[Download] Tải Giải pháp đảm bảo an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam – Tải về File Word, PDF

Giải pháp đảm bảo an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Giải pháp đảm bảo an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam
Nội dung Text: Giải pháp đảm bảo an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Download


Mục tiêu của bài viết nhằm đánh giá an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2015-2019 qua các chỉ tiêu chính bao gồm an toàn vốn, an toàn tín dụng, an toàn thanh khoản, kết quả kinh doanh từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng cường an toàn tài chính cho hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.

Bạn đang xem: [Download] Tải Giải pháp đảm bảo an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Giải pháp đảm bảo an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam File Word, PDF về máy

Giải pháp đảm bảo an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Giải pháp đảm bảo an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

  1. TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ – SỐ 8(01) – 2020

    GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN TÀI CHÍNH TRONG HỆ THỐNG
    NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
    SOLUTIONS TO ENSURE FINANCIAL SAFETY OF COMMERCIAL BANKING SYSTEM
    IN VIETNAM
    Ngày nhận bài: 27/02/2020
    Ngày chấp nhận đăng: 30/03/2020

    Nguyễn Thị Minh Hương
    TÓM TẮT
    Đảm bảo an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) được hiểu là việc duy trì
    được sự ổn định và lành mạnh tài chính trong quá trình hoạt động của ngân hàng, trên cơ sở đó,
    giảm thiểu và hạn chế được rủi ro của hệ thống tài chính. Những năm gần đây, Việt Nam đã và
    đang từng bước hoàn thiện các tiêu chuẩn đảm bảo an toàn trong hoạt động của các ngân hàng
    theo chuẩn mực quốc tế; các văn bản pháp lý từng bước được hoàn thành nhằm xây dựng hệ
    thống tài chính lành mạnh. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, hệ thống NHTM Việt Nam vẫn tiềm
    ẩn nhiều rủi ro, nợ xấu tăng nhanh… Mục tiêu của bài viết nhằm đánh giá an toàn tài chính trong
    hệ thống NHTM Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019 qua các chỉ tiêu chính bao gồm an toàn vốn, an
    toàn tín dụng, an toàn thanh khoản, kết quả kinh doanh từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm tăng
    cường an toàn tài chính cho hệ thống NHTM Việt Nam.
    Từ khóa: đảm bảo, an toàn tài chính, ngân hàng thương mại, Việt Nam.

    ABSTRACT
    Ensuring financial safety in the system of commercial banks is understood as maintaining financial
    stability and health during the operation of the bank, on that basis, minimizing and limiting the risk
    of the financial system. In recent years, Vietnam has gradually improved the standards to ensure
    safety in the operation of banks according to international standards; many legal instruments to
    build a stable financial system. However, in nearly time, commercial banking system in Viet Nam
    still has existed risk, increase of bad debt… The objective of the article is to assess financial safety
    in Vietnam’s commercial banking system in the period of 2015 – 2019 by financial indicators such
    as capital adequacy ratio, credit adequacy, liquidity adequacy, income statement, thereby offering
    some solutions to enhance financial safety for Vietnam’s commercial banking system.
    Keywords: ensure, financial security, commercial banks, Vietnam.
    1. Giới thiệu
    Đảm bảo an toàn tài chính đang ngày vực rất dễ bị tổn thương do sức mạnh và kinh
    càng trở thành vấn đề sống còn đối với mỗi nghiệm không chỉ thiếu mà còn yếu hơn rất
    quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu nhiều so với các TCTD ở các nước phát triển.
    hóa và tự do hóa kinh tế – tài chính đang diễn Việt Nam đã ban hành và từng bước hoàn
    ra nhanh và mạnh như hiện nay. Đối với Việt thiện các văn bản pháp lý nhằm xây dựng
    Nam, an toàn tài chính đối với hoạt động của những nền tảng cần thiết đảm bảo an toàn
    các tổ chức tín dụng (TCTD) không phải là hoạt động ngân hàng, hướng đến một hệ
    một khái niệm hoàn toàn mới song chưa thống tài chính lành mạnh, ổn định. Mặc dù
    được nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ các tiêu chuẩn đảm bảo an toàn trong hoạt
    thống. Thêm vào đó, vấn đề an toàn tài chính động của các NHTM theo chuẩn mực quốc tế
    đối với hoạt động của các TCTD gắn bó chặt
    chẽ với những điều kiện đặc thù ở các nước
    Nguyễn Thị Minh Hương, Trường Đại học Tài
    đang phát triển, trong khi đây lại chính là khu
    chính – Kế toán
    35

