[Download] Tải Đào tạo kế toán tại các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hội tụ chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) – Tải về File Word, PDF

Đào tạo kế toán tại các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hội tụ chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)

Đào tạo kế toán tại các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hội tụ chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)
Nội dung Text: Đào tạo kế toán tại các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hội tụ chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)

Download


Bài viết này tác giả trình bày 2 vấn đề lớn: tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu trước và trình bày có hệ thống lại thực trạng trong công tác đào tạo kế toán ở các trường đại học tại Việt Nam hiện nay; trên cơ sở các thực trạng đã trình bày, tác giả phân tích, đánh giá và đưa ra các khuyến nghị nhằm tháo gỡ những khó khăn cho các trường đại học tại Việt Nam trong đào tạo kế toán nhằm đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn mới – giai đoạn hội tụ VAS và IFRS.

Bạn đang xem: [Download] Tải Đào tạo kế toán tại các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hội tụ chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Đào tạo kế toán tại các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hội tụ chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) File Word, PDF về máy

Đào tạo kế toán tại các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hội tụ chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Đào tạo kế toán tại các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hội tụ chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS)

  1. AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 47 – 56

    ĐÀO TẠO KẾ TOÁN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
    GIAI ĐOẠN HỘI TỤ CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM (VAS)
    VÀ CHUẨN MỰC BÁO CÁO TÀI CHÍNH QUỐC TẾ (IFRS)

    Trịnh Thị Hợp1
    1
    Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM

    Thông tin chung: ABSTRACT
    Ngày nhận bài: 20/08/2019
    Ngày nhận kết quả bình duyệt: The project of “Applying International Financial Reporting Standards
    30/03/2020 (IFRS) to Vietnam” was officially launched in March 2019 by the Ministry of
    Ngày chấp nhận đăng: Finance. Consequently, Vietnam Accounting Standards (VAS) need to be
    01/2021 imminently revised or renewed with IFRS-oriented approach. Modification of
    Title: the legal framework for accounting will definitely lead to the changes in
    Accounting training at social needs for human resource in this sector. Apparently, education
    Vietnamese universities in the institutions also need to make adjustment to meet this demand. However,
    convergence phase of Vietnam those changes cannot be instantly implemented but call for a detailed
    Accounting Standards (VAS)
    implementation roadmap to overcome obstacles and timely match the
    and International Financial
    Reporting Standards (IFRS) requirements of the contemporary period. This paper aims at (1) synthesizing
    previous studies and systematically reviewing the current situation of
    Keywords: accounting training in Vietnam’s universities, and (2) analyzing, evaluating
    Universities, Accounting
    the situation and formulating recommendations on how to surmount the
    Training, Convergence, VAS,
    IFRS difficulties in accounting training to meet the demand of the new period of
    convergence between VAS and IFRS.
    Từ khóa:
    Các trường đại học,
    đào tạo kế toán, hội tụ, VAS, TÓM TẮT
    IFRS Tháng 3/2019 Bộ Tài Chính đã chính thức ban hành Đề án “Áp dụng chuẩn
    mực báo cáo tài chính quốc tế vào Việt Nam”. Trong tương lai gần, Chuẩn
    mực kế toán Việt Nam sẽ phải ban hành lại, ban hành mới theo hướng hội tụ
    với IFRS. Khi khung pháp lý về kế toán thay đổi, nhu cầu xã hội về nguồn lực
    kế toán cũng phải thay đổi, đương nhiên các cơ sở giáo dục cũng phải thay
    đổi để đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Tuy nhiên, việc thay đổi không hề
    đơn giản, cũng không phải ngày một ngày hai, mà cũng cần phải có lộ trình
    để từng bước tháo gỡ khó khăn và sớm bắt kịp với yêu cầu trong giai đoạn
    mới. Bài viết này tác giả trình bày 2 vấn đề lớn: (1) Tác giả tổng hợp từ các
    nghiên cứu trước và trình bày có hệ thống lại thực trạng trong công tác đào
    tạo kế toán ở các trường đại học tại Việt Nam hiện nay; (2) Trên cơ sở các
    thực trạng đã trình bày, tác giả phân tích, đánh giá và đưa ra các khuyến
    nghị nhằm tháo gỡ những khó khăn cho các trường đại học tại Việt Nam
    trong đào tạo kế toán nhằm đáp ứng nhu cầu trong giai đoạn mới – giai đoạn
    hội tụ VAS và IFRS.

