[Download] Tải Hệ số CAR và rủi ro của ngân hàng – nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng Việt Nam – Tải về File Word, PDF

Hệ số CAR và rủi ro của ngân hàng – nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng Việt Nam

Hệ số CAR và rủi ro của ngân hàng – nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng Việt Nam
Nội dung Text: Hệ số CAR và rủi ro của ngân hàng – nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng Việt Nam

Download


Bài viết này nhằm mục đích trình bày một cái nhìn về mối quan hệ giữa mức độ an toàn vốn, rủi ro của ngân hàng và những chỉ số lợi nhuận của các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Bạn đang xem: [Download] Tải Hệ số CAR và rủi ro của ngân hàng – nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng Việt Nam – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Hệ số CAR và rủi ro của ngân hàng – nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng Việt Nam File Word, PDF về máy

Hệ số CAR và rủi ro của ngân hàng – nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Hệ số CAR và rủi ro của ngân hàng – nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng Việt Nam

  1. ISSN 1859-3666

    MỤC LỤC

    KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ

    1. Nguyễn Thị Minh Nhàn và Bùi Thị Ánh Tuyết – Nghiên cứu tác động đến quản lý nhà nước về
    phát triển nguồn nhân lực y tế trình độ cao ở Sơn La. Mã số: 140.1HRMg.11
    A Study on the Factors Affecting Government Management in the Development of High 2
    Quality Medical Human Resources in Sơn La Province
    2. Kiều Quốc Hoàn – Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến mô hình phân phối của các
    doanh nghiệp Việt Nam. Mã số: 140.1IIEM.12 12
    The Impacts of the Industrial Revolution 4.0 on the Distribution Models of Vietnamese
    Enterprises

    QUẢN TRỊ KINH DOANH

    3. Nguyễn Văn Huân, Nguyễn Thị Hằng và Bùi Thị Thu – Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối
    với website thương mại điện tử của doanh nghiệp – Một nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Đầu tư và
    Thương mại TNG Thái Nguyên. Mã số: 140.2BMkt.21 22
    Assessing Customer Satisfaction with Enterprise’s E-commerce Website – Case Study at TNG
    Thái Nguyên Investment and Trade JSC
    4. Bùi Thị Quỳnh Trang – Nghiên cứu tác động của trải nghiệm khách hàng đến lòng trung thành tại
    các khách sạn ở Việt Nam. Mã số: 140.2BMkt.21 33
    A Study on the Effects of Customer Experience on Loyalty at Hotels in Vietnam
    5. Lưu Thị Minh Ngọc và Hoàng Trọng Trường – Sự phiền toái của các loại quảng cáo video trên
    YouTube và hàm ý cho doanh nghiệp Việt Nam. Mã số: 140.2TrEM.21 44
    Trouble by Video Advertisements on YouTube and Implications for Vietnamese Enterprises
    6. Nguyễn Thu Quỳnh – Quản trị quan hệ khách hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện
    nay. Mã số: 140.2BMkt.22 54
    Customer Relationship Management at Vietnamese Commercial Banks at Present

    Ý KIẾN TRAO ĐỔI

    7. Đào Thanh Bình – Hệ số CAR và Rủi ro của Ngân hàng – Nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng
    Việt Nam. Mã số: 140.3FiBa.32 65
    CAR and Banking Risk – an Experimental Study at Vietnam Commercial Banks

    khoa học
    Sè 140/2020 thương mại 1

    1

  2. Ý KIẾN
    N TRAO ĐỔI
    I

    HỆ SỐ CAR VÀ RỦI RO CỦA NGÂN HÀNG –
    NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TẠI NGÂN HÀNG VIỆT NAM

    Đào Thanh Bình
    Đại học Hà Nội
    Email: binhdtt@hanu.edu.vn

    Ngày nhận: 03/02/2020 Ngày nhận lại: 27/02/2020 Ngày duyệt đăng: 03/03/2020

    S au cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, kiểm soát ngân hàng đã trở thành một trong
    những hoạt động trọng tâm nhất mà cả thế giới đang tập trung vào. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
    đã thắt chặt chính sách quản lý và kiểm soát trong ngành ngân hàng, trong đó hệ số an toàn vốn là một
    công cụ hữu ích để đánh giá và kiểm soát hiệu suất hoạt động của ngành. Bài báo này nhằm mục đích trình
    bày một cái nhìn về mối quan hệ giữa mức độ an toàn vốn, rủi ro của ngân hàng và những chỉ số lợi nhuận
    của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Sử dụng dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu đánh giá tác động của một
    số biến độc lập đối với CAR của ngân hàng. Nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ rủi ro về vốn, vốn chủ sở
    hữu, tài sản rủi ro, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và lợi nhuận trên tổng tài sản có ảnh hưởng đáng kể về
    mặt thống kê đối với CAR của ngân hàng Việt Nam.

    Từ khóa: hệ số an toàn vốn – CAR, rủi ro của ngân hàng, hiệu suất hoạt động, dữ liệu bảng.

    1. Giới thiệu về tính hợp lý của yêu cầu đủ vốn rằng, Koehn và Santomero (1980), Kim và
    trong ngân hàng Santomero (1988), và Rochet (1992) nhận thấy chi
    Các nhà phân tích và chuyên gia thường mở đầu phí vốn cao hơn nhiều so với chi phí nợ vay; do đó,
    một cuộc thảo luận về yêu cầu an toàn vốn trong việc giảm tỷ lệ đòn bẩy sẽ dẫn đến hạ tỷ suất lợi
    ngân hàng bằng cách nhắc đến vai trò của chúng nhuận của ngân hàng. Trong trường hợp này, theo
    trong việc tạo ra một bộ đệm an toàn, hỗ trợ những quan điểm kinh doanh, chủ sở hữu của ngân hàng sẽ
    thiệt hại của ngân hàng và bảo vệ chủ nợ khỏi sự xem xét các chính sách mà trong đó rủi ro cao hơn
    sụp đổ của ngân hàng. Vì vậy, vốn đệm, làm giảm nhưng lợi nhuận cũng cao hơn, chính sách này có
    xác suất thất bại, là rất quan trọng đối với chủ nợ. thể dẫn đến xác suất vỡ nợ cao hơn. Chủ nợ, những
    Trong hệ thống ngân hàng, một ngân hàng không người luôn luôn nhận được một khoản thanh toán cố
    được kiểm soát, trong đó tổng tài sản bằng tổng nợ, định không phục thuộc vào mức lợi nhuận hoạt động
    sẽ phải đối mặt với thời kỳ khó khăn bất cứ khi nào của người vay, không muốn phải trải qua giai đoạn
    các tài sản giảm giá trị do một sự kiện không mong tài chính không lành mạnh. Tuy nhiên, thực tế là chủ
    muốn, thậm chí là phá sản. Nghiêm trọng hơn, thất sở hữu các ngân hàng có lợi thế trong việc tiếp cận
    bại trong các ngân hàng sẽ dẫn đến hiệu ứng “domi- thông tin nội bộ được sử dụng trong các quyết định
    no” ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế, ví dụ như đầu tư, làm tăng sự lo ngại của bên cho vay về khả
    sự phá sản của Lehman Brothers mở rộng phạm vi năng vỡ. Vì vậy, các nhà quản lý ngân hàng đã dành
    cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu lớn nhất trong thời gian để thiết lập một kế hoạch hợp lý để làm hài
    thế kỷ 21. lòng tất cả các bên liên quan, trong đó quy định một
    Về mặt lý thuyết, việc thiết lập yêu cầu về vốn lượng nguồn vốn cố định đầy đủ, cụ thể là vốn cốt
    phải đối mặt với một tình huống tiến thoái lưỡng lõi, để bù trừ cho những khoản lỗ bất ngờ, có thể làm
    nan khi phải đánh đổi giữa sự ổn định trong hoạt giảm những rủi ro đạo đức, qua đó chia sẻ gánh
    động và chi phí vốn cao. Trong khi những chủ nợ nặng tiềm năng với người gửi tiền.
    thận trọng yêu cầu sự bảo đảm trong việc nhận được Trong lịch sử, các quy định về vốn đã được triển
    đầy đủ số tiền nghĩa vụ của người vay, thì chủ sở khai bởi chủ nợ lớn nhất của ngân hàng là Chính phủ
    hữu có xu hướng sử dụng một tỷ lệ lớn các khoản nợ với mong muốn tránh những chi phí phát sinh trong
    để tạo ra một khoản lợi nhuận rất cao. Xin lưu ý khủng hoảng tài chính. Giống như những người cho
    khoa học
    Sè 140/2020 thương mại 65

