[Download] Tải Giáo trình môn học Kiểm toán – Tải về File Word, PDF

Giáo trình môn học Kiểm toán

Giáo trình môn học Kiểm toán
Nội dung Text: Giáo trình môn học Kiểm toán

Download


Giáo trình môn học Kiểm toán bao gồm 4 chương, cung cấp những kiến thức về: Tổng quan về kiểm toán; đối tượng và các khái niệm cơ bản sử dụng trong kiểm toán; hệ thống các phương pháp kiểm toán; trình tự các bước kiểm toán. Mời các bạn cùng tham khảo để biết thêm các nội dung chi tiết.

Bạn đang xem: [Download] Tải Giáo trình môn học Kiểm toán – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Giáo trình môn học Kiểm toán File Word, PDF về máy

Giáo trình môn học Kiểm toán

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Giáo trình môn học Kiểm toán

  1. BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI
    TRƯỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG I

    GIÁO TRÌNH MÔN HỌC
    KIỂM TOÁN
    TRÌNH ĐỘ CAO ĐẲNG

    NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP

    Ban hành theo Quyết định số 1661/QĐ-CĐGTVTTWI ngày 31/10/2017 của Hiệu trưởng Trường
    Cao đẳng GTVT Trung ương I

    Hà Nội,
    1 2017

  2. BỘ GIAO THÔNG VẬN TẢI

    TRƢỜNG CAO ĐẲNG GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƢƠNG I

    GIÁO TRÌNH

    Mô đun: Kiểm toán

    NGHỀ: KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP

    TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG

    Hà Nội – 2017
    2

  3. MỤC LỤC
    Lời nói đầu…………………………………………………………………………4
    Chương 1: Tổng quan về kiểm toán
    1. Khái niệm kiểm toán…………………………………………………………….5
    2. Các chức năng của kiểm toán……………………………………………………6
    3. Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán………………………………………………7
    4. Mục đích và phạm vi của kiểm toán……………………………………………..8
    5. Các loại kiểm toán……………………………………………………………….9
    6. Kiểm toán viên…………………………………………………………………11
    Chương 2: Đối tượng và các khái niệm cơ bản sử dụng trong kiểm toán
    1. Đối tƣợng kiểm toán……………………………………………………………14
    2. Cơ sở dẫn liệu, bằng chứng kiểm toán và hồ sơ kiểm toán…………………….20
    3. Gian lận và sai sót………………………………………………………………26
    4. Trọng yếu và rủi ro……………………………………………………………..27
    5. Khái niệm về hoạt động liên tục………………………………………………..30
    6. Hệ thống kiểm soát nội bộ……………………………………………………..33
    7. Chuẩn mực kế toán……………………………………………………………..37
    Chương 3: Hệ thống các phương pháp kiểm toán
    1. Khái quát hệ thống phƣơng pháp kiểm toán……………………………………43
    2. Phƣơng pháp kiểm toán chứng từ………………………………………………45
    3. Phƣơng pháp kiểm toán ngoài chứng từ………………………………………..50
    4. Kỹ thuật lấy mẫu kiểm toán…………………………………………………….53
    Chương 4: Trình tự các bước kiểm toán
    1. Mục tiêu và trình tự tổ chức công tác kiểm toán………………………………55
    2. Chuẩn mực kế toán……………………………………………………………..56
    3. Thực hành kiểm toán……………………………………………………………60
    4. Kết thúc kiểm toán………………………………………………………………67
    Tài liệu tham khảo……………………………………………………………….79

    3

  4. Lời nói đầu
    Kiểm toán là một môn khoa học thuộc khối kiến thức chuyên ngành trong chƣơng
    trình đào tạo của trƣờng CĐ GTVTTW1. Môn học cung cấp cho sinh viên những
    kiến thức cơ bản mang tính lý luận, mà còn giúp sinh viên nắm đƣợc phƣơng pháp,
    thủ tục …của kiểm toán cụ thể.Giáo trình kiểm toán đƣợc xuất bản năm 1996 đã
    thực sự hữu ích không những đối với sinh viên trong quá trình đổi mới nội dung
    chƣơng trình đào tạo cán bộ tài chính nói chung, cán bộ kiểm toán nói riêng, mà
    còn thiết thực đối với cán bộ quản lý kinh tế, đặc biệt là đối với kiểm toán viên
    trong điều kiện hiện nay. Trƣờng CĐ GTVTTW1 đã soạn thảo giáo trình kiểm
    toán nhằm đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học của cán bộ
    giáo viên trong trƣờng đồng thời thỏa mãn kịp thời nhu cầu của xã hội.
    Giáo trình bao gồm 4 chƣơng
    Chƣơng 1: Tổng quan về kiểm toán
    Chƣơng 2: Đối tƣợng và các khái niệm cơ bản sử dụng trong kiểm toán
    Chƣơng 3: Hệ thống các phƣơng pháp kiểm toán
    Chƣơng 4: Trình tự các bƣớc kiểm toán
    Trong quá trình biên soạn giáo trình không tránh đƣợc những sai sót mong nhận
    đƣợc nhiều ý kiến đóng góp chân thành của bạn đọc để giáo trình đƣợc hoàn thiện
    hơn.
    Xin chân thành cảm ơn

