[Download] Tải Giáo trình môn Kế toán quản trị (196 trang) – Tải về File Word, PDF

Giáo trình môn Kế toán quản trị (196 trang)

Giáo trình môn Kế toán quản trị (196 trang)
Nội dung Text: Giáo trình môn Kế toán quản trị (196 trang)

Download


Giáo trình môn kế toán quản trị gồm có những nội dung chính: Những vấn đề chung về kế toán quản trị, phân loại chi phí, phân tích mối quan hệ chi phí khối lượng lợi nhuận và thông tin thích hợp với quyết định ngắn hạn, xác định chi phí và định giá sản phẩm và dịch vụ, phân tích báo cáo tài chính. Mời các bạn cùng tham khảo.

Bạn đang xem: [Download] Tải Giáo trình môn Kế toán quản trị (196 trang) – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Giáo trình môn Kế toán quản trị (196 trang) File Word, PDF về máy

Giáo trình môn Kế toán quản trị (196 trang)

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Giáo trình môn Kế toán quản trị (196 trang)

  1. 1

    CHƯƠNG I
    NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ

    Giới thiệu:
    Trong quản lý, doanh nghiệp cần phải nắm bắt nhu cầu thông tin phục vụ
    cho việc ra quyết định, thông tin này do bộ phận nào cung cấp và bộ phận
    đó sẽ cung cấp thông tin nào? Chương 1: “Những vấn đề chung về kế toán
    quản trị” sẽ giải đáp cho chúng ta vấn đề này.
    Muïc tieâu:
    – Hieåu ñöôïc keá toaùn quaûn trò laø gì vaø nhu caàu thoâng tin cuûa nhaø quaûn trò
    kinh doanh trong caùc lónh vöïc khaùc nhau;
    – Phaân bieät ñöôïc söï khaùc nhau cô baûn giöõa keá toaùn taøi chính, keá toaùn
    quản trị và kế toán chi phí.
    Nội dung:
    1. Khái niệm, mục tiêu và nhiệm vụ của kế toán quản trị:
    1.1. Khái niệm kế toán quản trị:
    Kế toán quản trị (Managerial Accounting) là lĩnh vực của ngành kế toán
    nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng, đặc biệt thực trạng tài chính của
    doanh nghiệp; qua đó phục vụ công tác quản trị nội bộ và ra quyết định
    quản trị. Thông tin của kế toán quản trị đặc biệt quan trọng trong quá trình
    vận hành của doanh nghiệp, đồng thời phục vụ việc kiểm soát, đánh giá
    doanh nghiệp đó.
    1.2. Mục tiêu của kế toán quản trị:
    Vai trò trách nhiệm truyền thống của kế toán quản trị đang được mở rộng
    bao hàm cả các nhu cầu đối với quá trình ra quyết định chiến lược kinh
    doanh. Cán bộ kế toán quản trị ngày nay không còn đơn thuần làm công
    việc đo, đếm. Các kỹ năng tài chính của người làm kế toán quản trị có được
    từ kinh nghiệm và đào tạo đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều hoạt động
    của doanh nghiệp. Người làm kế toán quản trị ngày nay cần phải hiểu được
    các lĩnh vực chức năng khác như marketing, tài chính, quản trị hòa quyện
    với các quyết định của kế toán thể nào.
    Những tiến bộ trong hàng chục năm qua đã làm cho những nhà kế toán
    quản trị có thể trở thành một phần trong đội ngũ các nhà quản lý làm gia
    tăng giá trị của tổ chức.
    Kế toán quản trị đã chuyển chức năng từ người lưu giữ sổ sách, số liệu
    trong quá khứ để trở thành nhà thiết kế của những hệ thống thông tin quản
    trị trong tổ chức.

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  2. 2

    Những hệ thống lường hiệu quả hiện có, ngay cả những hệ thống dựa trên
    nền tảng quản lý trên cơ sở hoạt động (ABC hay ABM), cũng chỉ tập trung
    và cải thiện các quy trình hiện tại. Ngược lại, phương pháp bảng điểm cân
    bằng (balanced scorecard) tập trung vào những quy trình mới nào cần thiết
    để đạt những mục tiêu về hiệu quả có tính đột phá cho khách hàng và cổ
    đông.
    1.3. Nhiệm vụ của kế toán quản trị:
    Bất kỳ một nhà quản trị nào khi đại diện cho tổ chức để điều hành hoạt
    động đều gắn liền với những chức năng cơ bản sau:
    – Lập kế hoạch: Là việc thiết lập và thông báo những công việc cần thực
    hiện, những nguồn lực cần huy động, những con người phối hợp thực hiện,
    thời gian thực hiện, những chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cần đạt được để tổ chức
    hướng về mục tiêu đã định. Kế hoạch có thể tồn tại dưới hình thức kế
    hoạch ngắn hạn, kế hoạch trung hạn hoặc kế hoạch dài hạn và cũng có thể
    xây dựng theo một mức độ nhất định hoặc xây dựng linh hoạt theo các
    mức độ hoạt động khác nhau.
    – Tổ chức điều hành: Là chức năng liên kết giữa con người với con người
    trong tổ chức, mối quan hệ giữa con người trong một tổ chức với các nguồn
    vật lực để thực hiện kế hoạch của tổ chức đạt được thành quả và hiệu quả
    cao nhất. Chức năng tổ chức điều hành thong qua hoạch định cụ thể:
    + Những công việc của từng thành viên.
    + Quyền hạn và trách nhiệm của từng thành viên.
    Trong điều hành, nhà quản trị giám sát hoạt động hang ngày và giữ cho tổ
    chức hoạt động liên tục. Đây cũng chính là sự giám sát công việc của từng
    thành viên, giải quyết những mâu thuẫn phát sinh trong sự liên kết giữa các
    thành viên theo quyền hạn và trách nhiệm.
    – Kiểm tra: Là chức năng đảm bảo cho công việc của tổ chức đi đúng mục
    tiêu. Biểu hiện chức năng kiểm tra của nhà quản trị chính là việc nghiên
    cứu báo cáo kế toán, các báo cáo khác; so sánh số liệu báo cáo với số liệu
    kế hoạch để kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm nhằm kịp thời
    điều chỉnh, giúp đỡ các thành viên hoàn thành nhiệm vụ. Trong quá trình
    thực hiện chức năng kiểm tra, nhà quản trị luôn tiếp súc và ghi nhận thông
    tin phản hồi từ thực tiễn và kịp thời chuyển hoá chúng thành thông tin kế
    hoạch, tương lai.
    – Ra quyết định: Là chức năng lựa chọn hợp lý và tối ưu những giải pháp,
    phương án. Ra quyết định không phải là một chức năng độc lập mà nó luôn
    gắn liền với chức năng khác. Trong quá trình lập kế hoạch, tổ chức điều
    hành hoặc kiểm tra luôn tồn tại chức năng ra quyết định.