  3. Ý KIẾN
    N TRAO ĐỔII
    vay tư nhân, Chính phủ hoặc Ngân hàng Trung ương chỉ số lợi nhuận, và tóm tắt các Hiệp ước vốn Basel.
    yêu cầu hệ thống bảo hiểm tiền gửi bảo vệ họ khỏi Thứ hai, nghiên cứu này xem xét các quy định ngân
    những thiệt hại không mong muốn. Đóng vai trò là hàng chính ở Việt Nam, sau đó so sánh với các tiêu
    người cho vay cuối cùng, thực tế, Ngân hàng trung chuẩn quốc tế. Thứ ba, dựa trên dữ liệu thứ cấp như
    ương vẫn phải hỗ trợ cho nghĩa vụ của ngân hàng các ấn phẩm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
    bằng một vài điều khoản hợp đồng liên quan đến tài các báo cáo chính thức từ các ngân hàng thương
    chính hay chính trị. Bên cạnh đó, hệ thống này mại, nghiên cứu này nhằm mục đích tìm hiểu tác
    không có khả năng hỗ trợ các nhà quản lý trong việc động của rủi ro và lợi nhuận trên mức độ đủ vốn một
    theo dõi liệu rằng một khoản tiền gửi mới có được cách thực nghiệm. Cuối cùng, bài viết thảo luận về
    bảo đảm hay không. Do đó, Chính phủ ban hành yêu các kết quả nghiên cứu và đưa ra kết luận về tình
    cầu đủ vốn liên tục để duy trì hoạt động của ngân hình điều chỉnh vốn.
    hàng. Ngoài ra, một lý do khác nữa chính là chính Phần còn lại của bài được sắp xếp như sau. Phần
    phủ có thể sử dụng yêu cầu về vốn để giảm xác suất thứ hai là tổng quan nghiên cứu về quy định an toàn
    của vỡ nợ của ngân hàng. Vỡ nợ của một ngân hàng vốn, những nghiên cứu trước đó về các yếu tố quyết
    có thể gây nguy hiểm cho một ngân hàng khác có định mức vốn, và những ý tưởng cơ bản trong Hiệp
    liên quan thông qua thị trường cho vay liên ngân ước vốn Basel, và các quy định đối với ngân hàng
    hàng hoặc thông qua tài khoản của khách hàng đang Việt Nam. Phần thứ ba xem xét các nghiên cứu thực
    chờ chuyển tiền từ ngân hàng đầu tiên trong hệ nghiệm về các ngân hàng Việt Nam, kiểm tra mối
    thống thanh toán, sau đó lây lan mạnh mẽ đến toàn quan hệ giữa sự thay đổi về vốn so với thay đổi
    bộ ngành, thậm chí toàn bộ nền kinh tế. Đặc biệt, trong các yếu tố rủi ro và đo lường lợi nhuận, bao
    những tranh luận xung quanh vấn đề “quá lớn để sụp gồm giải thích các biến, mô tả dữ liệu và kết quả hồi
    đổ” cho rằng các ngân hàng lớn biết được vị trí quan quy. Trong phần cuối cùng, kết luận và thảo luận kết
    trọng của mình trong hệ thống nền kinh tế; do đó, họ quả cũng như những cơ hội nghiên cứu sâu hơn sẽ
    có động lực để chấp nhận rủi ro cao hơn. Kết quả là, được trình bày.
    chính phủ phải hỗ trợ để ổn định nền kinh tế nếu các 2. Tổng quan nghiên cứu về quy định an
    ngân hàng này trải qua giai đoạn khó khăn. Nếu các toàn vốn
    gói cứu trợ là không đủ, một thảm họa lớn sẽ xảy ra. Ban đầu, Moldigliani và Miller (1958) chứng
    Những chi phí xã hội này, không chỉ những nhà đầu minh rằng trong một thị trường hiệu quả, cơ cấu vốn
    tư vào ngân hàng phải gánh chịu, còn buộc các nhà của doanh nghiệp không liên quan đến giá trị của nó.
    quản lý yêu cầu lượng vốn lớn như là một nỗ lực để Vì ngân hàng là các công ty cổ phần, nên khoản lỗ
    kết hợp chặt chẽ lợi ích xã hội với chi phí hoạt động. của cổ đông được giới hạn trong khi lợi nhuận của
    Một yếu tố ngoại vi tiêu cực khác là thất bại của họ lớn hơn nhiều so với số tiền thanh toán lãi cố
    ngân hàng có thể mang lại những thông tin gây rối định cho người gửi tiền và người cho vay. Trong một
    và gây thiệt hại đối với sự tín nhiệm tín dụng của thị trường hiệu quả với tất cả các thông tin được
    người vay, điều đó là vô cùng tốn kém khi phát triển. công bố, các chủ nợ yêu cầu lãi suất cho vay cao hơn
    Một ngân hàng luôn luôn phát triển các đội ngũ để bù đắp rủi ro cao hơn, điều đó thúc đẩy những
    chuyên môn trong quy trình xử lý thông tin. Các người quản lý ngân hàng tối đa hóa cả giá trị cổ
    chuyên gia chịu trách nhiệm thu thập, phân tích, phiếu và tổng giá trị của ngân hàng. Do đó, giá trị thị
    đánh giá và bảo mật thông tin có giá trị trong hệ trường của ngân hàng là độc lập với cơ cấu vốn. Nói
    thống ngân hàng. Sau đó, trong trường hợp ngân cách khác, quy định về vốn là không cần thiết trong
    hàng phá sản, toàn bộ thông tin hữu ích về đánh giá cơ cấu này.
    khách hàng để tham khảo có thể bị mất mãi mãi, Tuy nhiên, Sealey (1985), Baltensperger &
    điều này ảnh hưởng đến toàn bộ ngành ngân hàng. Milde (1987) lập luận rằng lý thuyết M & M là
    Bài viết nhằm mục đích tạo một liên kết giữa rủi không thích hợp đối với các ngân hàng. Theo lý
    ro của ngân hàng và yêu cầu an toàn vốn. Điều này thuyết thông tin, nếu thị trường là hiệu quả, những
    góp phần vào quan điểm về quy định vốn trong một ngân hàng không sở hữu những thông tin đặc biệt sẽ
    số khía cạnh. Thứ nhất, nó giải thích ngắn gọn lý do không thể tồn tại. Do đó, sự xuất hiện của ngân hàng
    của yêu cầu an toàn vốn, đưa ra đánh giá ngắn gọn chứng minh rằng giả thuyết trong M & M có vấn đề.
    về những nghiên cứu trước đó liên quan đến các yếu Vì các chủ nợ không có khả năng đánh giá chính xác
    tố quyết định trong yêu cầu đủ vốn, đó là rủi ro và rủi ro của danh mục đầu tư, nên ngân hàng có động
    khoa học
    66 thương mại Sè 140/2020
  4. Ý KIẾN
    N TRAO ĐỔII
    lực để tăng đòn bẩy và chịu rủi ro cao hơn. Kết quả hàng bằng cách đưa ra quy định về vốn. Đồng thời,
    là, những nhà quản lý cần triển khai những yêu cầu Harold (1999) độc lập phát hiện ra rằng không chỉ
    nhất định đối với các ngân hàng, đặc biệt là về vốn, những nhà quản lý mà cả người dân cũng lo ngại về
    để tránh khả năng vỡ nợ. sự ổn định của hệ thống tài chính. Bằng cách sử
    Ngoài ra, Koehn & Santomero (1980) thấy rằng dụng các phương pháp tiếp cận vốn của ngân hàng
    yêu cầu về vốn vẫn chưa đủ để làm giảm xác suất dựa trên rủi ro đối với ngân hàng và so sánh sức
    thất bại. Bởi vì một mức vốn yêu cầu cao sẽ có mạnh của những liên hiệp tín dụng, nghiên cứu suy
    những hiệu quả không mong muốn đối với lợi nhuận ra rằng quy mô tài sản không phải là một nguồn
    kỳ vọng các ngân hàng; buộc các ngân hàng phải chính tạo nên sự khác biệt trong tỷ lệ vốn dựa trên
    cân bằng mất mát của họ bằng cách đầu tư vào các rủi ro của những ngân hàng này. Do đó, các ngân
    tài sản rủi ro cao. Nói cách khác, mức độ lo ngại rủi hàng sẽ duy trì một mức vốn phù hợp để tối ưu hóa