  2. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    đang được từng bước hoàn thiện, hệ thống tình hình hoạt động và rủi ro của một ngân
    NHTM vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro. hàng, dựa trên 6 yếu tố cơ bản được sử dụng
    Khái niệm an toàn tài chính: để đánh giá hoạt động của một ngân hàng, đó
    là: (1) Mức độ an toàn vốn; (2) Chất lượng
    An toàn tài chính trong hệ thống NHTM
    tài sản Có; (3) Khả năng quản lý; (4) Lợi
    được hiểu là việc duy trì sự ổn định
    nhuận; (5) Rủi ro thanh khoản; (6) Mức độ
    (stability) và lành mạnh (soundness) tài chính
    nhạy cảm với rủi ro thị trường.
    trong hoạt động của ngân hàng, trên cơ sở đó,
    giảm thiểu và hạn chế được rủi ro hệ thống. – Bộ chỉ số FSIs được IFM xây dựng và
    phổ biến từ năm 1999 trong khuôn khổ của
    An toàn tài chính đối với hoạt động của
    Chương trình đánh giá tính ổn định (FSAP)
    các NHTM là việc đảm bảo sự an toàn nguồn
    của hệ thống tài chính tại các quốc gia thành
    vốn, an toàn hoạt động, trạng thái các tài sản
    viên. Bộ chỉ số này đo lường sự lành mạnh
    (tài sản nợ, tài sản có và tài sản ròng) của các tài chính của mỗi quốc gia, trong đó khu vực
    NHTM được thực hiện một cách ổn định, an NHTM được tập trung phân tích với 25 chỉ
    toàn, vững mạnh. Trong đó, an toàn hoạt động số, trong đó có 12 chỉ số cốt lõi và 13 chỉ số
    có thể xét trên khía cạnh an toàn thanh khoản khuyến khích.
    và kết quả hoạt động kinh doanh hiệu quả.
    Nghiên cứu của nhiều học giả trên thế
    Bảo đảm an toàn tài chính đối với hoạt giới đã vận dụng hệ thống CAMELS để đánh
    động của các NHTM nói chung và của một giá khu vực ngân hàng trên nhiều khía cạnh
    ngân hàng nói riêng là việc sử dụng các biện khác nhau như nghiên cứu của Morteza
    pháp giữ cho các tài sản của ngân hàng đó Soltani và cộng sự (2013), Kouser và Saba
    luôn luôn ổn định, an toàn, vững mạnh và (2012), Angelo King (2012)…
    không khủng hoảng. Trong phạm vi bài viết này, tác giả sử
    Chỉ tiêu đánh giá an toàn tài chính: dụng một số chỉ tiêu đánh giá chính bao gồm:
    Hiện nay, các nhà quản trị ngân hàng sử an toàn vốn, an toàn tín dụng/tài sản, an toàn
    dụng hệ thống CAMELS và bộ chỉ số lành thanh khoản/tiền gửi và kết quả kinh doanh.
    mạnh tài chính (Financial Soundness Phương pháp nghiên cứu:
    Indicators: FSIs) của IFM để đánh giá an Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử
    toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng. Bộ dụng là phương pháp định tính, cụ thể gồm
    chỉ số CAMELS bao quát được hầu hết các các phương pháp sau:
    chỉ số trong 12 chỉ số cốt lõi của FSIs đánh – Phương pháp thống kê: Tác giả sử dụng
    giá về khu vực ngân hàng. Bộ chỉ số FSIs số liệu thống kê thích hợp để phục vụ cho
    được sử dụng chủ yếu để đánh giá tổng thể việc đánh giá an toàn tài chính của hệ thống
    hệ thống tài chính với phạm vi đánh giá rộng; NHTM Việt Nam.
    trong khi đó, hệ thống CAMELS dùng trong
    – Phương pháp phân tích tổng hợp: Trên
    phân tích an toàn tài chính của khu vực ngân
    cơ sở phân tích từng nội dung cụ thể, tác giả
    hàng sẽ giúp kết quả đánh giá khu vực ngân
    đưa ra những đánh giá chung về an toàn vốn,
    hàng được trọng tâm hơn. Nhìn chung, về tín dụng, thanh khoản, kết quả kinh doanh.
    bản chất, các chỉ số cơ bản đánh giá về khu
    – Phương pháp so sánh, đối chiếu: Đánh
    vực ngân hàng theo hai hệ thống đánh giá
    giá an toàn vốn, tín dụng, thanh khoản, kết
    này có phần tương đồng với nhau. Cụ thể:
    quả kinh doanh tại các NHTM Việt Nam trên
    – Hệ thống đánh giá CAMELS là một cơ sở có sự so sánh đối chiếu giữa năm này
    phương pháp hoặc công cụ dùng để phân tích so với năm trước.

    36

  3. TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ – SỐ 8(01) – 2020

    2. Đánh giá an toàn tài chính của hệ thống Nhìn chung, vốn điều lệ của các TCTD
    ngân hàng thương mại Việt Nam tăng dần qua các năm: Năm 2011 ở mức
    354,1 nghìn tỷ đồng; năm 2012 là 394 nghìn
    2.1. Đánh giá an toàn vốn
    tỷ đồng; năm 2013 là 421,8 nghìn tỷ đồng;
    Quy mô vốn tự có là một trong những tiêu
    năm 2014 là 435,6 nghìn tỷ đồng; năm 2015
    chí quan trọng nhất để đánh giá mức độ an là 460,3 nghìn tỷ đồng; năm 2016 là 488,4
    toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân
    nghìn tỷ đồng; năm 2017 là 512,4 nghìn tỷ
    hàng theo thông lệ quốc tế. Tại Việt Nam, sự đồng; năm 2018 là 576,3 nghìn tỷ đồng; năm
    tăng trưởng vốn của ngân hàng luôn được sự 2019 đạt 612,288 nghìn tỷ đồng, tăng 6,2%.
    quan tâm đặc biệt của các nhà quản trị ngân
    Ngân hàng tăng vốn điều lệ nhiều nhất
    hàng trong các mục tiêu, chiến lược, kế hoạch
    trong năm 2019 là BIDV với hơn 6.000 tỷ
    thực hiện. Các tổ chức như Cơ quan thanh tra
    đồng, đưa vốn điều lệ của ngân hàng lên mức
    giám sát Ngân hàng, Ủy ban Giám sát tài
    cao nhất hệ thống, đạt hơn 40.200 tỷ đồng.
    chính quốc gia (UBGSTCQG) cũng như Bảo
    BIDV đã bán thành công 15% cổ phần cho
    hiểm tiền gửi Việt Nam luôn đưa ra nhiều cơ
    ngân hàng Hàn Quốc Keb Hana Bank. Ngân
    chế, chính sách đánh giá năng lực tài chính
    hàng tăng vốn nhiều thứ 2 là MBBank, vốn
    của ngân hàng, trong đó nhấn mạnh việc tăng
    điều lệ tăng từ 21.600 tỷ đồng lên 23.700 tỷ
    vốn tự có để đảm bảo an toàn hệ thống tài
    đồng, chủ yếu nhờ phát hành cố phiếu để
    chính. Để đáp ứng các chỉ tiêu an toàn vốn
    chia cổ tức. Các ngân hàng như
    theo thông lệ quốc tế (Basel II), Ngân hàng
    Vietcombank, SeABank, LienVietPostBank,
    Nhà nước (NHNN) đã yêu cầu các NHTM
    BacABank, NCB cũng tăng vốn điều lệ thêm
    thực hiện lộ trình tăng vốn điều lệ lên 3.000
    được từ 1.000 tỷ đồng – 1.700 tỷ đồng.
    tỷ đồng theo Nghị định 86/2019/NĐ-CP về
    quy định mức vốn pháp định của TCTD, chi
    nhánh ngân hàng nước ngoài.