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  3. 3

    + Tất cả các quyết định đều phải dựa vào nền tảng thông tin. Chất
    lượng của quyết định trong quản lý phản ánh chất lượng của thông tin kế
    toán và thông tin khác đã được tiếp nhận. Sự biến động của môi trường
    kinh doanh, sự phát triển quy mô sản xuất kinh doanh, hình thức quản lý
    của các tổ chức đã đặt ra nhu cầu thông tin mới mà kế toán cần phải thiết
    lập một phương thức mới để xử lý và cung cấp thông tin cho thích hợp.
    Thông tin kế toán cung cấp về bản chất thường là thông tin kinh tế- tài
    chính định lượng và thông tin này giúp cho các nhà quản trị hình thành các
    chức năng lập kế hoạch, tổ chức điều hành, kiểm tra và ra quyết định. Vai
    trò thông tin kế toán với nhà quản trị có thể biểu hiện qua những vấn đề cơ
    bản sau:
    Với chức năng lập kế hoạch, nhà quản trị phải thiết lập các loại dự toán, kế
    hoạch như chiến lược sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư, dự toán ngân
    sách hoạt động hàng năm…đây chính là tài liệu xác lập các bước thực hiện
    mục tiêu của tổ chức. Các kế hoạch, dự toán được thực hiện dưới sự điều
    khiển của trưởng phòng kế toán và sự giúp đỡ của các nhân viên kế toán …
    Ví dụ: Thông qua dự án tiêu thụ, dự toán sản xuất, dự toán nguyên vật liệu,
    dự toán chi phí nhân công, dự toán chi phí sản xuất chung giúp nhà quản trị
    tiên liệu, liên kết các nguồn lực, ngăn ngừa và hạn chế những rủi ro trong
    kinh doanh để đảm bảo lợi nhuận trong kỳ.
    + Với chức năng tổ chức và điều hành, để thực hiện chức năng này
    nhà quản trị cần một lượng rất lớn thông tin, đặc biệt là những thông tin
    phát sinh hang ngày để kịp thời điều chỉnh, tổ chức hoạt động như thông tin
    về giá thành ước tính, thông tin về giá bán, thông tin về lợi nhuận … từ các
    phương án sản xuất kinh doanh. Những thông tin này phải do kế toán đảm
    trách thu thập hằng ngày hoặc định kỳ.
    + Với chức năng kiểm tra, khi kế hoạch đã được lập để đảm bảo tính
    khả thi của kế hoạch đòi hỏi phải so sánh với thực tế. Kế toán sẽ cung cấp
    cho nhà quản trị những thông tin thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế
    với kế hoạch, những thông tin kết hợp giữa thực tế với dự báo để nhà quản
    trị kịp thời điều chỉnh, đảm bảo tiến độ kế hoạch.
    + Với chức năng ra quyết định, thong tin kế toán thường là nhân tố
    chính trong việc ra quyết định của nhà quản trị. Thông tin này lý giải, phân
    tích và chứng minh cho các quyết định quản trị. Điều này được thể hiện rất
    rõ qua bản chất của thông tin kế toán. Nó là nguồn tin mang tính chính xác
    cao, kịp thời, hữu ích nhất so với thông tin từ những lĩnh vực chuyên ngành
    khác. Bởi lẽ, nó luôn phản ánh tình hình thực tế theo những tiêu chuẩn,
    phương pháp quy định mang tính thống nhất cao và đồng thời được thừa
    nhận khá rộng rãi mà khó có một chuyên ngành nào khác đảm bảo được.

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  4. 4

    + Trong môi trường kinh doanh hiện nay, nhu cầu về thông tin trong
    công tác quản trị đã có sự gia tăng rất lớn và đa dạng do áp lực của những
    thay đổi nhanh chóng về các vấn đề:
    • Toàn cầu hoá về kinh tế ngày càng phát triển và lan rộng;
    • Sự mở rộng đầu tư giao lưu kinh tế giữa các quốc gia;
    • Sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt giữa các công ty trong
    nước, giữa các công ty ở những quốc gia khác nhau;
    • Sự tiến bộ nhanh chóng về khoa học kỹ thuật thúc đẩy sự tự
    động hoá ngày càng toàn diện trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh;
    • Sự ra đời ngày càng nhiều các công cụ quản lý, các chuyên
    ngành khoa học hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý, kế toán;
    • Sự phát triển về quy mô, danh giới hoạt động của các tổ chức.
    Chính điều này và kết hợp với sự tiến bộ trình độ giáo dục, trình độ chuyên
    môn kế toán đã làm cho kế toán phát triển sâu rộng hơn về tính chất và đặc
    điểm thông tin cần cung cấp. Kế toán không chỉ dừng lại ở việc cung cấp
    thong tin mang tính nguyên tắc mà đòi hỏi phải linh hoạt, kịp thời, hữu ích.
    Đồng thời, thông tin kế toán cũng phải đãm bảo tính đơn giản, nhanh chóng
    nhằm hỗ trợ đắc lực cho nhà quản trị trong môi trường kinh doanh mới.
    Như vậy, có thể nói chính môi trường kinh doanh trong giai đoạn hiện nay
    là cơ sở khách quan cho sự ra đời và phát triển của kế toán quản trị và
    những nhận thức chủ quan của nhà quản trị trong xu thế hội nhập, cạnh
    tranh và phát triển tạo lên kế toán quản trị. Kế toán quản trị tồn tại song
    hành với kế toán tài chính và trở thành một công cụ kinh tế tài chính giúp
    các nhà quản trị nâng cao khả năng điều hành, quản lý tổ chức một cách có
    hiệu quả.
    2. Kế toán quản trị, kế toán tài chính và kế toán chi phí
    2.1. Khái niệm và nội dung của kế toán quản trị
    2.1.1. Khái niệm
    Sự phát triển kinh tế xã hội dẫn đến hình thành những nhận thức
    khác nhau về kế toán quản trị và chính nền kinh tế thị trường đã làm nổi bật
    nhu cầu về kế toán quản trị, thúc đẩy kế toán quản trị phát triển nhanh
    chóng. Ngày nay, kế toán quản trị có thể nhận thức khác nhau, tuy nhiên,
    về cơ bản kế toán quản trị là một quy trình định dạng, thu thập, kiểm tra,
    định lượng để trình bày giải thích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính về
    hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện toàn diện các
    chức năng quản trị.
    Kế toán quản trị ra đời hình thành và phát triển gắn liền với nghiên cứu đối
    tượng và nguồn lực kinh tế gắn liền với quy trình tạo giá trị của hoạt động