    4

  5. Chương I: TỔNG QUAN VỀ KIỂM TOÁN
    1. Khái niệm kiểm toán
    1.1. Sự cần thiết khách quan của hoạt động kiểm toán.
    – Hệ thống kế toán: thu thập, xử lý và cung cấp thông tin làm cơ sở cho các quyết
    định kinh tế.
    – Đối tƣợng sử dụng thông tin kế toán:
    + Các đối tƣợng bên trong doanh nghiệp
    + Các đối tƣợng bên ngoài doanh nghiệp
    Các đối tƣợng sử dụng thông tin, nhất là các đối tƣợng ở bên ngoài doanh
    nghiệp, có thể gặp phải những rủi ro liên quan đến thông tin, chẳng hạn nhận đƣợc
    thông tin sai do mâu thuẫn quyền lợi, do sự phức tạp của nghiệp vụ, do số lƣợng
    nghiệp vụ phát sinh nhiều và đa dạng…
    Để giải quyết vấn đề trên, cách tốt nhất là phải kiểm tra xác nhận về tính trung
    thực và sự đáng tin cậy của thông tin trƣớc khi cung cấp đến ngƣời sử dụng thông
    tin. Việc tồn tại các cơ quan độc lập với cả ngừơi cung cấp thông tin và ngƣời sử
    dụng thông tin thực hiện việc kiểm tra và xác nhận về sự trung thực hợp lý, sự
    đáng tin cậy của thông tin kế toán là tất yếu trong nền kinh tế thị trƣờng.
    1.2. Khái niệm về kiểm toán.
    Kiểm toán là việc thu thập và đánh giá các bằng chứng về một thông tin
    nhằm xác định và báo cáo về sự phù hợp của các thông tin này với các tiêu
    chuẩn được thiết lập. Việc kiểm toán cần được thực hiện bởi các kiểm toán viên
    đủ năng lực và độc lập.
    Giải thích:
    – Thông tin và các tiêu chuẩn: kiểm toán đƣợc thực hiện nhằm đi đến việc
    xác định sự phù hợp giữa thông tin đƣợc kiểm toán với những tiêu chuẩn đã đƣợc
    thiết lập cho thông tin đó. Các tiêu chuẩn đƣợc sử dụng trong kiểm toán rất đa
    dạng, tùy theo thông tin cần kiểm toán. Tiêu chuẩn càng rõ ràng, chặt chẽ thì việc
    kiểm toán càng thuận lợi và cho kết quả khách quan.
    – Thu thập và đánh giá bằng chứng: Bằng chứng kiểm toán là những “chứng
    cứ” mà kiểm toán viên (KTV) thu thập và sử dụng làm căn cứ để đƣa ra ý kiến về

    5

  6. thông tin đƣợc kiểm toán. KTV phải đánh giá về sự thích hợp và đầy đủ của bằng
    chứng kiểm toán trƣớc khi đƣa ra ý kiến kiểm toán.
    – Kiểm toán viên: KTV phải có đủ năng lực nghề nghiệp để có thể thiết kế và
    thực hiện quá trình kiểm toán (chính là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng
    nói trên); KTV cần phải độc lập để các xét đoán và ý kiến kiểm toán đƣợc khách
    quan, không thiên lệch.
    2. Các chức năng của kiểm toán
    2.1. Chức năng xác minh
    Chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu, tính
    pháp lí của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các báo cáo tài chính. Xác
    minh là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt
    động kiểm toán. Bản thân chức năng này không ngừng phát triển và đƣợc thể hiện
    khác nhau tuỳ đối tƣợng cụ thể của kiểm toán.
    Đối với kiểm toán báo cáo tài chính, việc xác minh đƣợc thực hiện theo 2 mặt:
    + Tính trung thực của các con số.
    + Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính.
    Đối với các thông tin đã đƣợc lƣợng hoá: Thông thƣờng, việc xác minh đƣợc
    thực hiện trƣớc hết qua hệ thống kiểm soát nội bộ có hệ thống thông tin tin cậy và
    lập các bảng kê khai tài chính.
    Đối với các nghiệp vụ (hoạt động), chức năng xác minh của kiểm toán có thể
    đƣợc thực hiện bởi hệ thống ngoại kiểm hay nội kiểm. Sản phẩm của hoạt động
    xác minh này thƣờng là những biên bản. Ở lĩnh vực này, kiểm toán hƣớng vào việc
    thực hiện chức năng thứ hai là bày tỏ ý kiến.
    2.2. Chức năng bày tỏ ý kiến
    Bày tỏ ý kiến là đƣa ra ý kiến nhận xét của kiểm toán viên về tính trung thực,
    mức độ hợp lí của các thông tin tài chính kế toán. Chức năng bày tỏ ý kiến có thể
    đƣợc hiểu rộng với ý nghĩa cả kết luận về chất lƣợng thông tin và cả pháp lí, tƣ vấn
    qua xác minh:

