[Download] Tải Định vị hệ thống tài chính xanh trong nền kinh tế xanh – Kinh nghiệm Quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam – Tải về File Word, PDF

Định vị hệ thống tài chính xanh trong nền kinh tế xanh – Kinh nghiệm Quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Định vị hệ thống tài chính xanh trong nền kinh tế xanh – Kinh nghiệm Quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Nội dung Text: Định vị hệ thống tài chính xanh trong nền kinh tế xanh – Kinh nghiệm Quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Download


Bài viết đề xuất xây dựng bộ chỉ số giúp định vị hệ thống tài chính xanh, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị tới các chủ thể tham gia vào hệ thống tài chính xanh nhằm hiện thực hóa mục tiêu trong dài hạn. Mời các bạn cùng tham khảo!

Bạn đang xem: [Download] Tải Định vị hệ thống tài chính xanh trong nền kinh tế xanh – Kinh nghiệm Quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Định vị hệ thống tài chính xanh trong nền kinh tế xanh – Kinh nghiệm Quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam File Word, PDF về máy

Định vị hệ thống tài chính xanh trong nền kinh tế xanh – Kinh nghiệm Quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Định vị hệ thống tài chính xanh trong nền kinh tế xanh – Kinh nghiệm Quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

  1. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    44.

    1

    Trần Thị Thanh Tú*
    Lê Hồng Hạnh**
    Nguyễn Thị Minh Huệ***
    Nguyễn Thị Hồng Thúy**
    Tóm tắt
    Để hướng tới hệ sinh thái kinh tế xanh, hệ thống tài chính xanh sẽ đóng vai trò quan trọng
    khi đảm nhiệm vai trò là kênh dẫn và điều tiết vốn. Nghiên cứu này tập trung vào việc
    tổng quan vai trò của hệ thống tài chính xanh, từ đó định vị hệ thống tài chính xanh trong
    nền kinh tế xanh trên thế giới và ở Việt Nam. Nhóm nghiên cứu cũng thực hiện đánh giá
    thực trạng phát triển hệ thống xanh ở Việt Nam hiện nay, qua đó, đề xuất xây dựng bộ
    chỉ số giúp định vị hệ thống tài chính xanh, đồng thời đưa ra một số khuyến nghị tới các
    chủ thể tham gia vào hệ thống tài chính xanh nhằm hiện thực hóa mục tiêu trong dài hạn.
    Từ khóa: Tài chính xanh, kinh tế xanh, chỉ số xanh.

    1. Giới thiệu chung
    Từng là một quốc gia “xanh” trong thế kỷ 20, song với sự tăng trưởng kinh tế xã hội trong
    vài năm trở lại đây, Việt Nam đã đứng đầu tại Đông Nam Á về lượng khí nhà kính phát
    thải2. Quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam thời gian qua dựa nhiều vào khai thác tài
    nguyên, xuất khẩu nguyên liệu thô và sơ chế gây thiệt hại cho môi trường và gia tăng tác
    động của biến đổi khí hậu. Theo báo cáo của UNEP (2013) thì Việt Nam có mức độ sử

    * Trường Đại học Việt Nhật, Đại học Quốc gia Hà Nội| Email liên hệ: tuttt76@gmail.com
    ** Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
    *** Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
    2
    Theo Báo cáo kỹ thuật kiểm kê quốc gia khí nhà kính của Việt Nam năm 2014 (Bộ Tài nguyên và Môi
    trường năm 2018)

    613

  2. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    dụng nguyên liệu thô trong nước (than, dầu, thép) để sản xuất ra một đơn vị GDP vào loại
    cao nhất thế giới. Trong khi thế giới ngày càng ít sử dụng nguyên liệu thô để tạo ra một
    đơn vị GDP thì Việt Nam lại gia tăng tỷ lệ này. Nếu như năm 1990, Việt Nam sử dụng
    khoảng hơn 8kg nguyên liệu thô để tạo ra 1 USD GDP thì con số này đến năm 2008 là
    khoảng 13kg, trong khi con số tương ứng để tạo ra 1 USD GDP trung bình của thế giới
    năm 1990 là 1,8kg tới năm 2008 chỉ còn khoảng 1,5kg.
    Có thể thấy, trái ngược với nền kinh tế xanh – nền kinh tế đảm bảo 3 yếu tố: tăng trưởng
    kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, thì mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam
    hiện nay vẫn đang ở trạng thái “nâu”, tức là nền kinh tế tập trung khai thác và sử dụng quá
    nhiều năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch gây ảnh hưởng đến môi trường. Cũng như nhiều
    nước trên Thế giới, Việt Nam đang nỗ lực trong quá trình “thay máu” từ “nâu” sang “xanh”
    với rất nhiều chương trình và hành động. Tuy nhiên, để thực sự đổi màu một nền kinh tế từ
    “nâu” sang “xanh” là một vấn đề hết sức khó khăn, cần sự chung tay, đồng lòng của tất cả
    mọi người. Việc xây dựng một nền kinh tế xanh cũng đòi hỏi một nguồn lực tài chính rất lớn,
    thậm chí phải đánh đổi nhiều điều nhất là với một quốc gia còn nghèo như Việt Nam. Ngay
    cả với những quốc gia phát triển như Mỹ và các nước châu Âu, việc thực hiện chiến lược
    tăng trưởng xanh cũng không hề đơn giản. Để xây dựng một nền kinh tế xanh cũng cần phải
    có một nguồn lực và nền tảng kinh tế vững chắc.
    “Kinh tế xanh” (hay “kinh tế sạch”) là nền kinh tế nâng cao đời sống của con người
    và cải thiện công bằng xã hội, đồng thời giảm thiểu đáng kể những rủi ro môi trường và
    những thiếu hụt sinh thái3. Hiểu một cách đơn giản, nền kinh tế xanh có mức phát thải
    thấp, sử dụng hiệu quả tài nguyên và hướng tới công bằng xã hội. Chiến lược tăng trưởng
    cơ bản của nền “kinh tế xanh” là bảo vệ môi trường, phát triển công nghệ sản xuất sạch
    và năng lượng sạch, nhanh chóng đạt được mức tăng trưởng bền vững hay nói cách khác
    là tăng trưởng xanh. Phát triển nền kinh tế xanh là mục tiêu của mọi quốc gia hiện nay,
    trong đó xây dựng “hệ thống tài chính xanh” là điều kiện nền tảng. Thực tế, theo nghiên
    cứu của Nannette (2014) thì chưa có khái niệm cụ thể về tài chính xanh và tài chính xanh
    vẫn đang được hiểu theo các cách tiếp cận khác nhau. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này,
    nhóm tác giả sẽ sử dụng khái niệm về hệ thống tài chính xanh theo nhóm nghiên cứu đề
    tài cấp nhà nước (KX01.27/16-20). Theo đó, hệ thống tài chính xanh được hiểu là: “Hệ
    thống tài chính cho phép luân chuyển nguồn tài chính tới các hoạt động đầu tư thông qua
    các trung gian tài chính và thị trường tài chính trong đó các hoạt động đầu tư phải đảm
    bảo các điều kiện xanh, bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển bền vững. Khi đó, các