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  5. 5

    sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Kế toán quản trị có những đặc điểm
    mang tính chất quy chuẩn như kế toán tài chính và nó cũng có đặc điểm
    riêng khá linh hoạt trong việc phản ảnh, cung cấp thông tin quản trị. Kế
    toán quản trị luôn gắn liền chức năng phản ánh và cung cấp thông tin đáp
    ứng nhu cầu thông tin thực hiện chức năng quản trị của các nhà quản trị
    trong doanh nghiệp. Để đảm bảo nội dung thông tin cho nhà quản trị, kế
    toán quản trị cũng sử dụng khá linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật trong
    thu thập, định lượng, trình bày, giải thích thông tin quản trị. Quá khứ, hiện
    tại và tương lai, kế toán quản trị luôn đóng vai trò quan trọng trong cung
    cấp thông tin thực hiện các chức năng quản trị.
    2.1.2. Nội dung công việc của kế toán quản trị:
    – Hạch toán chi phí
    Nội dung chính là xác định chi phí chứ không phải là hạch toán thật chính
    xác vì các số liệu chỉ phục vụ mục tiêu nội bộ, không có tính pháp lý. Các
    thông tin chi phí này được phép sử dụng linh hoạt hơn thông thường.
    – Kiểm soát và lập kế hoạch
    Kết hợp nhịp nhàng quy trình lập kế hoạch, đánh giá với các mục tiêu chiến
    lược của doanh nghiệp.
    – Đánh giá hiệu quả
    Công việc này lại cần chú trọng tới các hiệu quả phi tài chính dựa trên các
    dữ liệu tài chính.
    2.2. Khái niệm và nội dung của kế toán tài chính
    2.2.1. Khái niệm:
    Kế toán là ngành khoa học xã hội, sự hình thành và phát triển của xã hội
    dẫn đến sự hình thành, phát triển và nâng cao tính chuyên môn hoá của kế
    toán theo những mục đích khác nhau, chuyên môn hoá phản ánh và cung
    cấp thong tin theo những mục đích khác nhau.
    Sự ra đời và phát triển kế toán luôn gắn liền với nghiên cứu với các đối
    tượng như tài sản, nguồn vốn, chi phí, thu nhập, lợi nhuận của doanh
    nghiệp trong hoạt động nhưng được nhận thức, thể hiện ở những phạm vi,
    mức độ khác nhau.
    Chức năng của kế toán là phản ánh và cung cấp thông tin kinh tế – tài chính
    định lượng về tình hình hoạt động của một tổ chức.
    2.2.2. Nội dung:
    Vai trò của kế toán được thể hiện ở tính hữu ích của thông tin kế toán cung
    cấp. Sự phát triển của chuyên ngành kế toán gắn liền với những phát triển
    về phương pháp thu thập, sử lý thông tin cung cấp cho các đối tượng sử
    dụng . Có thể chia lịch sử kế toán thành ba thời kỳ cơ bản:

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  6. 6

    – Thời kỳ thứ nhất: Là thời kỳ mà công việc kế toán gắn liền với những
    phương pháp, kỹ thuật thu thập thông tin giản đơn qua việc ghi đơn các
    nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh . Ở giai đoạn này, với quy mô của các
    tổ chức nhỏ, đơn giản và điều kiện thô sơ của các phương tiện sử lý thông
    tin kế toán, nhiệm vụ chủ yếu của kế toán là cung cấp thông tin về các tổ
    chức hoạt động một cách đơn giản. Vì vậy, thông tin ở giai đoạn này cũng
    chỉ là thống kê tài sản , nguồn vốn, chi phí, thu nhập, lợi nhuận ở phạm vi
    thu hẹp tình hình, kết quả hoạt động của các phường hội, các tổ chức kinh
    doanh nhỏ.
    – Thời kỳ thứ hai:Thời kỳ xuất hiện phương pháp ghi sổ kép, là thời kỳ mà
    quy mô, phạm vi của các tổ chức có sự thay đổi đáng kể, liên quan đến
    quyền lợi kinh tế của nhiều cá nhân, tổ chức không những trong phạm vi
    một quốc gia mà còn vượt ra khỏi quốc gia, đặc biệt là các tổ chức với các
    mục đích lợi nhuận. Vấn đề được đặt ra ở đây là kế toán cần phải cung cấp
    thông tin kinh tế tài chính định lượng thể hiện được trách nhiệm vật chất,
    quan hệ pháp lý về tình hình, kết quả hoạt động của tổ chức để đảm bảo
    cho việc quản lý, giám sát các tổ chức. Chính yêu cầu này các nguyên tắc,
    chuẩn mực kế toán lần lượt ra đời và phát triển, các luật lệ về kế toán được
    ban hành nhằm đảm bảo tốt hơn cho những thông tin kế toán ở các tổ chức,
    ở các quốc gia
    – Thời kỳ thứ ba: Thời kỳ này được xác định là giai đoạn cuối của những
    năm 1980 đến nay. Đây là thời kỳ phát triển vượt bậc của khoa học kỹ
    thuật, sự toàn cầu hóa kinh tế ngày càng nhanh chóng, sự cạnh tranh ngày
    càng quyết liệt giữa các doanh nghiệp… Vì vậy kế toán không chỉ dừng lại
    ở việc cung cấp những thông tin thể hiện mối quan hệ vật chất – pháp lý về
    tình hình, kết quả hoạt động của các tổ chức mà còn đòi hỏi thông tin phải
    phục vụ tốt hơn cho các công việc dự báo, tổ chức điều hành, kiểm soát và
    ra quyết định. Chính nhu cầu thông tin này đã hình thành lên chuyên ngành
    kết toán quản trị. Từ đó, ngành kế toán bắt đầu hình thành lên hai thái cực
    cơ bản và phát triển nhanh chóng:
    + Một là phản ảnh, cung cấp những thông tin về trách nhiệm vật chất
    – pháp lý của tổ chức nhằm đảm bảo sự kiểm tra, giám sát của các cá nhân,
    tổ chức có quyền lợi kinh tế liên quan.
    + Hai là phản ảnh và cung cấp thông tin cho công việc quản tri hoạt
    động tổ chức của các nhà quản trị như lập kế hoạch, tổ chức điều hành,
    kiểm tra và ra quyết định.
    Đây chính là nền tảng hình thành nên sự tách rời kế toán thành kế toán tài
    chính và kế toán quản trị đồng thời với sự phát triển nhanh chóng và hữu
    ích của kế toán quản trị ở những nước phát triển, ở những doanh nghiệp có
    quy mô lớn có sự phân cấp, phân quyền trong quản lý. Kế toán quản trị tồn
    tại và phát triển chính trong môi trường này. Như vậy, bản chất của kế

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  7. 7

    toán là cung cấp thông tin kinh tế tài chính định lượng về định hình , kết
    quả hoạt động của một tổ chức cho những người sử dụng thông tin; kế toán
    tài chính là một chuyên ngành cung cấp thông tin tài chính định lượng gắn
    liền với trách nhiệm vật chất-Pháp lý của một tổ chức; chuyên ngành kế
    toán quản trị là chuyên ngành kế toán cung cấp thông tin kinh tế-tài chính
    định lượng gắn liền với nhu cầu dự báo, đánh giá, kiểm soát và trách nhiệm
    trong việc điều hành tổ chức hàng ngày của nhà quản trị ở các bộ phận.
    2.3. Khái niệm và nội dung của kế toán chi phí
    2.3.1. Khái niệm
    Chi phí là một nhân tố rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
    của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh trong kỳ.
    Như vây, kế toán chi phí có vai trò cung cấp thông tin về chi phí phục vụ
    cho việc hoạch định, kiểm soát và ra quyết định của nhà quản lý. Trong
    những năm gần đây, kế toán chi phí vẫn có vai trò quan trọng đối với mô
    hình doanh nghiệp sản xuất trong thực tế. Do đó, kế toán chi phí cần được
    tiếp tục nghiên cứu những ứng dụng hiệu quả trong kinh doanh.
    2.3.2. Nội dung của kế toán chi phí
    Là một phần của kế toán, kế toán chi phí có trách nhiệm ghi chép chi phí
    trực tiếp và gián tiếp liên quan đến việc sản xuất mỗi đơn vị sản phẩm và
    dịch vụ do đơn vị cung cấp.
    Các tin tức về kế toán chi phí giúp cho nhà quản lý:
    + Có thể triển khai giá bán hợp lý đối với hàng hóa và dịch vụ
    của doanh nghiệp.
    + Xác định chi phí vượt ngoài tầm kiểm soát
    + Hướng vào các chi phí đặc biệt để tiến hành giảm giá dần dần
    + Quyết định xem loại sản phẩm và dịch vụ nào đem lại lợi ích cho
    đơn vị, còn loại nào không mang đến lợi ích cho đơn vị.
    Một số chi phí được xem là trực tiếp, các chi phí khác là gián tiếp. Nhân
    viên kế toán chi phí và nhà quản lý nên quan tâm đến hai loại chi phí này.
    2.4. Mối quan hệ giữa kế toán quản trị, kế toán tài chính và kế toán chi
    phí
    2.4.1. Bản chất của kế toán quản trị
    Sự phát triển kinh tế xã hội dẫn đến hình thành những nhận thức khác nhau
    về kế toán quản trị và chính nền kinh tế thị trường đã làm nổi bật nhu cầu
    về kế toán quản trị, thúc đẩy kế toán quản trị phát triển nhanh chóng. Ngày
    nay, kế toán quản trị có thể nhận thức khác nhau, tuy nhiên, về cơ bản kế
    toán quản trị là một quy trình định dạng, thu thập, kiểm tra, định lượng để
    trình bày giải thích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính về hoạt động của