    6

  7. Tƣ vấn cho quản lí nhà nƣớc trong việc phát hiện sự bất cập của chế độ tài
    chính kế toán, qua đó kiến nghị với các cơ quan quản lí nhà nƣớc xem xét, nghiên
    cứu, hoàn thiện cho phù hợp.
    Tƣ vấn cho việc quản lí của các đơn vị đƣợc kiểm toán. Thông qua việc chỉ ra
    những sai sót, yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ, công tác quản lí tài chính,
    kiểm toán viên gợi mở, đề xuất các biện pháp khắc phục hoàn thiện đối với đơn vị.
    Trong nhiều trƣờng hợp, thông qua kiểm toán, các tổ chức đơn vị doanh nghiệp đã
    kịp thời chấn chỉnh hệ thống kiểm soát nội bộ, chế độ quản lí tài chính ở đơn vị
    mình. Qua đó khai thác có hiệu quả hơn năng lực tài chính phát triển đơn vị.
    3. Ý nghĩa và tác dụng của kiểm toán
    3.1. Kiểm toán góp phần tạo niềm tin cho những người quan tâm
    Kiểm toán không phải là hoạt động “tự thân” và “vị thân”. Kiểm toán sinh ra từ
    yêu cầu của quản lí và phục vụ cho yêu cầu của quản lí. Từ đó có thể thấy rõ ý
    nghĩa, tác dụng của kiểm toán trên nhiều mặt:
    Thứ nhất, kiểm toán tạo niềm tin cho “những ngƣời quan tâm”. Trong cơ chế
    thị trƣờng, có nhiều ngƣời quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản ánh của nó
    trong tài liệu kế toán, bao gồm:
    Các cơ quan nhà nƣớc
    Các nhà đầu tƣ
    Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lí khác
    Ngƣời lao động
    Khách hàng, nhà cung cấp và những ngƣời quan tâm khác…..
    Có thể nói việc tạo ra niểm tin cho những ngƣời quan tâm là yếu tố quyết định
    sự ra đời và phát triển của kiểm toán với tƣ cách là một hoạt động độc lập.
    3.2. Kiểm toán góp phần hướng nghiệp vụ
    Thứ hai, kiểm toán góp phần hƣớng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt
    động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của đơn vị kiểm toán nói chung. Mọi
    hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính, đều bao gồm những mối quan hệ đa
    dạng, luôn biến đổi và đƣợc cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Tính phức
    tạp của hoạt động này càng tăng lên bởi quan hệ chặt chẽ giữa các quan hệ tài

    7

  8. chính với lợi ích con ngƣời. Trong khi đó, thông tin kế toán là sự phản ánh của
    hoạt động tài chính. Ngoài việc chứa đựng những phức tạp của các quan hệ tài
    chính, thông tin kế toán còn là sản phẩm của quá trình xử lí thông tin bằng phƣơng
    pháp kĩ thuật rất đặc thù. Do đó, nhu cầu hƣớng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp
    trong quản lí tài chính càng có đòi hỏi thƣờng xuyên và ở mức độ cao hơn.
    3.3. Kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu năng quản lý
    Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lí. Kiểm toán
    không chỉ xác minh rõ độ tin cậy của thông tin mà còn tƣ vấn về quản lí. Vai trò tƣ
    vấn này đƣợc thấy rõ trong kiểm toán hiệu năng và hiệu quả quản lí.
    4. Mục đích và phạm vi của kiểm toán.
    4.1. Mục đích của kiểm toán.
    4.1.1. Đối với kiểm toán nhà nước:
    Thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và
    số liệu kế toán, báo cáo quyết toán của cơ quan nhà nƣớc, các đơn vị sự nghiệp,
    đơn vị kinh tế nhà nƣớc và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng
    kinh phí do ngân sách nhà nƣớc cấp.
    4.1.2. Đối với kiểm toán độc lập:
    Là báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Kiểm toán độc lập là ngƣời thứ ba độc
    lập khách quan sẽ đƣa ra lời kết luận là báo cáo tài chính của doanh nghiệp lập ra
    có trung thực và hợp lý không ? Kiểm toán độc lập còn giúp các đơn vị kế toán
    phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các gian lận và sai sót, phòng ngừa các sai phạm
    và thiệt hại có thể xảy ra.
    4.1.3. Đối với kiểm toán nội bộ:
    – Kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.
    – Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, chính
    sách chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của hội đồng
    quản trị, của ban giám đốc doanh nghiệp.
    – Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý ; đề xuất các giải
    pháp hoàn thiện hệ thống quản lý điều hành của doanh nghiệp.
    4.2 Phạm vi của kiểm toán.

    8

  9. 4.2.1 Đối với kiểm toán nhà nước.
    – Tài liệu kế toán và báo cáo quyết toán ngân sách của các đơn vị thụ hƣởng
    ngân quỹ nhà nƣớc hoặc ngân quỹ công.
    – Kiểm toán báo cáo quyết toán các công trình đầu tƣ XDCB thuộc vốn ngân
    sách cấp, các dự án, chƣơng trình tài trợ, vay nợ thuộc chính phủ.
    – Kiểm toán báo cáo tài chính các doanh nghiệp nhà nƣớc.
    – Kiểm toán báo cáo quyết toán các chƣơng trình an ninh, quốc phòng, dự trữ
    quốc gia.
    – Kiểm toán nhà nƣớc chỉ kiểm toán theo chƣơng trình kế hoạch kiểm toán
    đƣợc chính phủ phê duyệt.
    4.2.2 Đối với kiểm toán độc lập:
    – Cung cấp dịch vụ kiểm toán theo yêu cầu của khách hàng, chủ yếu là kiểm
    toán báo cáo tài chính cho các công ty cổ phần và nhiều loại hình DN khác, có thể
    là đối tƣợng kiểm toán theo luật định hoặc tự nguyện.
    – Thực hiện kiểm toán theo yêu cầu cho các đơn vị hành chính sự nghiệp, các
    đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội và tổ chức quốc tế…
    – Cung cấp dịch vụ kế toán, tƣ vấn và nhiều dịch vụ khác.
    4.2.3 Đối với kiểm toán nội bộ:
    – Kiểm toán hoạt động.
    – Kiểm toán tính tuân thủ
    – Kiểm toán báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị.
    Kiểm tóan nội bộ chỉ thực hiện việc kiểm toán trong phạm vi DN và các đơn vị nội
    bộ DN.
    5. Các loại kiểm toán
    5.1. Phân loại kiểm toán theo chức năng
    a. Kiểm toán báo cáo tài chính.
    – Là sự kiểm tra và trình bày ý kiến nhận xét về tính trung thực hợp lý của các
    báo cáo tài chính của một đơn vị: Bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh
    doanh, báo cáo lƣu chuyển tiền tệ và thuyết minh BCTC