    3
    Chương trình Môi trường Liên Hợp quốc (UNEP, 2011)

    614

  3. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    bộ phận cấu thành của hệ thống tài chính xanh sẽ mang đặc điểm xanh, bao gồm: trung
    gian tài chính xanh, thị trường tài chính xanh, công cụ huy động vốn xanh hay nguồn vốn
    xanh, và đầu tư xanh ”.
    Hệ thống tài chính xanh đóng vai trò là kênh dẫn vốn và điều tiết nguồn lực cho phát
    triển nền kinh tế xanh (điều tiết hoạt động đầu tư). Hệ thống tài chính xanh thúc đẩy
    các công cụ xanh như tín dụng xanh của ngân hàng xanh, trái phiếu xanh, cổ phiếu xanh,
    chỉ số tài chính xanh. Bên cạnh đó, hệ thống tài chính xanh còn giúp thúc đẩy các loại
    thị trường xanh.
    Xuất phát từ vai trò cốt yếu của hệ thống tài chính xanh đóng góp vào kinh tế xanh,
    kết quả nghiên cứu kinh nghiệm từ các Quốc gia và vùng lãnh thổ như Mỹ, Anh, Châu
    Âu, Nam Phi, Hàn Quốc và Trung Quốc cho thấy việc xanh hóa hệ thống tài chính được
    nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm nhằm khắc phục và hạn chế những tác động tiêu
    cực của phát triển kinh tế tới môi trường, cải thiện môi trường thông qua xanh hóa nền
    kinh tế. Những kết quả nghiên cứu bước đầu là cơ sở khoa học quan trọng cho việc đưa
    ra mô hình phát triển tài chính xanh phù hợp với điều kiện của mỗi quốc gia. Mặc dù đây
    là một lĩnh vực khá mới, song nhận thấy được vai trò quan trọng của phát triển hệ tống
    tài chính xanh, Việt Nam bước đầu hướng tới sự phát triển của hệ thống tài chính xanh
    nhằm hướng tới sự phát triển bền vững. Tuy nhiên, cho tới nay các chính sách về tài chính
    xanh tại Việt Nam mới đang ở dạng gợi mở về các định hướng phát triển. Các quy định
    cụ thể về triển khai, vận hành thị trường vẫn đang được nghiên cứu, chưa được ban hành,
    trong đó có việc xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ xanh hóa của hệ thống tài chính.
    Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá thực trạng phát triển hệ thống xanh ở Việt
    Nam hiện nay, qua đó, đề xuất xây dựng bộ chỉ số giúp định vị hệ thống tài chính xanh,
    đồng thời đưa ra một số khuyến nghị tới các chủ thể tham gia vào hệ thống tài chính xanh
    nhằm hiện thực hóa mục tiêu trong dài hạn. Việc đóng góp xây dựng bộ chỉ số đánh giá
    mức độ xanh hóa của hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói chung sẽ đóng góp
    lớn về khoa học lí luận và học thuật cho các nghiên cứu về kinh tế và tài chính ở Việt
    Nam cũng như thế giới.
    2. Đánh giá thực trạng phát triển hệ thống tài chính xanh ở Việt Nam
    Trước nhu cầu thúc đẩy tăng trưởng xanh của Việt Nam, nhu cầu vốn phục vụ cho mục
    tiêu này là rất lớn. Theo Báo cáo Đóng góp dự kiến do quốc gia tự quyết định – INDC

    615

  4. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Việt Nam4, Việt Nam cần khoảng 20 tỷ USD để đầu tư cho tăng trưởng xanh trong giai
    đoạn 2021-2030. Chính vì vậy, Chính phủ Việt Nam đã có những hành động cụ thể trong
    việc thiết lập chính sách phát triển tài chính xanh tại Việt Nam. Trong đó, đã có một số
    chính sách phát triển thị trường vốn xanh được ban hành. Về mặt phát triển ngân hàng
    xanh, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã hoàn thiện Kế hoạch hành động của ngành ngân
    hàng (Quyết định số 1552/QĐ-NHNN ngày 6/8/2015), Đề án phát triển ngân hàng xanh
    (Quyết định số 1604/QĐ-NHNN) và đưa ra các chương trình tín dụng góp phần sử dụng
    tài nguyên hiệu quả, tạo sinh kế và nâng cao mức sống của người dân, giải quyết từng
    bước các vấn đề môi trường và xã hội; ưu tiên phát triển một số ngành, lĩnh vực theo
    hướng đầu tư theo chiều sâu, sử dụng công nghệ cao…
    Thực trạng phát triển hệ thống tài chính xanh tại Việt Nam được xem xét đánh giá trên
    hai góc độ: (i) Nguồn vốn xanh và (ii) Đầu tư xanh.
    Đối với nguồn vốn xanh, các doanh nghiệp Việt Nam có thể vay vốn thông qua kênh
    tài chính trực tiếp gồm: Thị trường Carbon, Thị trường trái phiếu xanh, Thị trường Cổ
    phiếu xanh, Hệ thống chỉ số xếp hạng xanh, Mạng lưới nhà đầu tư xanh. Bên cạnh đó,
    các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn tài chính xanh thông qua kênh tài chính gián
    tiếp như ngân hàng xanh hoặc các quỹ đầu tư xanh. Hiện nay, các NHTM cũng đã tự xác
    định mức độ cam kết cao đối với các vấn đề xanh trong chiến lược đầu tư. Nhìn chung,
    nhiều tổ chức đã cam kết hỗ trợ đầu tư xanh và thực hiện các mục tiêu của Chiến lược
    tăng trưởng xanh quốc gia. Điều này cũng được thể hiện thông qua chỉ số tỷ trọng tín
    dụng xanh của toàn ngành ngân hàng tăng hơn 2,5 lần trong vòng 4 năm từ 1,5% năm
    2016 đến 4,1% năm 2019.
    Đối với đầu tư xanh, tại Việt Nam, các doanh nghiệp quy mô đủ lớn đã bắt đầu quan
    tâm hơn tới bảo vệ môi trường và trách nhiệm xã hội. Một số doanh nghiệp điển hình
    trong xu hướng đầu tư xanh như: Tập đoàn Vingroup, Vinamilk, Tập đoàn Hoa Sen, Công
    ty Coca Cola Việt Nam, COFICO Công ty cổ phần xây dựng số 1, Toyota Việt Nam. Bên
    cạnh đó, ở cấp độ vĩ mô, Chính phủ và NHNN đã ban hành nhiều chỉ thị nhằm thúc đẩy
    phát triển đầu tư xanh.
    2.1. Thực trạng phát triển nguồn vốn xanh
    Nguồn vốn xanh trong nền kinh tế hiện nay đến từ một số nguồn chính như: nguồn vốn
    xanh của các NHTM và tổ chức tài chính quốc tế, nguồn vốn từ hoạt động tín dụng xanh