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  8. 8

    doanh nghiệp cho những nhà quản trị thực hiện toàn diện các chức năng
    quản trị.
    Kế toán quản trị ra đời hình thành và phát triển gắn liền với nghiên cứu đối
    tượng và nguồn lực kinh tế gắn liền với quy trình tạo giá trị của hoạt động
    sản xuất kinh doanh tại doanh nghiệp. Kế toán quản trị có những đặc điểm
    mang tính chất quy chuẩn như kế toán tài chính và nó cũng có đặc điểm
    riêng khá linh hoạt trong việc phản ảnh, cung cấp thông tin quản trị. Kế
    toán quản trị luôn gắn liền chức năng phản ánh và cung cấp thông tin đáp
    ứng nhu cầu thông tin thực hiện chức năng quản trị của các nhà quản trị
    trong doanh nghiệp. Để đảm bảo nội dung thông tin cho nhà quản trị, kế
    toán quản trị cũng sử dụng khá linh hoạt các phương pháp và kỹ thuật trong
    thu thập, định lượng, trình bày, giải thích thông tin quản trị. Quá khứ, hiện
    tại và tương lai, kế toán quản trị luôn đóng vai trò quan trọng trong cung
    cấp thông tin thực hiện các chức năng quản trị.
    2.4.2. So sánh giữa kế toán quản trị với kế toán tài chính
    2.4.2.1. Giống nhau của kế toán quản trị và kế toán tài chính.
    Mặc dù đặc điểm thông tin của kế toán quản trị và kế toán khác nhau nhưng
    giữa hai chuyên ngành này có những đặc điểm giống nhau cơ bản sau:
    – Kế toán quản trị và kế toán tài chính cùng một đối tượng nghiên cứu là
    các sự kiện kinh tế tài chính diễn ra trong quá trình, kết quả hoạt động của
    doanh nghiệp, tổ chức.
    – Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều thể hiện cùng thông tin kinh tế
    tài chính trong mối quan hệ với trách nhiệm của nhà quản trị ở các phạm vi
    khác nhau;
    – Kế toán quản trị và kế toán tài chính đều sử dụng cùng thông tin kế toán
    ban đầu nhưng thiết lập lên những mô hình, kết cấu thông tin đáp ứng cho
    những nhu cầu thông tin khác nhau.
    2.4.2.2. Khác nhau giữa kế toán quản trị với kế toán tài chính.
    Xuất phát từ nguồn gốc hình thành và nhu cầu sử dụng khác nhau nên kế
    toán quản trị với kế toán tài chính có những điểm khác nhau cơ bản sau:
    – Kế toán quản trị nhấn mạnh đến việc cung cấp thông tin cho những nhà
    quản trị bên trong doanh nghiệp, tổ chức nhưng kế toán tài chính đặt trọng
    ta6mcung cấp thông tin cho những cá nhân, tổ chức từ bên ngoài doanh
    nghiệp, tổ chức có những nguồn lợi kinh tế liên quan.
    – Kế toán quản trị đặt trọng tâm thông tin cho tương lai nhiều hơn nhưng kế
    toán tài chính đặt trong tâm thông tin quá khứ. Thật vậy, phần lớn công
    việc của kế toán tài chính là hướng đến cung cấp thông tinh về những gì đã
    sảy ra trong quá trình, kết quả hoạt động của doanh nghiệp,tổ chức để giám
    sát những hành vi, kết quả của tổ chức nhưng ngược lại phần lớn công việc,

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  9. 9

    nhiệm vụ của nhà quản trị phải làm thuộc về kế hoạch định hướng , do vậy,
    nhu cầu thông tin về kế toán quản trị cũng gắn liền với nhu cầu này.
    – Kế toán quản trị nhấn mạnh đến sự linh hoạt của thông tin nhưng kế toán
    tài chính chí trọng đến chuẩn mực của thông tin. Thật vậy, kế toán tài chính
    bắt buộc phải khách quan và thẩm tra được,do vậy thông tin kế toán tài
    chính đòi hỏi phải chuẩn hóa. Ngược lại, để thực hiện công việc quản lý
    doanh nghiệp, nhà quản trị cần những thông tin linh hoạt, đúng nghĩa hơn
    là nó giúp ích cho việc giải quyết tốt các vấn đề nội bộ, các tình huống
    khác nhau.
    – Kế toán quản trị ít chú trọng đến tính chính xác cao của thông tin mà chú
    trọng đến tính hữu ích thông tin nhưng ngược lại kế toán tài chính rất chú
    trọng đến tính chính xác của thông tin. Thông tin kế toán tài chính gắn liền
    với những trách nhiệm vật chất pháp lý của những nhà quản trị nên thông
    tin kế toán tài chính đòi hỏi tính chính xác cao để thể hiện tốt được quan
    hệ, trách nhiệm giữa những nhà quản trị với những cá nhân, tổ chức có liên
    quan. Trong khi đó, hoạt động quản trị nhu cầu về tính tốc độ , hữu ích của
    thông tin được nhấn mạnh hơn. Thông tin đến nhà quản trị càng nhanh ,
    tính hữu ích càng cao thì càng có ý nghĩa. Điều này có nghĩa nhà quản trị
    cần là thông tin để đánh giá và ước lượng tốt nhất các tình huống hoạt
    động.
    – Kế toán quản trị chú trọng đến thông tin kinh tế tài chính ở từng bộ phận
    trong tổ chức hơn là ở phạm vi toàn tổ chức nhưng kế toán tài chính rất chú
    trọng đến thông tin ở phạm vi toàn tổ chức , xem tổ chức là một thể thống
    nhất.
    – Thông tin kế toán quản trị không nhất thiết phải tuân thủ hay bị ràng buộc
    bởi những nguyên tắc, chuẩn mực kế toán chung trong khi đó thông tin kế
    toán tài chính với mục đích công bố cho các đối tượng ngoài tổ chức nên
    phải tuân thủ các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán chung để các đối tượng có
    thể đọc, hiểu một cách thống nhất về tình hình tài chính trong kiểm tra
    đánh giá.
    – Kế toán quản trị không bị ràng buộc bởi tính pháp lệnh mà chú trọng đến
    việc tăng cường thông tin về trách nhiệm quản lý nhưng ngược lại kế toán
    tài chính chịu sự ràng buộc rất lớn về luật lệ kế toán chung
    – Kế toán quản trị sử dụng rất đa dạng thông tin đo lường . Trong khi đó kế
    toán tài chính thường sử dụng chủ yếu thước đo tiền tệ.
    – Kế toán quản trị được mở rộng, liên hệ với nhiều ngành và được tạo
    thành, chọn lọc từ thành quả của nhiều ngành khoa học kinh tế khác nhau.
    – Kế toán quản trị trường thiết kế thông tin thành:
    + Dạng mô hình kinh tế;

