[Download] Tải Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán của Việt Nam: Một số đánh giá sơ bộ – Tải về File Word, PDF

Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán của Việt Nam: Một số đánh giá sơ bộ

Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán của Việt Nam: Một số đánh giá sơ bộ
Nội dung Text: Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán của Việt Nam: Một số đánh giá sơ bộ

Download


Mục đích của nghiên cứu này là áp dụng cách tiện cận hệ thống đổi mới sáng tạo (ĐMST) ngành để nhận dạng sơ bộ thực trạng phát triển của hệ thống ĐMST ngành tài chính ngân hàng của Việt Nam về dịch vụ thanh toán.

Bạn đang xem: [Download] Tải Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán của Việt Nam: Một số đánh giá sơ bộ – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán của Việt Nam: Một số đánh giá sơ bộ File Word, PDF về máy

Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán của Việt Nam: Một số đánh giá sơ bộ

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán của Việt Nam: Một số đánh giá sơ bộ

  1. JSTPM Tập 8, Số 4, 2019 39

    HỆ THỐNG ĐỔI MỚI SÁNG TẠO NGÀNH VỀ DỊCH VỤ
    THANH TOÁN CỦA VIỆT NAM: MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ

    Đinh Tuấn Minh1
    Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ
    Nguyễn Thùy Liên
    Trung tâm Nghiên cứu các giải pháp thị trường cho các vấn đề kinh tế xã hội

    Tóm tắt:
    Mục đích của nghiên cứu này là áp dụng cách tiện cận hệ thống đổi mới sáng tạo (ĐMST)
    ngành để nhận dạng sơ bộ thực trạng phát triển của hệ thống ĐMST ngành tài chính ngân
    hàng của Việt Nam về dịch vụ thanh toán. Nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn
    sâu dựa trên bảng hỏi bán cấu trúc với một số chuyên gia và đại diện các tổ chức tài
    chính-ngân hàng. Nghiên cứu chỉ ra rằng hệ thống thể chế, chính sách đóng một vai trò
    rất quan trọng, có thể nói là bậc nhất, trong việc thúc đẩy các hoạt động ĐMST liên quan
    đến dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, khách hàng ngày càng nổi lên là một nhân tố chính yếu
    thúc đẩy các tổ chức này nỗ lực đầu tư cho các hoạt động ĐMST. Bên cạnh vai trò chủ
    đạo của các ngân hàng thương mại, các công ty công nghệ tài chính (Fintech) ngày càng
    thể hiện là một nhân tố mới thúc đẩy hoạt động ĐMST trong lĩnh vực này.
    Từ khóa: Đổi mới sáng tạo ngành; Tài chính-ngân hàng; Dịch vụ thanh toán.
    Mã số: 19121004

    1. Mở đầu
    Đổi mới sáng tạo trong hoạt động thanh toán đã nhận được sự quan tâm rất
    lớn của các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp trên thế
    giới trong những năm vừa qua. Như Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ,
    Jerome H. Powell đã chỉ ra, những thay đổi mang tính cách mạng trong lĩnh
    vực thanh toán đặt các nhà cung cấp dịch vụ tài chính-ngân hàng truyền
    thống phải thay đổi nếu không muốn bị bỏ lại phía sau (Powel, 2017).
    Các nghiên cứu về ĐMST trong lĩnh vực dịch vụ nói chung và hệ thống
    thanh toán nói riêng tại Việt Nam còn rất hạn chế. Các nghiên cứu gần đây
    về hoạt động ĐMST trong ngành tài chính-ngân hàng ở Việt Nam bắt đầu
    xuất hiện kể từ khi việc chuyển đổi sang ngân hàng số cũng như các công ty
    công nghệ tài chính (Fintech) xuất hiện. Một trong số đó là Kỷ yếu hội
    thảo: “Cách mạng công nghiệp 4.0 và những đổi mới trong lĩnh vực tài

    1
    Liên hệ tác giả: dinhtuanminh.maastricht@gmail.com

  2. 40 Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán…

    chính-ngân hàng” do Đại học Kinh tế quốc dân tổ chức vào tháng 6/2018.
    Nhưng cũng giống như đa phần các nghiên cứu về các khía cạnh phát triển
    công nghệ trong ngành tài chính-ngân hàng, các nghiên cứu trong tập kỷ
    yếu này chủ yếu tập trung vào phân tích hiện trạng, xu hướng và tác động
    của các công nghệ mới mà hầu như không đề cập đến các nhân tố cũng như
    các tác nhân thúc đẩy hoạt động ĐMST trong ngành.
    Mục đích của nghiên cứu này là áp dụng cách tiệm cận hệ thống ĐMST
    ngành (Sectoral System of Innovation – SSI) để nhận dạng sơ bộ thực trạng
    phát triển của hệ thống ĐMST ngành tài chính-ngân hàng, đặc biệt là hoạt
    động thanh toán của các ngân hàng thương mại (NHTM) của Việt Nam.
    Kết quả nghiên cứu đóng góp về cơ sở lý luận về hệ thống ĐMST ngành,
    đặc biệt là trong lĩnh vực dịch vụ, các gợi ý cho nhà quản lý để đưa ra các
    giải pháp phát triển hệ thống ĐMST ngành tài chính-ngân hàng nói chung
    và dịch vụ thanh toán nói riêng ở Việt Nam. Do giới hạn về thời gian cũng
    như nguồn lực, chúng tôi sẽ không đánh giá tất cả các cấu phần của hệ
    thống ĐMST ngành tài chính-ngân hàng liên quan đến hoạt động thanh toán
    cũng như mối quan hệ tương tác giữa chúng. Thay vì đó, chúng tôi tập
    trung vào phân tích cấu phần chính, đó là công nghệ lõi và nền tảng tri thức
    ngành tài chính-ngân hàng của các NHTM Việt Nam và các nhân tố thúc
    đẩy hoạt động ĐMST trong ngành này liên quan đến hoạt động thanh toán.

    2. Khung phân tích hệ thống đổi mới sáng tạo ngành tài chính-ngân
    hàng liên quan đến dịch vụ thanh toán
    Dịch vụ thanh toán là dịch vụ chuyển giao nghĩa vụ tài chính giữa hai hoặc
    nhiều bên (Humphrey, 1995). Để dịch vụ này thay thế cho việc chi trả tiền
    mặt giữa các bên, nó đòi hỏi phải diễn ra nhanh chóng, chắc chắn, thuận tiện
    và bảo mật. Yêu cầu này khiến cho dịch vụ thanh toán trở thành một quy
    trình có tính hệ thống, liên quan đến nhiều bên, bao gồm bên chuyển tiền,
    các tổ chức trung gian tài chính, ngân hàng trung ương và bên nhận tiền.
    Là một dịch vụ có tính hệ thống, giống như trong các ngành dịch vụ có tính hệ
    thống, các hoạt động ĐMST liên quan đến dịch vụ thanh toán thường tương
    tác chặt chẽ với khách hàng thay vì R&D nội bộ (Evangelista, 2000). Các
    doanh nghiệp trong lĩnh vực này thường phụ thuộc vào việc phát triển phần
    mềm hay sáng tạo bí quyết kinh doanh riêng. Đồng thời, sự phát triển của
    công nghệ thông tin đã tạo điều kiện cải tiến chất lượng dịch vụ cung cấp.
    Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ áp dụng khung khổ hệ thống ĐMST
    ngành (SSI) để đánh giá sơ bộ hiện trạng của hệ thống ĐMST trong hoạt
    động thanh toán của hệ thống tài chính-ngân hàng Việt Nam. Khung khổ
    SSI là cách tiếp cận được phát triển bởi Malerba (2002, 2005) từ cách tiếp
    cận các hoạt động ĐMST của một quốc gia theo hệ thống (National System