    9

  10. – Tiêu huẩn để đánh giá: là các chuẩn mực, nguyên tắc kế toán, chế độ kế toán
    hiện hành.
    – Thƣờng đƣợc thực hiện bởi các kiểm toán viên độc lập, phục vụ cho nhà quản
    lý, Nhà nƣớc và chủ yếu là các đối tƣợng sử dụng thông tin ở bên ngoài đơn vị nhƣ
    nhà đầu tƣ, chủ nợ, nhà cung cấp…
    b. Kiểm toán tuân thủ.
    – Là việc kiểm tra nhằm đánh giá mức độ chấp hành luật pháp hay một văn
    bản, một quy định nào đó.
    – Thƣờng do cấp trên thực hiện kiểm tra đối với cấp dƣới, vd: kiểm tra của cơ
    quan thuế đối với doanh nghiệp về việc chấp hành luật thuế, kiểm toán Nhà nƣớc
    kiểm tra đối với các đơn vị có sử dụng vốn và kinh phí Nhà nƣớc… kết quả kiểm
    toán phục vụ cho các cấp có thẩm quyền liên quan.
    c. Kiểm toán hoạt động.
    – Là tiến trình kiểm tra và đánh giá về sự hữu hiệu và tính hiệu quả của một
    hoạt động. Có thể là đánh giá về một phƣơng án sản xuất kinh doanh, một quy
    trình công nghệ, một cơ cấu tổ chức…
    – Thƣờng đƣợc thực hiện bởi các kiểm toán viên nội bộ nhƣng cũng có thể do
    kiểm toán viên Nhà nƣớc hay kiểm toán viên độc lập tiến hành.
    – Kết quả kiểm toán hoạt động chủ yếu phục vụ cho lợi ích của bản thân doanh
    nghiệp
    5.2. Phân loại kiểm toán theo chủ đề kiểm toán
    a. Kiểm toán độc lập.
    – Đƣợc tiến hành bởi các doanh nghiệp kiểm toán (các công ty kiểm toán độc
    lập)
    – Thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, ngoài ra, cũng thực hiện kiểm toán
    hoạt động hay kiểm toán tuân thủ và các dịch vụ tƣ vấn tài chính theo yêu cầu của
    khách hàng.
    – Báo cáo kiểm toán độc lập có tính pháp lý cao và đƣợc sử dụng chủ yếu bởi
    các “đệ tam nhân”.
    b. Kiểm toán nội bộ.

    10

  11. – Do các kiểm toán viên nội bộ thực hiện. (đây là 1 bộ phận trong đơn vị đƣợc
    tổ chức để thực hiện chuyên về nghiệp vụ này)
    – Chủ yếu là thực hiện kiểm toán hoạt động và kiểm toán tuân thủ, phục vụ cho
    các nhà quản lý trong doanh nghiệp.
    – Tính độc lập không cao, kết quả kiểm toán nội bộ khó đƣợc sự tin cậy của
    ngƣời ngoài doanh nghiệp.
    c. Kiểm toán của nhà nước.
    – Là các loại hình kiểm toán đƣợc các kiểm toán viên của các cơ quan Nhà
    nƣớc tiến hành, ví dụ: kiểm toán thuế, kiểm toán ngân sách…
    – Thực hiện kiểm toán tuân thủ đối với mọi đơn vị và cả kiểm toán hoạt động
    đối với các đơn vị sử dụng vốn và kinh phí Nhà nƣớc.
    6. Kiểm toán viên
    6.1. Khái niệm
    Kiểm toán viên là ngƣời đƣợc cấp chứng chỉ kiểm toán viên theo quy định của
    pháp luật hoặc ngƣời có chứng chỉ của nƣớc ngoài đƣợc Bộ Tài chính công nhận
    và đạt kỳ thi sát hạch về pháp luật Việt Nam.
    Đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên bao gồm những quy tắc đạo đức để
    hƣớng dẫn cho các thành viên của một nghề nghiệp nào đó ứng xử và hoạt động
    một cách trung thực, phục vụ cho lợi ích chung của nghề nghiệp và xã hội.
    Đạo đức nghề nghiệp của Kiểm toán viên độc lập thƣờng bao gồm các nội
    dung sau: (Theo VSA 200).
    – Độc lập: Là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên. Trong quá trình
    kiểm toán, kiểm toán viên phải thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ
    lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm ảnh hƣởng đến sự trung thực, khách quan và
    độc lập nghề nghiệp của mình.
    – Khách quan: kiểm toán viên phải công bằng, tôn trọng sự thật và không đƣợc
    thành kiến, thiên vị.
    – Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: kiểm toán viên phải thực hiện
    công việc kiểm toán với đầy đủ năng lực chuyên môn cần thiết, với sự thận trọng
    cao nhất và tinh thần làm việc chuyên cần. Kiểm toán viên có nhiệm vụ duy trì, cập