    ro đóng một vai trò quan trọng trong xác suất phá lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu cũng như thích nghi
    sản. Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng xác suất thất bại với các quy định an toàn vốn.
    trong các ngân hàng có mức độ lo ngại rủi ro cao là Jackson et al. (1999) đã tiến hành một nghiên
    thấp hơn so với những ngân hàng có mức lo ngại rủi cứu để chỉ ra mối quan hệ giữa lợi nhuận của ngân
    ro thấp. Do đó, những quy định về vốn cần phải kết hàng và yêu cầu vốn trong ngành ngân hàng của
    hợp với các yêu cầu về tài sản và tính đến vấn đề Đức, Canada, Hà Lan, Nhật Bản, Anh, Mỹ, và Thụy
    thanh khoản. Sỹ. Tuy nhiên, tác giả tìm ra những kết quả khác
    Trong những thảo luận sau đó, Kim và nhau một cách không rõ ràng từ dữ liệu có được.
    Santomero (1988) cũng cho rằng các nhà hoạch Bensaid (1995) nghiên cứu sâu sắc chức năng
    định chính sách có thể thực hiện các yêu cầu về vốn của yêu cầu về vốn trong việc đối phó với lựa chọn
    nhạy cảm với rủi ro. Cụ thể, trong lượng rủi ro được đối nghịch và rủi ro đạo đức. Về mặt lý thuyết, lựa
    lựa chọn tối ưu với một cận trên trong xác suất phá chọn đối nghịch bắt nguồn từ chất lượng cá nhân
    sản nên phụ thuộc vào lợi nhuận kỳ vọng và của các khoản cho vay trong ngân hàng đối với chủ
    phương sai của chúng – cấu trúc hiệp phương sai. sở hữu của ngân hàng trong khi rủi ro đạo đức xuất
    Do đó, chúng sẽ độc lập đối với mức độ lo ngại rủi hiện do lợi nhuận của các ngân hàng phụ thuộc vào
    ro của từng cá nhân. quyết định không quan sát được.
    Mpuga (2002) tin rằng những yêu cầu vốn tối Furlong và Keeley (1989) lập luận rằng khuôn
    thiểu không đủ có thể khiến các ngân hàng phá sản. khổ mà trong đó lãi suất cho vay là không đổi và chi
    Ông phân tích những quy định vốn Uganda mới đã phí là độc lập với rủi ro của danh mục đầu tư là
    dẫn đến một số lượng lớn của các ngân hàng sụp đổ không chính xác, bởi vì nó bỏ qua trạng thái khi
    như thế nào khi họ nỗ lực để đáp ứng các yêu cầu về ngân hàng thất bại. Một khi ngân hàng thất bại,
    vốn trong cuộc khủng hoảng năm 1998. Một cách người gửi tiền được trả một khoản bồi thường cơ
    thực nghiệm, nghiên cứu kết luận thêm rằng một khi quan bảo hiểm tiền gửi, giảm chi phí của các khoản
    quy định mới đã tính đến những yếu tố bổ sung, như nợ. Do đó, xác suất ngân hàng chấp nhận rủi ro cao
    tiền gửi, vốn đã góp, vốn cốt lõi, tổng số vốn…, hiệu hơn là lớn hơn khi mức vốn thấp, và rủi ro giảm dần
    suất hoạt động của ngân hàng sẽ được tăng cường. theo sự gia tăng vốn.
    Tương tự như vậy, Choi (2000) thấy rằng các ngân Dưới góc độ tài chính, Blose (2001) đã phân
    hàng thay đổi hành vi của họ khi một quy định cũ tích ảnh hưởng của dự phòng rủi ro tín dụng (LLP)
    được thay thế. Đặc biệt, những ngân hàng đáp ứng đối với giá cổ phiếu trong giai đoạn từ năm 1980
    CAR đã mở rộng tín dụng và những ngân hàng với đến năm 1993. Ông giải thích phản ứng của nhà
    mức CAR thấp phải giảm hoạt động cho vay của họ đầu tư từ các công bố LLP trong vấn đề thông tin
    để thích ứng với vốn bắt buộc. bất cân xứng về giá trị tài sản và chi phí vốn. Hồi
    Dowd (1999) đã chứng minh rằng các quy định quy trên lợi nhuận dự kiến trung bình lũy kế cho
    vốn tối thiểu có thể được coi như là một phương tiện thấy tuyên bố LLP mang lại tác động tiêu cực đối
    để tăng cường sự an toàn và lành mạnh của ngành với lợi nhuận. Như vậy, các ngân hàng có mức đủ
    ngân hàng. Ông đánh giá cao hệ thống bảo hiểm tiền vốn thấp hơn phải đối mặt với sự giảm giá cổ phiếu
    gửi trong việc đối phó với vấn đề thông tin bất đối lớn hơn so với những ngân hàng có mức CAR đủ.
    xứng. Rủi ro đạo đức của vấn đề này buộc Chính Cuối cùng, rất nhiều loại LLP, bất động sản và dự
    phủ thiết lập sự can thiệp vào hoạt động của ngân phòng tín dụng tạo ra những phản ứng về giá vô
    khoa học
    Sè 140/2020 thương mại 67
  5. Ý KIẾN
    N TRAO ĐỔII
    cùng tiêu cực. Trong khi đó, Powel (2002) tin rằng Song (1998) khảo sát hành vi của ngân hàng Hàn
    có một sự thiếu sót về những quy định về trích lập Quốc đối với các quy định an toàn vốn của Basel
    dự phòng vốn trong thỏa thuận quốc tế của Basel I, trong năm 1992. Ông phát hiện ra rằng phương pháp
    trong đó bao gồm cả tổn thất dự kiến và tổn thất luận dựa trên rủi ro có trọng số có hiệu quả trong
    không mong muốn. việc ngăn ngừa khả năng trả nợ do ngân hàng trong
    Trong một nghiên cứu về cấu trúc tài chính và nước không có xu hướng thực hiện điều chỉnh “thẩm
    hiệu suất hoạt động ngân hàng, Renolds (2000) phát mỹ” để nâng cao tỷ lệ vốn của họ. Ngoài ra, theo
    hiện các biến cấu trúc khi hồi quy các chỉ số tài cách tiếp cận quản lý rủi ro, Karles (1989) đã tiến
    chính độc lập bao gồm thanh khoản, khả năng sinh hành một cuộc điều tra về mối quan hệ giữa những
    lời và ưu tiên cho vay. Nghiên cứu này đã khám phá rủi ro thị trường khác nhau và tỷ lệ an toàn vốn trên
    một mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa kích thước và khả cả hai phương pháp định tính và định lượng. Từ mẫu
    năng sinh lời của ngân hàng, sự tương quan âm giữa của 24 ngân hàng, nghiên cứu chứng minh một quan
    mức đủ vốn và tài sản của ngân hàng. Nói cách hệ tỷ lệ nghịch giữa rủi ro thị trường và vốn đệm
    khác, các ngân hàng lớn sẽ vẫn duy trì một số lượng trong báo cáo lý thuyết.
    nhỏ vốn đệm bị ảnh hưởng trực tiếp bởi lợi nhuận. Trong khi đó, Saunders, Strock và Travlos
    Yu (2000) cũng đã ủng hộ lý thuyết “quá lớn để (1990) nhận thấy rằng mức độ ưa thích rủi ro của
    sụp đổ”, báo cáo rằng hầu hết các ngân hàng lớn có người quản lý có thể ảnh hưởng đến vốn đệm. Theo
    tỷ lệ vốn thấp hơn nhiều so với các ngân hàng nhỏ, nghiên cứu này, do lợi ích cá nhân, người quản lý
    trong mẫu về Đài Loan. Dựa trên giả định rằng vốn ngân hàng có động lực để từ chối những dự án rủi
    hóa tốt sẽ kiếm được lợi nhuận cao, bài viết cho thấy ro. Do đó, những người quản lý có xu hướng bù đắp
    rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản liên quan tích danh mục tài sản rủi ro cao bằng cách sử dụng đòn
    cực đến ngân hàng nhỏ nhưng liên quan tiêu cực đối bẩy thấp, điều đó tạo ra một mối quan hệ tích cực
    với các ngân hàng có quy mô vừa. Ông cũng kết giữa những thay đổi trong rủi ro và thay đổi vốn như