    47

  2. AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 47 – 56

    1. GIỚI THIỆU pháp nghiên cứu chủ yếu là tổng hợp, phân tích,
    Toàn cầu hóa thúc đẩy sự hội tụ và giảm thiểu sự suy luận logic; dữ liệu được tác giả thu thập chủ
    khác biệt trong nhiều khía cạnh, trong đó có sự yếu là dữ liệu thứ cấp từ các tạp chí, kỷ yếu hội
    hội tụ của chuẩn mực kế toán, kiểm toán. Thực tế thảo, văn bản pháp luật về kế toán…
    cho thấy, Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế Mô hình nghiên cứu được tác giả tóm tắt qua các
    (IFRS) đang ngày càng được thừa nhận rộng rãi. bước sau:
    Theo tài liệu của Ủy Ban chuẩn mực kế toán quốc Bước 1: Tổng hợp thực trạng đào tạo kế toán tại
    tế, tính đến hết năm 2016 đã có 131/143 quốc gia các trường đại học ở Việt Nam hiện nay từ nhiều
    và vùng lãnh thổ áp dụng IFRS theo các hình thức nghiên cứu trước đây, tìm ra các thực trạng được
    khác nhau. Trong đó có 119/143 quốc gia và vùng đồng thuận của nhiều tác giả.
    lãnh thổ yêu cầu bắt buộc áp dụng IFRS đối với
    Bước 2: Chọn lọc, sắp xếp và trình bày một cách
    tất cả hoặc hầu hết các công ty đại chúng trong
    hệ thống thực trạng theo các nhóm yếu tố chủ
    nước (Vụ chế độ kế toán và kiểm toán và Bộ Tài
    yếu: Chương trình đào tạo; giáo trình tài liệu
    Chính, 2017).
    giảng dạy; đội ngũ giảng viên; phương pháp giảng
    Tại Việt Nam, để có thể bắt kịp với xu thế chung dạy; phương pháp đánh giá.
    đó thì Bộ Tài Chính, các tổ chức nghề nghiệp về
    Bước 3: Từ các thực trạng, tác giả nhận diện và
    kế toán, kiểm toán, các trường ĐH đã liên tiếp tổ
    phân tích các tồn tại và khó khăn trong đào tạo kế
    chức các cuộc hội thảo trao đổi ý kiến về việc có
    toán ở các trường đại học Việt Nam hiện nay, nhất
    nên áp dụng IFRS tại Việt Nam hay không và nếu
    là khi triển khai IFRS.
    có thì lộ trình như thế nào?… Sau nhiều nỗ lực đó
    thì đến tháng 3/2019, Bộ Tài Chính đã chính thức Bước 4: Trên cơ sở các tồn tại và khó khăn đã nêu
    ban hành Đề án “Áp dụng chuẩn mực báo cáo tài ra, bằng nhận thức và kinh nghiệm giảng dạy, tác
    chính quốc tế vào Việt Nam”. Theo định hướng giả đã suy luận logic đề xuất các giải pháp để
    của Bộ Tài chính, dự kiến từ 2019-2021 là thời khắc phục.
    gian chuẩn bị các điều kiện cần thiết triển khai 2. THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO KẾ TOÁN
    thực hiện Đề án và năm 2022 sẽ chính thức áp TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT
    dụng IFRS. NAM HIỆN NAY
    Thực tế cho thấy việc tiến tới áp dụng IFRS tại 2.1 Thực trạng chung
    Việt Nam phải được đi cùng với công tác đào tạo
    Cho đến thời điểm tháng 10/2016, theo thống kê
    kế toán – một vấn đề được coi là chìa khóa cho sự
    của Bộ Giáo dục và đào tạo, nước ta có khoảng
    thành công trong quá trình hội tụ VAS với IFRS.
    553 cơ sở đào tạo, trong đó có 203 trường đại học
    Do đó, rất cần thiết phải thay đổi trong công tác
    và học viện, 208 trường cao đẳng và 142 trường
    đào tạo kế toán theo hướng tiếp cận IFRS tại các
    trung học chuyên nghiệp. Trong tổng số các cơ sở
    trường đại học ở Việt Nam hiện nay. Vậy câu hỏi
    đào tạo này thì có trên 50% đăng ký đào tạo
    đặt ra là thực trạng đào tạo kế toán tại các trường
    ngành kế toán với nhiều chuyên ngành khác nhau
    đại học ở Việt Nam hiện nay như thế nào? Cần có
    như: kế toán doanh nghiệp, kế toán kiểm toán….
    những giải pháp gì để giúp các trường đại học tại
    Ngay cả những trường có thế mạnh chủ yếu là đào
    Việt Nam tháo gỡ khó khăn trong đào tạo kế toán
    tạo các khối ngành về kỹ thuật, công nghệ, sức
    giai đoạn triển khai IFRS?
    khỏe cũng tham gia đào tạo mã ngành kế toán, đặc
    Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, trong biệt là các trường đại học, cao đẳng thuộc khối
    những phần tiếp theo của bài nghiên cứu này, tác ngoài công lập. Kết quả của quá trình đào tạo này
    giả xin được làm rõ hơn cho 2 câu hỏi trên. Cụ đã làm cho kế toán trở thành một trong những
    thể, trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương ngành có nguồn cung về lao động dồi dào nhất