    11

  12. nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trƣờng pháp lý và
    các tiến bộ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc.
    – Tính bí mật: kiểm toán viên phải bảo mật các thông tin có đƣợc trong quá
    trình kiểm toán, không đƣợc tiết lộ cho bất cứ một thông tin nào khi chƣa đƣợc
    phép của ngƣời có thẩm quyền, trừ khi có nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu
    của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề nghiệp của mình.
    – Tư cách nghề nghiệp: kiểm toán viên phải trau dồi và bảo vệ uy tín nghề
    nghiệp, không đƣợc gây ra những hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp.
    – Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn: kiểm toán viên phải thực hiện công việc
    kiểm toán theo những kỹ thuật và chuẩn mực chuyên môn đã quy định trong chuẩn
    mực kiểm toán Việt Nam (hoặc chuẩn mực kiểm toán quốc tế đƣợc VN chấp nhận)
    và các quy định pháp luật hiện hành
    6.2. Trách nhiệm – quyền hạn của kiểm toán viên độc lập
    Theo đoạn 11 VSA 200, mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính đƣợc xác
    định là “… giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác
    nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế
    toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có
    phản ảnh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không ?”.
    Trên cơ sở mục tiêu đó, trách nhiệm của kiểm toán viên đƣợc xác định là “…
    kiểm tra, chuẩn bị và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính” và “… việc
    kiểm toán báo cáo tài chính không làm giảm nhẹ trách nhiệm của Giám đốc (hoặc
    ngƣời đứng đầu) đơn vị đƣợc kiểm toán đối với báo cáo tài chính”.
    Nhƣ vậy, kiểm toán viên không chịu trách nhiệm về việc phát hiện và ngăn
    chặn các sai phạm ở đơn vị, điều này chủ yếu thuộc trách nhiệm ngƣời quản lý đơn
    vị nhƣ đã trình bày trong phần trên. Trách nhiệm của kiểm toán viên chủ yếu liên
    quan đến việc diễn đạt ý kiến của mình trên báo cáo kiểm toán và để đƣa ra ý kiến
    đó, kiểm toán viên cần thiết kế và thực hiện một cuộc kiểm toán để bảo đảm hợp lý
    rằng báo cáo tài chính không có sai lệch trọng yếu.
    Ngoài ra trên góc độ pháp lý, kiểm toán viên còn có các trách nhiệm dân sự và
    trách nhiệm hình sự nhƣ sau:

    12

  13. a) Trách nhiệm dân sự của kiểm toán viên:
    – Chịu trách nhiệm đối với khách hàng
    – Chịu trách nhiệm đối với các bên thứ ba có liên quan.
    – Chịu trách nhiệm đối với những ngƣời sở hữu chứng khoán của các công ty
    cổ phần có yết giá ở thị trƣờng chứng khoán.
    Do trách nhiệm dân sự thuộc phạm vi điều chỉnh của Dân luật, và thƣờng bao
    gồm trách nhiệm dân sự trong hợp đồng và trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng.
    + Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng đƣợc hình thành do quan hệ hợp đồng
    giữa kiểm toán viên và khách hàng, kể cả các bên đƣợc ràng buộc trong hợp đồng,
    nhƣ:
    – Phát hành báo cáo kiểm toán không đúng thời hạn theo hợp đồng.
    – Không bảo mật những thông tin của khách hàng.
    – Nhận xét không xác đáng về báo cáo tài chính, nên gây thiệt hại cho
    khách hàng …
    + Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm phát sinh không do
    quan hệ hợp đồng.
    Hiện nay, quan niệm phổ biến về trách nhiệm ngoài hợp đồng là chỉ áp dụng
    đối với các cổ đông và các chủ nợ, đó là những ngƣời sử dụng có thể thấy trƣớc
    trong hiện tại và tƣơng lai
    b) Trách nhiệm hình sự của kiểm toán viên:
    Ngoài trách nhiệm dân sự, nếu do gian lận, kiểm toán viên còn phải chịu trách
    nhiệm hình sự về những sai phạm của mình. Tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt
    Nam, kiểm toán viên sẽ bị truy tố và Tòa Hình sự sẽ xét xử theo Luật Hình sự. Hay
    tại Mỹ, kiểm toán viên có thể bị truy tố theo Luật Chứng khoán năm 1933, hay
    Luật Giao dịch chứng khoán năm 1934.
    * Các biện pháp để hạn chế trách nhiệm pháp lý.
    Để tránh hay giảm thiểu các hậu quả do kiện tụng, kiểm toán viên và tổ chức
    kiểm toán nên chú ý các biện pháp sau đây :

    13

  14. + Ký hợp đồng trong tất cả các dịch vụ nghề nghiệp, và có các ràng buộc rõ
    ràng về nghĩa vụ của từng bên để tránh mọi sự hiểu lầm có thể xảy ra, đặc biệt là
    trong việc khám phá những sai phạm.
    + Vì các tranh chấp thƣờng sẽ xảy ra sau khi khách hàng bị phá sản, nên phải
    thận trọng khi tiếp nhận khách hàng. Điều này có thể hạn chế thông qua việc không
    tiếp nhận các khách hàng có tình hình tài chính không lành mạnh, hay đƣợc lãnh
    đạo bởi ban giám đốc đang có vấn đề về năng lực, hay đạo đức …
    + Thực hiện đầy đủ các yêu cầu và hƣớng dẫn của nghề nghiệp, nhất là phải
    tuân thủ nghiêm ngặt các chuẩn mực kiểm toán.
    + Mua đầy đủ các khoản bảo hiểm nghề nghiệp.
    + Tôn trọng các chuẩn mực về kiểm tra chất lƣợng nghề nghiệp