    4
    Là một báo cáo do Chính phủ Việt Nam xây dựng theo gợi ý của Công ước khung của LHQ về biến đổi
    khí hậu (UNFCCC). Báo cáo được gửi cho Ban thư ký UNFCCC và công bố vào tháng 10/2015.

    616

  5. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    và nguồn vốn có được thông qua việc phát hành các công cụ huy động vốn xanh, bao
    gồm trái phiếu xanh và vốn chủ sở hữu xanh.
    Phần lớn nguồn vốn tài trợ cho tài chính xanh ở Việt Nam hiện nay đến từ Chính phủ,
    các tổ chức phát triển quốc gia, các định chế quốc tế hay ngân hàng phát triển song
    phương và đa phương, các doanh nghiệp và cá nhân. Tương tự như nguồn vốn thông
    thường, nguồn vốn xanh cũng được huy động theo hai kênh là kênh tài chính trực tiếp và
    kênh tài chính gián tiếp. Tuy nhiên, bên cạnh đó, hoạt động phát triển nguồn vốn xanh từ
    tín dụng xanh mới chỉ bước đầu được một số các NHTM quan tâm triển khai bởi những
    lợi ích của việc trở thành ngân hàng xanh chưa thực sự rõ ràng. Với các nỗ lực chung,
    đến nay nền tảng pháp lý, thể chế, chính sách cho ngân hàng-tín dụng xanh về cơ bản đã
    hình thành. Dư nợ tín dụng xanh qua thống kê chưa đầy đủ đến tháng 6/2019 đã tăng rất
    nhanh lên đến 317.600 tỷ đồng. Tỷ trọng tín dụng xanh cũng tăng mạnh từ 1,5% lên 4,1%
    tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Hai nhóm công cụ huy động tài chính xanh phổ biến hiện
    nay là Trái phiếu xanh (Green Bonds) và Vốn chủ sở hữu xanh (Green Equity). Tuy nhiên
    đến thời điểm hiện tại, ở Việt Nam, công cụ huy động tài chính xanh chủ yếu vẫn sử dụng
    qua hình thức phát hành trái phiếu xanh.
    Cho đến nay, Việt Nam mới chỉ có 2 văn bản quy phạm pháp luật đề cập đến định nghĩa
    trái phiếu xanh là Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 4 tháng 12 năm 2018 của Chính phủ
    và Nghị định số 153/2020/NĐ-CP. Thị trường trái phiếu xanh ở Việt Nam mới đang trong
    giai đoạn triển khai thí điểm, chưa có sản phẩm phát hành rộng rãi trên thị trường.
    Trong khi đó, thị trường cổ phiếu xanh ở Việt Nam cũng đang được đưa vào giai đoạn
    tạo lập. Các hoạt động chính đã được triển khai đến nay có thể được chia thành 3 nhóm:
    (i) nâng cao hiểu biết toàn thị trường về tài chính xanh; (ii) khuyến khích sự tham gia của
    các doanh nghiệp với tài chính xanh; (iii) xây dựng và áp dụng chỉ số phát triển bền vững
    toàn thị trường.
    2.2. Thực trạng đầu tư xanh
    Xét trên cấp độ vĩ mô, trên cơ sở ban hành cơ chế chính sách đối với phát triển bền vững,
    quan điểm này đã được thể hiện xuyên suốt trong các Chiến lược phát triển kinh tế xã hội
    tại nhiều kỳ Đại hội Đảng. Ngày 25/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
    định số 1393/QĐ – TTg phê duyệt chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2012
    – 2020 và tầm nhìn đến 2050. Các hoạt động thu hút nguồn lực cho đầu tư xanh cũng tích
    cực được phối hợp thực hiện giữa các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ và các cơ quan
    Chính phủ. NHNN cũng ban hành Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 về thúc đẩy

    617

  6. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín
    dụng. Bên cạnh đó, sáng kiến Khu công nghiệp sinh thái hướng tới mô hình khu công
    nghiệp bền vững tại Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với UNIDO thực hiện từ
    năm 2014.
    Xét trên cấp độ vi mô – cấp độ doanh nghiệp, những đánh giá từ khảo sát PCI 2016
    cho thấy đa số các doanh nghiệp đều biết đến các quy định về môi trường áp dụng với
    các doanh nghiệp (87%), tuy nhiên trong số này chỉ có một thiểu số các doanh nghiệp
    trong nước. Trái ngược với hiệu ứng tích cực đạt được trong việc phổ biến các quy định
    trên tới doanh nghiệp, thực tế lại có tới hơn 80% doanh nghiệp tại Việt Nam chưa thi
    hành đầy đủ các quy định về môi trường trong sản xuất, kinh doanh. Mặt khác, làn sóng
    khởi nghiệp xanh đã và đang trên đà phát triển ngày càng mạnh mẽ. Các doanh nghiệp
    quy mô đủ lớn đã bắt đầu quan tâm thỏa đáng hơn tới bảo vệ môi trường và trách nhiệm
    xã hội.
    2.3. Đánh giá thực trạng phát triển các trung gian tài chính xanh
    Thực trạng phát triển ngân hàng xanh
    Phát triển tín dụng xanh là một hoạt động tiên phong của các NHTM Việt Nam trong nỗ
    lực thực hiện Đề án Phát triển tín dụng xanh, hướng tới Chiến lược ngân hàng xanh ở
    Việt Nam. Quy mô dư nợ tín dụng xanh có xu hướng tăng nhanh. Số lượng NHTM triển
    khai các sản phẩm tín dụng xanh cũng gia tăng nhanh chóng. Từ con số 3 NHTM theo
    chương trình thí điểm vào năm 2016 thì đến quý I/2019, đã có gần 20 NHTM triển khai
    các sản phẩm tín dụng xanh (trên tổng số 178 TCTD, không bao gồm quỹ tín dụng nhân
    dân). Các ngân hàng chính sách (như NH Chính sách xã hội, Ngân hàng Phát triển) tích
    cực triển khai các dự án tăng trưởng bền vững hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống
    của người dân (như nước sạch vệ sinh môi trường, chống biến đổi khí hậu…). Các NHTM
    Nhà nước tiếp tục mở rộng triển khai tín dụng xanh từ chương trình của NHNN. Các
    NHTM tư nhân và Ngân hàng nước ngoài cũng tích cực tung ra các sản phẩm hướng đến
    phát triển bền vững.
    Các NHTM Việt Nam đạt được những tiến bộ khá tích cực trong việc phát triển hệ
    thống ngân hàng xanh thông qua hoàn thiện hệ thống quản trị, cải thiện chính sách cổ
    đông, công bố thông tin cũng như kiểm soát rủi ro. Tuy nhiên, trình độ của Việt Nam còn
    kém rất xa so với các nước trong khu vực như Indonesia, Malaysia, Singapore…
    Các NHTM đã chú trọng xây dựng hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội. Kết
    quả đến nay đã có 3 NHTM áp dụng được Hệ thống quản lý trách nhiệm với môi trường