    48

  3. AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 47 – 56

    trong số các ngành nghề phổ biến hiện nay (Đào trường chủ động thiết kế CTĐT riêng để phù hợp
    Thị Đài Trang, 2018). với điều kiện thực tế của mình nhất. Tuy nhiên,
    Theo thống kê của Sở Lao động Thương binh và với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng thì nhiều
    Xã hội thì ngành Kế toán – Kiểm toán là ngành có trường đại học tại Việt Nam đã tham khảo các
    nhu cầu tìm việc cao nhất năm 2017 và cao thứ 3 CTĐT kế toán nước ngoài, nhiều trường đã và
    năm 2018 trong số 10 ngành được lựa chọn khảo đang phát triển các CTĐT kế toán có yếu tố nước
    sát. Đồng thời ngành Kế toán – Kiểm toán cũng là ngoài như: chương trình tiên tiến, chất lượng cao,
    ngành có nhu cầu tuyển dụng cao thứ 7 năm 2017 liên kết 2+2, liên kết 3+1, tích hợp nội dung của
    và cao thứ 4 năm 2018 trong số 10 ngành được một số môn học trong trương trình đào tạo của các
    lựa chọn khảo sát. Điều này cho thấy thực trạng tổ chức nghề nghiệp quốc tế như ACCA, CPA,
    đào tạo ngành kế toán đang dư về số lượng nhưng CIMA… (Nguyễn Hữu Ánh, 2017). Trong CTĐT
    thiếu về chất lượng, nên mặc dù số lượng sinh nhiều trường đã đưa môn học kế toán quốc tế
    viên có nhu cầu tìm việc cao nhưng chưa đáp ứng hoặc kế toán Mỹ vào giảng dạy, trong đó một số
    được nhu cầu của nhà tuyển dụng. trường đã giảng dạy môn này dưới dạng các
    chuẩn mực kế toán quốc tế IAS/IFRS nhưng mức
    Theo thông tin phản hồi từ các doanh nghiệp
    độ tiếp cận khác nhau. Cụ thể như ĐH Kinh tế
    tuyển dụng nhân sự cho bộ phận kế toán có đến
    TP.HCM, ĐH Kinh tế Luật, Đại học Mở
    80% – 90% những sinh viên được tuyển dụng
    TP.HCM, ĐH Tài chính Marketing TP.HCM, ĐH
    chưa có khả năng tiếp cận ngay được với công
    Kinh tế Quốc dân… (Nguyễn Xuân Hưng, 2017).
    việc của một “kế toán” thực sự. Khảo sát sinh
    Với những nỗ lực đó đã giúp một số trường đại
    viên tốt nghiệp từ các cơ sở đào tạo, từ các trường
    học trong nước nâng cao uy tín, chất lượng, nâng
    Đại học Kế toán – Kiểm toán lớn và có uy tín của
    cao năng lực cạnh tranh cho sinh viên ngành kế
    Việt Nam cho thấy có tới 2/3 trả lời chưa thể nắm
    toán, kiểm toán trong nước và trong khu vực. Đặc
    bắt được công việc kế toán hay kiểm toán ngay
    biệt việc đưa môn học Kế toán Quốc tế hoặc Kế
    khi được giao mà phải được đào tạo, hướng dẫn
    toán Mỹ vào giảng dạy là tiền đề giúp các trường
    lại (Phan Thanh Hải & Nguyễn Phi Sơn, 2016).
    triển khai nội dung IFRS vào giảng dạy được
    Như vậy rõ ràng trong công tác đào tạo kế toán ở thuận lợi hơn.
    các cơ sở đào tạo mà chủ yếu là các trường đại
    Bên cạnh những nỗ lực tích cực đó thì CTĐT
    học tại Việt Nam hiện nay đang còn nhiều bất cập
    ngành Kế toán của đa số các trường đại học tại
    mà chúng ta cần phải tìm cách khắc phục. Những
    Việt Nam còn khá nhiều tồn tại. Cụ thể như:
    bất cập đó là gì thì tác giả sẽ trình bày ở những
    CTĐT nặng lý thuyết, thời lượng thực hành còn
    nội dung tiếp theo trong phần này. Trên cơ sở
    quá ít, hầu như sinh viên chỉ được thực tập, thực
    tổng hợp nhiều nghiên cứu trong nước, ngoài
    tế năm cuối để hoàn thành đề tài tốt nghiệp. Hơn
    phần thực trạng chung thì tác giả còn trình bày
    nữa do nguyên tắc bảo mật thông tin nên các
    thực trạng công tác đào tào kế toán ở các trường
    doanh nghiệp hạn chế cung cấp thông tin kế toán
    đại học tại Việt Nam hiện nay qua các phần cơ
    và càng hạn chế cho sinh viên thực tập thực hành
    bản khác sau: Chương trình đào tạo, giáo trình tài
    nghề nghiệp có tính chuyên môn. Việc thực tập,
    liệu giảng dạy, đội ngũ giảng viên, phương pháp
    thực tế chỉ dừng lại ở việc sinh viên thu thập dữ
    giảng dạy và phương pháp đánh giá.
    liệu kế toán để đánh giá, phân tích là chính mà
    2.2 Chương trình đào tạo chưa được trải nghiệm thực sự công việc của một
    Hiện nay chương trình đào tạo (CTĐT) kế toán tại kế toán viên, có chăng chỉ được trải nghiệm các
    các trường đại học ở Việt Nam rất đa dạng. Do sự công việc văn phòng đơn giản như: photo, in ấn,
    khác biệt nhiều yếu tố như chất lượng đầu vào, sắp xếp tài liệu. Ngoài ra, CTĐT nhiều môn học
    chuẩn đầu ra, chiến lược phát triển… nên các còn bị trùng lắp về nội dung hoặc giữa các môn

