[Download] Tải Fintech và ngân hàng – Đối tác hay đối thủ – Tải về File Word, PDF

Fintech và ngân hàng – Đối tác hay đối thủ

Fintech và ngân hàng – Đối tác hay đối thủ
Nội dung Text: Fintech và ngân hàng – Đối tác hay đối thủ

Download


Bài viết phân tích các cơ sở hình thành nên các quan hệ đối tác, hay đối thủ, giữa Fintech và ngân hàng. Các mô hình hợp tác thực tế trong và ngoài nước cũng đã được các tác giả đem ra minh họa cùng với các kịch bản khác nhau, được dự phóng bởi Ủy ban Basel, về các mối quan hệ Fintech và ngân hàng trong tương lai.

Bạn đang xem: [Download] Tải Fintech và ngân hàng – Đối tác hay đối thủ – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Fintech và ngân hàng – Đối tác hay đối thủ File Word, PDF về máy

Fintech và ngân hàng – Đối tác hay đối thủ

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Fintech và ngân hàng – Đối tác hay đối thủ

  1. FINTECH VÀ NGÂN HÀNG – ĐỐI TÁC HAY ĐỐI THỦ?

    PGS.TS. Trương Quang Thông – ThS. Phạm Khánh Duy
    – ThS. Huỳnh Lưu Đức Toàn
    Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

    Tóm tắt
    Sử dụng phương pháp nghiên cứu tại bàn (Desk Research), bài viết phân tích các cơ
    sở hình thành nên các quan hệ đối tác, hay đối thủ, giữa Fintech và ngân hàng. Các mô
    hình hợp tác thực tế trong và ngoài nước cũng đã được các tác giả đem ra minh họa cùng
    với các kịch bản khác nhau, được dự phóng bởi Ủy ban Basel, về các mối quan hệ Fintech
    và ngân hàng trong tương lai.
    Từ khóa:

    1. Tổng quan
    Theo ngữ nghĩa được chấp nhận khá rộng rãi, Fintech (Financial Technology, nghĩa
    là công nghệ tài chính) là việc ứng dụng các sáng tạo công nghệ trong việc nhận diện nhu
    cầu, hành vi khách hàng, thiết kế và cung cấp dịch vụ tài chính đa dạng nhằm thỏa mãn tốt
    nhất các tiện ích cho người tiêu dùng nhưng với chi phí rẻ hơn. Khách hàng chiến lược, đối
    tác của Fintech rất đa dạng, có thể là ngân hàng, công ty bảo hiểm, tổ chức tài chính truyền
    thống và ngay cả người tiêu dùng trực tiếp. Các chuyên gia đã từng dự báo làn sóng Fintech
    có thể sẽ quật ngã các ngân hàng họat động theo kiểu truyền thống, thậm chí cảnh báo rằng
    ngân hàng nên xem Fintech là đối thủ cạnh tranh. Thực vậy, Fintech đã dần dần phá vỡ các
    mô hình kết nối truyền thống khách hàng-ngân hàng, tạo cho khách hàng nhiều lựa chọn
    hơn cho hoạt động huy động vốn, thanh toán, ký thác, mua bán tiền tệ, sử dụng dịch vụ với
    chi phí ít tốn kém nhất. Fintech cũng xâm nhập sâu rộng vào các lĩnh vực tài trợ, thanh
    toán, quản lý tài sản và đầu tư, thu thập dữ liệu, đánh giá và xếp hạng tín dụng, cho vay,
    tiền điện tử, quản lý vốn lưu động v.v…
    Fintech đã và đang tạo ra những thay đổi vô cùng ngọan mục trên thị trường tài chính
    toàn cầu. Theo Diễn đàn Thanh toán điện tử 2017, Tại Mỹ, với đòn bẩy Fintech, khối lượng
    vay trực tuyến sẽ chạm mốc 120 tỷ USD vào cuối thập kỷ này, so với chỉ 20 tỷ USD năm
    2015. Tại châu Âu, dưới tác động của Fintech, 8 ngân hàng hàng đầu đã sa thải khoảng
    100.000 nhân viên vào đầu năm 2016. Các ngân hàng như Barclays, Credit Suisse,
    Deutsche Bank và Standard Chartered đã mất khoảng 420 tỷ USD giá trị thị trường bởi sự
    lên ngôi của Fintech.
    Hiện tại thị trường Việt Nam, cũng theo Diễn đàn Thanh toán điện tử 2017, hiện hơn
    70 công ty hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, trong đó phần lớn tập trung vào mảng
    thanh toán (chiếm gần 60% doanh thu). Có 2/3 các doanh nghiệp khởi nghiệp Fintech ở