  3. JSTPM Tập 8, Số 4, 2019 41

    of Innovation – NSI). Đây là cách tiếp cận mang tính chủ toàn thay vì xem
    xét một số khía cạnh cụ thể của quá trình ĐMST. Cách tiếp cận hệ thống
    ĐMST nhấn mạnh vào sự tương tác giữa các tác nhân liên quan đến hoạt
    động ĐMST và phân tích những tương tác đó được định hình bởi các yếu tố
    chính trị, thể chế và xã hội như thế nào (Fagerberg và Verspagen, 2009).
    Với hệ thống ĐMST ngành, như Malerba (2005) mô tả, đó sẽ là tương tác
    giữa các cấu phần như cơ sở tri thức và quá trình học hỏi; các doanh
    nghiệp, tổ chức trung gian và mạng lưới; thể chế và nhu cầu. Ngoài ra, ranh
    giới địa lý cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tương tác của các
    cấu phần trên (xem Hình 1). Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ giới hạn
    xem xét các tương tác của cấu phần như là các nhân tố thúc đẩy hoạt động
    ĐMST và ứng dụng công nghệ mới trong ngành tài chính-ngân hàng liên
    quan đến lĩnh vực thanh toán như được trình bày trong Bảng 1 dưới đây.
    Các doanh nghiệp, tổ chức
    trung gian và mạng lưới Nhu cầu

    Cơ sở tri thức và quá trình học hỏi

    – Công nghệ cốt lõi
    + Cổng thông tin, hệ sinh thái, ứng dụng dữ liệu, block
    chain, an ninh (xác nhận và chứng thực), điện toán đám
    mây.
    + Mảng thanh toán: ví điện tử, tiền điện tử, thẻ thông
    minh, hệ thống thanh toán không tiếp xúc.
    – Quá trình học hỏi:
    + R&D
    + Nguồn công nghệ mở
    + Sự bắt chước, học hỏi giữa các tổ chức

    Thể chế

    Nguồn: Phát triển bởi nhóm tác giả dựa trên Newbury (2016), Malerba (2002, 2005) và
    Tether & Metcalfe (2004).
    Hình 1. Các cấu phần của hệ thống ĐMST ngành tài chính-ngân hàng liên
    quan đến dịch vụ thanh toán

    Bảng 1. Các nhân tố chính thúc đẩy ĐMST và ứng dụng công nghệ mới
    trong ngành tài chính-ngân hàng liên quan đến lĩnh vực thanh toán
    Tương tác thúc đẩy hoạt động
    Cấu phần Mô tả
    ĐMST và ứng dụng công nghệ mới
    Cơ sở tri thức và quá trình học hỏi
    Công nghệ nền – Công nghệ thông tin và truyền Định hình sự tiến triển và ứng
    tảng thông là nhân tố nền tảng thúc đẩy dụng các dạng công nghệ trong
    ĐMST của ngành; tương lai.
    – Các xu hướng công nghệ chính
    liên quan đến dịch vụ thanh toán:

  4. 42 Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán…

    Tương tác thúc đẩy hoạt động
    Cấu phần Mô tả
    ĐMST và ứng dụng công nghệ mới
    chuyển đổi từ tiền giấy truyền
    thống sang thanh toán điện tử; Từ
    séc, thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ dần
    thay thế bởi thẻ thông minh và
    công nghệ thanh toán không tiếp
    xúc (KPMG, 2007); ví tiền điện tử;
    tiền kỹ thuật số (NHTW Hà Lan,
    2016).
    Quá trình học Thông qua hoạt động R&D, đào Ảnh hướng tới tốc độ ĐMST và
    hỏi tạo nhân viên về nhân bản, cải tiến ứng dụng công nghệ mới của
    và phát triển công nghệ, sử dụng ngành.
    chéo các phát minh của ngân hàng
    khác hoặc sao chép và mua lại các
    công nghệ có bằng sáng chế.
    Các doanh nghiệp, tổ chức trung gian, và mạng lưới
    Doanh nghiệp Các ngân hàng thương mại vẫn – Sự tham gia của Fintech tạo sức
    đóng vai trò chính trong lĩnh vực ép buộc các NHTM phải đẩy mạnh
    cung cấp dịch vụ thanh toán. Gần ĐMST để duy trì vị thế cạnh tranh;
    đây, một số công ty Fintech đã – Sự hợp tác giữa các NHTM và
    tham gia vào việc cung ứng dịch Fintech tạo ra nhiều ứng dụng mới
    vụ này. Các dịch vụ mà các công cho khách hàng.
    ty Fintech tham gia trong dịch vụ
    thanh toán là xử lý thanh toán,
    chuyển khoản, thanh toán di động,
    ngoại hối, thẻ tín dụng, thẻ trả
    trước, chương trình ưu đãi, có
    thưởng.
    Các tổ chức – Các trường đại học, viện nghiên – Nghiên cứu khoa học cơ bản.
    trung gian cứu. – Tư vấn cho khu vực doanh nghiệp.
    – Các hiệp hội tài chính-ngân hàng. – Truyền tải, lan tỏa tri thức, các
    – Các định chế quốc tế như IMF, qui định pháp luật, các tiêu chuẩn,
    World Bank. qui chuẩn ngành.
    – Đào tạo nguồn nhân lực.
    Thể chế
    Thể chế chính – Quy định quốc tế (Quy tắc thực – Các ĐMST được đưa vào áp
    thức hành thống nhất về tín dụng chứng dụng trong thực tiễn phải thỏa mãn
    từ – UCP, quy tắc thống nhất về được các điều kiện do thể chế
    nhờ thu – URC, quy tắc thống nhất chính thức áp đặt.
    về hoàn trả tiền hàng – URR, điều – Việc xuất hiện các sản phẩm mới,
    kiện thương mại quốc tế – chẳng hạn Fintech, khiến cho các cơ
    Incoterms); quy định pháp luật về quan quản lý trong nước và quốc tế
    thanh toán trong nước. phải điều chỉnh lại các luật lệ.
    Thể chế không Các quy ước do doanh nghiệp lập – Các quy tắc tương tác giữa doanh
    chính thức ra để tương tác với khách hàng của nghiệp và khách hàng tạo ra sự