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  10. 10

    + Dạng so sánh;
    + Dạng phương trình toán học;
    + Dạng đồ thị;
    + Dạng dự báo ước lượng.
    Trong khi đó kế toán tài chính thường thiết lập thông tin dưới dạng báo
    cáo thống nhất theo khuôn khổ từng khoản mục, điều khoản nhất định.
    Có thể tóm tắt sự giống nhau và khác nhau giữa kế toán quản trị với kế toán
    tài chính theo bảng sau:
    Bảng 1.1: Sự giống nhau và khác nhau giữa kế toán quản trị với kế
    toán tài chính
    Căn cứ phân Kế toán quản trị Kế toán tài chính
    biệt
    1. Cùng nghiên cứu và cung cấp thông tin kinh tế tài
    chính định lượng gắn liền với các quan hệ kinh tế, pháp
    lý để quản lý, điều hành tổ chức.
    2.Cùng ghi nhận và thể hiện trách nhiệm, quyền lợi, vật
    a. Giống nhau: chất, pháp lý của tổ chức, nhà quản trị.
    3.Cùng sử dụng thông tin ban đầu trên hệ thống thông
    tin kế toán căn bản ( kế toán đại cương )
    b. Khác nhau: Kế toán quản trị Kế toán tài chính
    – Đối tượng Nhà quản trị bên trong của Các cá nhân, tổ chức bên
    phục vụ tổ chức (doanh nghiệp ) trong và bên ngoài của tổ
    chức nhưng chủ yếu là cá
    nhân, tổ chức bên ngoài
    tổ chức (doanh nghiệp)
    – Đặc điểm 1. Chú ý và hướng về tương 1. Phản ánh quá khứ.
    thông tin lai. 2. Tuân thủ và thống nhất
    2. Đặt nhu cầu tối ưu về về mặt định tính, định
    linh hoạt, kịp thời. lượng thông tin theo các
    3. Được đo lường bằng bất nguyên tắc, chuẩn mực
    kỳ các đơn vị hiện vật, thời của chính sách kế toán.
    gian lao động, giá trị. 3. Chủ yếu thể hiện bằng
    thước đo giá trị
    – Phạm vi báo Thông tin kinh tế tài chính Thông tin kinh tế tài
    cáo ở phạm vi từng bộ phận, chính ở phạm vi toàn tổ
    khâu công việc, toàn tổ chức.
    chức nhưng chủ yếu là khâu

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  11. 11

    công việc, từng bộ phận.
    – Kỳ báo cáo Thường xuyên, khi có nhu Định kỳ, theo quy định
    cầu chung
    -Quan hệ với Quan hệ nhiều với các lĩnh Ít quan hệ nhiều với các
    các lĩnh vực vực chuyên môn khác lĩnh vực chuyên môn
    chuyên môn khác
    khác
    – Tính pháp lệnh Không mang tính chất pháp Mang tính chất pháp lệnh
    lệnh

    3. Vai trò của kế toán quản trị trong việc thực hiện các chức năng quản

    3.1. Doanh nghiệp và tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp:
    3.1.1. Doanh nghiệp:
    Doanh nghiệp được hiểu đơn giản là một đơn vị kinh tế với mục tiêu tìm
    kiếm lợi nhuận thông qua thực hiện liên tục một, một số công việc từ đầu
    tư, sản xuất, tiêu thụ.
    Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp luôn hướng đến
    xác lập quy trình hoạt động, nguyên lý vận hành quy trình hoạt động theo
    nhu cầu thị trượng. Từ đó, việc tổ chức quản trị cũng hướng đến tạo lên sự
    hòa hợp và hiệu quả của hoạt động doanh nghiệp với thị trường.
    Cho đến nay, có thể quản lý về hoạt động sản xuất kinh doanh đã trải qua
    và chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi lý thuyết quản trị theo hướng chuyên môn
    hóa- quản lý theo từng công đoạn và lý thuyết quản trị theo hướng liên kết,
    hợp tác quản lý theo chuỗi giá trị. Chính nền tảng hoạt động và nền tảng
    quản trị này đã ảnh hưởng khá sâu sắc đến nội dung kế toán quản trị. Ở việt
    nam, cho đến nay, việc vận hành hoạt động và tổ chức quản trị doanh
    nghiệp vẫn phổ biến theo thuyết quản lý chuyên môn hóa- quản lý theo
    công đoạn.
    3.1.2 Tổ chức kế toán quản trị trong doanh nghiệp.
    Tổ chức kế toán quản trị có những đặc thù riêng của nó, mang tính chất
    thiện ý và linh hoạt. tùy theo quy mô của doanh nghiệp, kế toán quản trị sẽ
    được bố trí linh hoạt trong bộ máy kế toán và có thể khái quát qua sơ đồ
    sau:

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  12. 12

    Giám đốc

    Bộ phận Bộ phận Kinh Bộ phận Bộ phận
    thị trường tế -Tài chính Kỹ thuật Sản xuất
    Phòng kế toán

    Bộ phận Bộ phận
    Kế toán quản trị Kế toán Tài chính

    Báo cáo Quản trị Báo cáo Tài chính

    Chuyển đổi thông tin giữa hai bộ phận
    Hình 1.1: Sơ đồ bộ máy kế toán quản trị

    Trên cơ sở mô hình chung, tổ chức vận hành kế toán quản trị thường linh
    hoạt theo từng loại hình doanh nghiệp, có quy mô, trình độ khác nhau.
    Những doanh nghiệp có quy mô lớn thường có nền tảng hoạt động, nền
    tảng quản trị cùng những điều kiện cơ sở vật chất, con người tiên tiến nên
    nhu cầu thông tin cũng khá phong phú. Vì vậy, nhóm doanh nghiệp này
    nên tổ chức kế toán quản trị đầy đủ các nội dung thông tin như thông tin cơ
    sở về chi phí, thu nhập, lợi nhuận, thông tin về định hướng hoạt động,
    thông tin kết quả hoạt động , thông tin biến động và nguyên nhân ảnh
    hưởng đến hoạt động, thông tin chứng minh các quyết định quản trị và bộ
    máy kế toán quản trị chia làm hai cấp, cấp thuộc nhà quản trị cao cấp và
    cấp thuộc nhà quản trị cấp thấp hơn.
    Những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa thường có nền tảng hoạt động,
    nền tảng quản trị cùng những điều kiện cơ sở vật chất, con người hạn chế
    nên nhu cầu thông tin cũng đòi hỏi cao hay tạo ra những tiêu chuẩn mới về
    chi phí, thu nhập và lợi nhuận. Vì vậy, nhóm doanh nghiệp này nên tổ chức
    kế toán quản trị trên cơ sở kết hợp với những tiêu chuẩn chi phí, thu nhập,
    lợi nhuận và phát triển cung cấp thông tin theo những nội dung như thông
    tin về định hướng hoạt động , thông tin kết quả hoạt động, thông tin biến
    động và nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động, thông tin chứng minh các
    quyết định quản trị và bộ máy kế toán quản trị chi một cấp và thiết kế thành
    hai hộ phận. bộ phận thứ nhất, cung cấp thông tin định hướng hoạt động,