    72 Mã số ISBN: 978-604-922-684-7

  2. Việt Nam đang cung cấp cho người tiêu dùng công cụ thanh toán trực tuyến; cung ứng giải
    pháp thanh toán kỹ thuật số POS/mPOS, chuyển tiền… Bên cạnh đó, trên thị trường
    Fintech Việt Nam còn có một số doanh nghiệp khởi nghiệp hoạt động ở những lĩnh vực
    khá gần gủi với các dịch vụ tín dụng ngân hàng truyền thống như gọi vốn cộng đồng, dịch
    vụ cho vay trực tuyến…
    Thế nhưng, cũng có những quan điểm khác, xem Fintech là cơ hội cho các ngân hàng.
    Chẳng hạn, khả năng hợp tác giữa ngân hàng và các doanh nghiệp Fintech có thể tạo giá
    trị gia tăng các dịch vụ cung cấp cho khách hàng, chẳng hạn như đưa ra các hình thức thanh
    toán mới, khả năng hợp tác khai thác và sử dụng dữ liệu do ngân hàng có sẵn mạng lưới
    khách hàng và cơ sở dữ liệu khách hàng lớn trong khi các công ty Fintech có công nghệ.
    Ủy ban Basel (2018) đã chấp nhận một định nghĩa của Ban An tòan Tài chính
    (Financial Stability Board – FSB) về Fintech, qua đó “Fintech là các sáng tạo về công nghệ
    tài chính có thể cho phép hình thành các các mô hình kinh doanh, các ứng dụng, các tiến
    trình hay sản phẩm mới có thể mang đến những tác động quan trọng cho thị trường tài
    chính, cho các thể chế và cho việc cung ứng dịch vụ tài chính”. Điểm đáng quan tâm trong
    định nghĩa trên của FSB là Fintech không những chỉ là các họat động của riêng các công
    ty Fintech, mà còn là của các các ngân hàng hiện hữu. Định nghĩa này cũng hữu ích trong
    việc phân tích các cơ sở cho các chiến lược hợp tác, hay cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
    Fintech và ngân hàng.
    2. Fintech và ngân hàng – Các cơ hội hợp tác
    Các lý do của sự hợp tác
    Lý do quan trọng đầu tiên ngân hàng cần phải áp dụng Fintech đó là vì Fintech xu thế
    công nghệ của thế giới. Chúng ta luôn biết rằng, công nghệ chính là tiền đề cho một ngành
    phát triển mạnh hơn và lan tỏa nhanh hơn. Do vậy mọi ngành đều luôn tranh thủ, chạy theo
    những bước tiến mới của công nghệ, nếu như ngân hàng không cập nhật xu thế này sẽ trở
    thành một sự tụt hậu, ảnh hưởng đến sự phát triển về lâu về dài của ngân hàng. Đặc biệt
    những năm gần đây và tương lai gần sắp tới, Blockchain được dự báo đã và đang trên đà
    trở thành xu hướng của thế giới mà đứng sau đó chính là Fintech. Do vậy việc phát triển
    cùng Fintech xem như một sự đón đầu, là lợi thế hứa hẹn cho ngân hàng. Hơn thế nữa,
    công nghệ luôn mang đến cho mỗi ngành những giá trị đáng kể, cắt giảm được nhiều chi
    phí từ lao động chân tay, giúp tăng hiệu suất công việc và mang lại giá trị lợi nhuận cao
    Fintech cũng như thế. Fintech sẽ giúp cho ngân hàng hoạt động với tiến độ nhanh hơn, giao
    dịch tốc độ hơn, an toàn hơn về giao dịch, bảo mật những thông tin cần thiết cao hơn và
    đặc biệt là chi phí thấp hơn, giảm thiểu được nhiều chi phí trung gian làm cho việc hoạt
    động của các ngân hàng trở nên hiệu quả hơn bởi vì lợi nhuận thu về là cao hơn rất nhiều
    (Bansal, 2018). Xu thế bắt tay giữa ngân hàng và công ty công nghệ. Những năm gần đây
    trào lưu khởi nghiệp lan tỏa khắp nơi, ngày càng nhiều các công ty khởi nghiệp ra đời và
    nhiều nhất là trong lĩnh vực công nghệ tài chính. Việc phát triển mạnh của các nhà cung
    cấp công nghệ thật sự là mối đe dọa cho ngành ngân hàng truyền thống bởi các công ty này
    sáng tạo ra được những cách làm mới hơn, hiệu quả, tiết kiệm và tối ưu hơn. Vì lẽ đó, việc