    Hình 1. Vốn điều lệ của các ngân hàng đầu năm 2020
    Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
    37

  4. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    Ngoài ra, hệ số an toàn vốn (CAR) là một hàng nước ngoài phải thường xuyên duy trì
    chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu bao gồm tỷ lệ an
    vốn tự có với tài sản có điều chỉnh rủi ro của toàn vốn tối thiểu riêng lẻ và tỷ lệ an toàn
    NHTM. Hệ số CAR là thước đo quan trọng vốn tối thiểu hợp nhất ở mức 9%”.
    để đo mức độ an toàn hoạt động của ngân Trong thực tế, xét chung toàn hệ thống
    hàng, được các chuyên gia đầu ngành trong ngân hàng Việt Nam, các NHTM đều thực
    lĩnh vực ngân hàng thuộc Ủy ban Basel dày hiện đúng quy định đảm bảo an toàn vốn tối
    công xây dựng và phát triển. Đến nay, hệ số thiểu 9% theo thông tư 36. Cụ thể, hệ số an
    CAR đã được công nhận rộng rãi và có mặt toàn vốn của cả hệ thống ngân hàng năm
    trên 100 nước, trong đó có Việt Nam. 2015 là 13%; năm 2016 là 12,84%; năm
    Ðối với tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (mức 2017 là 12,66%. Theo báo cáo của
    đủ vốn tối thiểu), quy định cụ thể có liên UBGSTCQG, năm 2018, tổng tài sản của hệ
    quan đầu tiên là Quyết định 297/1999/QÐ- thống các TCTD tăng khoảng 11,5% so với
    NHNN5 quy định về các tỷ lệ đảm bảo an cuối năm 2017, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu
    toàn trong hoạt động của NHTM. Tại quy (CAR) bình quân của hệ thống đã được cải
    định này, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác thiện. Cụ thể, CAR toàn hệ thống đạt 11,1%
    định là 8% nhưng phương pháp tính đơn giản do vốn tự có tăng 12,2% trong khi tổng tài
    và chưa phản ánh chính xác tinh thần Basel I. sản có rủi ro tăng thấp hơn (khoảng 10,8%).
    Ðến năm 2005, NHNN đã ban hành Quyết Tỷ lệ vốn cấp 1/ tổng tài sản có hệ số rủi ro là
    định 457/2005/QÐ-NHNN với tỷ lệ an toàn 8,8%; tăng so với mức 7,8% năm 2017. Hệ
    vốn tối thiểu vẫn là 8% nhưng phương pháp số an toàn vốn của cả hệ thống ngân hàng
    tính toán đã tiếp cận tương đối toàn diện năm 2019 là 12,02%. (Xem hình 2)
    Basel I.
    Theo Đề án 254, các NHTM Nhà nước
    cần tăng vốn để đảm bảo mức vốn tự có theo
    tiêu chuẩn an toàn vốn của Basel II. Theo đó,
    tỷ lệ vốn tự có/ tổng tài sản quy đổi theo tỷ lệ
    rủi ro tối thiểu phải là 8%. Tuy nhiên, trước
    khi có Đề án 254, NHNN đã ban hành Thông
    tư số 13/2010/TT-NHNN, theo đó quy định
    tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu CAR phải lớn hơn Hình 2. Hệ số CAR của hệ thống NHTM Việt
    hoặc bằng 9%. Tuy nhiên, các kết quả đạt Nam giai đoạn 2015 – 2019
    được hiện được tính theo quy định của Việt Nguồn: Ngân hàng Nhà nước và Ủy ban Giám sát
    Nam vẫn còn nới lỏng nhiều so với quy định Tài chính Quốc gia
    của Basel II về cả việc xác định vốn tự có và Nhìn chung, hệ số CAR của hệ thống
    cả tài sản có rủi ro. Danh mục tài sản lớn NHTM Việt Nam đạt mức cao chứng tỏ ngân
    nhất của các TCTD Việt Nam là khoản mục hàng có mức độ rủi ro thấp, sử dụng vốn an
    tín dụng cũng chưa được phân loại theo toàn. Tuy nhiên, mặc dù quy định Công thức
    Basel II để tính mức an toàn vốn tối thiểu. tính CAR theo Thông tư 36/2014/TT-NHNN
    Ngày 20/11/2014, NHNN đã ban hành thông cũng là CAR = Vốn tự có/ Tổng tài sản có rủi
    tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, ro nhưng vẫn chưa xem xét đến rủi ro hoạt
    tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của động và rủi ro thị trường khi tính Tổng tài
    TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sản có rủi ro như Basel II. Về việc tiếp cận
    cũng quy định rõ “TCTD, chi nhánh ngân rủi ro tín dụng, Thông tư 36/2014/TTNHNN
    38