    49

  4. AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 47 – 56

    học sắp xếp chưa theo độ khó của bậc thang kiến Thu Hiền, Phạm Tú Anh & Trần Thị Quỳnh
    thức nên đã ảnh hưởng tới quá trình đào tạo Hương, 2017).
    (Nguyễn Hữu Ánh, 2017). Số lượng các trường 2.4 Đội ngũ giảng viên và phương pháp giảng
    đại học đưa nội dung IFRS vào giảng dạy còn rất dạy, đánh giá
    ít, các trường có đưa vào giảng dạy thì mức độ
    Đội ngũ giảng viên: Nhìn chung về đội ngũ giảng
    tiếp cận còn hạn chế (Vụ Chế độ kế toán và kiểm
    viên kế toán tại các trường đại học đều có trình độ
    toán và Bộ Tài Chính, 2017), đây thực sự là một
    từ thạc sĩ trở lên, được đào tạo bài bản, đảm bảo
    trong những khó khăn lớn trong việc triển khai
    chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức chuyên ngành
    IFRS tại Việt Nam hiện nay.
    nhưng còn thiếu kinh nghiệm thực tế. Vì thế, việc
    2.3 Giáo trình, tài liệu giảng dạy đưa các tình huống thực tiễn vào giảng dạy ít
    Hiện nay, hầu hết sách giáo trình, tài liệu chuyên nhiều bị hạn chế (Nguyễn Hữu Ánh, 2017). Ngoài
    ngành kế toán đều được soạn thảo dựa theo chế độ ra, đa số giảng viên còn hạn chế về trình độ Anh
    kế toán và các thông tư hướng dẫn do Bộ Tài ngữ nên việc sử dụng các tài liệu nước ngoài cho
    chính ban hành. Do đó, nội dung giáo trình, tài nghiên cứu giảng dạy còn gặp nhiều khó khăn
    liệu thường tập trung chủ yếu vào kỹ thuật định trong đó có IFRS (Nguyễn Hữu Ánh, 2017;
    khoản Nợ – Có cho từng nghiệp vụ phát sinh, Nguyễn Xuân Hưng, 2017).
    chưa chú trọng đến nội dung chuẩn mực kế toán Về phương pháp giảng dạy: Hiện nay, hầu hết
    nên còn mang nặng tính học thuộc, rập khuôn, các trường đại học đào tạo theo hệ thống tín chỉ,
    chưa phát huy được khả năng tư duy, suy luận và theo đó phương pháp dạy là lấy người học làm
    xét đoán nghề nghiệp của người học. Nội dung trung tâm. Tuy nhiên, hầu như phương pháp này
    giáo trình, tài liệu cũng còn hạn chế tình huống chưa được thể hiện đúng bản chất, thay vào đó
    thực tiễn, điều này dẫn đến sinh viên ra trường phương pháp truyền đạt kiến thức một chiều kiểu
    chậm thích ứng với công việc và môi trường thực thầy giảng trò nghe và ghi chép vẫn chiếm phần
    tế rất đa dạng và phức tạp. lớn. Các buổi thảo luận nhóm, thuyết trình nhóm,
    Bên cạnh đó, do giáo trình và tài liệu chuyên bài tập nhóm vẫn còn khá hạn chế. Vì thế các kỹ
    ngành Kế toán được viết dựa trên chế độ kế toán năng mềm chưa được trang bị đầy đủ cho sinh
    nên không có sự phong phú trong tài liệu phục vụ viên như: kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng giao
    cho giảng dạy, nghiên cứu. Các tài liệu của một tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng quản lý
    môn học giữa các tác giả hầu như nội dung gần thời gian (Nguyễn Hữu Ánh, 2017).
    giống nhau, có khác cũng chỉ là sắp xếp chật tự Bên cạnh đó, cho đến nay việc đào tạo kế toán tại
    các nội dung khác nhau, cho các ví dụ nghiệp vụ các trường ĐH ở Việt Nam vẫn đang thực hiện
    phát sinh khách nhau. Việc xuất bản sách cũng tập theo hướng luật hóa (rule-based). Như phần giáo
    trung ở một số ít trường đầu ngành như ĐH Kinh trình tài liệu giảng dạy tác giả có đề cập, việc
    tế TP.HCM, ĐH Kinh tế quốc dân, học viện tài giảng dạy các môn chuyên ngành kế toán tại các
    chính… còn các trường ĐH địa phương đa phần trường đại học của Việt Nam hiện nay chủ yếu
    sử dụng sách của các trường đầu ngành trên để sử bám sát vào chế độ kế toán hiện hành cụ thể là TT
    dụng cho giảng dạy và nghiên cứu. Các tài liệu 200/2014/TT-BTC, TT 133/2016/TT-BTC và TT
    nước ngoài chuyên ngành kế toán còn khan hiếm, 132/2018/TT-BTC, với sự nhấn mạnh vào các bút
    đặc biệt là tài liệu liên quan đến IFRS hiện nay ở toán Nợ- Có của từng nghiệp vụ phát sinh cụ thể.
    các trường ĐH Việt Nam nói riêng và các nước Tuy rằng việc ban hành các thông tư này đã thể
    không sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh là ngôn ngữ hiện sự nỗ lực của các nhà ban hành luật, là một
    chính đang thiếu hụt nghiêm trọng (Nguyễn Thị bước tiến lớn của chế độ kế toán Việt Nam trong
    việc tiệm cận với IFRS khi đã nhấn mạnh đến việc