    Mã số ISBN: 978-604-922-684-7 73

  3. kết nối với các công ty công nghệ này sẽ giúp ích cho ngân hàng trong việc cải tiến, nâng
    cao, hoàn thiện, chất lượng sản phẩm/dịch vụ và loại được một phần đối đầu trực tiếp để
    ngân hàng và các công ty này là đối tác phát triển thay vì đối thủ cạnh tranh.
    Lý do thứ hai là để đáp ứng tốt hơn yêu cầu về dịch vụ của khách hàng. Bất kỳ một
    ngành nào, cho dù là kinh doanh hay sản xuất đều có mối quan tâm lớn nhất đó chính là
    khách hàng bởi vì khách hàng thì mới có việc tiêu thụ sản phẩm và mới có đến mục tiêu
    cuối cùng của các doanh nghiệp là doanh thu và lợi nhuận. Nhưng khách hàng thì không
    dễ phục vụ. Do thị hiếu của khách hàng rất đa dạng, khác nhau qua từng giai đoạn, luôn
    đòi hỏi chất lượng sản phẩm/dịch vụ tốt, chi phí sao cho thật tiết kiệm và điều quan trọng
    là luôn chọn những sự lựa chọn mới mẻ, xu hướng. Ngân hàng cũng giống như doanh
    nghiệp, cũng phải cần nhất là khách hàng và do khách hàng luôn cần được quan tâm nhiều
    nhất. Để phục vụ tốt cho khách hàng, đủ khả năng đáp ứng yêu cầu cao của khách hàng bắt
    buộc các ngân hàng phải luôn thay đổi, phát triển dịch vụ, cập nhật xu hướng, đưa ra những
    sự lựa chọn đúng với ý thích của khách hàng. Và xu hướng trước mắt trong lĩnh vực tài
    chính ngân hàng mà các ngân hàng cần phải cập nhật đó chính là Fintech.
    Vai trò của sự hợp tác đối với thị trường
    Với các lý do nêu trên, Fintech có thể trở thành đối tác của ngân hàng bởi vì Fintech
    có đầy đủ những thứ mà hiện tại ngân hàng cần cho sự phát triển vượt bậc và tránh khỏi
    rủi ro bị đào thải. Cơ sở của sự hợp tác này dựa trên thuyết Win-Win, đôi bên cùng có lợi.
    Fintech cho ra được dịch vụ tối ưu và hiện đại nhưng thiếu lượng khách hàng còn ngân
    hàng thừa lượng khách hàng sẵn có tuy nhiên loại hình sản phẩm/dịch vụ đã cũ và nhiều
    thiếu sót so với sự phát triển ở hiện tại và đòi hỏi, nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.
    Fintech và ngân hàng tương xứng với vai trò bù trừ cho nhau, hạn chế được điểm yếu của
    mình và tận dụng được lợi thế của đối tượng còn lại (Romānova & Kudinska, 2016).
    Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Kim Anh, Trưởng ban chỉ đạo về lĩnh
    vực công nghệ tài chính (Fintech) cho rằng sự hợp tác giữa ngân hàng và Fintech là xu thế
    trên toàn cầu, biến Fintech thành một công cụ, một cánh tay đắc lực cho ngân hàng. Ngân
    hàng cần thay đổi cách nhìn về Fintech, Fintech không phải là đối thủ và là một đối tác rất
    có lợi (SBV, 2018). Một khi Fintech và ngân hàng bắt tay sẽ tạo nên được cho thị trường
    những sản phẩm/dịch vụ tốt hơn. Cụ thể là: về phía người dùng dịch vụ họ tiết kiệm được
    thời gian, công sức nhưng kết quả vẫn có được một sản phẩm mong muốn. Họ có nhiều sự
    lựa chọn hơn, có thể cân đo, so sánh những sự lựa nào là tốt nhất với khả năng chi trả. Về
    phía nhà cung cấp dịch vụ, họ sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí trung gian nhưng không
    hề giảm khả năng sản phẩm/dịch vụ tiếp cận được khách hàng, tiết kiệm các chi phí trung
    gian giúp họ tăng thêm được lợi nhuận. Một khi kết quả công việc tốt thì công việc sẽ luôn
    được duy trì, phát triển và do đó không lý do gì mà thị trường không ngày càng sôi nối,
    phát triển và đa dạng hơn. Theo ông Trần Phương, phó Tổng giám đốc Ngân hàng BIDV
    thì “sự hợp tác, chia sẻ về ý tưởng của các Fintech sẽ mang đến nhiều lợi ích, trải nghiệm
    và tiết kiệm cho khách hàng, cắt giảm chi phí giao dịch, sự chính xác mọi lúc mọi nơi và
    đồng thời đảm bảo độ an toàn và tin cậy. Sự hợp tác này là đôi bên cùng có lợi” (Nhuệ
    Mẫn, 2017).