  5. TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ – SỐ 8(01) – 2020

    cũng chỉ quy định Tổng tài sản có rủi ro được dụng để đánh giá an toàn tín dụng của các
    tính theo hệ số rủi ro dựa trên đối tượng NHTM là chỉ tiêu nợ xấu trên tổng dư nợ.
    khách hàng, thời gian và hoạt động cụ thể. Trong thời gian qua NHNN đã ban hành
    Trong khi đó, Basel II quy định cụ thể việc nhiều văn bản điều chỉnh công tác xử lý nợ
    tính toán rủi ro tín dụng dựa trên cách tiếp xấu và các văn bản định hướng hoạt động các
    cận chuẩn hóa, tiếp cận dựa vào xếp hạng nội TCTD có liên quan tới công tác xử lý nợ xấu,
    bộ và cơ chế chứng khoán hóa. Chính vì vậy, tạo môi trường thuận lợi cho xử lý và hạn chế
    con số CAR công bố đến thời điểm hiện tại nợ xấu phát sinh.
    của các NHTM vẫn đảm bảo nhưng các nhà Đối với công tác xử lý nợ xấu, tính đến
    quản trị ngân hàng cũng cần hết sức lưu ý khi cuối tháng 12/2018, toàn hệ thống các TCTD
    con số này vẫn không phải ở mức cao nếu đã xử lý được 149,22 nghìn tỷ đồng nợ xấu;
    được tính lại chặt chẽ theo Basel II. Chính vì tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống TCTD là
    vậy, NHNN đã ra thông tư 41/2016/TT- 1,89%; giảm so với mức 2,46% cuối năm
    NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với 2016 và mức 1,99% cuối năm 2017. Tính từ
    NHTM, chi nhánh ngân hàng nước ngoài năm 2012 đến cuối năm 2019, toàn hệ thống
    theo phương pháp tiêu chuẩn của Basel II sẽ đã xử lý được 1.064 triệu tỷ đồng nợ xấu.
    chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày
    Trong công tác tái cơ cấu hệ thống các
    1/1/2020 nhằm hạn chế các nhược điểm
    TCTD gắn với xử lý nợ xấu, NHNN tiếp tục
    trong cách tính CAR từ năm 2019 trở về
    triển khai và giám sát chặt chẽ việc thực hiện
    trước. Theo đó, quy định tất cả ngân hàng
    cơ cấu lại các TCTD gắn với xử lý nợ xấu.
    phải có tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) ở
    Đồng thời, kiểm soát và nâng cao chất lượng
    mức 8%. Hiện tại, trong hệ thống có 18/34
    tín dụng gắn với tăng cường xử lý nợ xấu
    ngân hàng đã đáp ứng tiêu chuẩn thông tư
    theo nguyên tắc thị trường; hoàn thiện hành
    này gồm Vietcombank, VIB, OCB, ACB,
    lang pháp lý hỗ trợ xử lý nợ xấu và cơ cấu lại
    TPBank, MBBank, VPBank, Techcombank,
    các TCTD. Việc xử lý nợ xấu gắn với việc
    MSB, HDBank, Shinhan bank, Vietcapital
    triển khai các biện pháp phòng ngừa, hạn chế
    bank, SeABank, Standard Chartered Việt
    tối đa nợ xấu mới phát sinh và nâng cao chất
    Nam, VietBank, Lienvietpostbank,
    lượng tín dụng của các TCTD Việt Nam
    NamABank, BIDV.
    trong việc xử lý nợ xấu để đảm bảo duy trì tỷ
    2.2. Đánh giá an toàn tín dụng lệ nợ xấu ở mức an toàn, bền vững.
    Tín dụng là hoạt động cơ bản của ngân
    hàng, đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân
    hàng hiện nay. Tuy nhiên, rủi ro tín dụng khi
    không được kiểm soát tốt, dễ gây tổn thất về
    tài chính, giảm giá trị thị trường về vốn,
    nghiêm trọng hơn có thể làm hoạt động kinh
    doanh của ngân hàng bị thua lỗ, thậm chí là
    phá sản ngân hàng. Do đó, để giảm thiểu
    những rủi ro trên, việc tiếp cận các chuẩn
    mực quản trị rủi ro và đánh giá tín dụng theo
    Hiệp ước Basel II là xu hướng của các ngân Hình 3. Tỷ lệ nợ xấu hệ thống ngân hàng Việt
    hàng Việt Nam đang hướng tới hiện nay. Một Nam giai đoạn 2011 – 2019
    trong những tiêu chí quan trọng được sử Nguồn: Ngân hàng Nhà nước

    39

  6. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    Mặc dù tỷ lệ nợ xấu có giảm trong những cụ thể về tỷ lệ LDR. Theo quy định của
    năm gần đây, tuy nhiên, nợ xấu gia tăng thông tư 36/2014/TT-NHNN và Thông tư số
    nhanh trong giai đoạn 2011 – 2012. Năm 06/2016/TT-NHNN ngày 27/5/2016 thì giới
    2011, nợ xấu gia tăng giá trị lên đến hạn tỷ lệ cấp tín dụng/ nguồn vốn huy động
    85.000 tỷ đồng, chiếm 3,3% tổng dư nợ và được NHNN cho phép đối với các NHTM
    tiếp tục tăng lên 4,12% tổng dư nợ vào cuối cổ phần là 80% và đối với các NHTM Nhà
    năm 2012, trước khi giảm về mức 3,61% nước là 90%. Nếu tỷ lệ này quá cao cho
    vào năm 2013. Những năm sau đó, tỷ lệ nợ thấy nguy cơ rủi ro thanh khoản của ngân
    xấu liên tục giảm; năm 2014 là 3,25%; năm hàng càng lớn.
    2015 là 2,55%; năm 2016 là 2,46%; năm Theo số liệu mới nhất từ NHNN, tính đến
    2017 là 1,99%; năm 2018 là 1,89% và năm hết tháng 12/2019, tỷ lệ LDR ở nhóm NHTM
    2019 là 1,72%. Nhà nước đạt 91,89% (giảm 1,39% so với
    Như vậy, diễn biến nợ xấu của các năm 2018), LDR ở nhóm NHTM cổ phần là
    NHTM trong giai đoạn 2011 – 2019 rất phức 84,33% (giảm 0,32% so với năm 2018).
    tạp, tỷ lệ nợ xấu liên tục biến động. Do đó, Trong khi LDR ở nhóm NHTM Nhà nước đã
    các NHTM cần đánh giá chính xác thực trạng vượt 90% từ lâu thì ở nhóm NHTM cổ phần,
    nợ xấu, chủ động xử lý nợ xấu, đồng thời hạn việc vượt mức 80% mới chỉ diễn ra 3 năm
    chế nợ xấu phát sinh trong tương lai. trước (từ tháng 12/2016). Tỷ lệ LDR của các
    NHTM cao thì khả năng sinh lời của ngân
    2.3. Đánh giá an toàn thanh khoản
    hàng càng lớn, nhưng đánh đổi lại rủi ro
    Chỉ số đánh giá an toàn thanh khoản được
    thanh khoản cũng cao hơn.
    xác định bằng cách lấy tổng các khoản cho
    Bảng 1.
    vay trên tổng tiền gửi tại các TCTD (LDR).
    Tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động (%)
    Chỉ số này dùng để đánh giá các NHTM đã tháng 12/2018 và tháng 12/2019 của các TCTD
    sử dụng tiền gửi khách hàng để cung ứng tín
    STT Loại TCTD Tháng Tháng
    dụng với tỷ lệ bao nhiêu phần trăm. Thông 12/2018 12/2019
    thường, LDR càng cao thì khả năng sinh lời 1 NHTM Nhà 93,28 91,89
    của ngân hàng càng lớn, nhưng đánh đổi là nước
    rủi ro thanh khoản cũng cao hơn, bởi tín 2 NHTM cổ phần 84,65 84,33
    dụng được coi là tài sản kém linh hoạt nhất 3 Ngân hàng liên 61,98 58,05
    doanh, nước
    trong số các tài sản sinh lời của ngân hàng
    ngoài
    nhưng lại là tài sản sinh lời chính. Vì thế, khi 4 Công ty tài 286,16 283,70
    tỉ lệ LDR tăng thì tính thanh khoản của ngân chính, cho thuê
    hàng giảm đi một cách tương ứng. Trong số tài chính
    nhiều chỉ tiêu an toàn trong ngành ngân hàng 5 TCTD hợp tác 108,69 105,62
    thì tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy 6 Toàn hệ thống 88,73 87,41
    động (LDR) là một trong những chỉ tiêu quan Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
    trọng nhất. Trong nhóm NHTM Nhà nước (Agribank,
    Nhằm đảm bảo các NHTM không sử BIDV, Vietinbank, Vietcombank, ngân hàng
    dụng quá mức nguồn vốn huy động để cấp Chính sách xã hội, ngân hàng Xây dựng Việt
    tín dụng, đảm bảo yêu cầu trước và sau khi Nam, ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu,
    cấp tín dụng đều đảm bảo tỷ lệ về khả năng Oceanbank), VietinBank là ngân hàng có
    chi trả và các tỷ lệ đảm bảo an toàn khác, LDR cao nhất, tiếp nối là BIDV, Agribank.
    NHNN luôn đưa ra các quy định hướng dẫn Riêng Vietcombank, LDR của ngân hàng này