    50

  5. AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 47 – 56

    ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế dựa trên việc tôn học còn kiểu thầy giảng trò nghe, ghi chép và học
    trong nguyên tắc “bản chất quan trọng hơn hình thuộc, nên việc làm các bài kiểm tra đánh giá còn
    thức”, nhưng việc đưa ra các phân tích nghiệp vụ mang nặng tính rập khuôn, máy móc, chưa phát
    dựa trên các nguyên tắc (principle-based) theo huy được khả năng tư duy sáng tạo của người học.
    tinh thần IFRS chưa thực sự được chú trọng đúng Việc làm các bài kiểm tra và thi chủ yếu là làm
    mực (Nguyễn Thị Thu Hiền, Phạm Tú Anh & trên giấy, với quy mô lớp học đông và chưa có
    Trần Thị Quỳnh Hương, 2017). công cụ hỗ trợ giám sát, nên giảng viên khó kiểm
    Về phương pháp đánh giá: Hiện nay, hầu hết soát hết tình trạng gian lận của sinh viên nên
    các trường đã bỏ cách đánh giá cũ trước đây là chỉ không tránh khỏi có nhiều trường hợp kết quả
    dựa vào kết quả thi cuối kỳ, thay vào đó kết quả đánh giá còn chưa phản ảnh đúng thực lực của
    điểm hết môn của sinh viên được tính dựa trên sinh viên.
    nhiều điểm thành phần: điểm chuyên cần, điểm 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÁO GỠ
    kiểm tra giữa kỳ và điểm thi cuối kỳ. Trong đó, KHÓ KHĂN CHO CÁC TRƯỜNG ĐẠI
    kiểm tra và thi được thực hiện bằng nhiều hình HỌC TẠI VIỆT NAM TRONG ĐÀO TẠO
    thức như viết (tự luận, trắc nghiệm), thuyết trình, KẾ TOÁN GIAI ĐOẠN TRIỂN KHAI ĐỀ
    báo cáo (cá nhân, nhóm)… Tuy nhiên, phương ÁN IFRS
    thức đánh giá này mới chỉ dựa vào tiêu chí điểm Từ những thực trạng mà tác giả đã tổng hợp từ
    số định lượng mà thiếu tiêu chí định tính của cơ nhiều nghiên cứu và trình bày ở trên, qua đó tác
    quan đảm bảo chất lượng Anh (QAA, UK) mà giả nhận diện những khó khăn nổi cộm trong công
    nhiều trường ĐH trên thế giới đang áp dụng tác đào tạo kế toán tại các trường đại học ở Việt
    (Nguyễn Hữu Ánh, 2017). Hơn nữa, do chương Nam hiện nay và tóm lược lại trong bảng sau:
    trình học còn nặng lý thuyết, phương pháp dạy