    74 Mã số ISBN: 978-604-922-684-7

  4. Một vài thương vụ hợp tác điển hình giữa Fintech và ngân hàng
    Lotte Card, thuộc tập đoàn Lotte Hàn Quốc, một công ty Fintech tại Hàn Quốc, vừa
    thực hiện thương vụ thâu tóm công ty Techcom Finance, công ty con của Ngân hàng
    Techcombank Việt Nam. Hiện nay công ty này đang cung cấp dịch vụ cho vay tín dụng
    mua sắm tiêu dùng cá nhân cho một triệu khách hàng tại Hàn Quốc và các dịch vụ thanh
    toán Fintech khác cho 9.000.000 người. Để hạn chế rủi ro trong dịch vụ cho vay mua sắm
    của mình, điều đầu tiên Lotte Card làm là xác định danh tính người vay. Hàn Quốc quản
    lý rất chặt đầu số di động ứng với mỗi cá nhân, nên Lotte Card sẽ yêu cầu xác nhận bằng
    việc nhập số điện thoại đã đăng ký theo tên người đó. Số lượng tài khoản đăng ký nhận
    vay sẽ không bị hạn chế, chỉ cần ngân hàng trong danh sách đăng ký đó có hợp đồng chia
    sẻ thông tin với Lotte Card. Từ dữ liệu chuyển về từ phía ngân hàng đối tác, các thông tin
    về trạng thái tài khoản, khả năng thanh toán, hạn mức cho vay của khách hàng sẽ được
    kiểm tra. Từ đó Lotte Card có thể xét duyệt nhanh chóng đăng ký cho vay của khách hàng
    (Việt Dũng, 2017).
    Một số ngân hàng Việt Nam tiên phong trong việc hợp tác với Fintech:
     Điển hình là VietinBank đã ký thỏa thuận hợp tác với Công ty Opportunity Network
    (ON) để cung cấp nền tảng cho việc kết nối doanh nghiệp là khách hàng của
    VietinBank với trên 15.000 doanh nghiệp ở 113 quốc gia là thành viên của ON, tạo
    ra cơ hội mở rộng thị trường hiệu quả cho các doanh nghiệp trong nước với các đối
    tác nước ngoài.
     Trong khi đó, MB đã phát triển ngân hàng số dựa trên sự hợp tác với đối tác chiến
    lược Viettel, hay như mô hình hợp tác giữa Vietcombank và Công ty M_Service trong
    thanh toán chuyển tiền… VIB cũng đã kết hợp với công ty Fintech Weezi cho ra mắt
    sản phẩm MyVIB Keyboard, một ứng dụng chuyển tiền qua mạng xã hội.
     Techcombank đã cùng với Công ty fintech Fastacash giới thiệu tính năng F@st
    Mobile, phương thức chuyển tiền nhanh chóng qua Facebook và Google+ (TTXVN,
    2018).
    3. Fintech – Đối thủ của ngân hàng
    Các lý lẽ xem Fintech là đối thủ của ngân hàng
    Các sản phẩm từ Fintech và các ngân hàng thương mại mang tính chất thay thế nhau
    (substitute) sẽ được xem là một trong những quan điểm quan trọng trong việc đánh giá mối
    quan hệ này chính là cạnh tranh và là đối thủ trực tiếp. Theo quan điểm của Michael Porter
    về mô hình năm áp lực cạnh tranh cho rằng áp lực kinh doanh của các nhóm đối tượng
    ngân hàng chính là sản phẩm thay thế. Trong bài nghiên cứu này, sản phẩm thay thế cho
    ngân hàng chính là những dịch vụ từ công ty Fintech.
    Theo nghiên cứu của Anagnostopoulos (2018) cho rằng những nghiệp vụ giữa các
    công ty Fintech gắn liền với khách hàng cuối cùng sử dụng sản phẩm, vậy những định chế
    tài chính này sẽ đối xử với các định chế khác như là đối thủ cạnh tranh hơn là coi họ như