    40

  7. TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ – SỐ 8(01) – 2020

    thấp hơn hẳn. Dù vậy, Vietcombank lại là ròng (ROA) và khả năng sinh lời trên vốn
    ngân hàng đang có tỷ suất sinh lời cao vượt chủ sở hữu (ROE) để đánh giá khả năng sinh
    trội so với các ngân hàng còn lại. Nguyên lời của các NHTM sẽ giúp nhà quản lý nắm
    nhân là bởi LDR dù quan trọng nhưng cũng được thực trạng hiệu quả tài chính cũng như
    chỉ là một trong nhiều chỉ tiêu phản ánh sức năng lực tài chính, từ đó, thực hiện cơ cấu lại
    sinh lời và mức độ an toàn. Nếu chất lượng hệ thống ngân hàng một cách khoa học, tiến
    tín dụng tốt, thu nhập ngoài lãi nhiều, biên đến phát triển bền vững và duy trì khả năng
    lợi nhuận mảng tín dụng cao thì dù LDR cạnh tranh với các tổ chức tài chính quốc tế
    thấp, tỷ suất sinh lời vẫn cao; và ngược lại. trong tương lai.
    Xét trong nhóm NHTM cổ phần, dẫn đầu Các chỉ tiêu ROA, ROE thường được các
    về tỷ lệ LDR là các ngân hàng cỡ vừa và nhỏ, nhà quản trị, các nhà đầu tư sử dụng khi đánh
    cao nhất là VIB, Kienlongbank, kế đến là giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân
    TPBank, PGBank. LDR ở các NHTM cổ hàng, chúng thể hiện khả năng, thời hạn thu
    phần lớn ở mức trung bình, chẳng hạn như hồi vốn đầu tư của chủ sở hữu. Hiệu quả sử
    LDR của MB, VPBank tương đương với dụng vốn và tài sản của ngân hàng càng cao
    LienVietPostBank, VietABank, Eximbank, là cơ sở để ngân hàng tăng quy mô vốn cũng
    SHB, BacABank, VietCapital Bank. LDR như năng lực tài chính của mình.
    thấp hơn ở các NHTM cổ phần như ACB, Theo chuẩn mực đánh giá năng lực tài
    HDBank, ABBank, Techcombank hay thấp chính của Moody’s thì các chỉ tiêu khả năng
    hơn nữa như SCB, Sacombank, MSB, NCB. sinh lời được đánh giá tốt trong khung:
    Thông thường, LDR càng cao thì rủi ro ROA≥1%; ROE ≥12-15%.
    thanh khoản cũng cao hơn. Tuy vậy, cần lưu Nhìn chung, so với chuẩn mực đánh giá
    ý rằng LDR thấp không có nghĩa là ngân năng lực tài chính của Moody’s thì ROA và
    hàng an toàn, bởi tính an toàn không chỉ thể ROE tại Việt nam vẫn chưa đạt chuẩn. Trong
    hiện ở rủi ro thanh khoản mà còn các loại giai đoạn 2015 -2019 có thể thấy chỉ tiêu
    rủi ro khác như chất lượng tín dụng, rủi ro ROA của hệ thống NHTM Việt Nam có
    kỳ hạn… Chẳng hạn như trường hợp của chiều hướng tăng. Cụ thể hệ số ROA của cả
    SCB, ngân hàng này có nợ xấu thực tế (bao hệ thống đã tăng từ mức 0,46% năm 2015 lên
    gồm cả nợ xấu nội bảng, nợ xấu ngoại bảng, 0,56 % năm 2016; 0,67% vào năm 2017; tiếp
    nợ tiềm ẩn thành nợ xấu) thuộc hàng lớn tục tăng lên 0,7% vào năm 2018 và 0,82%
    nhất hệ thống ngân hàng xét về cả số tuyệt vào năm 2019.
    đối lẫn số tương đối. LDR của ngân hàng
    ROE của hệ thống NHTM năm 2016 đạt
    này thấp phần nào thể hiện khả năng sinh lời
    8,05%; năm 2017 giảm xuống 7,64% (giảm
    của ngân hàng này kém do không tối ưu
    0,41% so với năm 2016). Sang năm 2018,
    được huy động – cho vay. Trường hợp của
    chỉ số ROE tăng lên mức 9,06% và năm
    Sacombank và NCB cũng tương tự, dù tình
    2019 là 10,37%. Trong đó, năm 2018, ROE
    hình là tốt hơn SCB.
    của nhóm NHTM Nhà nước đạt 10,21%;
    2.4. Đánh giá kết quả kinh doanh NHTM cổ phần đạt 9,88%; còn nhóm ngân
    Hai chỉ số được lựa chọn để đánh giá kết hàng liên doanh nước ngoài chỉ đạt 5,7%.
    quả kinh doanh của NHTM là tỷ suất lợi Năm 2019, ROE của nhóm NHTM Nhà
    nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất nước đạt 13,46%; NHTM cổ phần đạt
    lợi nhận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE). 10,29%; còn nhóm ngân hàng liên doanh
    Việc phân tích tỷ suất lợi nhuận trên tài sản nước ngoài chỉ đạt 6,51%;

