song song sẽ đưa ra các điều kiện niêm
    cổ phiếu cơ sở được niêm yết tại thị trường yết chặt chẽ hơn đối với các doanh nghiệp
    trong nước. Ngược lại, phát hành đơn lẻ là và theo đó, doanh nghiệp phát hành DR
    khi công ty phát hành DR và niêm yết tại thành công theo phương thức phát hành
    thị trường nước ngoài nhưng cổ phiếu cơ song song cũng tạo dựng được hình ảnh
    sở không được giao dịch công khai tại thị doanh nghiệp cũng như phần nào khẳng
    trường nội địa. định được chất lượng kinh doanh và hiệu
    Phương thức phát hành song song chỉ được quả hoạt động doanh nghiệp với cộng đồng
    sử dụng bởi những doanh nghiệp Trung nhà đầu tư quốc tế, so với doanh nghiệp lựa
    2
    VIE (Variable Interest Entity) được gọi là “Mô hình chọn hình thức phát hành còn lại (Luo và
    kiểm soát đặc biệt” mô tả một cấu trúc hoạt động hợp cộng sự, 2012).
    pháp khi một pháp nhân nước ngoài không sở hữu,
    nhưng có quyền kiểm soát một pháp nhân khác (công Ngoài hai phương thức phát hành trên, một
    ty khác) tại Trung Quốc thông qua các thỏa thuận, số doanh nghiệp Trung Quốc bị giới hạn tỷ
    nhằm tháo gỡ quy định hạn chế đầu tư đối với nhà đầu
    tư nước ngoài tại Trung Quốc. Mô hình VIE được sử
    lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, thời
    dụng lần đầu tại Trung Quốc vào năm 2000 bởi Công gian gần đây có xu hướng sử dụng Mô hình
    ty Sina hoạt động trong lĩnh vực Internet khi thực hiện cấu trúc doanh nghiệp VIE – Mô hình kiểm
    niêm yết tại Mỹ (King và Wood, 2012)

    Số 224+225- Tháng 1&2. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 53

  8. Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký- kinh nghiệm của doanh nghiệp
    Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