    Mã số ISBN: 978-604-922-684-7 75

  5. đối tác. Fernández De Lis, S. (2016) cho rằng các hệ sinh thái Fintech không còn quá nhỏ
    bé để bỏ qua nữa, sự lớn mạnh của các định chế Fintech đã khiến cho ngân hàng và cả
    những nhà làm chính sách cũng phải dè chừng về quy mô. Rõ ràng, những người dùng cuối
    (end-users) khi nhận thấy sử dụng các dịch vụ của những công ty Fintech này mang lại giá
    trị thuận tiện và góp phần thỏa mãn nhu cầu cụ thể khách hàng, sẽ có khuynh hướng chuyển
    sang sử dụng các dịch vụ từ công ty Fintech.
    Theo cách tiếp cận của Huertas (2016) việc huy động vốn giữa ngân hàng và các công
    ty Fintech đang có sự phân hóa ưa thích rõ ràng. Sự cạnh tranh trong thị trường tiền gửi
    huy động vốn truyền thống đã bị thu hẹp lại trong khu vực ngân hàng; ngoài ra, tầm quan
    trọng trong định hướng giá trị hoạt động cũng suy giảm kèm theo chất lượng dịch vụ như
    là tính cá nhân hóa, tính tiện dụng và sự dễ dàng truy cập. Ngược lại, các công ty Fintech
    lại tập trung vào việc thu hút khách hàng từ các nền tảng công nghệ hiện đại, dễ nhìn, mỹ
    thuật thiết kế đẹp và có thể được cá nhân hóa tối đa với người dùng. Ngoài ra, một ví dụ
    khác có thể kể đến như, một công ty có tên là Payment Services Directive (PSD2) ở Châu
    Âu đã cho phép được quyền đối với bên thứ ba sử dụng công nghệ APIs 6 để kết nối với
    các chủ cửa hàng hoặc ngân hàng để cho phép thanh toán, chuyển giao thông tin dữ liệu từ
    các ứng dụng được tao ra bởi các công ty Fintech. Đây chính là những phần đổi mới và cập
    nhật trong việc huy động vốn và thanh toán khiến cho Fintech đang dần chiếm lĩnh được
    các khách hàng trước đây là của các ngân hàng.
    Các nghiên cứu của Bunea, Sinziana và các cộng sự (2016) với dữ liệu 14 ngân hàng
    thương mại tại Mỹ cũng đã cho thấy sự lớn mạnh của các công ty Fintech chính là mối đe
    dọa với chính hoạt động của các ngân hàng. Bên cạnh đó, các tác giả này chỉ ra rằng, các
    công ty Fintech thường có khuynh hướng cạnh tranh với những ngân hàng có cùng quy mô
    hoạt động hoặc các không gian của những công ty Fintech này chính là mối đe dọa với các
    ngân hàng. Bởi vì, các khách hàng sẽ có nhiều sự lựa chọn trong quyết định sử dụng các
    dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình.
    Nghiên cứu của Romānova, I., & Kudinska, M. (2016) đã đề cập đến những chuyên
    gia trong ngành tài chính ở Châu Âu và nhận thấy được nguy cơ đe dọa từ những chủ thể
    tiềm năng mới gia nhập thị trường (các công ty Fintech) ở cụ thể lĩnh vực thanh toán (lĩnh
    vực mà ngân hàng trước đây thống lĩnh) (95% người phản hồi rằng dường như khá chắc
    chắn với tình huống này), với sản phẩm tiết kiệm đơn giản (78% phản hồi), tài khoản vãng
    lai (64% phản hồi) và tín dụng tiêu dùng (54% phản hồi đồng ý). Trong nghiên cứu của
    mình, các tác giả cũng đồng ý rằng có hai mảng mà Fintech với các ngân hàng dường như
    tránh xa sự cạnh tranh của mình chính là sản phẩm tiết kiệm cấu trúc phân tầng (structured
    savings products) và các khoản vay mua nhà thông thường (home loan business). Các kết
    quả của nghiên cứu nói trên cũng đề cập đến vấn đề đối thủ cạnh tranh giữa các công ty
    Fintech và ngành ngân hàng. Cụ thể, các ngân hàng không muốn hợp tác với các công ty

    5
    Một giao diện lập trình ứng dụng (tiếng Anh Application Programming Interface, viết tắt API) là một giao diện mà
    một hệ thống máy tính hay ứng dụng cung cấp để cho phép các yêu cầu dịch vụ có thể được tạo ra từ các chương trình
    máy tính khác, và/hoặc cho phép dữ liệu có thể được trao đổi qua lại giữa chúng.