    41

  8. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    Hình 4. Tỷ lệ ROA và ROE của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2015 – 2019
    Nguồn: Ngân hàng Nhà nước
    Hạn chế cần khắc phục trong việc đảm Thứ năm, kết quả hoạt động kinh doanh
    bảo an toàn tài chính của hệ thống NHTM: của hệ thống và các nhóm NHTM Việt Nam
    Nhìn chung, qua việc đánh giá an toàn tài đã suy giảm xuống dưới ngưỡng an toàn theo
    chính của hệ thống NHTM trên các khía chuẩn mực đánh giá năng lực tài chính của
    cạnh: an toàn vốn, an toàn tín dụng, an toàn Moody’s.
    thanh khoản và an toàn kết quả kinh doanh; 3. Một vài khuyến nghị
    có thể thấy, bên cạnh những kết quả đạt
    được, hệ thống NHTM Việt Nam còn phải 3.1. Nâng cao năng lực giám sát và thực thi
    đối mặt với nhiều rủi ro, hạn chế trong việc các quy định về phân loại nợ, đảm bảo an
    đảm bảo an toàn tài chính của hệ thống như: toàn hoạt động cho toàn bộ hệ thống ngân
    hàng.
    Thứ nhất, quy mô vốn tự có thấp, năng
    Mặc dù, NHNN cũng như hệ thống
    lực chống đỡ các cú sốc tài chính từ trong và
    ngoài nước của các NHTM Việt Nam bị hạn NHTM đã có những nỗ lực, quyết tâm trong
    chế, làm tăng rủi ro hệ thống. thực hiện theo đề án “xử lý nợ xấu của hệ
    thống các TCTD” tuy nhiên quá trình thực
    Thứ hai, rủi ro nợ xấu (đặc biệt trong lĩnh
    hiện còn có nhiều khó khăn do những bất cập
    vực bất động sản và đầu tư chứng khoán)
    sau:
    tăng cao trong khi năng lực quản lý rủi ro của
    các ngân hàng còn hạn chế. Theo quyết định 780/2012/QĐ – NHNN,
    đối với các doanh nghiệp có triển vọng phục
    Thứ ba, rủi ro tiềm ẩn do sự thiếu chính
    hồi sản xuất nhưng đang gặp khó khăn về tài
    xác trong tính toán các chỉ tiêu an toàn tài
    chính, khi tiến hành gia hạn nợ, các TCTD
    chính cũng như sự chênh lệch giữa số liệu
    được phép giữ nguyên nhóm nợ của doanh
    báo cáo từ các NHTM với số liệu thực tế
    nghiệp này như đã được phân loại theo quy
    giám sát của NHNN.
    định trước khi điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia
    Thứ tư, chênh lệch về kỳ hạn giữa nguồn hạn nợ. Với quy định này một số khoản nợ
    vốn và sử dụng vốn khiến an toàn thanh đáng lẽ xếp hạng vào nợ xấu theo chuẩn mực
    khoản của các NHTM chưa được đảm bảo. phân loại nợ, thì vẫn ở nhóm nợ bình thường,
    42