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  13. 13

    thông tin kết quả hoạt động, thông tin biến động và nguyên nhân ảnh hưởng
    đến hoạt động và bộ phận thứ hai cung cấp thông tin chứng minh các quyết
    định quản trị. Bộ máy kế toán những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa
    có thể khái quát qua sơ đồ sau:

    Phòng
    kế toán

    Bộ phận Bộ phận Báo cáo tài
    kế toán quản trị kế toán tài chính chính


    Nhóm xây dựng Nhóm xây dựng thông tin định
    thông tin chứng hướng, thông tin kết quả, thông
    minh quyết định tin biến động và nguyên nhân
    quản trị
    Hình 1.2: Sơ đồ bộ máy kế toán quản trị tại DN vừa và nhỏ

    Câu hỏi thảo luận:
    1.Hãy trình bày mục tiêu và nhiệm vụ của kê toán quản trị?
    2.Phân biệt kế toán quản trị, kế toán tài chính và kế toán chi phí?
    3.Kế toán nào cung cấp thông tin tham mưu cho nhà Quản lý ra quyết định?

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  14. 14

    CHƯƠNG II
    PHÂN LOẠI CHI PHÍ

    Giới thiệu
    Nhiệm vụ của kế toán quản trị là cung cấp thông tin của các hoạt động
    kinh doanh trong doanh nghiệp nhằm mục đích tham mưu cho nhà Quản lý
    ra quyết định. Để có được những thông tin này, kế toán quản trị phải nắm
    bắt các thông tin, trong đó thông tin về chi phí đóng vai trò quan trọng.
    Muïc tieâu
    – Khái niệm được chi phí;
    – Phân loại được chi phí;
    – Biết được các mô hình xử ký chi phí.
    Nội dung
    1. Khái niệm và đặc điểm
    1.1. Khái niệm : Chi phí là biểu hiện bằng tiền của tất cả các hao phí về
    lao động sống và lao động vật hóa phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh
    doanh của doanh nghiệp.
    1.2. Đặc điểm:
    1.2.1. Chi phí trong hệ thống kế toán của doanh nghiệp:
    – Đối với kế toán tài chính thì thông tin về chi phí thường được để tính giá
    nhập, xuất, tồn kho của các loại sản phẩm hàng hóa nhằm lập các báo cáo
    kế toán theo những chuẩn mực nguyên tắc và chế độ kế toán hiện hành.
    Như vậy chi phí trong kế toán tài chính được nhận diện là những chi phí đã
    phát sinh trong quá khứ và được chứng minh bằng những chứng từ cụ thể.
    – Đối với kế toán quản trị thông tin về chi phí được thường cho việc ra
    quyết định của các nhà quản trị trongđó có các nghiệp vụ về hoạch định và
    kiểm soát chi phí, do đó chi phí trong kế toán quản trị được biểu hiện đa
    dạng hơn như các chi phí ước tính, chi phí thực tế, chi phí chênh lệch, chi
    phí cơ hội, chi phí chìm
    1.2.2. Bản chất kinh tế của chi phí.
    Chi phí được định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Chi phí có thể
    hiểu một cách trừu tượng là biểu hiện bằng tiền những hao phí lao động
    sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh;
    hoặc chi phí là những phí tổn về nguồn lực kinh tế, tài sản cụ thể sử dụng
    trong hoạt động sản xuất kinh doanh Những nhận thức về chi phí có thể
    khác nhau về quan điểm, hình thức thể hiện chi phí nhưng tất cả đều thừa

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  15. 15

    nhận một vấn đề chung : Chi phí là phí tổn tài nguyên, vật chất, lao động và
    phải phát sinh gắn liền với mục đích sản xuất kinh doanh. Đây chính là bản
    chất kinh tế của chi phí trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
    nghiệp. Bản chất kinh tế này giúp nhà quản trị phân biệt được chi phí với
    chi tiêu, chi phí với vốn. Thật vậy chi phí gắn liền với hoạt động sản xuất
    kinh doanh, được tài trợ từ vốn kinh doanh và được bù đắp từ thu nhập
    hoạt động sản xuất kinh doanh; chi tiêu không gắn liền với mục đích sản
    xuất kinh doanh, được tài trợ từ những nguồn khác vốn kinh doanh như quỹ
    phúc lợi, trợ cấp của nhà nước…và không được bù đắp từ thu nhập sản
    xuất kinh doanh; vốn là biểu hiện bằng tiền những tài sản của doanh
    nghiệp, bản than chúng luôn được đảm bảo chắc chắn bằng lợi ích kinh tế
    và chưa tạo lên phí tổn. Trong khi đó chi phí đã là phí tổn, không thể hiện
    lợi ích kinh tế một cách chắc chắn và đáng tin cậy
    1.2.3. Chi phí trong kế toán chính tài
    Trong lĩnh vực kế toán tài chính, chi phí được nhận thức như những khoản
    phí tổn thực tế phát sinh gắn liền với hoạt động của doanh nghiệp để đạt
    được một loại sản phẩm, dịch vụ nhất định, mục đích cụ thể trong kinh
    doanh. Nó được định lượng bằng một lượng tiền chi ra, một mức giảm sút
    giá trị tài sản, một khoản nợ dịch vụ, thuế… những khoản phí tổn góp phần
    làm giảm vốn sở hữu của doanh nghiệp nhưng không phải là phân chia vốn
    hoặc hoàn trả vốn cho cổ đông. Như vậy, trong lĩnh vực kế toán tài chính
    chi phí được đặt trong mối quan hệ cụ thể với tài sản, vốn chủ sở hữu của
    doanh nghiệp và thường phải được đảm bảo bởi những chứng cứ nhất định
    (chứng từ) chứng minh là phí tổn thực tế trong hoạt động sản xuất kinh
    doanh
    1.2.4. Chi phí trong kế toán quản trị
    Mục đích của kế toán quản trị là cung cấp thông tin thích hợp, hữu ích kịp
    thời cho việc ra quyết định của nhà quản trị. Vì vậy, với kế toán quản trị
    không chỉ đơn thuần nhận thức chi phí như trong kế toán tài chính, chi phí
    còn được nhận thức theo phương pháp nhận diện thông tin ra quyết định.
    Lý do này, chi phí có thể là những phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động
    sản xuất kinh doanh, chi phí cũng có thể là những phí tổn ước tính để thực
    hiện một hoạt động sản xuất kinh doanh, những phí tổn mất đi do chọn lựa
    phương án, hy sinh cơ hội kinh doanh…Như vậy, trong kế toán quản trị khi
    nhận thức chi phí cần chú ý đến sự lựa chọn, so sánh theo mục đích sử
    dụng, ra quyết định kinh doanh hơn là chú trọng vào chứng cứ.
    2. Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
    2.1 Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế ban đầu: Theo tiêu thức này,
    chi phí trong kỳ kế toán của doanh nghiệp tồn tại dưới các yếu tố sau:
    2.1.1. Chi phí nhân công ( chi phí lao động – Labour costs)