    76 Mã số ISBN: 978-604-922-684-7

  6. Fintech trong lĩnh vực khởi nghiệp và vườn ươm (43% các ngân hàng được tham gia khảo
    sát đã trả lời) trong khu vực Châu Âu. Các ngân hàng cũng dè chừng trong việc thành lập
    các quỹ đầu tư mạo hiểm để đầu tư cho các công ty Fintech (20% đồng ý với quan điểm
    này) vì họ xem các công ty Fintech là đối thủ cạnh tranh.
    Thực trạng Việt Nam
    Hiện tại, tại thị trường Việt Nam, khách quan mà nhìn nhận thì các ngân hàng có thể
    thực hiện các thế mạnh vốn dĩ là lợi thế cạnh tranh riêng có của mình so với các công ty
    Fintech. Đây chính là giá trị để các ngân hàng thương mại nắm được điểm mạnh của mình
    trong việc cạnh tranh và đánh bật các đối tượng mà họ cho là đối thủ. Thế mạnh của các
    ngân hàng mà các công ty Fintech chưa gia nhập được có thể được biết đến như những
    mảng vay thế chấp tài sản hình thành trong tương lai, hoặc các khoản vay mua nhà thế chấp
    – cái mang lại dòng tiền vào cho các ngân hàng. Trong khi các công ty Fintech hướng đến
    tạo ra giá trị cạnh tranh trong thanh toán tiện dụng và cá nhân hóa cho khách hàng (đáp
    ứng các nhu cầu riêng của từng cá nhân, ví dụ như thiết lập kênh thanh toán thông qua
    mạng điện tử hoặc ví điện tử…). Tại Việt Nam, các công ty Fintech đa phần cung cấp dịch
    vụ thanh toán và rất nhiều người nhìn nhận rằng đây là sự cạnh tranh rõ ràng giữa các chủ
    thể này với thị trường ngân hàng. Ngoài ra, lĩnh vực Fintech tại Việt Nam cũng đang là
    một mảng hoạt động tương đối mới mẻ, do vậy cũng không ít ngân hàng không muốn bắt
    tay hợp tác để đảm bảo tính bảo mật hệ thống do sợ tiết lộ thông tin khách hàng.
    Nhìn chung, giữa các công ty Fintech và các ngân hàng thương mại đều có mối đe
    dọa tương tác lẫn nhau như các đối thủ cạnh tranh. Những chủ thể Fintech có thể tạo ra
    những rủi ro thêm cho ngành ngân hàng vốn dĩ đã cạnh tranh khốc liệt và có nhiều nguy
    cơ như: mất thị phần do có đối thủ cạnh tranh mới tham gia vào thị trường, có thêm áp lực
    lên các lợi nhuận biên dẫn đến việc giảm lợi nhuận, gia tăng rủi ro vận hành và những rủi
    ro về gian lận, sai sót trong quá trình vận hành và đặc biệt chính là sự lớn mạnh của các
    công ty Fintech sẽ dẫn đến các ngân hàng thương mại sẽ ngày càng xem trọng phát triển
    hơn các giải pháp dịch vụ công nghệ. Do vậy, các ngân hàng thương mại sẽ xem những
    công ty Fintech này như đối thủ cạnh tranh của họ và dường như có rất ít sự hợp tác để tạo
    ra những mảng sản phẩm và dịch vụ vượt trội dành cho khách hàng.
    Ngoài ra, trong tháng 9 năm 2018, một trong những ứng dụng tích hợp giữa nhiều
    bên về ngân hàng, thanh toán điện tử và những ứng dụng nền tảng công nghệ được nhắc
    đến nhiều nhất chính là sự tiên phong trong việc sử dụng dịch vụ thanh toán – ví điện tử –
    hãng vận tải Grab. Trước đây, hãng vận tải Grab sử dụng trực tiếp hình thức nộp tiền từ
    ngân hàng vào ứng dụng thanh toán, tuy nhiên, vì chức năng hoạt động của Grab là vận tải
    chứ không phải thanh toán. Điều nay không phù hợp khi chức năng của Grab là vận tải. Do
    vậy, Grab liên kết 3 đối tác là ngân hàng – ví điện tử Moca và hãng vận tải để khuyến khích
    người dùng sử dụng cổng ví điện tử như chức năng thanh toán. Trong trưởng hợp này, đây
    vừa là hợp tác, khi khách hàng sử dụng chức năng trao đổi tiền tệ của ngân hàng để nạp
    tiền vào ví điện tử. Tuy nhiên, để thanh toán và sử dụng hàng hóa cuối cùng thì lại dùng ví
    điện tử để thực hiện thanh toán. Do đó, đây chính là một điển hình giữa fintech và ngân
    hàng vừa là đối thủ và vừa là hợp tác. (Grab, 2018)