    618

  7. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    và xã hội (ESMS), 17 NHTM đã xây dựng quy trình thẩm định rủi ro môi trường và xã
    hội trong các quy định nội bộ và đa phần đã thực hiện đánh giá rủi ro môi trường và xã
    hội trong hoạt động cấp tín dụng. Tuy nhiên, đa phần các NHTM chưa có bộ phận riêng,
    chuyên trách về phát triển ngân hàng – tín dụng xanh.
    Các NHTM đã chú trọng nâng cao năng lực quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong các
    hoạt động thông qua việc tham gia các Tọa đàm, Hội thảo và đáp ứng các tiêu chuẩn của các
    Tổ chức quốc tế trong triển khai tín dụng xanh để trang bị những kiến thức mới, tiếp cận
    những quy định của NHNN về phát triển ngân hàng xanh. Các NHTM cũng chủ động học
    hỏi, đáp ứng các yêu cầu ESG trong các chương trình hợp tác với Tổ chức quốc tế để triển
    khai tín dụng xanh. Các tổ chức quốc tế (như EU, GIZ, IFC…) đã tích cực thực hiện các
    chương trình tài trợ vốn, hỗ trợ kỹ thuật để nâng cao năng lực phát triển tài chính xanh cho
    Việt Nam. Có thể nói, các NHTM Việt Nam hiện nay mới ở cấp độ 3 trong 5 cấp độ phát
    triển ngân hàng xanh của Kaufler, 2010. (Trần Thị Thanh Tú và cộng sự, 2020).
    3. Đề xuất xây dựng bộ chỉ số Tài chính xanh để định vị hệ thống tài chính xanh
    3.1. Các nghiên cứu liên quan tới xây dựng bộ chỉ số tài chính xanh
    Trên thế giới, đã có một số nghiên cứu đề xuất xây dựng bộ chỉ số kinh tế xanh như
    nghiên cứu của Danlu (2018) áp dụng cho thị trường Trung Quốc đã đề xuất mô hình chỉ
    số phát triển kinh tế xanh (GEI- Green economy development Index). Theo đó, chỉ số này
    sẽ có mối quan hệ hàm số với các biến như: Đầu tư năng lượng tái tạo (INV), Tín dụng
    xanh (CRE), đầu tư xử lý ô nhiễm (IPG), trình độ kỹ thuật (TE), và cấu trúc lĩnh vực.
    Nhóm tác giả đã ứng dụng bộ chỉ số GEI đối với 150 doanh nghiệp niêm yết có sử dụng
    năng lượng tái tạo ở Trung Quốc. Kết quả cho thấy sự phát triển về nền kinh tế xanh
    không chỉ phụ thuộc vào đầu tư vào năng lượng tái tạo của các doanh nghiệp, mà còn phụ
    thuộc vào các ràng buộc khác liên quan tới tài chính hành vi. Cụ thể như cần kết hợp các
    chính sách về tín dụng xanh của chính phủ với các tổ chức tài chính để tối ưu hóa hiệu
    quả của sử dụng năng lượng tái tạo. Nghiên cứu của Puhakka (2017) cũng cho kết quả
    tương tự như nghiên cứu của Danlu (2018) khi cho rằng yếu tố về các chính sách và quy
    định của chính phủ là yếu tố quan trọng tác động tới việc chuyển đổi thành nền kinh tế
    xanh. Bên cạnh đó, tác giả đã tổng hợp khung các yếu tố tác động tới nền kinh tế xanh
    liên quan tới 5 phương diện chính: (1) Kinh tế và thị trường nói chung, (2) Nghiên cứu
    khoa học và phát triển, (3) Các chính sách và quy định, (4) Nguồn vốn trong xã hội, (5)
    Nhận thức của cộng đồng. Anton (2016) đã xây dựng bộ chỉ số kinh tế xanh (GEI) gồm
    26 chỉ tiêu. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng chỉ số này đối với 193 quốc gia. Theo đó, các
    chỉ tiêu này bao trùm các vấn đề chính như: (1) Quản trị quốc gia, (2) Tỷ lệ của tài trợ