    luận rằng tài sản, thanh khoản và lợi nhuận của ngân trong Shrieves và Dahl (1992). Nói cách khác, các
    hàng là những yếu tố quyết định chính của tỷ lệ vốn. ngân hàng sẽ tăng số vốn của họ để đối phó với rủi
    Asarkaya và Özcan (2007) xem xét những yếu tố ro cao hơn trong danh mục cho vay.
    quyết định cơ cấu vốn trong các ngân hàng Thổ Nhĩ Nói chung, những giá trị của lý thuyết quy định
    Kỳ, giải thích lý do tại sao các ngân hàng nắm giữ an toàn vốn được chấp nhận và đánh giá cao bởi
    lượng vốn cao hơn yêu cầu trong giai đoạn 2002 – nhiều nhà nghiên cứu và các nhà phân tích, nhưng,
    2006. Thông qua một mô hình thực nghiệm, nghiên câu hỏi ngân hàng nên được yêu cầu giữ lượng vốn
    cứu cho rằng vốn trì hoãn, tăng trưởng kinh tế, rủi bao nhiêu vẫn còn gây tranh cãi.
    ro danh mục đầu tư, và lợi nhuận trên vốn cổ phần Năm 2010, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban
    liên quan tích cực đến tỷ lệ an toàn vốn trong khi hành thông tư 13/2010/TT-NHNN, để xác định tỷ lệ
    tiền gửi ảnh hưởng tiêu cực đến vốn đệm. an toàn cho các tổ chức tài chính. Theo thông tư này,
    Newman (2010) cho rằng sự thay đổi trong thu Ngân hàng Nhà nước ban hành các quy định liên
    nhập ngoại hối là lý do chính gây ra sự sụt giảm của quan đến nguồn vốn để đảm bảo an toàn cho hoạt
    đồng USD và dự trữ ngoại hối, trong đó vốn ngân động của ngân hàng cũng như hạn chế các ngân
    hàng bị ảnh hưởng đáng kể. Marcus (1983) cho rằng hàng mới gia nhập thị trường tài chính, bao gồm:
    sự biến động về lãi suất danh nghĩa gây ra những vốn điều lệ tối thiểu đã tăng từ 1.000 tỷ đồng lên
    thay đổi trong tỷ lệ vốn trên tổng tài sản. Thông qua 3.000 tỷ đồng; quỹ dự trữ bắt buộc hàng năm tích
    chuỗi thời gian – ước tính chéo, ông đã cho thấy sự lũy ở mức 10% thu nhập ròng, thu giữ 25% vốn điều
    giảm đáng kể trong tỷ lệ này ở những ngân hàng Mỹ lệ và hệ số an toàn vốn tối thiểu (riêng và chung) cho
    trong hai thập kỷ qua. các ngân hàng thương mại đã tăng từ 8% lên 9%.
    Trong nỗ lực để xác định lượng đòn bẩy ngân CAR được định nghĩa là Vốn/Tài sản trọng số rủi ro.
    hàng đầy đủ tại Hungary và Bulgaria, Bevan (2000) Trong đó, Vốn là tổng vốn cấp I (tổng vốn điều lệ,
    chú trọng vào hiệu ứng của quy mô, tài sản rủi ro, quỹ dự phòng, quỹ đầu tư phát triển, lợi nhuận để
    các khoản nợ và lợi nhuận giữ lại của ngân hàng. lại, và thặng dư vốn cổ phần được phép) và vốn cấp
    Nghiên cứu cho kết quả mối tương quan nghịch giữa II (tổng tài sản đánh giá lại, quỹ dự phòng tài chính,
    đòn bẩy và tài sản rủi ro, nợ; điều đó nhấn mạnh tầm trái phiếu chuyển đổi và các công cụ nợ khác thỏa
    quan trọng của vốn trong việc đảm bảo quỹ tiền gửi. mãn nhiều điều kiện). Tuy nhiên, vốn cấp 2 là cần
    khoa học
    68 thương mại Sè 140/2020
  6. Ý KIẾN
    N TRAO ĐỔII
    thiết để đáp ứng một số hạn chế, trừ đi các khoản được tính bằng tỷ lệ giữa vốn và tỷ lệ tài sản có rủi
    khấu trừ (Số tiền được khấu trừ gồm tổng các phần ro ; CR: rủi ro tín dụng, được tính bằng tỷ lệ các
    khấu trừ từ vốn cấp 1 và cấp 2, bao gồm lợi thế khoản vay trên tổng tài sản ; IR: rủi ro lãi suất, là tỷ
    thương mại, lỗ lũy kế, mua lại cổ phiếu); RWA – Tài lệ giữa Tài sản trên nợ nhạy cảm với lãi suất; LR: rủi
    sản trọng số rủi ro là tổng giá trị tài sản và giá trị ro thanh khoản, là tỷ lệ tài sản lưu động đối trên tiền
    tương đương của tài sản ngoại bảng trong hạn mức gửi ; ER: tỷ lệ tài sản rủi ro của chủ sở hữu; ATO: hệ
    rủi ro. Dựa trên khung sáu trọng số (0%, 20%, 50%, số quay vòng tài sản; ROE: tỷ lệ doanh thu trên vốn
    100%, 150%, 250% – trọng số cuối cùng dành cho chủ sở hữu; ROA: tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản.
    các khoản vay bất động sản), tài sản sẽ được chuyển Bài viết này xem xét các dữ liệu thống kê từ 11
    thành tài sản trọng số rủi ro. ngân hàng thương mại Việt Nam bao gồm ACB,
    3. Mô hình cho rủi ro ngân hàng và hệ số an BIDV, Eximbank, MB, Sacombank, SHB,
    toàn vốn Techcombank, VIB, Vietcombank, Vietinbank, và
    3.1. Phương pháp nghiên cứu VPbank trong 6 năm (2010-2015). Các dữ liệu được
    Phần này được tiến hành nhằm phân tích thực thu thập từ các tài liệu chính thức được công bố bởi
    nghiệm các yếu tố quyết định hệ số an toàn vốn và công ty chứng khoán và của chính ngân hàng ở Việt
    tác động của chúng với hệ thống ngân hàng Việt Nam. Các biến bao gồm cả tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ
    Nam. Như đã đề cập, lý thuyết rủi ro đạo đức cho rủi ro, tỷ lệ lợi nhuận trong thời gian 2010-2015
    rằng rủi ro và mức vốn được đồng thời xác định bởi được tính toán từ báo cáo thường niên của các ngân
    các nhà quản lý ngân hàng. Các nghiên cứu trước đó hàng. Các mô hình kinh tế, dữ liệu định lượng và
    của Shrieves và Dahl (1992) cho thấy các mối quan phương trình toán kinh tế nhằm mục đích trả lời các
    hệ tích cực giữa vốn và rủi ro trong khi Jacques và câu hỏi: (1) “Những rủi ro của ngân hàng có ảnh
    Nigro (1997), mặt khác, nêu lên mối quan hệ tiêu hưởng đến lợi nhuận và hệ số an toàn vốn không?”
    cực. Tiếp đó, nhiều nhà nghiên cứu, ví dụ như và (2) “Trong hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam, các
    Newman (2010), Marcus (1983), Bevan (2000) tập ngân hàng thương mại nên cải thiện mức độ an toàn
    trung vào sự tương tác giữa hệ số an toàn vốn và yếu vốn như thế nào để thích nghi với các quy định?”.
    tố rủi ro. Bên cạnh đó, Goddard et al. (2004), Javaid 3.2. Thống kê mô tả
    et al. (2011), Naceur (2003), nghiên cứu các ngân Các thống kê mô tả cho tất cả các biến được tóm
    hàng châu Âu trong những năm 1990, Pakistan trong tắt như bảng sau:
    Bảng 1a: Thống kê mô tả
    CAR CPR CR ER IR LR ATO ROE ROA
    Trung bình 0.130583 1.768699 0.536691 0.136863 0.690902 0.214140 0.036499 0.164983 0.013429
    Trung vӏ 0.120900 1.722226 0.531941 0.136739 0.645954 0.183057 0.037761 0.150100 0.013250
    Cao nhҩt 0.458900 5.161399 0.829032 0.414206 1.110227 0.490566 0.054023 0.365200 0.026800
    Nhӓ nhҩt 0.080000 0.971555 0.328605 0.064424 0.434056 0.021580 0.009734 0.006400 0.000700
    Ĉӝ lӋch chuҭn 0.055229 0.546425 0.124469 0.053819 0.171825 0.116813 0.010208 0.080965 0.006154
    Cӥ mүu 66 66 66 66 66 66 66 66 66