  5. JSTPM Tập 8, Số 4, 2019 43

    Tương tác thúc đẩy hoạt động
    Cấu phần Mô tả
    ĐMST và ứng dụng công nghệ mới
    mình (như các quy ước về xếp khác biệt về chất lượng phục vụ,
    hạng, đánh giá, chấm điểm, tích dẫn đến lợi thế cạnh tranh khác
    điểm thưởng,…). nhau của mỗi doanh nghiệp.
    – Các doanh nghiệp cần liên tục
    cập nhật và điều chỉnh các quy ước
    để phản ánh được mong muốn của
    khách hàng.
    Nhu cầu
    Các loại nhu 5 nhu cầu quan trọng nhất: Dễ sử Việc đáp ứng những nhu cầu này
    cầu dụng sản phẩm; Thuận tiện trong của khách hàng thúc đẩy sự cạnh
    giao dịch; Phục vụ tận tâm; Thấu tranh giữa các doanh nghiệp trong
    hiểu nhu cầu riêng; và Mang lại giá việc ứng dụng công nghệ mới cũng
    trị thực sự (Microsoft financial như tạo ra các sản phẩm mới.
    service, 2017).
    Phân nhóm Khu vực doanh nghiệp; khách Mỗi một nhóm khách hàng đòi hỏi
    khách hàng hàng cá nhân; và khu vực công lập doanh nghiệp cần điều chỉnh các
    cung cấp các dịch vụ công ích. sản phẩm và quy trình phục vụ sao
    cho phù hợp nhất.
    Ranh giới địa lý
    Đầu tư nước Doanh nghiệp nước ngoài thiết lập – Cung cấp các sản phẩm mới, kinh
    ngoài chi nhánh hoặc góp vốn đầu tư với nghiệm quản trị, ứng dụng công
    các doanh nghiệp trong nước. nghệ mới tại các chi nhánh hoặc
    đơn vị liên kết trong nước.
    – Tạo áp lực cạnh tranh cho các
    doanh nghiệp trong nước phải
    ĐMST.
    Dịch vụ xuyên Doanh nghiệp nước ngoài cung Tạo áp lực cạnh tranh cho các
    biên giới cấp dịch vụ xuyên biên giới cho doanh nghiệp trong nước phải
    các khách hàng ở trong nước. ĐMST.

    Nguồn: Tổng hợp bởi nhóm tác giả

    3. Phương pháp nghiên cứu
    Nghiên cứu này sử dụng phương pháp phân tích minh họa, sử dụng khung
    lý thuyết hệ thống ĐMST ngành và hai nguồn thông tin sau để đưa ra các
    nhận định sơ bộ về hệ thống ĐMST ngành tài chính-ngân hàng liên quan
    đến dịch vụ thanh toán. Nguồn thông tin thứ nhất là từ các nguồn thứ cấp
    như Ngân hàng Nhà nước, Bộ Thông tin và Truyền thông. Nguồn thứ hai
    đến từ phỏng vấn chuyên sâu các chuyên gia thuộc khu vực doanh nghiệp
    và khu vực nghiên cứu. Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 6
    ngân hàng thương mại quy mô lớn (trong đó có một ngân hàng thương mại
    cổ phần nhà nước; 2 ngân hàng có trụ sở ở miền Bắc và 4 ngân hàng ở miền
    Nam), 2 công ty công nghệ hàng đầu của Việt Nam đang triển khai dịch vụ

  6. 44 Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán…

    thanh toán công nghệ, 2 công ty chứng khoán và 2 chuyên gia nghiên cứu
    thuộc Ngân hàng Nhà nước. Thời gian phỏng vấn diễn ra trong năm 2019.
    Để phỏng vấn chuyên sâu có hiệu quả, trước mỗi cuộc phỏng vấn, nhóm
    nghiên cứu thiết kế bảng hỏi bán cấu trúc nhằm đảm bảo cuộc phỏng vấn
    được định hướng và không đi chệch chủ đề của đề tài nghiên cứu. Cấu trúc
    bảng phỏng vấn gồm các phần chính như sau:
    – Thông tin chung về doanh nghiệp;
    – Tổng quan hoạt động ĐMST tại doanh nghiệp;
    – Các câu hỏi liên quan đến nền tảng công nghệ và quá trình học hỏi;
    – Các câu hỏi liên quan đến mối quan hệ giữa các tác nhân;
    – Các câu hỏi liên quan đến vai trò của thể chế, chính sách của nhà nước;
    – Các câu hỏi liên quan đến nhu cầu của khách hàng.

    4. Kết quả nghiên cứu
    Kết quả nghiên cứu gồm hai nội dung: Nội dung thứ nhất, nhận dạng cấu
    phần công nghệ lõi của hệ thống thanh toán của Việt Nam. Nội dung này
    được thể hiện trong các mục 4.1, 4.2 và 4.3; Nội dung thứ 2, trình bày trong
    các mục còn lại, phân tích các nhân tố thúc đẩy hoạt động ĐMST, ứng dụng
    công nghệ mới, trong ngành tài chính-ngân hàng của Việt Nam liên quan đến
    dịch vụ thanh toán. Chúng tôi sẽ tập trung vào phân tích vai trò của các
    nguồn tri thức và các quá trình học hỏi; vai trò của các tác nhân doanh
    nghiệp, đặc biệt là các loại hình doanh nghiệp mới trong hệ thống; vai trò của
    hệ thống thể chế, chính sách; vai trò của cầu và vai trò của hội nhập quốc tế.

    4.1. Nền tảng hạ tầng hệ thống thanh toán của Việt Nam
    Trong những năm qua, Việt Nam đã đầu tư mạnh cho cơ sở hạ tầng viễn
    thông cũng như nền tảng công nghệ hiện đại phục vụ hệ thống thanh toán.
    Cụ thể, Việt Nam đang vận hành: (1) Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân
    hàng (IBPS); (2) Hệ thống thanh toán bù trừ điện tử; (3) Hệ thống thanh
    toán ngoại tệ; (4) Hệ thống thanh toán chứng khoán; và (5) Hệ thống thanh
    toán bán lẻ. Các hệ thống thanh toán này kết nối với nhau, cho phép các
    giao dịch được thông suốt trong và ngoài nước.
    Theo số liệu của NHNN (2019), tính đến giữa năm 2018, có khoảng 70 tổ
    chức cung ứng dịch vụ thanh toán triển khai dịch vụ thanh toán bán lẻ qua
    Internet và trên 35 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán bán lẻ qua điện
    thoại di động. NHNN đã cho phép 24 tổ chức không phải là ngân hàng thực
    hiện cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán nhằm phục vụ các giao dịch
    thanh toán bán lẻ, giá trị thấp.

  7. JSTPM Tập 8, Số 4, 2019 45

    Tuy nhiên, so với các quốc gia trong khu vực, độ phủ của hạ tầng cơ sở
    viễn thông vẫn còn thấp, ảnh hưởng đến khả năng triển khai thương mại
    điện tử cũng như mobile banking. Đa phần hệ thống viễn thông mới tập
    trung ở các thành phố lớn, chưa mở rộng được tới vùng nông thôn. Theo
    Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới năm
    2018, Chỉ số ứng dụng ICT của Việt Nam mới chỉ đứng thứ 95/140, thấp
    hơn rất nhiều so với các quốc gia khác trong khu vực (WEF, 2018).