  9. TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ – SỐ 8(01) – 2020

    khiến cho một số khoản nợ xấu được che để hình thành một mô hình tổ chức của hệ
    giấu một cách hợp lý. thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ theo thông
    Tuy nhiên, với thông tư 02/2013/TT – lệ tốt nhất đó là: không còn bộ phận kiểm tra,
    NHNN thì ưu đãi trong xếp hạn nợ đối với kiểm soát chuyên trách mà tập trung sức
    nhóm doanh nghiệp gặp khó khăn tạm thời mạnh cho hệ thống kiểm toán nội bộ cũng
    theo quyết định 780 sẽ không còn. Nợ của như thiết lập được hệ thống kiểm soát nội bộ
    các nhóm doanh nghiệp này sẽ được chuyển hoàn thiện.
    nhóm như các tiêu chí phân loại nợ thông – VAMC cần tiếp tục kiện toàn tổ chức,
    thường. Điều này khiến cho số nợ có thể bị hoàn thiện bộ máy và các thủ tục, chính sách,
    chuyển thành nợ xấu tăng lên (do phần lớn quy định nội bộ về các hoạt động nghiệp vụ
    doanh nghiệp vẫn đang gặp khó khăn về sản và quản trị, điều hành; nâng cao năng lực tài
    xuất kinh doanh, chưa trả được nợ). Đây sẽ là chính và tăng vốn điều lệ, tăng cường năng
    vấn đề thách thức lớn đối với NHNN trong lực định giá, đánh giá tài sản, tổ chức bán
    quá trình xử lý nợ xấu với mục tiêu đưa tỷ lệ đấu giá nợ, tài sản đảm bảo của khoản nợ đã
    nợ xấu xuống dưới 3%. mua. Tăng cường phối hợp chặt chẽ với
    Ngoài ra, việc hoàn thiện cơ sở pháp lý TCTD trong việc thu hồi nợ, cơ cấu lại nợ,
    cho xử lý nợ xấu của VAMC và nâng cao bán và xử lý nợ, tài sản bảo đảm đối với các
    năng lực giám sát, thực thi các quy định về khoản nợ xấu đã mua; hỗ trợ tài chính cho
    phân loại nợ vẫn còn là vấn đề cần quan tâm. khách hàng vay phục hồi sản xuất kinh
    Những hỗ trợ của VAMC trong xử lý nợ xấu doanh, hoàn thiện các dự án dở dang; tiếp
    vẫn chưa được như mong muốn do còn một xúc, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu
    số bất cập. tư trong nước và nước ngoài tham gia mua,
    xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm.
    Do đó, để thực hiện được mục tiêu đã đề
    ra, một số giải pháp cần thực hiện trong giai 3.2. Hoàn thiện mô hình thanh tra, giám sát
    đoạn tới là: ngân hàng.
    – Các NHTM tiếp tục thực hiện lộ trình Công tác thanh tra, giám sát ngân hàng
    tăng vốn điều lệ đặt dưới sự kiểm soát của hiện nay được thực hiện theo hướng: Cơ
    NHNN. Đồng thời, các NHTM cần nghiêm quan thanh tra, giám sát NHNN thực hiện
    chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật thanh tra, giám sát đối với hội sở chính, sở
    về an toàn hoạt động ngân hàng, cơ cấu lại giao dịch của các TCTD; chi nhánh NHNN
    nợ, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro, tỉnh, thành phố thực hiện thanh tra các chi
    triển khai các biện pháp kiểm soát nợ xấu nhánh của TCTD trên địa bàn. Mô hình này
    phát sinh mới và nâng cao chất lượng tín tạo điều kiện giám sát toàn diện cả chi nhánh
    dụng; xây dựng kế hoạch xử lý nợ xấu trong và hội sở chính của các TCTD. Tuy nhiên,
    đó có các giải pháp về sử dụng dự phòng rủi thách thức đặt ra là việc phân cấp, ủy quyền
    ro, bán nợ xấu cho VAMC. Rà soát, tiết giảm cho các NHNN chi nhánh thực hiện thanh
    các chi phí hoạt động và tập trung mọi nguồn tra, giám sát các TCTD trên địa bàn quản lý
    lực cho việc xử lý nợ xấu; kịp thời báo cáo có thể dẫn đến những khó khăn trong thanh
    NHNN tình hình, kết quả phân loại nợ, trích tra toàn diện hệ thống NHTM. Thanh tra
    lập dự phòng và xử lý nợ xấu. ngân hàng được giao thực hiện đồng thời cả
    – Đối với mỗi ngân hàng cần tăng cường hoạt động giám sát an toàn hệ thống ngân
    công tác kiểm soát và kiểm toán nội bộ hàng cũng như thanh tra chuyên ngành, điều
    NHTM. Xây dựng lộ trình càng sớm càng tốt này dẫn đến hạn chế trong việc thực thi có

    43

  10. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ – ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

    hiệu quả chính sách giám sát ngân hàng. Nên tra lồng ghép với các khóa đào tạo kỹ năng
    không phát hiện kịp thời các sai phạm dẫn mềm về giao tiếp, ứng xử là rất cần thiết.
    đến các vụ vi phạm nghiêm trọng gây thất – Không ngừng học hỏi kinh nghiệm
    thoát tài sản, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt thanh tra của các nước trên thế giới để áp
    động của ngành. dụng trong công tác thanh tra tại Việt
    Bên cạnh đó, việc thanh tra định kỳ các Nam. Thanh tra đối với hoạt động của các
    chi nhánh của TCTD mặc dù đã phần nào có NHTM cần tăng cường hợp tác quốc tế, tham
    hiệu quả nhưng còn chưa cao và chưa đảm gia các hiệp ước, thỏa thuận quốc tế về giám
    bảo được sự phù hợp với yêu cầu thanh tra, sát ngân hàng và an toàn tài chính, cụ thể:
    giám sát dựa trên cơ sở rủi ro. Do đó, vấn đề tăng cường mối quan hệ để trao đổi thông tin
    đặt ra là cơ quan thanh tra, giám sát ngân với cơ quan giám sát ngân hàng của các nước
    hàng cần khắc phục được những khó khăn có chi nhánh ngân hàng tại Việt Nam cũng
    trong việc tổ chức, chỉ đạo, điều phối hoạt như Hội sở chính của các ngân hàng mẹ;
    động thanh tra, giám sát của thanh tra chi đồng thời, tranh thủ sự hỗ trợ của các tổ chức
    nhánh. Một số vấn đề trọng tâm cần thực quốc tế trong việc trao đổi thông tin, tiếp thu
    hiện như: tư vấn về công tác thanh tra, công nghệ, đào
    – Tiếp tục hoàn thiện thể chế cho hoạt tạo nâng cao năng lực của thanh tra viên
    động thanh tra, giám sát ngân hàng. Xây trong và ngoài nước.
    dựng các mô hình phân tích định lượng, hoàn – Hiện đại hóa hệ thống thông tin thanh
    thiện hệ thống các tiêu chí đánh giá, xây tra giám sát ngân hàng, hỗ trợ tích cực cho
    dựng hệ thống thang điểm để thực hiện báo giám sát vi mô, vĩ mô, cảnh báo sớm, xếp
    cáo, xếp loại, đánh giá và kiểm soát hoạt hạng TCTD và giám sát hoạt động theo các
    động của NHTM nhằm nhận diện, cảnh báo chỉ tiêu Basel II của hệ thống TCTD. Tăng
    sớm các rủi ro có thể xảy ra. cường đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ
    – Tăng cường nguồn nhân lực và nâng cao phục vụ cho công tác thu thập dữ liệu, xử lý
    trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ thông tin thích nghi với công nghệ mới trong
    làm công tác thanh tra, đào tạo kỹ năng phân hoạt động kinh doanh ngân hàng hiện nay.
    tích, nhận định, xử lý tốt tình huống trong – Tăng cường phối hợp giữa Cơ quan
    quá trình thanh tra. Để có thể tiến hành thanh thanh tra giám sát ngân hàng và Thanh tra,
    tra cần có một đội ngũ cán bộ chất lượng am giám sát NHNN chi nhánh tỉnh, thành
    hiểu và đáp ứng các chuẩn mực trong nước phố. Việc phối hợp giữa Cơ quan Thanh tra
    và quốc tế, mỗi thành viên vừa phải có kiến giám sát ngân hàng và Thanh tra, giám sát
    thức sâu rộng trong lĩnh vực tiền tệ, tài chính, NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố là một
    ngân hàng, vừa có chuyên môn sâu trong một trong những cách thức quan trọng, hỗ trợ cho
    lĩnh vực cụ thể được phân công, có khả năng công tác thanh tra các hoạt động của NHTM.
    phân tích tình huống để có cách tiếp cận phù Nguồn thông tin từ Thanh tra, giám sát
    hợp, tìm ra nguồn gốc của vấn đề, đồng thời NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố sẽ là cơ sở
    phải có kỹ năng giao tiếp, ứng xử với đối giúp cho Cơ quan Thanh tra giám sát ngân
    tượng thanh tra. Việc tăng cường công tác hàng xây dựng được kế hoạch thanh tra hàng
    đào tạo, tập huấn, trao đổi nghiệp vụ thanh năm bám sát yêu cầu, mục đích quản lý;
    tra, kiểm tra nâng cao năng lực và kỹ năng đồng thời lựa chọn đối tượng thanh tra, nội
    cho công chức làm công tác thanh tra, kiểm dung thanh tra được chính xác, góp phần