    giai đoạn 2004-2008, và Tunisia cho giai đoạn 1980- Thống kê mô tả của các biến này có thể được
    2000, tìm thấy sự tương quan mạnh mẽ giữa các chỉ tóm tắt như sau: Biến CAR (hệ số an toàn vốn) đạt
    tiêu vốn và lợi nhuận. Do đó, bài viết này nhằm mục giá trị cao nhất 45,89% của Eximbank và có giá trị
    đích tập trung nghiên cứu về cả lợi nhuận và rủi ro thấp nhất là 8% của VIB trong 6 năm. Biến CPR –
    của các ngân hàng ảnh hưởng lên hệ số CAR. Các rủi ro vốn nằm trong khoảng từ 97% đến 516%
    nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa mức độ trong suốt sáu năm qua, với 177% trên trung bình.
    an toàn vốn và các yếu tố quyết định của nó sẽ được Biến CR – rủi ro tín dụng có giá trị tối thiểu là
    tiến hành dựa trên những nghiên cứu trước đó ở 32,86% với ACB, giá trị tối đa là 82,9% với BIDV
    Jordan của Al-Tamimi (2013). Vì vậy, nghiên cứu trong giai đoạn này. Trong thực tế, các ngân hàng
    cho thấy mối quan hệ của các yếu tố dựa trên các Việt Nam chỉ chịu một rủi ro tín dụng trung bình, ở
    phương trình hồi quy là biến phụ thuộc CAR: hệ số 53,67%. Biến IR dao động từ 43,4% của MB đến
    an toàn vốn; Các biến độc lập là CPR: rủi ro vốn, 111% của BIDV trong giai đoạn từ 2010 đến 2015.
    khoa học
    Sè 140/2020 thương mại 69