    619

  8. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    cho khai thác nhiên liệu hóa thạch/đầu tư cho các doanh nghiệp về môi trường/năng lượng
    tái tạo/bằng sáng chế liên quan đến môi trường so với tổng GDP, (3) Diện tích trang trại
    hữu cơ so với tổng diện tích đất nông nghiệp, (4) Tỷ trọng năng lượng tái tạo trong tổng
    nguồn cung năng lượng sơ cấp, (5) Dấu chân sinh thái (không bao gồm khí thải carbon),
    (6) Lượng năng lượng tiêu thụ/Nước rút bình quân/Lượng khí thải /Xử lý khí thải bình
    quân/Lượng khí thải nhà kính trên mỗi đầu người, (7) Tiêu thụ nguyên liệu trong nước,
    (8) Chỉ số ô nhiễm không khí/nước, (9) Tỷ lệ các khu bảo tồn biển và trên cạn, (10) Tỷ
    lệ các loài bị đe dọa tuyệt chủng, (11) Tỷ lệ chuyển đổi đất, (12) Khoảng cách đói nghèo,
    (13) Chỉ số nhu cầu cơ bản, (14) Tiết kiệm ròng được điều chỉnh (tiết kiệm đích thực)
    theo tỷ lệ phần trăm của tổng thu nhập quốc dân, (15) Chỉ số phát triển con người, (16)
    Tỷ số việc làm trên dân số trong độ tuổi lao động, (17) Chỉ số công việc tốt, (18) Hệ số
    Gini, (19) Mức độ hài lòng về cuộc sống. Có thể thấy bộ chỉ số GEI được đề xuất rất bao
    trùm, thể hiện được nhiều nội dung tác động và cần được xem xét khi hướng tới nền kinh
    tế xanh. Kết quả khảo sát cho thấy Thụy Sĩ, Áo và Thụy Điển là ba quốc gia được xếp
    hạng cao nhất, và Kazakhstan, Yemen và Turkmenistan có xếp hạng thấp nhất. Tuy nhiên,
    đáng ngạc nhiên Mỹ xếp hạng trong 15 quốc gia có điểm GEI thấp nhất trong tổng số
    mẫu nghiên cứu gồm 193 quốc gia. Bên cạnh đó, cũng cần nhấn mạnh rằng, tương tự như
    hầu hết các nghiên cứu khác, yếu tố quản trị quốc gia là một yếu tố then chốt tác động tới
    nhóm chỉ số này.
    Tuy nhiên, khi đi sâu hơn về tài chính xanh, một nội dung của kinh tế xanh, số lượng
    bài nghiên cứu xây dựng chỉ số tài chính xanh còn hạn chế. Shah (2016) đã phát triển chỉ
    số thân thiện với tài chính dựa trên phân tích nhân tố và trọng số phi tuyến để so sánh
    mức độ chia sẻ rủi ro tài chính và hỗ trợ giữa các quốc gia. Zhang và cộng sự (2018) đã
    hình thành chỉ số phát triển tài chính thông qua phân tích kinh tế lượng, và chỉ ra rằng
    trong ngắn hạn, chỉ số phát triển tài chính và giá năng lượng của Pakistan có liên quan
    đáng kể đến tiêu thụ năng lượng. Zhong và cộng sự (2018) chia hệ thống chỉ số phát triển
    tài chính xanh thành hai loại: Chỉ số hoạt động thị trường tài chính xanh và chỉ số môi
    trường sinh thái tài chính xanh, từ đó xây dựng chỉ số phát triển tài chính xanh. Nhóm
    nghiên cứu của chi nhánh trung ương Wuxi của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (2019)
    đã đánh giá tính bền vững của phát triển tài chính xanh từ ba khía cạnh tài chính xanh,
    đầu tư xanh và xã hội xanh, đồng thời đo lường và đánh giá mức độ toàn diện của phát
    triển bền vững xanh tài chính ở Trung Quốc bằng cách xây dựng một hệ thống đánh giá

    620

  9. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    toàn diện về phát triển bền vững của vật liệu xanh. Wang (2021)5 đã xây dựng chỉ số tài
    chính xanh dựa trên việc đánh giá các dự án tại Trung Quốc, gồm có: (1) Dự án phát triển
    nông nghiệp xanh, (2) Dự án phát triển lâm nghiệp xanh, (3) Công trình công nghiệp tiết
    kiệm năng lượng, tiết kiệm nước bảo vệ môi trường, (5) Bảo vệ thiên nhiên, phục hồi hệ
    sinh thái và phòng chống thiên tai, (6) Dự án tái chế tài nguyên, (7) Dự án năng lượng tái
    tạo và năng lượng sạch, (8) Dự án tiết kiệm nước nông thôn và đô thị, (9) Xây dựng các
    dự án tiết kiệm năng lượng và công trình xanh, (10) Dự án giao thông xanh, (11) Dự án
    dịch vụ tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường, (12) Dự án nước ngoài áp dụng các
    thông lệ quốc tế hoặc tiêu chuẩn quốc tế, (13) Tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường,
    (14) Năng lượng mới và các phương tiện sử dụng năng lượng mới.
    Như vậy, có thể thấy, tuy rằng mỗi quốc gia có một đặc thù riêng, do đó, sẽ ảnh hưởng
    tới việc xây dựng bộ chỉ số khác nhau, nhưng cần nhấn mạnh rằng, một số chỉ số chung
    như quản trị quốc gia, khối lượng tiêu thụ nước/khí thải…v.v. sẽ được sử dụng như công
    cụ để đánh giá mức độ tiếp cận tới tài chính xanh cũng như kinh tế xanh.
    3.2. Kinh nghiệm xây dựng bộ chỉ số Tài chính xanh trên thế giới
    Mức độ phát triển của hệ thống tài chính xanh thường được các quốc gia đánh giá sử dụng
    bốn phương pháp chính dựa trên cơ sở: (i) Tham gia hệ thống Tài chính khí hậu toàn cầu;
    (ii) Các hoạt động tài chính vì khí hậu cụ thể ở các tổ chức tín dụng; (iii) Các bộ chỉ số
    cho công cụ tài chính xanh; (iv) Bộ chỉ số cho hệ thống tài chính xanh.
    Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới đã và đang tham gia rất tích cực vào các
    hiệp hội, mạng lưới phát triển kinh tế xanh để chia sẻ kinh nghiệm, vốn đầu tư cũng như
    hợp tác phát triển các dự án mang quy mô toàn cầu như Hiệp hội tài chính phát triển quốc
    tế (International Development Bank Club – IDFC), Mạng lưới của Nhà kinh tế trưởng
    (Chief Economist)… Bên cạnh đó bản thân các quốc gia cũng tự phát triển các công cụ
    và bộ chỉ số tài chính xanh qua đó hỗ trợ cho các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn xanh,
    đồng thời, trợ giúp cho các tổ chức trung gian tài chính xanh xác định được chính xác
    hơn các dự án đầu tư xanh.
    Ngay từ năm 2015, nhóm các Ngân hàng Phát triển Đa phương (Multilateral
    Development Banks, gọi tắt là MDB) đã thành lập một báo cáo chung về tài chính khí
    hậu (climate finance). Nhóm IDFC (2011) gồm 26 Tổ chức Tài chính Phát triển
    (development finance institution) hàng đầu tầm quốc gia, khu vực và quốc tế từ khắp nơi