    4.2. Các công nghệ thanh toán phổ biến tại các NHTM hiện nay
    Trong những năm qua, nhờ đầu tư mạnh vào hệ thống thanh toán nội bộ,
    các NHTM đã có sự phát triển vượt bậc về cơ sở hạ tầng công nghệ tiên
    tiến trên nền tảng hệ thống ngân hàng lõi, cho phép các NHTM xử lý nhanh
    chóng, chính xác các giao dịch thanh toán giữa các chi nhánh của cùng
    NHTM, đồng thời, có thể cung ứng các dịch vụ, phương tiện thanh toán
    hiện đại, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng.
    Thẻ ngân hàng
    Thẻ ngân hàng tiếp tục phát triển, số thẻ phát hành, số lượng và giá trị giao
    dịch thẻ tăng khá nhanh. Theo số liệu của NHNN (2019), tính đến hết quí I
    năm 2019, Việt Nam có 48 ngân hàng phát hành thẻ nội địa với số lượng
    khoảng 76 triệu thẻ, hơn 261.000 máy POS và 18.600 máy ATM. Các
    NHTM đã tích hợp thêm nhiều tính năng vào thẻ ngân hàng để sử dụng
    thanh toán tiền điện, nước, cước viễn thông, bảo hiểm, phí giao thông,
    thanh toán trực tuyến; đồng thời, các ngân hàng thương mại cũng quan tâm
    hơn đến việc cải thiện chất lượng dịch vụ thẻ, chú trọng tăng độ an toàn của
    thẻ ngân hàng.
    Dưới sự chỉ đạo của NHNN, Công ty Cổ phần Chuyển mạch Tài chính
    Quốc gia Việt Nam (Banknetvn) và Công ty Dịch vụ Thẻ Smartlink đã
    hoàn thành sáp nhập vào năm 2014 để hình thành Trung tâm Chuyển mạch
    Thẻ thống nhất, nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán ngày càng tăng của nền
    kinh tế. Ngân hàng Nhà nước còn chỉ đạo phát triển thanh toán POS trên
    thiết bị di động (mPOS) để phát triển nhanh các điểm chấp nhận thẻ quy mô
    nhỏ, tăng cường khả năng cung ứng dịch vụ cho khu vực nông thôn.
    Tuy nhiên, theo nhiều ý kiến của các chuyên gia, do áp lực tăng số lượng thẻ
    nên các NHTM phát hành thẻ miễn phí, dẫn đến nhiều thẻ “chết”, hoặc giá
    trị, số lượng giao dịch thấp, tỷ lệ thẻ hoạt động của các ngân hàng chỉ rơi vào
    60-70%,… Đây là lãng phí rất lớn của hệ thống ngân hàng và toàn xã hội.
    Internet banking và mobile banking
    Dịch vụ thanh toán qua internet banking, tuy mới phát triển từ năm 2009
    đến nay, nhưng đã khẳng định được vị thế quan trọng trên thị trường. Hiện

  8. 46 Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán…

    đang thịnh hành xu hướng dịch chuyển dần từ máy tính sang điện thoại di
    động (ĐTDĐ), giúp người sử dụng có thể thao tác nhanh gọn khi thanh
    toán. Đến nay, theo NHNN, tại Việt Nam tất cả các NHTM đã triển khai
    cung ứng dịch vụ thanh toán qua ĐTDĐ với số lượng, giá trị giao dịch tăng
    trưởng nhanh. Một số NHTM bước đầu triển khai có hiệu quả các dịch vụ
    thanh toán qua ĐTDĐ để thanh toán tiền điện, tiền nước, cước phí điện
    thoại, viễn thông, truyền hình cáp, phí bảo hiểm và một số khoản thu khác.
    Theo Khảo sát Tiêu dùng Toàn cầu 2019 của công ty kiểm toán (PwC), tại
    khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước có tốc độ tăng trưởng về thanh
    toán qua thiết bị di động nhanh nhất trong quí I năm 2019. Số lượng người
    sử dụng phương thức thanh toán qua thiết bị di động tại Việt Nam đã tăng
    từ 37% trong năm 2018 lên 61% năm 2019 (PwC, 2019).

    4.3. Các xu hướng thanh toán mới tại Việt Nam
    Ví điện tử
    Tại Việt Nam, thanh toán bằng ví điện tử ra đời lần đầu tiên năm 2008.
    Theo Báo cáo thường niên 2019 của NHNN, tính đến 31/12/2018, trên thị
    trường Việt Nam có 27 loại ví điện tử, với 4,24 triệu ví điện tử đã được xác
    thực, liên kết với tài khoản ngân hàng; tuy nhiên, có sự phân hóa mạnh, thị
    phần 90% (cả số lượng giao dịch, giá trị giao dịch) chỉ nằm trong tay của 5
    công ty trung gian thanh toán. Đáng lưu ý là, những công ty này đều có sở
    hữu của nước ngoài, mức sở hữu từ 30%, thậm chí đến hơn 90%.
    Các ví điện tử do các Fintech tại Việt Nam phát triển đều tìm cách kết nối
    với các ngân hàng để mở rộng người dùng. Bên cạnh việc phối hợp với các
    ngân hàng, một chiến lược phát triển khác của các Fintech phát triển ví điện
    tử là tìm đối tác liên kết trong một hệ sinh thái ứng dụng. Điển hình, ví điện
    tử AirPay tích hợp vào Foody, trở thành kênh đặt hàng và thanh toán chính
    thức của Foody cùng dịch vụ giao đồ ăn Now, Moca hợp tác với Grab,…
    Không chỉ các Fintech tham gia vào thị trường phát triển ví điện tử, một số
    ngân hàng trực tiếp phát triển công nghệ này. Tiêu biểu là Thẻ phi vật lý Ví
    Việt (gọi tắt là Ví Việt) của LienVietPostBank; Ví điện tử Bank Plus của
    MB Bank hợp tác với Viettel; Timo của VPBank; MEED của Maritime
    Bank; Sacombank Pay của Sacombank.
    Tiền kỹ thuật số
    Mặc dù được nhắc đến nhiều như là một loại công nghệ làm thay đổi căn
    bản các hoạt động thanh toán trong tương lai nhưng tiền kỹ thuật số mới chỉ
    dừng ở mức độ tìm hiểu bởi các tổ chức tài chính-ngân hàng Việt Nam.
    Tại các NHTM mà chúng tôi phỏng vấn, đại diện các ngân hàng đều cho
    rằng tiền kỹ thuật số chưa phải là chủ đề mà ngân hàng quan tâm hiện nay.