  7. Ý KIẾN
    N TRAO ĐỔII
    Biến LR – rủi ro thanh khoản biến dao động từ 2,1% 3.3. Phân tích hồi quy
    đến 49%, với điểm trung bình là 21%. Trong tất cả Nghiên cứu này sẽ sử dụng mô hình hồi quy về
    các thông tin, VIB đứng ở thứ hạng cao nhất, ở mức biến phụ thuộc dựa trên ba cách: hồi quy gộp, mô
    bình quân 49% và Eximbank ở mức thấp nhất, bình hình hiệu ứng cố định (FEM), và mô hình hiệu ứng
    quân 2,1%. Biến ER nhìn chung đạt mức tối đa ngẫu nhiên (REM). Phương thức đầu tiên là phương
    41,42%, giảm xuống mức tối thiểu 6,4%, và trung thức đơn giản nhất để hồi quy dữ liệu bảng. Về mặt
    bình là 13,68%. Biến ROE (lợi nhuận trên vốn chủ lý thuyết, hồi quy này giả định các giá trị trung bình
    sở hữu) dao động từ 0,64% và 36,5%, với điểm và mối quan hệ liên tục giữa tất cả các biến, bỏ qua
    trung bình là 16,49%. Biến ATO đạt giá trị cao nhất, thời gian và hiệu ứng cắt ngang. Mô hình hiệu ứng
    ở mức 5,4%, và giá trị thấp nhất, khoảng 0,9%, với cố định (FEM) và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên
    trung bình và độ lệch chuẩn tương ứng là 3,64% và (REM) được đưa vào phân tích bảng. Mô hình trước
    1% trong suốt sáu năm qua. ROA dao động từ xem xét riêng các đặc tính ảnh hưởng đến biến độc
    0,07% đến 2,68%, với điểm trung bình là 1,34%. lập đồng thời loại bỏ các tính năng thời gian bất biến
    Tính trung bình, MBBank hoạt động hiệu quả nhất, để đánh giá hiệu quả thực của các biến giải thích.
    ở mức 2,15% trong khi VIB chỉ đạt mức 0,65% với Đây là nguyên nhân tại sao FEM giả định rằng
    tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản. không có sự tương quan trong mô hình. Mặt khác,
    Bảng 1b: Ma trận hệ số tương quan