    5
    Wang, X., Zhao, H. & Bi, K. The measurement of green finance index and the development forecast of
    green finance in China. Environ Ecol Stat (2021). https://doi.org/10.1007/s10651-021-00483-7

    621

  10. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    trên thế giới, 19 trong số đó đến từ các nước và khu vực đang phát triển – đã liên tục hỗ
    trợ các nỗ lực của cộng đồng quốc tế để theo dõi và công bố các cam kết hỗ trợ tài chính
    giảm thiểu và thích ứng với thay đổi khí hậu toàn cầu. Cả hai nhóm MDBs và IDFC đã
    công bố độc lập số liệu tài chính khí hậu trong các năm qua cho tới khi họ muốn hợp tác
    cách thức thực hiện và công bố kết quả trên cùng một báo cáo từ năm 2015 cho tới nay.
    Hàng năm, Báo cáo về hoạt động tài chính vì khí hậu ở các tổ chức tín dụng được
    chuẩn bị bởi Nhóm Ngân hàng Thế giới (World Bank Group – WBG) và Cơ quan Phát
    triển Pháp (Agence Française de Développement – AFD). Mục tiêu của báo cáo này là
    minh họa một số trong nhiều cách mà các tổ chức tài chính hiện đang sử dụng để tích hợp
    các cân nhắc về biến đổi khí hậu vào hoạt động cho vay và dịch vụ tư vấn của họ. Các tổ
    chức tài chính này được gọi là các ngân hàng hỗ trợ (Supporting Banks) – đã công khai
    xác nhận hỗ trợ của họ cho năm nguyên tắc tự nguyện cho việc hành động vì biến đổi khí
    hậu trong các tổ chức tài chính, và quan tâm đến việc tham gia (trên cơ sở tự nguyện)
    trong chia sẻ kiến thức liên tục và phát triển mới nổi phương pháp hoạt động và thực hành
    các nguyên tắc.
    Trên thế giới đã có một số bộ chỉ số được sử dụng cho hệ thống kinh tế xanh như: (i)
    Bộ chỉ số Tài chính xanh toàn cầu (Global Green Finance Index – GGFI) đã được Z/Yen
    cùng phát triển, như một phần của Sáng kiến Tài chính dài hạn (Long Finance Initiative)
    và Tổ chức Phi chính phủ Finance Watch, (ii) Bộ chỉ số Kinh tế xanh toàn cầu (Global
    Green Economy Index – GGEI) là chỉ số nền kinh tế xanh đầu tiên được đưa ra vào năm
    2010 và đồng thời là sản phẩm được tham chiếu rộng rãi nhất trên toàn thế giới ngày nay.
    GGEI được các nhà hoạch định chính sách, tổ chức quốc tế, xã hội dân sự và khu vực tư
    nhân sử dụng rộng rãi. GGEI đo lường hoạt động kinh tế xanh của 130 quốc gia và cách
    các chuyên gia đánh giá hoạt động đó. Chỉ số hiệu suất GGEI sử dụng các chỉ số định
    lượng và định tính để đo lường mức độ hoạt động của mỗi quốc gia trên bốn khía cạnh
    chính: lãnh đạo và biến đổi khí hậu, các lĩnh vực hiệu quả, thị trường và đầu tư, cuối cùng
    là môi trường, (iii) Bộ chỉ số Đo lường tiến độ hướng tới nền kinh tế xanh (Measuring
    Progress towards a Green Economy) bởi UNEP, (iv) Bộ chỉ số Đánh giá xanh (Green
    Evaluations) của S&P Global.
    4. Xây dựng Bộ chỉ số Tài chính xanh (Green Finance Indicator – GFI) cho Việt Nam
    Chỉ số tài chính xanh (Green Finance Index – GFI) là chỉ số đánh giá mức độ phát triển
    tài chính xanh, được nghiên cứu đề xuất trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và
    kết quả điều tra khảo sát, phỏng vấn sâu với các chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ngân

    622

  11. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    hàng ở Việt Nam. Chỉ số tài chính xanh (GFI) được chia thành 2 cấu phần: Ngân hàng
    xanh (GBI); Chứng khoán xanh (GSI).

    TÓM TẮT CÔNG THỨC CỦA BỘ CHỈ SỐ

    Chỉ số tài chính xanh (Green Finance Index – GFI)
    GFI = α1 * GBI + α 2 * GSI
    (αi là trọng số thể hiện vai trò và mức độ ảnh hưởng của từng khu vực đến tăng
    trưởng xanh của nền kinh tế. Trọng số αi có thể là quy mô của khu vực đó so với
    GDP hoặc có thể là trọng số đánh giá dựa trên ý kiến chuyên gia về mức độ ảnh
    hưởng của khu vực ngân hàng và chứng khoán đến tăng trưởng xanh của nền
    kinh tế)

    Chỉ số ngân hàng xanh Chỉ số chứng khoán xanh
    (Green Banking Index – (Green Securities Index – GSI)
    GBI)
    GSI = σ1 GREEN VNINDEX + σ 2
    𝒏
    GREEN VNBOND INDEX
    𝑮𝑩𝑰𝑽𝑵 = ∑ 𝜷𝒊 ∗ 𝑮𝑩𝑰𝒊
    𝒊=𝟏 Trong đó:
    Trong đó: σ 2 trọng số theo mức vốn hóa thị trường

    i là một ngân hàng thương mại GREEN VNINDEX = Tổng giá trị thị
    trường của nhóm cổ phiếu xanh / Số chia
    Việt Nam cụ thể

    𝛽𝑖 là trọng số phản ánh mức độ GREEN VNBOND INDEX = Tổng giá trị
    thị trường của nhóm trái phiếu xanh / Số
    ảnh hưởng của ngân hàng i
    chia
    n là số lượng ngân hàng thương
    Số chia = Giá trị thị trường sau khi điều
    mại Việt Nam trong hệ thống chỉnh / Giá trị thị trường trước khi điều
    ngân hàng. chỉnh*Số chia trước khi điều chỉnh