  9. JSTPM Tập 8, Số 4, 2019 47

    Các ngân hàng mới chỉ dừng ở mức độ quan tâm nghiên cứu chủ yếu đến
    công nghệ blockchain, vốn là nền tảng công nghệ chủ đạo của tiền kỹ thuật
    số mã hóa như bitcoin hoặc Ethereum, để khai thác tiềm năng ứng dụng của
    nó trong các hoạt động kinh doanh của mình.
    Thẻ thông minh
    Chuyển đổi thẻ thanh toán nội địa từ thẻ từ sang thẻ thông minh sử dụng
    chip là một trong những giải pháp trọng tâm của ngành ngân hàng được
    Thủ tướng phê duyệt tại Đề án Phát triển thanh toán không dùng tiền mặt
    giai đoạn 2016-2020. Đây được coi như là một giải pháp quan trọng để giúp
    Việt Nam tránh gian lận, giả mạo thẻ.
    Tuy nhiên, đến hết quí 2 năm 2019, mới có 7 ngân hàng gồm Vietcombank,
    VietinBank, BIDV, Agribank, Sacombank, TPBank, và ABBank chính thức
    ra mắt sản phẩm thẻ chip nội địa với công nghệ thanh toán không tiếp xúc,
    tốc độ xử lý giao dịch thanh toán nhanh, an toàn. Tuy nhiên, việc chuyển
    đổi từ thẻ từ sang thẻ thông minh tương đối tốn kém nên đa số các ngân
    hàng chưa triển khai.
    Công nghệ thanh toán không tiếp xúc
    Thẻ không tiếp xúc có mặt lần đầu tiên tại Việt Nam năm 2013, khi
    Eximbank phối hợp với MasterCard giới thiệu MasterCard PayPass. Cho
    đến năm 2017-2018, các ngân hàng như Vietcombank, Sacombank, SCB,
    Techcombank, Vietcapital Bank,… đồng loạt phát hành các loại thẻ không
    tiếp xúc. Tuy nhiên, tại Việt Nam, công nghệ trên vẫn đang ở giai đoạn đầu
    thâm nhập vào các hình thức thanh toán hiện đại, sau ví điện tử và thanh
    toán qua mã QR. Điều này cho thấy, vẫn còn nhiều dư địa để thanh toán
    không tiếp xúc bùng nổ trong tương lai, đặc biệt khi sự đón nhận của người
    dùng đối với thẻ không tiếp xúc đang rất tích cực.

    4.4. Vai trò của nền tảng tri thức và quá trình học hỏi
    Hoạt động R&D
    Hoạt động R&D tại các tổ chức tài chính-ngân hàng của Việt Nam có thể
    được phân thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất là các hoạt động nghiên cứu
    nhằm phát triển các sản phẩm mới, phát triển thị trường và cải tiến các cách
    thức tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh. Nhóm thứ hai là các hoạt động
    R&D liên quan đến hệ thống thông tin.
    Với nhóm thứ nhất, trong thời gian gần đây, hoạt động nghiên cứu trong
    nhà của các ngân hàng được đẩy mạnh. Chẳng hạn ACB đã có nhóm lập
    trình API của riêng mình; HD Bank phát triển các sản phẩm đặc thù riêng
    cho các khách hàng lớn, chẳng hạn cho VinaMilk; Sacombank tự phát triển
    QR trong thanh toán, cho phép rút tiền trên ATM,…

  10. 48 Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán…

    Đối với hoạt động R&D liên quan đến công nghệ thông tin, trước hết phải
    lưu ý rằng, các ngân hàng đều có trung tâm công nghệ thông tin nội bộ để
    vận hành hệ thống. Phần lõi (core banking) của hệ thống công nghệ thông
    tin của các ngân hàng đều thuê ngoài phát triển. Trung tâm tin học thường
    phối hợp quản lý hoạt động thuê ngoài và tiến hành phát triển một số cấu
    phần, tính năng để tương thích với thực tế của doanh nghiệp và Việt Nam.
    Học hỏi giữa các tác nhân
    Học hỏi giữa các tác nhân được xem như là một kênh tiếp nhận kiến thức
    quan trọng của các tổ chức tài chính-ngân hàng Việt Nam. Các ý tưởng về
    sản phẩm mới thường đến từ bên ngoài, đã được triển khai bởi các tổ chức
    tài chính lớn trên thế giới, các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam, hoặc các
    ngân hàng lớn trong nước. Lãnh đạo HD Bank, trong cuộc phỏng vấn của
    chúng tôi, cho biết “các chuyến đi thực nghiệm tại các định chế tài chính
    lớn như JP Morgan cũng như các doanh nghiệp áp dụng thành công các giải
    pháp công nghệ vào hoạt động như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản,… giúp
    cho lãnh đạo ngân hàng mạnh dạn triển khai đầu tư mua công nghệ mới”.
    Hoạt động giới thiệu công nghệ mới từ các công ty công nghệ giúp cho
    ngân hàng nắm bắt được các xu thế công nghệ. Các công ty cung cấp công
    nghệ nước ngoài sẽ cung cấp các công nghệ nguồn. Họ có các đối tác ở
    trong nước như FPT hoặc CMC để địa phương hóa nhằm hỗ trợ theo yêu
    cầu chi tiết, cụ thể của từng ngân hàng.
    Một kênh học hỏi được một số ngân hàng phản ánh là từ khách hàng.
    Chẳng hạn, quá trình tương tác và làm việc chặt chẽ với VietjetAir,
    Coopmart đã giúp HD Bank hoàn thiện hệ thống thanh toán để đáp ứng các
    đòi hỏi rất cao từ các đối tác này.
    Các ngân hàng cũng phản ánh các chương trình hội thảo định kỳ với Cục
    Công nghệ thông tin của NHNN cũng cung cấp và cập nhật những nội dung
    hữu ích về công nghệ cho các ngân hàng như chia sẻ cho các chuyên viên
    tin học của các ngân hàng về công nghệ blockchain, chia sẻ về những kiến
    thức mới liên quan đến kỹ thuật vận hành chung của ngân hàng, các khóa
    để phòng chống tấn công, diễn tập phòng chống tấn công,…
    Nguồn công nghệ mở (mua bán, sáp nhập, nhượng quyền, liên doanh, liên kết)
    Theo phản ánh của các NHTM mà chúng tôi phỏng vấn, việc nhập khẩu
    công nghệ chủ yếu là do sự quyết đoán của lãnh đạo ngân hàng, vai trò của
    các đối tác nước ngoài không nhiều. Các cổ đông chiến lược bản thân họ
    cũng là ngân hàng, nhiều khi còn cồng kềnh chậm đổi mới, nên cũng không
    có vai trò nhiều trong phát triển công nghệ mới. Hơn nữa, bản thân họ
    không trực tiếp cung cấp công nghệ mới, nên họ chỉ có thể tham gia vào
    việc tham vấn, giới thiệu các công ty công nghệ.