    soát đặt biệt để thực hiện phát hành DRs và thực hiện phương thức phát hành này
    niêm yết tại thị trường quốc tế. (Yarun, 2020). Do đó, về dài hạn, với hành
    lang pháp lý chưa hoàn thiện, kênh đầu tư
    Sự hỗ trợ từ phía cơ quan quản lý vào DR Trung Quốc do doanh nghiệp VIE
    Trong giai đoạn đầu khi các doanh nghiệp phát hành sẽ trở thành kênh tiềm ẩn rủi ro
    trong nước tiếp cận thị trường quốc tế, lớn cho cổ đông quốc tế, gây khó khăn tới
    Chính phủ Trung Quốc không có nhiều quá trình huy động vốn thông qua VIE của
    chính sách hỗ trợ. Cho tới giai đoạn từ các doanh nghiệp Trung Quốc.
    2014 tới nay, một số biên bản hợp tác, các Như vậy, có thể thấy, chính sách mở cửa
    thỏa thuận kết nối mới được công bố tạo cơ nền kinh tế, tăng sự nhận diện của doanh
    hội cho doanh nghiệp trong nước dễ dàng nghiệp Trung Quốc tại thị trường quốc tế
    tiếp cận thị trường quốc tế. Từ năm 2002, được hậu thuẫn lớn từ Chính phủ thông qua
    Ủy ban chứng khoán Trung Quốc đã công các thỏa thuận, hợp tác với các thị trường
    bố Dự thảo quy định về điều kiện đầu tư quốc tế. Tuy nhiên, đối với loại hình doanh
    vào Trung Quốc của nhà đầu tư nước ngoài nghiệp bị hạn chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài,
    (Quanlified Foreign Institutional Investor- Chính phủ hiện chưa có nhiều hỗ trợ cũng
    QFII) cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu như tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận
    tư vào Trung Quốc nhằm tăng cường hội thị trường quốc tế.
    nhập tài chính giữa các thị trường khu vực Thêm vào đó, ngoài việc chuẩn bị kỹ lưỡng
    Châu Á. Tuy nhiên, cho tới năm 2014, kết cho phương án phát hành, thì việc tiếp tục
    nối Thượng Hải – Hong Kong và Thẩm duy trì và phát triển hoạt động của doanh
    Quyến- Hong Kong chính thức tạo ra bước nghiệp cũng như tuân thủ các quy định
    ngoặt trong vấn đề tiếp cận thị trường vốn niêm yết và giao dịch của thị trường quốc tế
    ngước ngoài của doanh nghiệp Trung Quốc cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong
    thông qua SGDCK Hong Kong, từ đó tạo việc duy trì và mở rộng kênh huy động vốn
    điều kiện thuận lợi cho việc phát hành DR DR trên thị trường quốc tế. Thống kê cho
    trên TTCK Mỹ theo phương thức phát hành thấy mặc dù là quốc gia dẫn dầu về lượng
    song song. vốn huy động thông qua ADRs trong khu
    Năm 2019, Kết nối Shanghai- London vực Châu Á, song số lượng doanh nghiệp
    được thông qua cho phép các nhà đầu tư Trung Quốc hủy niêm yết trên thị trường
    toàn cầu tìm kiếm cơ hội đầu tư vào các Mỹ đã tăng nhanh chóng trong giai đoạn
    chứng khoán doanh nghiệp quy mô lớn của từ 2011 đến nay (Hu và cộng sự, 2019).
    Trung Quốc thông qua giao dịch DR (GDR) Nguyên nhân được cho là bắt nguồn từ
    SGDCK London. Đồng thời, các công ty những hạn chế của hoạt động niêm yết:
    niêm yết trên SGDCK London cũng có thể định giá thấp và chi phí yêu cầu công khai
    tiếp cận trực tiếp nhà đầu tư Trung Quốc thông tin tại Mỹ (Engel và cộng sự, 2007),
    qua phát hành, niêm yết và giao dịch CDR sai phạm trong lĩnh vực kế toán (Chen và
    tại Trung Quốc. cộng sự, 2013). Những vi phạm này khiến
    Tuy nhiên, với việc phát hành DR thông các nhà đầu tư Mỹ mất lòng tin và gây tác
    qua mô hình cấu trúc VIE, hiện nay, Chính động tiêu cực tới việc định giá, mức độ hấp
    phủ Trung Quốc chưa có một động thái rõ dẫn của DRs của Trung Quốc tại Mỹ, cũng
    ràng về việc ủng hộ hay hạn chế phương như cơ hội phát hành DR trong tương lai
    thức phát hành này, song cũng không có của các doanh nghiệp Trung Quốc trên thị
    quy định cấm doanh nghiệp Trung Quốc trường Mỹ và các thị trường quốc tế khác.

    54 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  9. DƯƠNG NGÂN HÀ – NGÔ THỊ HẰNG