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  16. 16

    Yếu tố chi phí nhân công trực tiếp bao gồm các khoản tiền lương phải trả
    cho người lao động và các khoản trích theo lương như kinh phí công đoàn,
    BHXH, BHYT của người lao động.
    Tổng chi phí nhân công là tổng quỹ lương và bảo hiểm xã hội của doanh
    nghiệp. Sự nhận thức yếu tố chi phí nhân công giúp nhà quản trị xác định
    được tổng quỹ lương của doanh nghiệp. Ở góc độ khác, sự nhận thức này
    cũng chính là cơ sở để nhà quản trị hoạch định mức tiền lương bình quân
    cho người lao động, tiền đề điều chỉnh chính sách lương đạt được sự cạnh
    tranh lành mạnh về nguồn lực lao động.
    2.1.2. Chi phí nguyên vật liệu (materials costs):
    Yếu tố chi phí nguyên vật liệu bao gồm giá mua, chi phí mua của nguyên
    vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Yếu tố này bao gồm
    những thành phần sau:
    – Chi phí nguyên vật liệu chính: Bao gồm giá mua và chi phí mua của
    những nguyên vật liệu chính được sử dụng trực tiếp trong từng quy trình
    sản xuất. Loại nguyên vật liệu này thường cấu thành nên cơ sở vật chất của
    sản phẩm và chi9 phí của nó thường chiếm một tỷ lệ trọng yếu trong giá
    thành sản phẩm ở các doanh nghiệp sản xuất.
    – Chi phí nguyên vật liệu phụ: Bao gồm giá mua và chi phí mua của
    những loại nguyên vật liệu dung để kết hợp với nguyên vật liệu chính, làm
    tăng chất lượng, độ bền, vẻ thẩm mỹ của sản phẩm hoặc những loại nguyên
    vật liệu dung trong công việc hành chính, văn phòng, máy móc thiết bị, chi
    phí nguyên vật liệu phụ thường phát sinh trong tất cả các hoạt động sản
    xuất, tiêu thụ, quản lý…
    – Chi phí nhiên liệu: bao gồm giá mua và chi phí mua của nhiên liệu .
    Thực chất nhiên liệu cũng là nguyên vật liệu phụ nhưng nó giữ vai trò quan
    trọng trong việc cung cấp năng lượng cho hoạt động sản xuất kinh doanh,
    vì vậy, được xếp vào một thành phần riêng để quản lý và đôi khi để kiểm
    soát khi có sự biến động nhiên liệu, năng lượng trên thị trường Chi phí
    nhiên liệu cũng thường phát sinh trong tất cả các hoạt động sản xuất, tiêu
    thụ, quản lý…
    – Chi phí phụ tùng thay thế: Bao gồm giá mua và chi phí mua của các loại
    phụ tùng thay thế. Thực chất phụ tùng thay thế cũng là nguyên vật liệu, tuy
    nhiên, chúng bao gồm những bộ phận, chi tiết dùng thay thế trong máy móc
    thiết bị khi sửa chữa. Vì vậy, chi phí phụ tùng thay thế chỉ phát sinh khi có
    hoạt động sửa chữa máy móc thiết bị.
    – Chi phí nguyên vật liệu khác : Bao gồm giá mua và chi phí mua của
    những loại nguyên vật liệu không thuộc các yếu tố trên như chi phí nguyên
    vật liệu đặc thù, chi phí về phế phẩm, phế liệu tận dụng.

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  17. 17

    Nhận thức được yếu tố chi phí nguyên vật liệu giúp cho nhà quản trị xác
    định được tổng vốn nguyên liệu, vật liệu cần thiết cho nhu cầu sản xuất
    kinh doanh trong kỳ. Trên cơ sở đó, nhà quản trị sẽ hoạch định được tổng
    mức luân chuyển, tổng mức dự trữ cần thiết của nguyên vật liệu để tránh
    tình trạng ứ đọng vốn hoặc thiếu nguyên vật liệu gây cản trở cho quá trình
    sản xuất kinh doanh. Xa hơn nữa, đây cũng là cơ sở hoạch định các mặt
    hang nguyên vật liệu thiết yếu để doanh nghiệp chủ động trong công tác
    cung ứng vật tư, nhân lực đầu vào.
    2.1.3. Chi phí công cụ dụng cụ (Tools and supplies costs)
    Yếu tố này bao gồm giá mua và chi phí mua của các công cụ dùng vào hoạt
    động sản xuất kinh doanh. Tổng chi phí công cụ dụng cụ là tiền đề để nhà
    quản trị hoạch định mức luân chuyển qua kho, định mức dự trữ, nhu cầu
    thu mua công cụ, dụng cụ hợp lý.
    2.1.4. Chi phí khấu hao tài sản cố định (depreciation costs)
    Yếu tố này bao gồm khấu hao tất cả tài sản cố định, tài sản dài hạn dung
    vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Tổng mức chi phí khấu hao giúp nhà
    quản trị nhận biết được mức chuyển dịch, hao mòn của tài sản cố định, tài
    sản dài hạn. Từ đây, nhà quản trị hoạch định tốt hơn chiến lược tái đầu tư,
    đầu tư mở rộng để đảm bảo cơ sở vật chất, thiết bị thích hợp cho quá trình
    sản xuất kinh doanh.
    2.1.5. Chi phí dịch vụ thuê ngoài (services rendered costs)
    Yếu tố này bao gồm giá dịch vụ mua từ bên ngoài cung cấp cho hoạt động
    sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như giá dịch vụ điện nước, giá bảo
    hiểm tài sản, giá thuê nhà cửa phương tiện, giá phí quảng cáo… Tổng chi
    phí dịch vụ giúp nhà quản trị sẽ hiểu rõ hơn tổng mức dịch vụ liên quan đến
    hoạt động của doanh nghiệp để thiết lập quan hệ trao đổi, cung ứng với các
    đơn vị dịch vụ tốt hơn.
    2.1.6. Chi phí khác bằng tiền (sundry costs paid in cash).
    Yếu tố này bao gồm tất cả các chi phí sản xuất kinh doanh bằng tiền tại
    doanh nghiệp. Sự nhận thức tốt yếu tố chi phí khác bằng tiền giúp nhà quản
    trị hoạch định được ngân sách tiền mặt chi tiêu, hạn chế những tồn đọng
    tiền mặt, tránh bớt những tổn thất, thiệt hại trong quản lý vốn bằng tiền.
    Ví dụ 1: Công ty ABC trong năm X có tài liệu như sau:
    1 – Nguyên vật liệu chính xuất kho dùng sản xuất sản phẩm :
    10,000,000đ
    2 -Nguyên vật liệu phụ xuát kho trong kỳ :
    – Dùng sản xuất sản phẩm 1,000,000đ
    – Phục vụ quản lý sản xuất : 200,000đ