  11. JSTPM Tập 8, Số 4, 2019 49

    4.5. Vai trò của các tác nhân trong hệ thống đổi mới sáng tạo của hệ
    thống tài chính-ngân hàng Việt Nam
    Vai trò của các tác nhân truyền thống
    Liên quan đến dịch vụ thanh toán, các ngân hàng thương mại là những tác
    nhân truyền thống cung cấp dịch vụ. Các tổ chức này vẫn liên tục phải
    ĐMST, đầu tư phát triển công nghệ để cạnh tranh lẫn nhau trong việc đáp
    ứng nhu cầu ngày càng tăng của một nền kinh tế đang phát triển. Bởi đây là
    những tổ chức chính cung cấp các dịch vụ tài chính-ngân hàng hiện nay nên
    những tổ chức này đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thúc đẩy ĐMST
    của toàn hệ thống.
    Bên cạnh tác nhân chính này là các tổ chức trung gian (trường đại học, viện
    nghiên cứu, hiệp hội), các định chế quốc tế (IMF, World Bank, ADB,…) và
    các cơ quan nhà nước (Chính phủ, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Ủy
    ban Giám sát Tài chính Quốc gia). Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi,
    vai trò của các tổ chức trung gian trong việc thúc đẩy ĐMST trong hệ thống
    ĐMST ngành tài chính-ngân hàng ở thời điểm hiện tại là không nhiều.
    Vai trò của các tác nhân mới: công ty Fintech
    Trong giai đoạn từ 2015 trở lại đây, các công ty Fintech bắt đầu thâm nhập
    vào hệ thống ĐMST ngành tài chính-ngân hàng của Việt Nam, đặc biệt là
    dịch vụ trung gian thanh toán, với 28 đơn vị được NHNN cấp phép.
    Theo phỏng vấn của chúng tôi với các tổ chức tài chính-ngân hàng và các
    công ty Fintech, sự phát triển của công nghệ trong lĩnh vực Fintech thời
    gian vừa qua diễn ra rất nhanh. Như nhận định của một lãnh đạo NHTM mà
    chúng tôi phỏng vấn: “Trên một số khía cạnh nào đó, các ngân hàng ngày
    nay đang đối diện với thách thức mới đến từ các công ty Fintech, trên hầu
    hết các sản phẩm dịch vụ vốn thuộc về lĩnh vực ngân hàng-tài chính như
    thanh toán, chuyển tiền nội địa, chuyển tiền quốc tế, kiều hối, cho vay, tài
    chính cá nhân, đầu tư, bảo hiểm,… Về sản phẩm, các công ty Fintech có khả
    năng ra mắt sản phẩm trong thời gian rất ngắn, tính ứng dụng cao, gần gũi
    với khách hàng; về tính năng sáng tạo, các công ty Fintech có tính sáng tạo
    vượt trội do không bị chi phối từ những rào cản pháp lý như ngân hàng, liên
    tục ứng dụng các công nghệ mới nhất, đặc biệt các công nghệ tự động hóa,
    trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu mạng xã hội,… để mang đến trải nghiệm
    tốt hơn, suất xắc hơn so với các sản phẩm của ngân hàng; Về tính rủi ro,
    Fintech chấp nhận rủi ro ở dải rộng, mức độ cao hơn và thậm chí chấp nhận
    mạo hiểm, do đó, họ dễ dàng tiếp cận với các đối tượng chưa từng là khách
    hàng của ngân hàng và khách hàng dưới chuẩn của ngân hàng. Những thách
    thức này từ các công ty Fintech vừa có tính cạnh tranh thúc đẩy cùng phát
    triển, vừa có tính gợi ý cho sự cộng tác WIN-WIN giữa các công ty Fintech

  12. 50 Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán…

    và các tổ chức tài chính-ngân hàng để mang lại trải nghiệm mới mẻ, độc
    đáo và suất xắc hơn đối với các sản phẩm tài chính vốn khô khan”.

    4.6. Vai trò của hệ thống thể chế, chính sách
    Thể chế, chính sách đóng vai trò quan trọng có thể nói là bậc nhất trong
    việc tạo ra hành lang thúc đẩy hoạt động ĐMST của các tổ chức tài chính-
    ngân hàng. Khác với các hoạt động kinh tế khác, hoạt động kinh doanh của
    các tổ chức tài chính-ngân hàng, dù của bất kỳ nước nào, luôn chịu sự kiểm
    kiểm soát chặt sẽ của các định chế nhà nước thông qua các bộ luật chuyên
    ngành. Chính vì vậy, mọi động thái điều chỉnh chính sách của các định chế
    nhà nước có liên quan đều ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động
    ĐMST trong lĩnh vực này. Theo ý kiến của những NHTM và công ty chứng
    khoán mà chúng tôi phỏng vấn, nếu công nghệ mới chưa được Nhà nước
    chấp thuận một cách rõ ràng thì các tổ chức tài chính-ngân hàng không dám
    áp dụng triển khai, ngay cả khi ý tưởng và giải pháp công nghệ đã có.
    Chẳng hạn, ứng dụng công nghệ thanh toán điện tử chỉ có thể đẩy mạnh khi
    NHNN ban hành một loạt thông tin gỡ các vướng mắc cho các tổ chức tài
    chính-ngân hàng trong năm 2014-2016. Với các loại hình công nghệ không
    có hướng dẫn của NHNN thì các ngân hàng mới chỉ dừng ở mức độ tìm
    hiểu hoặc phát triển chậm. Ví dụ, việc phát hành các loại thẻ không tiếp xúc
    chỉ bắt đầu được một số NHTM giới thiệu vào giữa 2019 sau khi NHNN
    ban hành Bộ tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa và Bộ tiêu chuẩn cơ sở đặc
    tả kỹ thuật QR Code.
    Việc thiếu vắng một văn bản pháp lý riêng quy định đầy đủ về quy trình
    cung ứng các dịch vụ ngân hàng điện tử, tiền điện tử để tạo dựng khuôn khổ
    pháp lý chặt chẽ, thống nhất cho việc ứng dụng công nghệ thanh toán điện
    tử trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đã khiến cho việc ứng dụng một
    số công nghệ mới trong nước gặp khó khăn. Cụ thể như chưa có quy định
    rõ ràng về loại phương tiện thanh toán nào thì không được phép sử dụng
    nhưng cũng không có quy định giới hạn chỉ được phép sử dụng một số loại
    phương tiện thanh toán nhất định, khiến cho các ngân hàng không dám phát
    triển các loại tiền điện tử.
    Ngoài ra, do chưa có lộ trình chính sách rõ ràng về việc áp dụng các loại
    công nghệ mới như dữ liệu lớn, điện toán đám mây, eKYC nên cho đến nay
    các tổ chức tài chính-ngân hàng mới chỉ có thể dừng ở mức độ tìm hiểu
    thay vì mạnh dạn đưa các loại công nghệ này vào triển khai trong thực tế.
    Việc e sợ thanh toán xuyên biên giới có thể dẫn đến rửa tiền, thanh toán cho
    các hoạt động phi pháp, thất thu thuế,… đang khiến cho NHNN đưa ra các
    quy định trói buộc các ngân hàng phát triển những hình thức thanh toán
    xuyên biên giới được thuận tiện.
    Với lĩnh vực Fintech, từ tháng 3/2017, Ban Chỉ đạo về lĩnh vực Fintech của
    NHNN được thành lập, chỉ đạo nghiên cứu năm (05) lĩnh vực trong Fintech

  13. JSTPM Tập 8, Số 4, 2019 51

    (gồm: công nghệ chuỗi khối – Blockchain; cho vay ngang hàng – P2P
    Lending; định danh khách hàng điện tử – e-KYC; giao diện chương trình
    ứng dụng mở – Open API; thanh toán kỹ thuật số – Digital Payment) làm cơ
    sở xây dựng khuôn khổ pháp lý theo hướng thử nghiệm cho Fintech
    (regulatory sandbox). Nhờ những chỉ đạo này, nên các hoạt động của
    Fintech diễn ra sôi động như trong thời gian vừa qua. Tuy nhiên, với các tổ
    chức tài chính-ngân hàng, tâm lý e sợ làm sai vẫn đè nặng, khiến họ không
    dám tiên phong ứng dụng các loại hình Fintech mới.