    Chƣơng 2: Đối tượng và các khái niệm cuối cùng trong kiểm toán
    1. Đối tượng kiểm toán
    1.1. Khái quát chung về đối tượng và khách thể
    Phù hợp với tính tất yếu của lịch sử và logic biện chứng, kiểm toán phải đƣợc
    hình thành một khoa học độc lập, kiểm toán cần phải có đối tƣợng riêng và hệ
    thống những thông tin phản ánh thực chất hoạt động và phƣơng pháp riêng.
    Đối tƣợng kiểm toán là thực trạng tài chính cùng hiệu quả hiệu năng của các
    nghiệp vụ hay dự án cụ thể. Cả thực trạng hoạt động tài chính cũng nhƣ hiệu năng,
    hiệu quả phải đƣợc thể hiện trong một đơn vi cụ thể (doanh nghiệp, xí nghiệp công
    cộng, đơn vị sự nghiệp, cơ quan kinh tế và hành chính) hoặc một dự án một công
    trình cụ thể.
    Trong quan hệ chủ sở hữu, các đơn vị đó thuộc sở hữu nhà nƣớc, sở hữu tƣ
    nhân hoặc hỗn hợp. Trong quan hệ phạm vi một quốc gia, các đơn vị này có thể
    hình thành từ nguồn đầu tƣ trong nƣớc, đầu tƣ nƣớc ngoài hoặc liên doanh trong và
    ngoài nƣớc… Tổng hợp các tiêu thức trên có thể phân chia các đơn vị thành các
    khách thể kiểm toán trong quan hệ với chủ thể kiểm toán.

    14

  15. Thông thƣờng, khách thể kiểm toán đƣợc phân chia trong quan hệ với chủ thể
    kiểm toán nhƣ sau:
    + Khách thể kiểm toán nhà nƣớc thƣờng bao gồm tất cả các đơn vị, cá nhân có
    sử dụng nguồn ngân sách nhà nƣớc nhƣ:
    Các dự án, công trình do ngân sách đầu tƣ.
    Các doanh nghiệp nhà nƣớc có 100% vốn ngân sách nhà nƣớc.
    Các xí nghiệp công cộng thuộc sở hữu nhà nƣớc( 100% vốn NSNN).
    Các cơ quan kinh tế, quản lý của nhà nƣớc và các đoàn thể xã hội.
    Các cá nhân (tài khoản cá nhân) có nguồn từ NSNN…
    + Khách thể của kiểm toán độc lập thƣờng bao gồm:
    Các doanh nghiệp và xí nghiệp tƣ (kể cả các công ty trách nhiệm hữu hạn).
    Các doanh nghiệp có 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.
    Các liên doanh các tổ chức trong và ngoài nƣớc.
    Các hợp tác xã và doanh nghiệp cổ phần.
    Các chƣơng trình, dự án có nguồn kinh phí từ bên ngoài ngân sách nhà
    nƣớc…
    + Khách thể của kiểm toán nội bộ có thể bao gồm:
    Các bộ phận cấu thành đơn vị.
    Các hoạt động, các chƣơng trình, dự án cụ thể trong đơn vị.
    Các cá nhân trong đơn vị.
    Nhƣ vậy, khách thể của kiểm toán có thể là đơn vị kế toán nhƣ các xí nghiệp,
    các đơn vị sự nghiệp hoặc quản lý hay cá nhân… Song khách thể của kiểm toán
    cũng có thể là một công trình hay dự án… với sự tham gia của nhiều đơn vị kế
    toán hoặc một bộ phận của một đơn vị nào đó.
    Việc phân chia các khách thể trong quan hệ với chủ thể kiểm toán chỉ là những
    nguyên tắc và nghệ thuật tổ chức kiểm toán. Trong khi đó, đối tƣợng kiểm toán lại
    không thể phân cho từng khách thể riêng biệt. Đó là đối tƣợng chung của kiểm
    toán. Tuỳ thuộc mục tiêu đặt ra cho từng cuộc kiểm toán của từng khách thể để xác
    định đối tƣợng trực tiếp và gián tiếp cho cuộc kiểm toán đó.