    HӋ sӕ WѭѫQJ
    quan CAR CPR CR ER IR LR ATO ROE ROA
    CAR 1.0000
    CPR 0.0261 1.0000
    CR -0.1995 0.0787 1.0000
    ER 0.8357 -0.1423 -0.3713 1.0000
    IR -0.1388 0.1865 0.9171 -0.3076 1.0000
    LR -0.0232 0.0333 -0.1644 0.1762 -0.0535 1.0000
    ATO 0.0392 0.0326 0.2614 0.0783 0.3225 -0.0315 1.0000
    ROE -0.4040 0.0431 -0.3229 -0.2774 -0.2552 -0.2866 0.0979 1.0000
    ROA 0.0102 -0.0664 -0.3919 0.2105 -0.2774 -0.2841 0.2272 0.8078 1.0000

    Như có thể thấy, hệ số an toàn vốn (CAR) có mối REM gồm các biến thời gian bất biến trong quá trình
    quan hệ tích cực với các rủi ro vốn (CPR), tỷ lệ tài của nó. Các biến thể trên các thực thể ở đây được coi
    sản rủi ro của chủ sở hữu (ER), hệ số quay vòng tài là ngẫu nhiên và không tương quan giữa các lỗi và
    sản (ATO), và tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA). các biến. Như vậy, tương quan là một vấn đề nghiêm
    Ngược lại, mức độ an toàn vốn có quan hệ tiêu cực trọng mà REM phải đối phó với. Lưu ý rằng, REM
    với rủi ro tín dụng (CR), rủi ro lãi suất (IR), rủi ro có thể loại bỏ các lỗi ngẫu nhiên khỏi mô hình.
    thanh khoản (LR), và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở Nghiên cứu này biến đổi sang dạng logarit để làm
    hữu (ROE). Ngoài ra, từ ma trận hệ số tương quan, giảm xác suất biến ngẫu nhiên. Để đánh giá tình phù
    tương quan nghịch giữa ROE và yếu tố nguy cơ, hợp của hai mô hình, thử nghiệm Tương quan ngẫu
    ngoại trừ rủi ro vốn, xác nhận thuyết “rủi ro cao thì nhiên – Haussemann được thực hiện với sự giúp đỡ
    lợi nhuận cao”. Các ngân hàng hoạt động hiệu quả của Eviews.
    với hệ số quay vòng tài sản cao có xu hướng phải Phân tích hồi quy được sử dụng để khám phá các
    đối mặt với rủi ro tín dụng cao và rủi ro lãi suất. Bên mối quan hệ định lượng giữa biến phụ thuộc, CAR,
    cạnh đó, vấn đề đa cộng tuyến có thể chỉ xảy ra giữ và các biến độc lập bao gồm CR, IR, CPR, LR, ER,
    hai cặp biến, cụ thể là rủi ro tín dụng CR và rủi ro ATO, ROE và ROA. Như đã đề cập ở trên, nghiên
    lãi suất IR, và ROE và ROA với tương quan tương cứu thực hiện cả mô hình hiệu ứng cố định (FEM)
    ứng là 91% và 80%. Tuy nhiên, các tính toán cho và mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (REM), cho thấy
    thấy các thông tin độc lập giữa hai quan sát này. mối quan hệ giữa các biến cụ thể trên hai phương
    Nghiên cứu cũng kiểm tra lỗi này sau khi chạy mô diện trước khi đánh giá sự phù hợp.
    hình hồi quy.
    khoa học
    70 thương mại Sè 140/2020