    4.7. Vai trò của cầu
    Khách hàng, đặc biệt là các khách hàng lớn, khách hàng tổ chức đóng một
    vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy ĐMST trong lĩnh vực tài chính-
    ngân hàng. Những yêu cầu sử dụng dễ dàng, thuận tiện giao dịch, chất
    lượng giao dịch, thấu hiểu nhu cầu, và an toàn từ phía khách hàng đã khiến
    cho các tổ chức tài chính-ngân hàng cũng như các công ty Fintech liên tục
    ĐMST trong thời gian vừa qua.
    Phỏng vấn của chúng tôi cho thấy các ngân hàng, các công ty chứng khoán
    đều ghi nhận vai trò của khách hàng lớn, các đối tác quan trọng của những
    tổ chức này, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các yêu cầu và sức ép
    phải ĐMST. Chẳng hạn, lãnh đạo của HD Bank chia sẻ các đối tác chiến
    lược của công ty này như Vinamilk, VietjetAir, Petrolimex, HD SAISON,
    hay các công ty bán lẻ như Coopmart, BigC, Lotte đều đưa ra những yêu
    cầu giúp Ngân hàng hoàn thiện hệ sinh thái: Vinamilk đưa ra yêu cầu quản
    lí tiền mặt, internet banking cho các điểm bán hàng của Vinamilk, khấu chi
    cho các giao dịch của họ; VietjetAir đưa ra các yêu cầu về đặt vé, chi trả
    qua internet banking; Công ty tài chính HD SAISON kết nối các khoản vay
    với tài khoản của HD Bank; Petrolimex đưa ra yêu cầu về giải pháp thanh
    toán liên quan đến hỗ trợ POS tại các cây xăng; các công ty bán lẻ đưa ra
    yêu cầu về thanh toán qua POS, quản lý dòng tiền,…
    Các ngân hàng cũng chia sẻ rằng, những khách hàng trong lĩnh vực công
    ích như EVN, công ty cấp nước, các bệnh viện, trường học,… đã đặt ra các
    bài toán về thanh toán hóa đơn điện tử, buộc các ngân hàng phải đầu tư phát
    triển công nghệ để hỗ trợ khách hàng thanh toán các hóa đơn nhanh chóng,
    thuận tiện.
    Có thể thấy, nhu cầu của khách hàng Việt Nam còn rất lớn, đặt ra thách thức
    cho các tổ chức tài chính-ngân hàng khai phá. Như trình bày ở trên, thói quen
    sử dụng tiền mặt của người dân vẫn còn rất phổ biến. Theo Sách trắng
    thương mại điện tử Việt Nam 2019, phần lớn người mua hàng trực tuyến vẫn
    lựa chọn hình thức thanh toán tiền mặt khi nhận hàng với 88% đối tượng
    khảo sát cho biết có sử dụng phương thức này, tiếp theo là 42% sử dụng
    phương thức chuyển khoản qua ngân hàng, 31% người tham gia khảo sát cho
    biết từng sử dụng các loại thẻ thanh toán (Cục TMĐT và Kinh tế số, 2019).

  14. 52 Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán…

    4.8. Vai trò của hội nhập kinh tế
    Kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007,
    Việt Nam đã chủ động đàm phán, ký kết hoặc hoàn thiện thủ tục phê chuẩn
    và triển khai nhiều nhất Hiệp định Thương mại Tự do. Việt Nam đã mở cửa
    lĩnh vực dịch vụ ngân hàng, tài chính tương đối cao so với các nước có
    trình độ phát triển chung trong khu vực và thế giới. Tới nay, các ngân hàng
    nước ngoài được phép hiện diện tại Việt Nam dưới nhiều hình thức khác
    nhau, bao gồm: văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân
    hàng liên doanh với số vốn góp nước ngoài không vượt quá 50% vốn điều
    lệ, công ty cho thuê tài chính liên doanh, công ty cho thuê tài chính 100%
    vốn nước ngoài, công ty tài chính liên doanh, công ty tài chính 100% vốn
    nước ngoài và ngân hàng 100% vốn nước ngoài.
    Sự hiện diện của các ngân hàng nước ngoài hàng đầu trên thế giới tại Việt
    Nam như HSBC (cấp phép 2009), Standard Chartered, ANZ-bank, Shinhan
    Bank (cấp phép 2008), Hong Leong (cấp phép 2009),… đã giúp thúc đẩy
    quá trình chuyển giao công nghệ, kiến thức, năng lực điều hành và quản lý
    cấp cao cho các ngân hàng trong nước thông qua hiệu ứng tràn kiến thức
    dưới nhiều hình thức khác nhau (học hỏi từ đối thủ cạnh tranh, dịch chuyển
    lao động,…).
    Như phỏng vấn của chúng tôi với các NHTM, việc quan sát các đối thủ
    cạnh tranh áp dụng công nghệ là một trong những nguồn quan trọng để các
    ngân hàng đầu tư phát triển công nghệ. Điều này càng đúng với thực tế là
    các ngân hàng nước ngoài thường là những đơn vị đầu tiên đưa công nghệ
    mới vào Việt Nam, từ thẻ tín dụng cho đến phát triển ngân hàng bán lẻ, từ
    ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nội bộ cho đến vận dụng công
    nghệ thông tin vào các kênh phân phối của ngân hàng như internet banking,
    mobile banking, tablet banking, social network/media. Hiện nay, các ngân
    hàng thương mại Việt Nam vẫn đang sử dụng các kênh phân phối truyền
    thống như qua chi nhánh/phòng giao dịch, ATM, POS, phone banking,
    home banking, call center, và bắt đầu chuyển sang internet banking, mobile
    banking thì các ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam đã áp dụng mô hình
    ngân hàng bán lẻ kiểu mới (City Bank với Smart Banking, HSBC với First
    Direct,…). Đây chính là những hình mẫu mà một số ngân hàng trong nước
    như BIDV, MB Bank, SHB, VIB,… đang học hỏi.