    3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam giao dịch GDR trên thị trường quốc tế và
    đã hủy niêm yết toàn bộ số lượng GDR tại
    Nghiên cứu thực trạng phát hành DR của SGDCK London vào năm 2018 với lý do
    các doanh nghiệp Trung Quốc có thể thấy thanh khoản kém (Dương Ngân Hà, 2019).
    định hướng tiếp cận thị trường vốn quốc tế Từ thực trạng vấn đề tiếp cận vốn trên thị
    của của các doanh nghiệp chủ yếu bị chi trường quốc tế của các doanh nghiệp Việt
    phối bởi nhu cầu huy động vốn của doanh Nam có thể thấy các doanh nghiệp có nhu
    nghiệp, khả năng tiếp cận thị trường vốn cầu huy động vốn quốc tế, nhưng chưa
    trong nước, và rào cản đến từ quy định hạn được chú trọng nghiên cứu, tiếp cận và phát
    chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại một số lĩnh triển trở thành kênh thay thế phổ biến và
    vực kinh tế đặc thù như Internet, truyền ổn định cho các phương án huy động vốn
    thông, giáo dục. nội địa. Ngoài các lí do kể trên, mức độ
    Tại Việt Nam, Luật đầu tư số 61/2020/ phân khúc giữa thị trường trong nước và
    QH14 và Luật Chứng khoán (Luật số quốc tế cũng như những rào cản về quy tắc
    54/2019/QH14) hiện vẫn quy định hạn kế toán, tài chính cũng như mức độ kém
    chế tỷ lệ sở hữu tại một số loại hình doanh thành công của các phương án phát hành
    nghiệp. Điều kiện niêm yết tại thị trường của các doanh nghiệp tiên phong trong huy
    trong nước đang tăng dần nhằm sàng lọc động vốn quốc tế cũng kìm hãm các doanh
    những doanh nghiệp có chất lượng, việc nghiệp Việt Nam trong chủ động tìm hiểu
    làm này sẽ dẫn tới một số lượng lớn doanh và thực hiện huy động vốn quốc tế (Dương
    nghiệp gặp khó khăn khi đăng ký niêm yết Ngân Hà, 2019). Bởi vậy, nghiên cứu và
    tại thị trường chính thức. Hoạt động phát tìm hiểu chi tiết phương thức huy động vốn
    hành trên thị trường sơ cấp của các doanh thông qua DR có thể mở ra hướng tài trợ
    nghiệp nhỏ chưa thực sự thu hút được sự vốn mới, khả thi, và hiệu quả hơn cho các
    quan tâm của nhà đầu tư. Tính cho tới thời doanh nghiệp Việt Nam.
    điểm năm 2020, Việt Nam có khoảng 10 Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm huy
    doanh nghiệp niêm yết đã có kế hoạch tiếp động vốn thông qua phát hành DR của các
    cận thị trường vốn quốc tế thông qua phát doanh nghiệp Trung Quốc cho thấy doanh
    hành cổ phiếu hoặc DR song không thành nghiệp Việt Nam, khi tiếp cận kênh huy
    công (Dương Ngân Hà, 2019). Nguyên động vốn này, cần lưu ý một số vấn đề sau:
    nhân chủ yếu tới từ khả năng của doanh Thứ nhất, cơ quan quản lý cần xác định rõ
    nghiệp Việt Nam trong việc đáp ứng các vai trò của hình thức phát hành qua DR đối
    yêu cầu về thủ tục pháp lý, điều kiện về với việc huy động vốn của doanh nghiệp
    công bố thông tin và quy định của pháp trong nước, từ đó có cơ chế và lộ trình
    luật TTCK Việt Nam về giới hạn tỷ lệ sở để hoàn thiện hành lang pháp lý đối với
    hữu của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong phương án phát hành qua DR cũng như các
    số các công ty đã từng công bố kế hoạch giải pháp tăng cường hợp tác thoả thuận
    phát hành chứng khoán quốc tế, Công ty cổ quốc tế nhằm khuyến khích và hỗ trợ doanh
    phần Hoàng Anh Gia Lai là trường hợp duy nghiệp trong đẩy mạnh huy động vốn quốc
    nhất đã phát hành thành công chứng chỉ lưu tế, giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng và
    ký toàn cầu (GDR), huy động hơn 50 triệu thị trường vốn nội địa. Bài học từ Trung
    đôla Mỹ từ các nhà đầu tư tại thị trường Quốc cho thấy mặc dù cơ chế quản lý thị
    Anh vào năm 2010. Tuy vậy, Hoàng Anh trường nội địa của các cơ quan chức năng
    Gia Lai đã không duy trì được thị trường đã buộc các doanh nghiệp chủ động trong