    623

  12. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Nghiên cứu đo lường các chỉ số thành phần của GFI được phân tích cụ thể dưới đây:
    • Chỉ số ngân hàng xanh (Green Banking Index – GBI)
    Chỉ số ngân hàng xanh (Green Banking Index – GBI) được hiểu là việc đánh giá mức
    độ đáp ứng của từng ngân hàng thương mại nói riêng và hệ thống ngân hàng thương mại
    nói chung của Việt Nam theo các thang điểm từ 1 đến 5, tương ứng với các cấp độ của
    Kaeufer (2010). Việc đo lường chỉ số ngân hàng xanh GBI được đề xuất dựa trên kết quả
    nghiên cứu của Trần Thị Thanh Tú và cộng sự (2019).
    • Chỉ số chứng khoán xanh (Green Securities Index – GSI)
    Chỉ số chứng khoán xanh (Green Securities Index – GSI) được đề xuất xây dựng cho
    Việt Nam được hiểu là chỉ số cổ phiếu xanh và chỉ số trái phiếu xanh. Đề xuất xây dựng
    chỉ số chứng khoán xanh được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu các kinh nghiệm quốc tế
    về xây dựng chỉ số cổ phiếu xanh và trái phiếu xanh của các nước có thị trường chứng
    khoán phát triển.
    5. Khuyến nghị và một số hướng đi để phát triển hệ thống tài chính xanh ở Việt Nam
    5.1. Khuyến nghị định vị hệ thống tài chính xanh ở Việt Nam
    Trong phần này, nhóm nghiên cứu tập trung vào việc đề xuất lộ trình cụ thể phát triển tài
    chính xanh đến năm 2050 và định vị hệ thống tài chính xanh ở Việt nam. Đề xuất về lộ
    trình phát triển tài chính xanh được chia làm ba giai đoạn:
    • Giai đoạn 1 (Lộ trình đến năm 2025): Thành lập thí điểm mô hình ngân hàng
    xanh, quỹ đầu tư xanh, doanh nghiệp đầu tư xanh.
    • Giai đoạn 2 (Lộ trình đến năm 2040): Áp dụng toàn diện hệ thống chỉ số đánh giá
    mức độ xanh hóa của hệ thống tài chính GFI.
    Trong đó:
    Bước đầu, triển khai áp dụng riêng lẻ từng bộ chỉ số thành phần, bắt đầu bằng Bộ chỉ số
    đánh giá Mức độ phát triển của ngân hàng xanh – Green Banking Sub-Index (GBI), sau
    đó đến Bộ chỉ số Đầu tư xanh – Green Investment Sub-Index (GII), Bộ chỉ số Chứng
    khoán xanh – Green Stock Sub-Index (GSI), và cuối cùng là tới Bộ chỉ số Phát triển bền
    vững doanh nghiệp – Sustainability Sub-Index (SSI).
    Sau khi đã lần lượt đưa từng bộ chỉ số thành phần vào áp dụng, Bộ chỉ số tổng hợp Tài
    chính xanh – Green Finance Indicjator (GFI) sẽ được triển khai áp dụng.

    624

  13. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    • Giai đoạn 3 (Lộ trình đến năm 2050): Việt Nam tiến tới vận hành toàn diện Hệ
    thống tài chính xanh với 4 trụ cột chính: Trung gian tài chính xanh, Các công cụ
    huy động vốn xanh, Các doanh nghiệp đầu tư xanh và Thị trường tài chính xanh.
    Hình 1: Mô hình cấu trúc hệ thống tài chính xanh

    Nguồn
    vốn xanh

    Nguồn: Đề tài nghiên cứu “Phát triển hệ thống tài chính xanh nhằm thúc đẩy kinh tế xanh ở Việt Nam”, thuộc
    Chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia giai đoạn 2016-2020.

    Các khuyến nghị đưa ra dựa trên lộ trình đã đề xuất, tập trung vào: (i) Điều kiện thực hiện
    giải pháp bao gồm nhóm các điều kiện về khung pháp lý, quản lý và giám sát thị trường;
    (ii) Các đề xuất khuyến nghị cụ thể đối với từng thành phần tham gia vào thị trường tài
    chính xanh gồm Chính phủ, NHNN, NHTM, trung gian tài chính phi ngân hàng, doanh
    nghiệp và người tiêu dùng.
    5.2. Đề xuất mô hình đo lường mức độ tác động của hệ thống tài chính xanh đến nền
    kinh tế
    Trên thế giới đã có một số nghiên cứu sử dụng các bộ chỉ số để đo lường mức độ hiệu
    quả của tài chính xanh đối với các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Theo
    đó, các mô hình để đo lường rất đa dạng nhưng phổ biến nhất là sử dụng phương pháp
    bao dữ liệu (Data Envelopment Analysis- DEA) và phương pháp phân tích theo thứ bậc
    (Analytic Hierarchy Process- AHP). Phương pháp DEA và AHP đều có ưu điểm là dễ sử
    dụng và có tính hiệu quả cao trong việc đánh giá, tính điểm và xếp hạng. Nghiên cứu của
    Muhammad và cộng sự (2020) cũng đã sử dụng phương pháp DEA để đo lường chỉ số

    625

  14. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    tài chính carbon thấp (low carbon finance index). Kết quả nghiên cứu đã xây dựng được
    bộ chỉ số và xếp hạng chỉ số này theo thứ tự của các quốc gia trên thế giới. Đặc biệt,
    phương pháp AHP được sử dụng rộng rãi trong cách tính, đo lường trong các dự án hướng
    tới mục tiêu bền vững (Nguyễn Hồng Trường, 2020).
    Dựa trên cơ sở các nghiên cứu trước đó, nhóm nghiên cứu đề xuất sử dụng phương
    pháp AHP để đánh giá hiệu quả của tài chính xanh đối với các doanh nghiệp, sau đó mở
    rộng mô hình đánh giá này trở thành đánh giá cấp độ vĩ mô. Tham khảo nghiên cứu của
    Wang (2021)6 đã xây dựng chỉ số tài chính xanh dựa trên các việc đánh giá các dự án tại
    Trung Quốc, nhóm nghiên cứu đề xuất mô hình sử dụng các nhóm biến áp dụng ở Việt
    Nam gồm: (i) Nhóm số liệu về phát triển nông nghiệp/lâm nghiệp xanh, (ii) Nhóm số
    liệu về tín dụng xanh, (iii) Nhóm số liệu về sử dụng năng lượng tái tạo và năng lượng
    sạch, (iv) Nhóm số liệu về tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường, (v) Nhóm chỉ số
    về ưu đãi/hỗ trợ của chính phủ đối với các hoạt động hướng tới tài chính xanh.
    Trong các nghiên cứu tiếp theo, nhóm nghiên cứu sẽ phát triển mô hình đánh giá tác
    động của hệ thống tài chính xanh, thông qua bộ chỉ số hệ thống tài chính xanh GFI, tính
    thử GFI của hệ thống tài chính Việt Nam, từ đó đo lường tác động của hệ thống tài chính
    xanh đến nền kinh tế. Do điều kiện nghiên cứu hạn chế, nghiên cứu này sẽ mang tính mở
    đường cho nghiên cứu tiếp theo của nhóm trong tương lai gần.
    Tài liệu tham khảo
    Adelphi (2016), Green Finance in Asia: Five new country studies show opportunities for small
    businesses, truy cập ngày 6/11/2017 từ https://www.adelphi.de/en/news/green-finance-asia-
    five-new-country-studies-show-opportunities-small-businesses
    ALCB Fund (2017), Undersanding the African Green Bond Market, truy cập ngày 6/11/2017 từ
    http://www.alcbfund.com/wp-content/uploads/2017/05/African-Green-Bond-Market.pdf.
    Bihari, S (2011), Green banking-towards socially responsible banking in India, International
    Journal of Business Insights and Transformation, 4(1), trang 84-87.
    Böhnke Eidt, Knierim Richert, Röber Volz (2014), How to Make Green Finance Work –
    Empirical Evidence from Bank and Company Surveys, German Development Institute (DIE).
    Vietnam State Bank (2015), Decision No. 1552 / QD-NHNN on issuing Action Plan of the banking
    sector to implement the National Strategy on Green Growth.