    44

  11. TẠP CHÍ KHOA HỌC KINH TẾ – SỐ 8(01) – 2020

    tăng cường hiệu lực, hiệu quả của công tác thiện, tăng trưởng tín dụng cho dù có được
    chỉ đạo thanh tra toàn hệ thống ngân hàng. cải thiện nhưng vẫn ở mức thấp, nợ xấu vẫn
    còn cao. Do đó, triển vọng ngành ngân hàng
    3.3. Đảm bảo an ninh tài chính trong hệ
    Việt Nam vẫn chưa thể khả quan nếu vấn đề
    thống NHTM Việt Nam trong bối cảnh tự
    nợ xấu và các ngân hàng yếu kém không
    do hóa tài chính
    được giải quyết triệt để, đe dọa nghiêm trọng
    Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, việc tự do
    đến an ninh tài chính trong hệ thống NHTM
    hóa và cải cách hệ thống tài chính góp phần Việt Nam.
    làm nổi rõ những điểm yếu của hệ thống tài
    Do đó, NHNN cần tăng cường xây dựng
    chính nội địa trước những điều kiện của hệ
    văn bản quy phạm pháp luật, nâng cao hiệu
    thống tài chính quốc tế. Hệ thống ngân hàng
    quả, hiệu lực quản lý nhà nước của NHNN
    có thể phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn trong
    trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng; góp phần
    bối cảnh tự do hóa tài chính trước những yếu
    ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn hệ
    kém về mặt thể chế và năng lực của hệ thống
    thống và nâng cao chất lượng hoạt động,
    NHTM. Những yếu kém tiềm ẩn này là
    quản trị điều hành của các NHTM, tiếp tục
    nguyên nhân chính của các cuộc khủng
    đẩy mạnh triển khai quyết liệt công tác cơ
    hoảng tài chính, bên cạnh các nguyên nhân
    cấu lại các TCTD đảm bảo đạt được mục
    khác như sự thiếu lành mạnh của hệ thống
    tiêu, lộ trình đặt ra tại Đề án “Cơ cấu lại hệ
    chính sách quản lý vĩ mô, thiếu một hệ thống
    thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai
    giám sát hiệu quả và sự không tuân thủ tính
    đoạn 2016- 2020” của Thủ tướng Chính
    logic và trình tự của những cải cách tài chính.
    phủ. Đồng thời, cơ quan thanh tra giám sát
    Hệ thống NHTM Việt Nam, cùng với quá
    ngân hàng tham mưu, giúp Thống đốc
    trình hội nhập và tự do hóa, những rủi ro và
    NHNN trong việc xây dựng, ban hành theo
    thách thức đặt ra đối với an ninh hệ thống
    thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật
    NHTM ngày càng lớn. Với thực trạng hiện về tổ chức, hoạt động, an toàn hoạt động
    nay, nếu nhu cầu vốn vay vẫn chưa được cải ngân hàng.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Ngân hàng nhà nước (2013), thông tư số 02/2013/TT – NHNN.
    Ngân hàng nhà nước (2014), thông tư số 36/2014/TT-NHNN.
    Ngân hàng Nhà nước (2016), thông tư số 06/2016/TT-NHNN
    Ngân hàng Nhà nước (2016), thông tư số 41/2016/TT-NHNN
    Ngân hàng nhà nước (2019), thông tư số 22/2019/TT-NHNN
    Chính phủ (2019), Nghị định 86/2019/NĐ-CP
    Nguyễn Thị Hoài Lê (2014), Phát triển mạng an toàn tài chính quốc gia ở Việt Nam, Tạp chí
    khoa học xã hội Việt Nam số 6(79)
    Tô Ngọc Hưng (2011), Hệ thống giám sát tài chính Việt Nam, NXB Tài chính, Hà Nội, 2011.
    Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia (2017), Áp dụng Basel II trong quản trị rủi ro của các
    NHTM Việt Nam: cơ hội – thách thức và lộ trình thực hiện, Nhà xuất bản Đại học
    Kinh tế Quốc dân Hà Nội
    Website: www.sbv.gov.vn

    45

Download tài liệu Giải pháp đảm bảo an toàn tài chính trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam File Word, PDF về máy