    Yếu tố xem xét Khó khăn chủ yếu

    Chương trình đào tạo – Số trường đưa nội dung IFRS vào giảng
    dạy còn rất ít.
    – CTĐT còn nặng lý thuyết.
    – Trong CTĐT còn nhiều môn học có nội
    dung trùng lắp.
    – Thời lượng thực hành, thực tập, thực tế
    còn ít; hiệu quả thực hành thực tập chưa cao.

    Giáo trình tài liệu giảng dạy – Tài liệu kế toán thiếu phong phú về nội
    dung.
    – Khan hiếm tài liệu chuyên ngành kế toán
    nước ngoài, đặc biệt về IFRS.

    Đội ngũ giảng viên – Ít kinh nghiệm thực tế.
    – Hạn chế trình độ ngoại ngữ.

    Phương pháp giảng dạy – Còn nặng tính truyền thống thầy giảng trò
    nghe.
    – Còn hạn chế các buổi thảo luận, thuyết

    51

  6. AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 47 – 56

    trình, tổ chức nhóm.
    – Phương pháp dạy các môn kế toán chủ
    yếu bám sát chế độ kế toán, ít giải quyết tình
    huống cụ thể, chưa chú trọng giảng dạy nguyên
    tắc, chưa phát huy được khả năng tư duy, sáng
    tạo của sinh viên.

    Phương pháp đánh giá – Nội dung các bài đánh giá còn mang nặng
    tính rập khuôn, máy móc, ít đưa tình huống thực
    tế vào.
    – Việc kiểm soát tình trạng gian lận của sinh
    viên trong kiểm tra thi cử còn khó khăn.

    Trên cơ sở những khó khăn nêu trên, bằng nhận vào giảng dạy nên được thực hiện từng bước với
    thức và kinh nghiệm giảng dạy hơn 10 năm của mức độ tiếp cận được nâng cao dần qua các năm
    bản thân, tác giả suy luận logic và đưa ra các giải để bản thân các giảng viên cũng cần có thời gian
    pháp khắc phục những khó khăn và tồn tại đã nêu để nghiên cứu, biên soạn tài liệu. Việc đánh giá
    như sau: CTĐT và đề cương chi tiết nên mời các chuyên
    Thứ nhất về chương trình đào tạo: gia là giảng viên ngoài trường có học hàm học vị
    cao; các kế toán viên, kiểm toán viên có bề dày
    Các trường đại học đầu ngành trong nước nên là
    kinh nghiệm đang làm việc tại các doanh nghiệp
    những “cánh chim đầu đàn” trong việc tham chiếu
    để việc đánh giá được khách quan và đảm bảo
    CTĐT kế toán tại các trường ĐH ở các nước phát
    chương trình đạo tạo đáp ứng được với yêu cầu
    triển trên thế giới đã áp dụng IFRS và các tổ chức
    thực tiễn. Bên cạnh đó, các trường nên giảm thời
    nghề nghiệp uy tín để hội tụ cao nhất nội dung
    gian đi thực tập, thực tế tại các doanh nghiệp thay
    chương trình đào tạo với các trường, các tổ chức
    vào đó là xây dựng phòng kế toán mô phỏng để
    này. Các trường đại học địa phương còn nhiều hạn
    sinh viên có cơ hội thực hành nghề nghiệp mà
    chế về nguồn lực thì việc xây dựng CTĐTcũng
    việc đi thực tập gần như không được tiếp cận như:
    cần tham khảo, học tập các trường ĐH đầu ngành
    lập chứng từ, lập báo cáo tài chính và rèn luyện
    trong nước để từng bước chuyển đổi theo xu
    các kỹ năng ứng dụng nghề nghiệp như kỹ năng
    hướng hội nhập. Đặc biệt là việc đưa nội dung
    sử dụng các thiết bị văn phòng, phần mềm kế
    IFRS vào giảng dạy nên học tập các trường đã
    toán… Mô hình phòng kế toán mô phỏng hiện nay
    tiên phong thực hiện, tiêu biểu như ĐH Kinh tế
    đã được một số trường áp dụng điển hình như ĐH
    TP.HCM với hàm lượng nội dung IFRS được đưa
    Bình Dương.
    vào giảng dạy trong môn Kế toán quốc tế nhiều
    nhất (Nguyễn Xuân Hưng, 2017). Thứ hai về tài liệu giảng dạy, nghiên cứu:

    Cụ thể hơn, các trường cần rà soát, đánh giá Các tài liệu giảng dạy thay vì biên soạn dựa trên
    CTĐT để giảm thời lượng những môn học nặng lý cơ sở bám sát chế độ kế toán thì nên biên soạn
    thuyết, tăng thời lượng các môn thực hành. Rà dựa trên cơ sở bám sát chuẩn mực kế toán. Vì chế
    soát, đánh giá đề cương chi tiết để giảm nội dung độ kế toán được trình bày rất cụ thể cho từng
    lý thuyết và tăng tình huống thực tế; đối chiếu nghiệp vụ phát sinh, như vậy người học chỉ cần
    giữa các đề cương chi tiết để loại bỏ các kiến thức đọc chế độ kế toán là có thể nắm được phương
    bị trùng lắp; sắp xếp các môn học theo trình tự pháp hạch toán cho từng nghiệp vụ. Nhưng chuẩn
    tăng dần độ khó. Đối với việc đưa nội dung IFRS mực kế toán mang tính hướng dẫn chung, tôn

    52

  7. AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 47 – 56

    trọng bản chất hơn nên khi soạn tài liệu dựa trên luyện thêm về ngoại ngữ. Tổ chức các buổi tập
    chuẩn mực giúp người học phát huy khả năng tư huấn cho giảng viên và sinh viên khai thác dữ liệu
    duy, sáng tạo, tăng khả năng xét đoán nghề nghiệp mở trên ineternet. Đối với tài liệu IFRS, để khắc
    nên có thể giải quyết tình huống trong thực tế tốt phục tình trạng khan hiếm tài liệu thì việc khai
    hơn. thác trên các website là rất cần thiết. Theo đó, một
    Các tài liệu tham khảo các trường nên bổ sung số trang web tiêu biểu có thể khai thác tài liệu kế
    thêm các đầu sách nước ngoài viết bằng tiếng Anh toán nói chung và tài liệu IFRS nói riêng điển
    vào kho tàng Thư viện. Để giảng viên và sinh viên hình như sau:
    có nhu cầu và có cơ hội mở rộng kiến thức và rèn
    Trang web
    1 http://ec.europa.eu/internal_market/accounting/ias_en.htm
    của EU

    Trang web
    của Hiệp
    2 https://commons.aaahq.org/signin
    Hội kế
    toán Mỹ

    Trang web
    của công ty www.deloitte.com/us/ifrs/consortium;
    3
    kiểm toán www.IASPlus.com
    Deloitte

    Trang web
    của công
    http://home.kpmg.com/xx/en/home/services/audit/international-financial-reporting-
    4 công ty
    standards.html
    kiểm toán
    KPMG

    Trang web
    của công ty
    5 http://www.ey.com/gl/en/issues/ifrs/issues_gl_ifrs_nav_publications
    Ernst &
    Young

    (Nguyễn Thị Thu Hiền, Phạm Tú Anh, Trần Thị Quỳnh Hương, 2017)
    Thứ ba về đội ngũ giảng viên (GV): thêm nhiều kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm
    Nhằm nâng cao năng lực chuyên môn, kinh thực tế và nâng cao trình độ ngoại ngữ. Đặc biệt là
    nghiệm thực tế việc đầu tiên là các GV phải tự tìm liên quan đến vấn đề hội tụ VAS với IFRS, GV ở
    tòi nghiên cứu và học hỏi. Bên cạnh đó, các các trường đại học địa phương cần thiết được tổ
    trường cũng cần tạo các mối quan hệ tốt với các chức tập huấn, trao đổi với các chuyên gia là các
    doanh nghiệp, các tổ chức nghề nghiệp trong và GV ở các trường ĐH đầu ngành, hoặc các kế toán,
    ngoài nước nhằm tăng cường tổ chức các buổi kiểm toán viên tại các công ty lớn, các tổ chức
    giao lưu, tọa đàm, các hội thảo trong nước và nghề nghiệp trong và ngoài nước để có định
    quốc tế về lĩnh vực kế toán tài chính. Qua các hướng rõ hơn trong việc đưa nội dung này vào
    buổi tọa đàm, hội thảo đó sẽ giúp các GV tích lũy giảng dạy theo lộ trình phù hợp. Ngoài ra, các