  8. Ý KIẾN
    N TRAO ĐỔII
    Phương trình cuối cùng suất lợi nhuận trên tài sản tăng thêm 1%, các yếu tố
    LOG(CAR) ước lượng = -0.35 + khác không đổi.
    0.16*LOG(CPR) + 0.56*LOG(ER) – Tóm lại, ba yếu tố rủi ro vốn – CPR, tỷ lệ tài sản
    0.46*LOG(ROE) + 0.35*LOG(ROA) rủi ro của chủ sở hữu ER và tỷ suất lợi nhuận trên
    t-Statistic lần lượt là -2.070777, 2.950422, tài sản ROA có tác động tích cực đến mức độ an
    5.138834, -4.340772, 3.167528. R2 = 92.39% toàn vốn CAR của ngân hàng, tỷ suất lợi nhuận trên
    Biến phụ thuộc là hệ số an toàn vốn (CAR), các vốn chủ sở hữu ROE ảnh hưởng tiêu cực đến mức
    biến độc lập có ý nghĩa thống kê lần lượt là rủi ro vốn của ngân hàng. Như vậy trong ngành ngân
    vốn (CPR), tỷ lệ tài sản rủi ro của chủ sở hữu (ER), hàng, một ngân hàng có ROA cao thì tốt hơn rất
    tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và tỷ nhiều một ngân hàng chỉ có ROE cao và ROA thấp.
    suất lợi nhuận trên tài sản (ROA) Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, rủi ro tín dụng, rủi ro
    Các phương trình hồi quy trước, chỉ ra không ý lãi suất, rủi ro thanh khoản và hệ số quay vòng tài
    nghĩa của rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro sản có ảnh hưởng không rõ ràng đến mức độ an toàn
    thanh khoản và hệ số quay vòng tài sản, như đã vốn của các ngân hàng.
    được phát triển trong mô hình Al-Tamimi (2013) 4. Kết luận và thảo luận về các kết quả
    dường như không có hiệu quả áp dụng trong tình nghiên cứu
    hình Việt Nam. Thứ nhất, rủi ro vốn – CPR là có ý nghĩ tích cực
    Phân tích thống kê cho thấy mối tương quan tích về mặt thống kê với hệ số an toàn vốn. Tuy nhiên,
    cực, đáng kể giữa hệ số an toàn vốn CAR và CPR điều này là trái với kết luận của Al-Tamimi (2013) về
    rủi ro vốn, đặc biệt, khi các rủi ro vốn tăng thêm 1%, việc không có ý nghĩa thống kê, trong nghiên cứu về
    hệ số an toàn vốn của các ngân tăng thêm trung bình ngân hàng Jordany. Điều này có thể xuất phát từ sự
    0,16%. Các giá trị p ≈ 0.00 đó là nhỏ hơn α = 0,05 khác biệt trong tình hình ngành ngân hàng ở Jordany
    cho thấy tác dụng đáng kể của rủi ro vốn với hệ số và Việt Nam. Theo đánh giá về biến rủi ro vốn, tỷ lệ
    an toàn vốn. này dao động trong một phạm vi rộng trong 6 năm
    Các kết quả hồi quy cho thấy mối quan hệ tích qua, minh họa cho môi trường không ổn định của
    cực, đáng kể giữa hệ số an toàn vốn CAR của chủ sở ngành ngân hàng Việt Nam. Những lý do thích hợp
    hữu và tỷ lệ tài sản rủi ro của chủ sở hữu ER. Biến cho vấn đề này có thể là cách tiếp cận quản lý rủi ro
    tỷ lệ tài sản rủi ro của chủ sở hữu có ảnh hưởng khác nhau dưới áp lực từ Chính phủ, cạnh tranh và xu
    mạnh nhất với hệ số an toàn vốn. Trong thực tế, hệ hướng rút vốn ngân hàng của các tập đoàn khổng lồ.
    số an toàn vốn được dự kiến sẽ tăng trung bình Những hoạt động này trực tiếp ảnh hưởng đến cả vốn
    0.56%, nếu tỷ lệ tài sản rủi ro của chủ sở hữu tăng đầu tư và rủi ro, dẫn đến một sự thay đổi lớn trong rủi
    thêm 1%, các yếu tố khác không đổi. Với giá trị p ≈ ro vốn. Mặt khác, lĩnh vực ngân hàng của Jordany
    0.00, tác dụng với hệ số an toàn vốn có ý nghĩa ở dường như ổn định trong một thời gian dài.
    mức α = 0,05. Dựa trên mô hình hồi quy cuối cùng, bởi vì một
    Kết quả thực nghiệm cho thấy mối quan hệ tiêu ngân hàng tuân theo danh mục đầu tư thường rủi ro
    cực, đáng kể giữa hệ số an toàn vốn CAR và tỷ suất hơn về thu nhập, nên nhìn chung nó phải đối mặt với
    lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE. Đặc biệt, giá trị mức rủi ro vốn cao hơn do sự gia tăng của tài sản có
    p ≈ 0.00 nhỏ hơn so với α = 0.05 hỗ trợ cho việc rủi ro. Tỷ lệ rủi ro vốn, do đó, giảm một cách hợp lý,
    nghiên cứu bác bỏ giả thuyết không. Điều này khẳng theo sau là tỷ lệ an toàn vốn. Sau đó, ngân hàng
    định chỉ số lợi nhuận trực tiếp ảnh hưởng đến mức thương mại có động cơ để tăng vốn chủ sở hữu hoặc
    độ vốn ngân hàng. Nói cách khác, nếu tỷ suất lợi dành nhiều thu nhập được giữ lại nhiều hơn cho việc
    nhuận trên vốn chủ sở hữu giảm 1%, mức vốn của bảo hiểm rủi ro này để bảo vệ quyền lợi của người
    các ngân hàng sẽ tăng trung bình 0,46%, các yếu tố gửi tiền. Tăng trưởng lượng vốn có thể đóng góp
    khác không đổi. vào vốn đầu tư cũng như Vốn cấp 1 (Lõi), được quy
    Phân tích hồi quy chứng minh mối quan hệ tích định tại Thông tư 13 của Ngân hàng Nhà nước. Do
    cực, đáng kể giữa mức độ an toàn vốn CAR và tỷ đó, trong nỗ lực kiểm soát rủi ro vốn, các ngân hàng
    suất lợi nhuận trên tài sản ROA. Các giá trị p ≈ 0.00 thương mại Việt Nam cũng tăng cường mức vốn đầy
    nhỏ hơn nhiều so với α = 0,05 hỗ trợ cho việc nghiên đủ. Nói cách khác, mức độ an toàn vốn càng cao,
    cứu bác bỏ giả thuyết. Cụ thể là, vốn của các ngân các ngân hàng càng an toàn trong việc đối phó với
    hàng dự kiến sẽ tăng lên trung bình 0,35% nếu tỷ rủi ro vốn.
    khoa học
    Sè 140/2020 thương mại 71
  9. Ý KIẾN
    N TRAO ĐỔII
    Thứ hai, tỷ lệ tài sản rủi ro vốn chủ sở hữu đã Kết quả thực nghiệm này cũng tương tự như Gropp
    được minh họa có ý nghĩa thống kê đối với mức vốn và Heider (2007). Ngoài ra, ROA và tỷ lệ vốn có thể
    đầy đủ. Dữ liệu cho thấy các tài sản rủi ro vốn chủ sở có mối tương quan tích cực vì các ngân hàng dự kiến
    hữu có mối quan hệ tích cực với vốn ngân hàng, phù sẽ tăng rủi ro tài sản để có được lợi nhuận cao hơn
    hợp với những phát hiện trước đó của Al-Tamimi (Jeitschko và Jeung, 2007).
    (2013). Chỉ tiêu này chú ý nhiều đến chức năng của Về cơ hội nghiên cứu trong tương lai, các nhà
    vốn chủ sở hữu đối với người gửi tiền trong trường nghiên cứu có thể xác định và so sánh các loại hình
    hợp phá sản. Khi rủi ro được coi là tăng vì một số lý ngân hàng khác nhau, bao gồm các ngân hàng
    do, các ngân hàng có xu hướng điều chỉnh dự án rủi thương mại Nhà nước trước đây, ngân hàng thương
    ro của họ ở mức hợp lý, làm giảm mức độ an toàn mại cổ phần, ngân hàng liên doanh và các công ty tài
    vốn. Do đó, sự gia tăng tỷ lệ tài sản rủi ro vốn chủ sở chính, để có thể kiểm định loại hình ngân hàng có
    hữu làm tăng cường tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng. ảnh hưởng đến quyết định thiết lập hệ số CAR. Một
    Tuy nhiên, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu có ý hướng khác để nghiên cứu sâu hơn về chủ đề này là
    nghĩa thống kê ở mức độ tin cậy 95% cho tỷ lệ an nghiên cứu hệ phương trình, đồng thời xem xét mối
    toàn vốn. Kết quả này cho thấy mối tương quan quan hệ giữa rủi ro và quy định vốn như được nghiên
    nghịch giữa lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu và mức cứu trong bài báo của Shrieves và Dahl (1992).
    độ an toàn vốn, tương tự như kết quả của Al-Tamimi
    (2013). Tuy nhiên, nó trái ngược với mối quan hệ Tài liệu tham khảo:
    tích cực giữa an toàn vốn và lợi nhuận, được đề xuất
    bởi Kosmidou (2008), Ben Naceur (2003), Valverde 1. Al-Tamimi, Khaled., Obeidat, Samer., (2013),
    và Fernandez (2007), Brock và Suarez (2000), và Determinants of Capital Adequacy in Commercial
    Saunders và Schumacher (2000)). Như được trích Banks of Jordan an Empirical Study, International
    dẫn trong các phần tài liệu trước đây, mức vốn chủ Journal of Academic Researchin Economics and
    sở hữu ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của các Management Sciences, Vol. 2, No.4.
    ngân hàng. Để thích ứng với các quy định an toàn và 2. Dowd, K., (1999), Does Asymmetric
    lành mạnh của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng Information Justify Bank Capital Adequacy
    Việt Nam buộc phải tăng số vốn hoặc giảm mức độ Regulation, Cato Journal, Vol. 19, pp. 39 – 47.
    tài sản rủi ro. Vì chi phí vốn cổ phần cao hơn nhiều 3. Koehn, M., Santomero, M. A., (1980),
    so với chi phí nợ, chi phí vốn trung bình tăng lên, Regulation of Bank Capital and Portfolio Risk, The
    làm giảm lợi nhuận ròng. Mặt khác, chi phí nợ làm Journal of Finance, pp. 1235 – 1243.
    giảm xác suất lợi nhuận bất thường, trực tiếp làm 4. Mpuga, P., (2002), The 1998 – 99 banking cri-
    giảm khả năng thu lợi nhuận. Do đó, phát sinh tỷ lệ sis in Uganda: What was the role of the New Capital
    vốn làm cho lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu thấp hơn. Requirements?, Journal of Financial Regulation and
    Cuối cùng, kết quả nghiên cứu thực nghiệm về Compliance, Vol. 10, pp. 224 – 242.
    lợi nhuận trên tài sản cho thấy nó có tác động tích 5. Rime, B., (2001), Capital requirements and
    cực đáng kể ở mức độ tin cậy 95% đối với mức độ bank behavior: Empirical evidence for Switzerland,
    an toàn vốn, chứng minh kết luận tương tự với Al- Journal of Banking and Finance, Vol. 26, pp. 1 – 23
    Tamimi (2013). Lợi nhuận trên tài sản ROA thể hiện 6. Shrieves, R., Dahl, D., (1992), The relationship
    mức độ hiệu quả của các ngân hàng trong việc tạo between risk and capital in commercial banks, Journal
    lợi nhuận cơ bản trên cơ sở tài sản. Theo công thức, of Banking and Finance, Vol. 16, pp. 439 – 457
    các ngân hàng có thể tăng cường chỉ số này bằng
    cách tăng lợi nhuận hoặc giảm tổng tài sản. Trong Summary
    khi tùy chọn thứ hai là không thực tế vì tín hiệu tiêu
    cực của nó về hiệu suất của các ngân hàng, thì lựa Since the crisis 2008, Supervisory has become
    chọn trước đây dường như là một lựa chọn tốt cho one of the most centric activities that the whole
    họ. Nhìn chung, nhờ chi phí tài trợ thấp, các ngân world is focusing on. SBV is required to tighten
    hàng thường chủ yếu dựa vào thu nhập giữ lại để financial policies in banks, especial CAR. This
    tăng vốn. Do đó, nếu các ngân hàng hoạt động có paper aims to reveals that the combination of capital
    lãi, họ có thể sẽ dành một khoản thu nhập giữ lại để risk, owner’s equityrisky assets ratio, return on equi-
    lấy vốn, điều này làm tăng mức vốn của ngân hàng. ty, and return on assets have influenced on CAR.
    khoa học
    72 thương mại Sè 140/2020

Download tài liệu Hệ số CAR và rủi ro của ngân hàng – nghiên cứu thực nghiệm tại ngân hàng Việt Nam File Word, PDF về máy