    6
    Wang, X., Zhao, H. & Bi, K. The measurement of green finance index and the development forecast of
    green finance in China. Environ Ecol Stat (2021). https://doi.org/10.1007/s10651-021-00483-7

    626

  15. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Danlu, B., & Lingyu, D. (2018). Officials transfer and local government functions transformation:
    taking the local government’s investment attracting behaviors as an example. Journal of
    Finance and Economics, 44(09), 137-152.
    Duan Jin và Niu Mengqi (2011), The paradox of green credit in China, Science Direct, 5, trang
    1979-1986.
    Elena Dova and Oriana Negulescu (2014), A model of green investments approach, Science
    Direct, Procedia Economics and Finance, 14, trang 847-852.
    IFC (2013), Mobilizing Public and Private Funds for Inclusive Green Growth Investment in
    Developing Countries – An Expanded Stocktaking Report Prepared for the G20 Development
    Working Group, IFC Climate Business Department.
    IFC (2015), Green Finance: A bottom-up approach to track existing flows, IFC Climate Business
    Department.
    Höhne, Khosla, Fekete, Gilbert (2012), Mapping of Green Finance, Delivered by IDFC Members,
    Ecofys.
    Ministry of Finance (2015), Circular No. 155/2015 / TT-BTC of the Ministry of Finance dated
    10/06/2015 on issuing imformation public on Vietnamses Stock Market.
    Nguyễn Phú Hà (2015), Mô hình ngân hàng xanh: kinh nghiệm quốc tế và bài học rút ra cho
    Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở 14-07-2015, Đại học Kinh tế, Đại học
    Quốc gia Hà Nội.
    Nguyễn Thị Hồng (2017), Chiến lược phát triển hệ thống tài chính xanh của Trung Quốc, truy
    cập ngày 20/5/2017 từ http://ncif.gov.vn/Pages/NewsDetail.aspx?newid=19481.
    Nguyen Thi Minh Hue and Tran Thi Thanh Tu (2016), roles and products of the bank towards
    green development & green investment (green bank), GDPRTE Project.
    OECD (2012), Defining and measuring green investments: Implication for institutional
    investors’ asset allocations, Working Papers on Finance, Insurance and Private Pensions, 24.
    OECD (2014), African Economic Outlook South Africa, OECD Publishing. Truy cập 5/11/2017 từ
    http://www.africaneconomicoutlook.org/fileadmin/uploads/aeo/2014/PDF/Pocket_Edition_A
    EO2014-EN_mail.pdf
    Phakathi, B. (2017), The bond of up to R1bn will be certified by Climate Bonds Standard and
    will be used to fund projects aligned to the city’s climate change strategy, truy cập ngày
    6/11/2017từ https://www.businesslive.co.za/bd/national/2017-03-22-cape-town-issues-
    green-bond/
    Puhakka, R., Pitkänen, K., & Siikamäki, P. (2017). The health and well-being impacts of
    protected areas in Finland. Journal of Sustainable Tourism, 25(12), 1830-1847.
    Shah, K. U., Arjoon, S., & Rambocas, M. (2016). Aligning corporate social responsibility with
    green economy development pathways in developing countries. Sustainable
    Development, 24(4), 237-253.

    627

  16. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Stadium, M. (2014), Review of green economy and climate finance: Overview of South Africa’s
    Key National Initiatives, National Treasury.
    The State Bank of Vietnam (2015), Decision No. 155/2015/ QD-NHNN promulgating the
    banking sector action plan to implement the national strategy on the green growth to 2020.
    Trần Thị Thanh Tú & cộng sự (2017), Tài chính – Ngân hàng – Kế toán xanh, kinh nghiệm
    quốc tế và hàm ý cho Việt Nam, Nhà xuất bản KH & KT.
    Trần Thị Thanh Tú, Nguyễn Thị Nhung, (2019), Đầu tư xanh – cơ hội và thách thức, Kỷ yếu
    Hội thảo quốc gia, 6/2019 “Phát triển hệ thống tài chính xanh nhằm thúc đẩy kinh tế xanh
    – Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam”.
    Trịnh Thị Phan Lan. (2019). Đầu tư xanh – kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam, Kỷ
    yếu Hội thảo quốc gia, 6/2019 “Phát triển hệ thống tài chính xanh nhằm thúc đẩy kinh tế
    xanh – Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam”.
    Zhang, L., Guo, S., Wu, Z., Alsaedi, A., & Hayat, T. (2018). SWOT analysis for the promotion
    of energy efficiency in rural buildings: A case study of China. Energies, 11(4), 851.
    Zhong, J., Wang, M., Drakeford, B., & Li, T. (2019). Spillover effects between oil and natural
    gas prices: Evidence from emerging and developed markets. Green Finance, 1(1), 30-45.
    Ullah M.M (2013), Green Banking in Bangladesh- A Comparative Analysis, World Review of
    Business Research 3(4), trang. 74 – 83.
    UNEP (2013), Green Economy Modelling Report of South Africa – Focus on Natural Resource
    Management, Agriculture, Transport and Energy Sectors, Geneva, Switzerland: UNEP.

    628

Download tài liệu Định vị hệ thống tài chính xanh trong nền kinh tế xanh – Kinh nghiệm Quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam File Word, PDF về máy