    15

  16. Ngoài ra khách thể đƣợc pháp luật quy định thuộc chủ thể kiểm toán này cũng
    có thể tự nguyện mời chủ thể kiểm toán khác song không thay thế cho kiểm toán
    đã đƣợc luật pháp quy định.
    Ở nƣớc ta, khách thể kiểm toán nhà nƣớc đƣợc quy định cụ thể trong điều 2
    của “ Điều lệ tổ chức và hoạt động của kiểm toán nhà nƣớc” (Ban hành theo Quyết
    định 61/TTG ngày 24/1/1995 của Thủ tƣớng Chính phủ). Trong quy định này, giữa
    khách thể và đối tƣợng cụ thể của kiểm toán đã đƣợc gắn chặt với nhau để đảm bảo
    tính chặt chẽ của văn bản quy định.
    Trong mỗi lần kiểm toán, một chủ thể kiểm toán đƣợc gắn với một khách thể
    kiểm toán để thực hiện một nhiệm vụ xác định đƣợc gọi là một cuộc kiểm toán.
    Nhƣ vậy, khái niệm “Cuộc kiểm toán” trong thực tế đã bao gồm các yếu tố xác
    định:
    Đối tƣợng kiểm toán cụ thể.
    Chủ thể kiểm toán xác định.
    Khách thể kiểm toán tƣơng ứng.
    Thời hạn kiểm toán cụ thể.
    Cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán.
    1.2. Thực trạng hoạt động tài chính – đối tượng chung của kiểm toán
    1.2.1. Khái niệm hoạt động tài chính
    Hoạt động tài chính là hoạt động dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ kinh
    tế trong đầu tƣ, trong thanh toán trong sản xuất, trong kinh doanh và trong phân
    phối nhằm đạt đƣợc một lợi ích nhất định.
    Tiền là biểu hiện bên ngoài của hoạt động tào chính còn nội dung bên trong là
    các mối quan hệ kinh tế.
    1.2.2. Các nguyên tắc khi tiến hành hoạt động tài chính
    Hoạt động tài chính phải có mục tiêu phương án kế hoạch cụ thể.
    Trong việc giải quyết các mối quan hệ kinh tế có liên quan đến nhiều chủ thể
    khác nhau, mỗi cân đối cụ thể giữa các khâu, các giai đoạn khác nhau của hoạt
    động này đều có những hiệu quả khác nhau về kinh tế và về xã hội. Do đó, trong
    hoạt động tài chính phải có định hƣớng và cụ thể hoá bằng các mục tiêu cho từng

    16

  17. thời kỳ cụ thể, ở từng công việc cụ thể. Hơn nữa những định hƣớng này cần đƣợc
    lƣợng hoá thành những cân đối khác nhau thành những phƣơng án cụ thể khác
    nhau và lựa chọn phƣơng án tốt nhất. Trong đó đặc biệt lƣu ý các tƣơng quan giữa
    tiền – hiện vật, giữa mục tiêu và chi phí cho việc thực hiện, giữa đầu vào và đầu ra

    Hoạt động tài chính phải đảm bảo có lợi và trên cơ sở tiết kiệm.
    Lợi ích là mục tiêu của hoạt động tài chính. Trong kinh doanh, lợi ích này là lợi
    nhuận thực hiện. Trong lĩnh vực xã hội, lợi ích này là hiệu quả kinh tế, xã hội, là
    kết quả thực hiện mục tiêu của chƣơng trình, dự án cụ thể. Tronh mọi trƣờng hợp
    phải đảm bảo việc tiết kiệm trên từng công việc, từng khoản chi, là nhằm hƣớng tới
    lợi ích cuối cùng, lợi ích toàn cục.
    Hoạt động tài chính phải đảm bảo tuân thủ pháp luật thể lệ chế độ tài chính.
    Giải quyết các mối quan hệ kinh tế có liên quan đến nhiều khách thể khác nhau
    là nội dung của hoạt động tài chính. Mặt khác, các mối quan hệ giữa các bên có
    liên quan đã đƣợc xác định trong pháp luật và đã đƣợc cụ thể hoá trong các chế độ
    tài chính cụ thể. Để giải quyết tốt các mối quan hệ kinh tế, nhất thiết phải tuân thủ
    các chuẩn mực đã đƣợc xác định trong hệ thống pháp lý trong từng thời kỳ cụ thể.
    Hoạt động tài chính với nội dung nêu trên là đối tƣợng của nhiều môn học. Kiểm
    toán chỉ quan tâm tới thực trạng của hoạt động này, tức là xét trên bình diện hiện
    thực việc xử lý các quan hệ tài chính, việc bố trí, sử dụng và quản lý các nguồn
    lực, là hiệu quả của hoạt động tài chính, là việc tuân thủ các chế định về tài chính.
    1.2.3. Đặc điểm của hoạt động tài chính:
    Hoạt động tài chính có 2 đặc điểm:
    Một là: Thực trạng hoạt động tài chính một phần đƣợc phản ánh trên các tài
    liệu kế toán và một phần chƣa đƣợc phản ánh trên các tài liệu kế toán, dựa vào
    phần đƣợc phản ánh trên tài liệu kế toán kiểm toán xây dựng ra phân hệ phƣơng
    pháp kiểm toán chứng từ để thu thập bằng chứng kiểm toán, còn phần chƣa đƣợc
    phản ánh kiểm toán phải xây dựng ra một phân hệ (hệ thống) phƣơng pháp kiểm
    toán để thu thập các chứng từ, đó là hệ thống phƣơng pháp kiểm toán ngoài chứng
    từ.