    Số 224+225- Tháng 1&2. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 55

  10. Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký- kinh nghiệm của doanh nghiệp
    Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

    việc tìm kiếm các phương án huy động vốn chọn giao dịch tại thị trường Mỹ bởi mục
    quốc tế thay thế, đặc biệt thông qua DR, đích cải thiện cơ chế quản trị công ty, công
    song các cơ quan chức năng cũng đã từng khai minh bạch thông tin và tiếp cận với
    bước tham gia liên kết với các thị trường các nhà đầu tư chuyên nghiệp.
    quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi cho các Đối với một số doanh nghiệp nhỏ, khả
    doanh nghiệp nội. Tuy nhiên, các bước hỗ năng đáp ứng điều kiện phát hành và niêm
    trợ sâu rộng hơn là cần thiết để đẩy mạnh yết chưa tốt, lựa chọn các SGDCK trong
    thị trường huy động vốn cũng như mở rộng khu vực là lựa chọn tối ưu. Mặc dù, những
    cơ hội tiếp cận cho các DN trong nước như: SGDCK trong khu vực Châu Á như Hong
    (i) việc ban hành khung pháp lý hoàn chỉnh, Kong, Singapore vẫn đòi hỏi doanh nghiệp
    hướng dẫn chi tiết cách thức thực hiện chào phát hành, niêm yết và giao dịch DR phải
    bán DRs tại thị trường quốc tế, quy định đảm bảo tiêu chí về quy mô giao dịch lớn,
    cụ thể về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước khả năng tiếp cận nhà đầu tư nước ngoài
    ngoài; (ii) các SGDCK trong nước cần xây tốt, xong việc niêm yết và giao dịch DR
    dựng những thỏa thuận hợp tác cụ thể về trên các thị trường này, do mức độ tương
    vấn đề tiếp cận vốn thông qua phát hành đồng về văn hoá khu vực, nên các doanh
    DRs tại thị trường quốc tế, chứ không chỉ nghiệp Việt Nam có thể hạn chế được các
    kết nối thị trường giao dịch chung- những vấn đề xung đột có thể xảy ra giữa cổ đông
    thỏa thuận này khi thành công được kỳ quốc tế và nhà quản trị công ty.
    vọng sẽ nới lỏng được điều kiện phát hành Thứ ba, doanh nghiệp phát hành cần lựa
    và niêm yết của doanh nghiệp Trung Quốc chọn loại DR và phương thức phát hành
    tại các thị trường liên kết; (iii) Chính phủ, phù hợp. Hiện nay có hai loại DRs được
    SGDCK và các cơ quan liên quan cũng giao dịch phổ biến trên toàn cầu ADR (phát
    cần có những chính sách cải cách quản lý hành, niêm yết và giao dịch chủ yếu tại các
    doanh nghiệp niêm yết hướng tới sự tương SGDCK Mỹ) và GDR (phát hành, niêm
    đồng với thông lệ quốc tế. yết và giao dịch tại các SGDCK Châu Âu,
    Thứ hai, lựa chọn thị trường phát hành mục SGDCK Singapore). Bên cạnh hai loại DR
    tiêu phù hợp với đặc điểm, quy mô doanh này, một số SGDCK khu vực sẽ giao dịch
    nghiệp cũng như khả năng của doanh nghiệp loại DR riêng của như DR của Đài Loan,
    trong việc duy trì đáp ứng điều kiện niêm DR của Trung Quốc, DR Hong Kong và
    yết và giao dịch của SGDCK quốc tế. Kinh DR Ấn Độ. Tuỳ theo điều kiện tài chính,
    nghiệm của doanh nghiệp Trung Quốc cho phi tài chính của doanh nghiệp trong việc
    thấy, mỗi SGDCK đều đưa ra một số điều đáp ứng điều kiện phát hành và tiêu chuẩn
    kiện niêm yết cụ thể, thường các SGDCK niêm yết của thị trường mục tiêu, doanh
    có quy mô lớn sẽ có điều kiện niêm yết nghiệp sẽ lựa chọn loại DR tương ứng để
    khắt khe hơn. Lựa chọn thị trường mục tiêu phát hành, nhằm tăng tính khả thi cũng như
    để tiếp cận sẽ tùy vào nhu cầu vốn cũng trong việc xây dựng lịch sử phát hành hiệu
    như khả năng đáp ứng điều kiện phát hành quả tại thị trường quốc tế tương ứng.
    và niêm yết. Doanh nghiệp Trung Quốc lựa Hiện có hai phương thức phát hành DR
    chọn thị trường Mỹ bởi điều kiện niêm yết được các doanh nghiệp Trung Quốc sử
    tại Sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ dụng, phát hành riêng lẻ và phát hành song
    được đánh giá dễ dàng hơn SGDCK trong song, như đã đề cập ở trên. Đối với doanh
    nước. Tuy vậy, một số doanh nghiệp đã nghiệp niêm yết Việt Nam, phương thức
    niêm yết tại thị trường trong nước vẫn lựa phát hành DR song song sẽ là sự lựa chọn