    5. Kết luận
    Nghiên cứu này áp dụng cách tiếp cận hệ thống ĐMST ngành để đánh giá
    sơ bộ về hệ thống ĐMST trong lĩnh vực thanh toán của hệ thống tài chính-
    ngân hàng Việt Nam. Dưới đây là một số nhận định bước đầu về hệ thống
    này dựa trên những thông tin mà chúng tôi thu thập và phỏng vấn trong quá
    trình nghiên cứu.

  15. JSTPM Tập 8, Số 4, 2019 53

    Hệ thống ĐMST ngành tài chính-ngân hàng của Việt Nam trong thập kỷ
    vừa qua đã có sự chuyển mình đáng ghi nhận, đặc biệt là dịch vụ thanh
    toán. Tuy nhiên, thanh toán bằng tiền mặt tại Việt Nam vẫn còn chiếm tỉ
    trọng lớn. Dịch vụ thẻ mới chỉ gia tăng về số lượng mà chưa có sự chuyển
    biến về chất lượng. Các hình thức thanh toán mới như internet banking và
    mobile banking đã phát triển nhanh trong thời gian vừa qua và được nhiều
    ngân hàng đi sau tập trung đầu tư, xem đó như là giải pháp để tránh phải
    đầu tư hệ thống ATM và POS. Bên cạnh đó, các phương thức thanh toán
    mới như ví điện tử, thẻ thông minh, công nghệ thanh toán không tiếp xúc
    bắt đầu được các ngân hàng hợp tác với các công ty Fintech đưa vào ứng
    dụng trong thực tế.
    Trong các nhân tố thúc đẩy hoạt động ĐMST ngành tài chính-ngân hàng
    Việt Nam, thể chế, chính sách đóng vai trò rất quan trọng. Nếu công nghệ
    mới chưa được nhà nước chấp thuận một cách rõ ràng thì các tổ chức tài
    chính-ngân hàng không dám áp dụng triển khai ngay cả khi ý tưởng và giải
    pháp công nghệ đã có. Tiếp đến là yếu tố học hỏi, đặc biệt là học hỏi từ các
    đối thủ cạnh tranh và khách hàng.
    Sự xuất hiện của các công ty Fintech đã tạo ra một nhân tố mới cho hoạt
    động ĐMST trong lĩnh vực thanh toán. Một mặt, các công ty này đã tạo ra
    những phương thức thanh toán mới cạnh tranh với các tổ chức truyền
    thống, nhưng mặt khác chúng cũng tạo ra những cơ hội hợp tác cũng như
    dịch vụ mới hỗ trợ cho các tổ chức truyền thống.
    Cũng như hầu hết các lĩnh vực dịch vụ khác, khách hàng đóng một vai trò
    quan trọng trong việc cung cấp các ý tưởng và động lực cho các tổ chức tài
    chính-ngân hàng. Những ngân hàng có các đối tác chiến lược là những
    khách hàng lớn, với yêu cầu cao về dịch vụ chính là những đơn vị đầu tư
    mạnh mẽ cho hoạt động ĐMST. Ngoài ra, khu vực công nổi lên là một
    phân khúc các tổ chức tài chính-ngân hàng cạnh tranh với nhau để cung cấp
    các giải pháp thanh toán hiện đại gắn với cung ứng dịch vụ công trực tuyến.
    Cuối cùng, hội nhập quốc tế đã tạo ra một môi trường để cho các tổ chức tài
    chính-ngân hàng trong nước học hỏi kinh nghiệm từ các tổ chức tài chính-
    ngân hàng nước ngoài. Bên cạnh đó, những cam kết quốc tế giúp cho hệ
    thống pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này không ngừng hoàn thiện theo
    chuẩn mực quốc tế, qua đó, tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính-ngân
    hàng trong nước phát triển các loại hình sản phẩm và dịch vụ mới. Tuy
    nhiên, việc Việt Nam cam kết mở cửa mạnh mẽ lĩnh vực tài chính-ngân
    hàng trong các hiệp định thương mại quốc tế, các tổ chức tài chính-ngân
    hàng trong nước ngày càng phải chịu áp lực đổi mới mạnh mẽ để duy trì thị
    phần cũng như vươn ra bên ngoài./.

  16. 54 Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán…

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    Tiếng Việt
    1. Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số (2019). Sách trắng TMĐT Việt Nam từ 2019.
    2. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2019). Báo cáo thường niên Ngân hàng Nhà nước
    Việt Nam 2019.
    3. Hưng, N. V. (2013). Vai trò của nhà nước trong việc hình thành và phát triển hệ
    thống đổi mới quốc gia ở Việt Nam. Báo cáo đề tài nghiên cứu cấp Bộ. NISTPASS.
    Tiếng Anh
    4. KPMG (2007). Banking on Innovation? The challenge for retail banks.
    5. De Nederlandsche Bank (2016). Technological innovation and the Dutch financial
    sector. De Nederlandsche Bank.
    6. Microsoft financial service (2017). “The top five things a customer needs from their
    bank”. Được truy lục từ Microsoft Industry Blogs.
    7. WEF (2018). The Global Competitiveness Report 2018.
    8. PwC (2019). Global consumer insights survey 2019.
    9. Humphrey, D. B. (1995). Payment Systems: Principles, Practices, and Improvements.
    Washington, D.C., The World Bank.
    10. Evangelista, R. (2000). “Sectoral Patterns Of Technological Change In Services”.
    Economics of Innovation and New Technology , 183-222.
    11. Malerba, F. (2002). “Sectoral systems of innovation and production”. Research
    policy, 31(2), 247-264.
    12. Tether, B. S. and J. S. Metcalfe (2004). Services and ‘Systems of Innovation’.
    Malerba, F. (ed.). Sectoral Systems of Innovation: Concepts, Issues, and Analyses of
    Six Major Countries in Europe. Cambridge Univeristy Press, Cambridge, UK.
    13. Malerba, F. (2005). “Sectoral systems: how and why innovation differs across
    sectors”. The Oxford handbook of innovation (pp 181-208). Oxford: Oxford
    University Press.
    14. Fagerberg, J. and Verspagen (2009). “Innovation studies – The emerging structure of
    a new scientific field”. Research policy, 38, 218-233.
    15. Newbury, P. M. (2016). Technological Change and the Evolution of Sectoral Systems
    of Innovation in Highly Regulated Industries: A Study of the Australian Electricity
    Industry. A thesis submitted for the degree of Doctor of Philosophy at The University
    of Queensland in 2016.
    16. Powell, H. J. (2017), “Innovation, Technology, and the Payments System”. Remarks
    of the Member of the Board of Governors of the Federal Reserve System at the
    Conference Blockchain: The Future of Finance and Capital Markets? The Yale Law
    School Center for the Study of Corporate Law, Weil, Gotshal & Manges Roundtable,
    Yale University, New Haven, Conn. March 3, 2017.

Download tài liệu Hệ thống đổi mới sáng tạo ngành về dịch vụ thanh toán của Việt Nam: Một số đánh giá sơ bộ File Word, PDF về máy