    Mã số ISBN: 978-604-922-684-7 77

  7. 4. Thay cho lời kết: các kịch bản dự báo của Ủy ban Basel
    Ủy ban Basel (2018) đã dự phóng các kịch bản khác nhau xung quanh các quan hệ
    tương tác giữa Fintech và ngân hàng, qua đó, các kịch bản ngân hàng phân tán (Distributed
    Bank) ivà ngân hàng nhượng bộ (Relegated Bank) iicó thể được xem như các cơ hội hợp
    tác win-win giữa Fintech và ngân hàng. Trong khi đó, kịch bản ngân hàng tốt hơn (Better
    Bank) iiivà ngân hàng mới (New Bank) ivlại nhấn mạnh yếu tố tự lực trong các giải pháp
    công nghệ của chính ngân hàng nhằm cạnh tranh với làn sóng Fintech. Một kịch bản cuối
    cùng là kịch bản ngân hàng phi trung gian hóa (Disintermediated Bank) v, có thể xem là
    kịch bản xấu nhất cho ngành ngân hàng: ngân hàng gần như hòan tòan biến mất nhường
    chỗ cho các doanh nghiệp Fintech và cả Bigtechvi. Các ẩn số tạo nên các kịch bản khác
    nhau như trên có thể bao gồm sự phát triển của công nghệ nói chung, chiến lược phát triển
    công nghệ của ngân hàng, môi trường pháp lý, các vấn đề thể chế và cuối cùng là những
    sự phát triển và thay đổi nhu cầu và hành vi người tiêu dùng được đánh giá là rất nhanh
    chóng và khó mà cưỡng lại được trong kỹ nguyên kỹ thuật số hiện nay.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Anagnostopoulos (2018), Fintech and Regtech: Impact on Regulators and Banks.
    Journal of Economics and Business. https://doi.org/10.1016/j.jeconbus.2018.07.003
    2. Ankur Bansal. (2018), Banking and Fintech: What is the Right Fit?
    3. Bunea, Sinziana & Kogan, Benjamin & Stolin, David (2016), Banks Versus
    FinTech: At Last, it’s Official. Journal of Financial Transformation, Capco
    Institute, vol. 44, pages 122-131.
    4. Basel Committee on Banking Supervision (2018), Implication of Fintech
    development for banks and bank supervisors. Bank For International Settlement.
    www.bis.org
    5. Fernández De Lis, S. (2016), RegTech, the new magic word in FinTech, Banking
    Outlook, BBVA. https://www.bbvaresearch.com/wp-
    content/uploads/2016/03/Banking-Outlook-Q116_Cap6.pdf
    6. https://www.isg-one.com/industries/financial-services/articles/banking-and-fintech-
    what-is-the-right-fit
    7. Huertas, T. (2016), Six Structures in Search of Stability, in Banking Reform, edited
    by Patricia Jackson, UERF Conference Proceedings. Da bo mot so tai lieu tham khao
    8. Hai Van (2017), Bank – Fintech: Competition or cooperation?
    http://soha.vn/ngan-hang-fintech-canh-tranh-hay-hop-tac-
    20171111210308273.htm;
    9. MBank. (2017), Xu hướng hợp tác giữa ngân hàng và fintech trong cuộc cách mạng
    công nghiệp lần thứ 4. http://smartindustry.vn/pdf/2017/s2/7_MBBank.pdf

    78 Mã số ISBN: 978-604-922-684-7

  8. 10. Nhuệ Mẫn (2017), FinTech: rival or partner of Vietnamese bank?
    https://tinnhanhchungkhoan.vn/tien-te/fintech-doi-thu-hay-doi-tac-cua-ngan-hang-
    viet-188402.html
    11. Phương Linh (2018), Hợp tác Fintech – Xu hướng phát triển tất yếu của ngân hàng
    hiện đại. https://www.sbv.gov.vn
    12. Romānova, I., & Kudinska, M. (2016), Banking and Fintech: A Challenge or
    Opportunity? Contemporary Studies in Economic and Financial Analysis, 21–
    35. doi:10.1108/s1569-375920160000098002.
    13. Romānova, I., & Kudinska, M. (2016), Banking and Fintech: A Challenge or
    Opportunity? Contemporary Studies in Economic and Financial Analysis, 21–35.
    14. Rachel Wolfson (2017), 3 Reasons Banks Are Collaborating With Fintech
    Startups. https://m.huffpost.com/us/entry/us_5908dc65e4b05279d4edc078/amp
    15. SBV (2018), Thúc đẩy công nghệ Fintech và công nghệ thông tin trong thời đại
    chuyển đổi số. Hội thảo triển lãm Công nghệ thông tin Hàn Quốc 2018 (Korea ICT
    Day 2018). Ngày 31/10/2018
    16. Thùy Dung (2017), Fintech is a partner rather than a bank rival.
    https://www.thesaigontimes.vn/166515/fintech-la-doi-tac-chu-khong-phai-doi-thu-
    cua-ngan-hang.html
    17. TTXVN (2018), Ngân hàng “bắt tay” fintech: Đưa lợi ích đến với khách hàng.
    18. Việt Dũng (2017), Ngân hàng và Fintech – Làm sao để cùng phát triển?
    http://enternews.vn/ngan-hang-va-fintech-lam-sao-de-cung-phat-trien-
    121569.html.