    56 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  11. DƯƠNG NGÂN HÀ – NGÔ THỊ HẰNG

    tối ưu hơn bởi nếu phát hành DR đơn lẻ nghiệp cũng như cổ phiếu và DR nhằm duy
    doanh nghiệp sẽ phải hủy niêm yết chính trì thanh khoản của DR trên thị trường quốc
    thức tại thị trường trong nước. Cấu trúc tế, nhằm gia tăng cơ hội thành công cho các
    VIE hiện chưa xuất hiện tại Việt Nam, tuy phương án phát hành chứng khoán quốc tế
    vậy đây cũng là một cấu trúc niêm yết và sau đó của doanh nghiệp.
    tiếp cận thị trường vốn quốc tế dành cho Do hạn chế về khả năng tiếp cận số liệu,
    những doanh nghiệp chưa niêm yết tại thị bài viết này chưa thể cung cấp các bằng
    trường trong nước nhưng có nhu cầu tiếp chứng thực nghiệm chặt chẽ hơn về lợi ích
    cận vốn quốc tế. của DR tới hiệu quả hoạt động của doanh
    nghiệp cũng như khả năng tiếp cận vốn
    4. Kết luận quốc tế dài hạn của doanh nghiệp. Do đó,
    một số hướng nghiên cứu mới có thể triển
    Nghiên cứu kinh nghiệm huy động vốn khai trong tương lai như sau: (i) nghiên cứu
    thông qua phát hành chứng chỉ lưu ký của thực nghiệm về tác động của việc sử dụng
    các doanh nghiệp Trung Quốc cũng như huy động vốn DR tới hiệu quả hoạt động,
    khái quát thực trạng huy động vốn quốc tế hiệu quả quản trị và khả năng cải thiện
    của các doanh nghiệp Việt Nam cho thấy, công bố thông tin của doanh nghiệp Trung
    để khuyến khích doanh nghiệp chủ động Quốc; (ii) Khảo sát nhu cầu huy động vốn
    tiếp cận và tạo điều kiện cho doanh nghiệp quốc tế nói chung và DR nói riêng của các
    huy động vốn quốc tế thành công thì sự doanh nghiệp Việt Nam; (iii) Hiệp hội các
    định hướng cơ quan quản lý và cơ sở hạ nhà kinh doanh chứng khoán Việt Nam có
    tầng pháp lý hoàn thiện đóng vai trò then thể nghiên cứu xây dựng quy trình hỗ trợ và
    chốt. Bên cạnh, nhân tố mang tính quyết hướng dẫn doanh nghiệp phát hành DR và
    định tới sự thành công của kênh huy động đề xuất văn bản tới các cơ quan chức năng,
    vốn DR về dài hạn đó là sự chủ động chuẩn đặc biệt là xây dựng cơ chế thử nghiệm
    bị của doanh nghiệp từ giai đoạn dự toán (sandbox) áp dụng thí điểm với các doanh
    nhu cầu vốn, chuẩn bị các điều kiện phát nghiệp hiện đã từng hoặc đang có nhu cầu
    hành DR và sau đó là lên phương án duy huy động vốn quốc tế ■
    trì và phát triển hình ảnh, chất lượng doanh