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  18. 18

    – Dùng đóng gói, bao bì sản phẩm tiêu thụ : 100,000đ
    – Dùng văn phòng quản lý : 50,000đ
    1,350,000đ
    3- Nhiên liệu xuất kho trong kỳ:
    – Dùng chạy máy móc thiết bị : 250,000đ
    – Dùng cho phương tiện vận chuyển hàng hóa tiêu thụ : 100,000đ
    350,000đ
    4-Phụ tùng thay thế xuất kho trong kỳ:
    – Dùng sửa chữa máy móc thiết bị sản xuất : 50,000đ
    – Dùng sửa chữa văn phòng công ty : 30,000đ
    80,000đ
    5- Tổng hợp tiền lương phải trả trong kỳ của:
    – Công nhân sản xuất sản phẩm : 4,000,000đ
    – Công nhân bảo trì máy móc thiết bị : 500,000đ
    – Nhân viên bán hàng : 400,000đ
    – Nhân viên phục vụ quản lý công ty : 700,000đ
    5,600,000đ
    6 – Công cụ xuất kho trong kỳ:
    – Dùng sản xuất sản phẩm : 120,000đ
    – Chứa đựng hàng hóa : 80,000đ
    – Dùng ở văn phòng công ty : 70,000đ
    270,000đ
    7 – Khấu hao tài sản cố định trong kỳ của:
    – Máy móc thiết bị sản xuất : 2,200,000đ
    – Phương tiện vận chuyển hàng hóa : 1,600,000đ
    – Văn phòng công ty : 1,000,000đ
    4,800,000đ
    8 – Dịch vụ thuê ngoài:
    – Điện nước phục vụ sản xuất : 400,000đ
    – Điện nước phục vụ bán hàng : 250,000đ
    – Bảo hiểm tài sản công ty : 140,000đ

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  19. 19

    790,000đ
    9 – Các chi phí khác tại công ty :
    – Chi tiền mặt quảng cáo : 100,000đ
    – Chi tiền mặt thu mua văn phòng phẩm : 96,000đ
    – Chi tiền mặt tiếp khách giao tiếp : 300,000đ
    – Chi bồi thường hợp đồng kinh tế : 200,000đ
    696,000đ
    Căn cứ vào tài liệu trên, chi phí được sắp xếp theo các yếu tố sau:
    Bảng 2.1: BÁO CÁO CHI PHÍ THEO YẾU TỐ
    Năm XX
    Yếu tố chi phí Số tiền ( đồng ) Tỷ trọng ( %)
    1-Chi phí nguyên vật liệu. 11.780.000 47,12
    – Chi phí nguyên vật liệu chính. 10.000.000 40,00
    – Chi phí nguyên vật liệu phụ 1.350.000 05,40
    – Chi phí nhiên liệu 350.000 01,40
    – Chi phí phụ tùng thay thế 80.000 00,32
    2- Chi phí công cụ, dụng cụ. 270.000 01,08
    3- Chi phí nhân công 6.664.000 26,66
    4- Chi phí khấu hao. 4.800.000 19,20
    5- Chi phí dịch vụ thuê ngoài. 790.000 03,16
    6- chi phí khác bằng tiền 696.000 02,78
    Tổng cộng 25.000.000 100%
    2.2. Phân loại chi phí theo công dụng kinh tế.
    Theo tiêu thức này, chi phí trong kỳ kế toán của doanh nghiệp gồm các
    khoản mục sau:
    2.2.1. Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (direct materrial costs)
    Khoản mục chi phí này bao gồm toàn bộ chi phí nguyên vật liệu sử dụng
    trực tiếp trong từng quy trình sản xuất sản phẩm như chi phí nguyên vật
    liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ…chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
    tuy thường chiếm tỷ lệ lớn trên tổng chi phí và đóng một vai trò quyết định
    chi phí, giá thành sản phẩm dịch vụ nhưng dễ nhận diện, định lượng chính
    xác, kịp thời khi phát sinh. Trong quản lý chi phí, chi phí nguyên vật liệu
    trực tiếp thường được định mức theo từng loại sản phẩm và có thể nhận
    diện trên hồ sơ kỹ thuật sản xuất, định mức vật tư trực tiếp.

    Giáo trình môn kế toán quản trị

  20. 20

    2.2.2. Chi phí nhân công trực tiếp (directs labour costs)
    Khoản mục chi phí này bao gồm tiền lương và các khoản trích theo lương
    tính vào chi phí sản xuất như kinh phí công đoàn, BHXH, BHYT của công
    nhân trực tiếp thực hiện từng quá trình sản xuất.
    -Với những quy trình công nghệ sản xuất thủ công, chi phí nhân công trực
    tiếp là chi phí lương, BHXH,… của công nhân trực tiếp thực hiện quy trình
    sản xuất. Đối với những quy trình công nghệ sản xuất tự động hóa, chi phí
    nhân công trực tiếp là chi phí lương, BHXH,…của công nhân trực tiếp vận
    hành, điều khiển quy trình công nghệ sản xuất.
    – Chi phí nhân công trực tiếp rễ nhận diện, định lượng chính xác, kịp thời
    khi phát sinh. Trong quản lý, chi phí nhân công trực tiếp được định mức
    theo từng loại sản phẩm, dịch vụ.
    2.2.3. Chi phí sản xuất chung (factory overhead costs).
    Chi phí sản xuất chung bao gồm tất cả các chi phí sản xuất ngoài hai khoản
    mục chi phí sản xuất trên. Như vậy, chi phí sản xuất chung thường bao
    gồm:
    – Chi phí lao động gián tiếp, phục vụ, tổ chức quản lý sản xuất tại phân
    xưởng ;
    – Chi phí nguyên vật liệu dùng trong máy móc thiết bị;
    – Chi phí công cụ dụng cụ dùng trong sản xuất;
    – Chi phí khấu hao máy móc thiết bị , tài sản cố định khác dùng trong hoạt
    động sản xuất;
    – Chi phí dịch vụ thuê ngoài phục vụ sản xuất như điện, nước, sửa chữa,
    bảo hiểm tài sản tại xưởng sản xuất;
    Chi phí sản xuất chung gồm hiều thành phần có nguồn gốc phát sinh đặc
    điểm khác nhau, chúng liên quan đến nhiều quy trình sản xuất sản phẩm ít
    biểu hiện một cách cụ thể qua mối liên hệ nhân quả. Vì vậy, việc thu thập
    thông tin chi phí sản xuất thường chậm trễ; mặt khác đây cũng là bộ phận
    chi phí mà việc tập hợp, phân bổ dễ làm sai lệch chi phí trong từng quy
    trình sản xuất dẫn đến các quyết định sai sót, đặc biệt là đối với những quy
    trình sản xuất, bộ phận sản xuất mà chi phí này chiếm tỷ lệ lớn. Ngày nay,
    khi quy trình sản xuất ngày càng tự động hóa cao, tỷ trọng nguyên vật liệu
    sản xuất giảm dần trong sử dụng, hạn chế lao động thì thông tin chi phí sản
    xuất chung càng ảnh hưởng trọng yếu đến các quyết định liên quan đến chi
    phí.
    2.2.4. Chi phí bán hàng ( selling expenses).

    Giáo trình môn kế toán quản trị

Download tài liệu Giáo trình môn Kế toán quản trị (196 trang) File Word, PDF về máy