    i
    Trong kịch bản này thì các ngân hàng và các công ty fintech hoạt động như các liên doanh, đối tác hoặc các cấu trúc
    khác, nơi phân phối các dịch vụ được chia sẻ giữa các bên. Để giữ chân khách hàng, những kỳ vọng về tính minh bạch
    và chất lượng đã tăng lên, các ngân hàng cũng thích hợp hơn để cung cấp các sản phẩm và dịch vụ từ các nhà cung
    cấp bên thứ ba. Người tiêu dùng có thể sử dụng nhiều nhà cung cấp dịch vụ tài chính thay vì còn lại với một đối tác
    tài chính duy nhất.
    Trong kịch bản này thì dữ liệu lớn, điện toán đám mây và AI được khai thác hoàn toàn thông qua các cấu hình khác
    ii

    nhau bởi nền tảng front-end giúp việc sử dụng kết nối và dữ liệu sáng tạo và rộng rãi để cải thiện trải nghiệm của
    khách hàng. Các nhà khai thác của các nền tảng như vậy có nhiều phạm vi hơn để cạnh tranh trực tiếp với các ngân
    hàng để sở hữu mối quan hệ khách hàng. Ở nhiều khu vực pháp lý, người tiêu dùng ngày càng trở nên thoải mái với
    những người tổng hợp như giao diện khách hàng. Các relegated bank để trở thành nhà cung cấp các chức năng hàng
    hóa như các quy trình hoạt động và quản lý rủi ro, như các nhà cung cấp dịch vụ cho các nền tảng quản lý các mối
    quan hệ khách hàng.
    Ngay cả trong kịch bản ngân hàng tốt hơn, có khả năng là sự cạnh tranh gay gắt giữa các người chơi đương nhiệm
    iii

    để chọn chiến lược chiến thắng và thời điểm thích hợp để tiếp thị. Thật vậy, các ngân hàng đương nhiệm, mà vẫn
    mang công nghệ và cơ sở di sản, có khả năng đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ môi trường cũ sang nền tảng kỹ thuật
    số mới. Môi trường số hoá mới có thể mang rủi ro an ninh mạng ở các dạng khác nhau của nó. Kịch bản này cũng nêu
    lên các vấn đề về khả năng giám sát hiệu quả các công nghệ và sản phẩm mới của cơ quan giám sát.
    iv
    Quy mô và quy mô của nhiều ngân hàng đương nhiệm có thể gây khó khăn cho việc hiện đại hóa và số hóa các quy
    trình hiện tại một cách hiệu quả để đạt được các hoạt động hiệu quả về chi phí cũng như cung cấp các sản phẩm sáng
    tạo cho khách hàng trong một khoảng thời gian có thể chấp nhận được. Nếu các ngân hàng mới đạt được quy mô đáng
    kể, sự kết hợp của việc rút tiền của khách hàng với các ngân hàng thách thức, lợi nhuận thấp hơn trên doanh thu giảm,

    Mã số ISBN: 978-604-922-684-7 79

  9. và các nhà đầu tư chuyển tiền sang các ngân hàng có lợi nhuận cao hơn có thể tăng các vấn đề an toàn và âm thanh
    cho các ngân hàng đương nhiệm.
    v
    Các quy trình quản lý rủi ro của bên thứ ba hiệu quả sẽ là điều cần thiết cho các ngân hàng. Từ quan điểm ổn định
    tài chính, kịch bản ngân hàng phân phối có thể làm giảm vấn đề “quá lớn để thất bại”, vì sự cạnh tranh gia tăng và
    việc chia sẻ chuỗi giá trị có thể dẫn đến một ngành ngân hàng bị phân mảnh hơn. Mặt khác, kịch bản ngân hàng phân
    phối có liên quan đến sự liên kết giữa các tổ chức tài chính và sự giải trình của trách nhiệm giải trình.
    vi
    Bigtech đề cập đến các công ty công nghệ hoạt động lớn trên toàn cầu với lợi thế tương đối trong công nghệ kỹ thuật
    số. Cũng giống như các công ty fintech, các công ty bigtech thường có một hoạt động tự động hóa cao và một quy
    trình phát triển phần mềm nhanh nhẹn, giúp họ nhanh chóng thích nghi nhanh chóng với các hệ thống và dịch vụ của
    họ với nhu cầu của người dùng. Các công ty Bigtech thường thiết lập các hoạt động toàn cầu và một cơ sở khách hàng
    lớn. Các công ty này có thể nhanh chóng giành được thị phần toàn cầu đáng kể khi tung ra một sản phẩm hoặc dịch
    vụ tài chính mới. Với quy mô hoạt động và khả năng đầu tư của mình, bigtech cũng có thể ảnh hưởng đến thị trường.
    Nhiều ngân hàng, tổ chức tài chính và các công ty fintech đang hợp tác với các công ty bigtech, sau đó trở thành các
    nhà cung cấp bên thứ ba có liên quan trong hệ thống tài chính. Các công ty Bigtech được công nhận ngày nay là
    Google, Amazon, Facebook và Apple (GAFA), Baidu, Alibaba và Tencent (BAT), ngoài ra thì Microsoft và IBM
    cũng là những tập đoàn có liên quan tới Bigtech.

    80 Mã số ISBN: 978-604-922-684-7

Download tài liệu Fintech và ngân hàng – Đối tác hay đối thủ File Word, PDF về máy