    Tài liệu tham khảo
    Abdallah, W., & Goergen, M. (2016). “Evolution of control of cross-listed companies”, The European Journal of
    Finance, 22(15), 1507-1533
    Citi Bank (2019). “Citi Depositary Receipt Service Year- End 2019 Report” Baker, H. K.; Nofsinger, J. R.; and
    Weaver, D. G. (2002). “International Cross- Listing and Visibility”, Journal of Financial and Quantitative
    Analysis, 37 (3): 495-521.
    Bancel, F. and U.R. Mittoo (2001). “European Managerial Perceptions of the Net Benefits of Foreign Stock Listings”,
    European Financial Management, 7(2), 213-236.
    Coffee, J.C. (1999). “The future as history: the prospects for global convergence in corporate governance and its
    implications”, Northwestern University Law Review, 93, 641 – 708.
    Chen, K.-C., Cheng, Q., Lin, Y. C., Lin, Y.-C., and Xiao, X. (2013). “Financial Reporting Quality of Chinese Reverse
    Merger Firms: The Reverse Merger Effect or the China Effect?”. SSRN 2043899
    Chouinard, E., & D’Souza, C. (2004). “The rationale for cross-border listings”. Bank of Canada
    Review, 2003(Winter), 23-30.
    Claessens, S., & Schmukler, S. L. (2007). “International financial integration through equity markets: Which firms from
    which countries go global?”, Journal of International Money and Finance, 26(5), 788-813
    Dương Ngân Hà (2019). “Niêm yết chéo chứng khoán trên thị trường quốc tế và giải pháp cho Việt Nam”. Luận án
    Tiến sĩ.

    Số 224+225- Tháng 1&2. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 57

  12. Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký- kinh nghiệm của doanh nghiệp
    Trung Quốc và bài học cho Việt Nam