    17

  18. Hai là: Do trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại tài
    sản diễn ra nhiều nghiệp vụ kinh tế khác nhau biến đổi liên tục các tài sản đƣợc
    hình thành từ nhiều nguồn vốn khác nhau, do đó trong kiểm toán, kiểm toán viên
    không thể tiến hành kiểm toán toàn bộ tất cả các tài sản các nghiệp vụ, hơn nữa
    kiểm toán viên cũng không nhất thiết phải kiểm toán toàn bộ vì vậy kiểm toán đã
    xây dựng phƣơng pháp kiểm toán chọn điểm hay trọng điểm hay chọn mẫu.
    1.3. Tài liệu kế toán – đối tượng cụ thể của kiểm toán
    Tài liệu kế toán là toàn bộ các chứng từ sổ sách kế toán, báo cáo kế toán, bảng
    biểu kế toán.
    Tài liệu kế toán, trƣớc hết là báo cáo tài chính là đối tƣợng trực tiếp đƣợc mọi
    ngƣời quan tâm, nên tài liệu này là đối tƣợng trực tiếp và thƣờng xuyên của mọi
    cuộc kiểm toán.
    Điều đó đƣợc lý giải trƣớc hết ở tài liệu kế toán, đặc biệt là báo cáo tài chính vì
    trong cơ chế thị trƣờng, có nhiều ngƣời quan tâm đến thông tin tổng hợp và thực
    trạng tài chính của đơn vị. Trong cơ chế này, tài liệu kế toán không chỉ là cơ sở để
    tổng hợp các chỉ tiêu ở phạm vi rộng hơn, cũng không chỉ để kiểm tra, lƣu trữ tài
    liệu và bảo quản tài sản mà là cơ sở cho mọi ngƣời quan tâm ra quyết định về quản
    lý, về đầu tƣ, về thanh toán, về phân phối,…
    Ngoài ra, do tính phức tạp của quá trình xử lý thông tin kế toán cũng nhƣ kết
    cấu của các báo cáo tài chính dẫn đến không phải mọi ngƣời quan tâm đều am hiểu
    đƣợc tài liệu đó và đôi khi chính kế toán viên cũng gặp khó khăn trong việc phản
    ánh các quan hệ phức tạp, đặc biệt là những quan hệ mới phát sinh. Ngay cả nội
    dung và phƣơng pháp tính một khoản mục trên các bảng cân đối kế toán cũng có
    thể rất nhiều quan niệm khác nhau và mang lại kết quả khác nhau. Tính phức tạp
    này ngày càng tăng lên do quy mô của các khách thể kiểm tóan không ngừng mở
    rộng và do tính phức tạp của đối tƣợng kế toán, các hoạt động tài chính ngày càng
    tăng lên, nhiều bên tham gia với các phƣơng thức khác nhau, nhiều quan hệ kinh tế
    mới phát sinh thâm nhập vào hoạt động tài chính.
    Ngoài ra cũng phải kể đến sự cách biệt về chuẩn mực kế toán và các điều kiện
    thực hiện nó giữa các nƣớc, các thời kỳ… dẫn tới sự nhận thức khác nhau và tổ

    18

  19. chức khác nhau, nhất là sự thay đổi của chế độ kế toán… Tất cả những thực tế đó
    đòi hỏi kiểm toán để tạo niềm tin cho mọi ngƣời quan tâm và thƣờng xuyên hƣớng
    dẫn nghiệp vụ, củng cố nề nếp và cải tiến tổ chức… để nâng cao chất lƣợng của tài
    liệu kế toán.
    1.4. Thực trạng tài sản, nghiệp vụ tài chính, đối tượng cụ thể của kiểm toán

    1.4.1. Khái niệm
    Thực trạng tài sản trong mỗi đơn vị kinh doanh hay hành chính sự nghiệp đều
    đƣợc biểu hiện dƣới nhiều hình thái vật chất khác nhau, với yêu cầu về quy cách,
    phẩm chất, bảo quản, bảo dƣỡng… khác nhau, và đƣợc lƣu giữ trên nhiều kho,
    nhiều bãi khác nhau và những ngƣời quản lý khác nhau.
    1.4.2. Nội dung
    Tài sản của Nhà nƣớc, của các doanh nghiệp trong kinh doanh cũng nhƣ trong
    mọi lĩnh vực hoạt động khác thƣờng xuyên vận động. Quá trình vận động này đƣợc
    cấu thành bởi các nghiệp vụ cụ thể. Các nghiệp vụ cụ thể này có thể quy về các
    nghiệp vụ cơ bản nhƣ: cấp vốn – nhận vốn, vay – cho vay, cấp phát – thụ hƣởng,
    xuất – nhập – tồn kho hoặc mua – bán – sản xuất (hoặc dịch vụ). Tuy nhiên, do đặc
    tính của từng loại tài sản cũng nhƣ mối quan hệ kinh tế của mỗi loại tài sản cũng
    khac nhau, sự đa dạng về chủng loại nghiệp vụ cũng nhƣ đặc tính của tài sản chứa
    đựng trong nghiệp vụ đòi hỏi phải chia công tác kiểm toán các nghiệp vụ này thành
    những phần hành kiểm toán khác nhau. Khác với các phần hành kế toán, phần
    hành kiểm toán trƣớc hết đƣợc phân chia trên cơ sở đầu mối quan hệ tài chính và
    sau nữa là vị trí và đặc điểm của từng loại nghiệp vụ. Trên cơ sở đó, các phần hành
    kiểm toán cơ bản có thể gồm:
    Các nghiệp vụ về tiền mặt (thu – chi – tồn quỹ).
    Các nghiệp vụ về thanh toán (không phân biệt vay, nợ, phải thu, phải trả).
    Các nghiệp vụ về tài sản cố định (đầu tƣ, xây dựng, mua sắm, sử dụng, khấu
    hao, tăng giảm tài sản cố định).
    Các nghiệp vụ về hàng hoá (bảo quản, sử dụng).

    19

Download tài liệu Giáo trình môn học Kiểm toán File Word, PDF về máy