    EngeL, E., Hayes, R. M., and Wang, X. (2007). “The Sarbanes–Oxley Act and firms’ going-private decisions”. Journal
    of Accounting and Economics, Vol. 44, pp. 116-145.
    Errunza, V., & Losq, E. (1985). “International asset pricing under mild segmentation: Theory and test”, The Journal of
    Finance, 40(1), 105-124.
    Frijns, B., Gilbert, A., & Tourani-Rad, A. (2010). “The dynamics of price discovery for cross-listed shares: Evidence
    from Australia and New Zealand”, Journal of banking & finance, 34(3), 498-508.Hu, G., Lin, J. C., Wong, O.,
    & Yu, M. (2019). “Why have many US-listed Chinese firms announced delisting recently?”. Global Finance
    Journal, Vol. 41, pp. 13-31.
    King, M. R., & Mittoo, U. R. (2007). “What Companies Need to Know About International Cross‐Listing”, Journal of
    Applied Corporate Finance, 19(4), 60-74.
    King and Wood (2012). “Variable Interest Entity Structure in China”. Truy cập ngày 01/01/2021 từ: https://www.
    chinalawinsight.com/2012/02/articles/foreign-investment/variable-interest-entity-structure-in-china/
    Merton, R.C. (1987). “Presidential address: A simple model of capital market equilibrium with incomplete
    information”, Journal of Finance 42, 483-510
    Lardy, N. R. (2019). “China’s private firms continue to struggle”. Retrieved on November 14, 2020 from: https://www.
    piie.com/blogs/china-economic-watch/chinas-private-firms-continue-struggle
    Luo, Y., Fang, F., & Esqueda, O. A. (2012). “The overseas listing puzzle: Post-IPO performance of Chinese stocks and
    ADRs in the US market”. Journal of multinational financial management, Vol. 22, Issue. 5, pp. 193-211.
    Mak, B. S., & Ngai, A. M. (2005). Market linkage for dual-listed Chinese stocks. Chinese Economy, 38(2), 88-107.
    Pagano, M., A.A. Roell and J. Zechner (2002). “The Geography of Equity Listing: Why Do Companies List Abroad?”,
    Journal of Finance 57, 2651-2694.
    Quốc hội (2019), Luật số 54/2019/QH14, 2019, Luật Chứng khoán, ban hành ngày 26/11/2019.
    Quốc hội (2020), Luật đầu tư số 64/2020/QH14, 2020, Luật Đầu tư, ban hành ngày 07/06/2020.
    Reese Jr, W. A., & Weisbach, M. S. (2002), “Protection of minority shareholder interests, cross-listings in the United
    States, and subsequent equity offerings”, Journal of financial economics, 66(1), 65-104.
    U.S Securities and Exchange Commission (2020). “Danh sách ADR niêm yết tại các SGDCK Mỹ”.
    Hong Kong Stock Exchange (2020). “Trading and Listing Conditions of DRs”. Retrieved on 01/01/2021 from: https://
    www.hkex.com.hk/Join-Our-Market/IPO/Getting-Started/Listing-on-the-Main-Board?sc_lang=en
    Shanghai Stock Exchange (2020). “Trading and Listing Conditions of DRs”. Retrieved on 01/01/2021 from: http://
    english.sse.com.cn/start/listing/overview/
    London Stock Exchange (2020). “Trading and Listing Conditions of DRs”. Retrieved on 01/01/2021 from: https://
    www.lseg.com/areas-expertise/our-markets/london-stock-exchange/equities-markets/raising-equity-finance/main-
    market/listing-regime-and-obligations
    SMPG (2014). “Global market practice for depositary (DRs)”. Retrieved on 01/01/2021 from: https://smpg.info/
    fileadmin/documents/3_Settlement%20and%20Reconciliation%20WG/A_Final%20Global%20Market%20
    Practices/DR__MP_V4.3.pdf
    Stulz, R. (1999). “Globalization of equity markets and the cost of capital”, Journal of Applied Corporate Finance 12,
    8 – 25.
    Witmer, J. L. (2005). Why do firms cross-(de) list? An examination of the determinants and effects of cross-delisting.
    SSRN Working paper
    Yanru (2020). “Foreign investment Law series – 05: The VIE structure Remain in Grey Area”. Retrieved on
    01/01/2021 from: https://www.chinajusticeobserver.com/a/foreign-investment-law-series-05
    Yin, J. (2011). “The market reaction to international cross-listing evidence from Hong Kong and mainland
    China cross-listed firms”. Master Thesis in Finance. Retrieved on 01/01/2021 from: http://arno.uvt.nl/show.
    cgi?fid=107463
    You, L., Parhizgari, A. M., & Srivastava, S. (2012). “Cross-listing and subsequent delisting in foreign
    markets”, Journal of Empirical Finance, 19(2), 200-216.
    Zhang Yi (2002). “Overseas Listing of Chinese Companies – A Study Focusing on Listing on the London Stock
    Exchange for Chinese Companies”. Master Thesis No 2002:55. Retrieved on 01/01/2021 from: https://gupea.
    ub.gu.se/bitstream/2077/2345/1/gbs_thesis_2002_55.pdf
    Zingales, L. (2007). “Is the US capital market losing its competitive edge?”, ECGI-Finance Working Paper, (192).

    58 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

Download tài liệu Huy động vốn nước ngoài thông qua chứng chỉ lưu ký kinh nghiệm của doanh nghiệp Trung Quốc và bài học cho Việt Nam File Word, PDF về máy