    53

  8. AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 47 – 56

    trường nên hạn chế mời GV thỉnh giảng vì phải xếp lớp học các trường cần cho sinh viên đăng ký
    phụ thuộc lịch của GV thỉnh giảng, phải dạy cuốn khoảng 20 – 30 sinh viên/ nhóm. Có như thế, việc
    chiếu gấp rút hoặc đảo lộn trật tự môn học không thực hiện các tình huống thực tế, các bài tập nhóm
    theo thứ tự trước sau như CTĐT, làm ảnh hưởng mới được hầu hết các sinh viên được tham gia
    tới chất lượng đào tạo. Để đảm bảo có một đội trình bày, và giảng viên cũng có thể kiểm soát
    ngũ GV đủ về số lượng và đạt về chất lượng, các lớp/nhóm học được tốt hơn. Bên cạnh đó, nên
    trường nên có chính sách đãi ngộ tốt để giữ được phân loại theo học lực sinh viên nhóm khá giỏi
    các GV có thâm niên và thu hút giảng viên có riêng, nhóm yếu và trung bình riêng, thì việc GV
    trình độ và kinh nghiệm thực tế về giảng dạy. lựa chọn phương pháp dạy cho từng nhóm đối
    Thứ tư về phương pháp giảng dạy tượng sẽ thuận lợi hơn. Đặc biệt, trong việc dạy
    nội dung các môn chuyên ngành kế toán tài chính,
    Mặc dù có rất nhiều phương pháp giảng dạy được
    các GV nên chú trọng giảng dạy kế toán theo
    áp dụng trong thực tế, nhưng hầu hết các nghiên
    phương pháp dựa trên các nguyên tắc, tăng khả
    cứu trên thế giới đều cho rằng phương pháp sử
    năng phán xét, suy luận bản chất vấn đề, chú
    dụng tình huống thực tế là tốt hơn hết, điển hình
    trọng các khái niệm cơ bản thay vì các quy định
    như nghiên cứu của: Carslaw & Purvis (2007);
    cụ thể. Có như vậy sinh viên mới dần thích nghi
    Henry, Lin &Yang (2007); James (2011)…
    với quy định mới của kế toán khi mà VAS hội tụ
    (Nguyễn Thị Thu Hiền, Phạm Tú Anh & Trần Thị
    với IFRS.
    Quỳnh Hương, 2017). Bên cạnh đó trong một
    cuộc khảo sát thực tế của Công ty kiểm toán Thứ năm về phương pháp đánh giá sinh viên:
    KPMG và Hội đồng giáo dục của Hiệp hội Kế Do phương pháp giảng dạy nên thay đổi theo
    toán Mỹ đã chỉ ra rằng có 76% những người tham hướng tích cực lấy người học làm trung tâm, vì
    gia trả lời câu hỏi ủng hộ việc sử dụng bài tập tình vậy phương pháp đánh giá sinh viên cũng không
    huống là nguồn tài liệu cần thiết cho việc giảng thể không thay đổi. Theo đó, nội dung các bài
    dạy IFRS (Munter & Reckers, 2009). kiểm tra, thi nên giảm kiến thức dạng vận dụng lý
    Theo đó, để chuẩn bị cho việc đào tạo ra các kế thuyết và tăng kiến thức dạng tư duy, suy luận.
    toán, kiểm toán viên có khả năng áp dụng IFRS Ngoài ra cũng cần cân đối lại số bài kiểm tra đánh
    trong thực tế thì việc các cơ sở đào tạo cần thay giá được sử dụng tài liệu và không sử dụng tài
    đổi phương pháp dạy từ truyền thống sang liệu làm sao để đảm bảo vừa đánh giá được khả
    phương pháp dạy tích cực là rất cần thiết. Phương năng ghi nhớ, vận dụng kiến thức đồng thời đánh
    pháp dạy tích cực trong đó người dạy chỉ là người giá được khả năng tư duy, sáng tạo của sinh viên,
    hướng dẫn, cố vấn còn người học đóng vai trò chủ nhất là có thể đánh giá khả năng tìm kiếm, chọn
    đạo tự tìm tòi, nghiên cứu là chính. Cụ thể kiến lọc và xử lý thông tin của sinh viên trong thời đại
    thức sẵn có trong giáo trình hoặc tài liệu giảng bùng nổ thông tin như hiện nay. Riêng các môn
    dạy GV có thể hướng dẫn dưới dạng các câu hỏi, Kế toán tài chính trong các bài kiểm tra và thi nên
    hoặc sơ đồ tư duy, tóm tắt nội dung chính cần thay đổi theo hướng tăng hàm lượng kiến thức
    nắm để sinh viên tự đọc, tự nghiên cứu. Như vậy dạng suy luận bản chất vấn đề và xét đoán nghề
    thời gian trên lớp chủ yếu GV nên hướng dẫn sinh nghiệp và giảm các câu hỏi định khoản kế toán.
    viên vận dụng kiến thức lý thuyết đã tự chuẩn bị Đặc biệt, các trường nên xây dựng ngân hàng câu
    để vận dụng giải quyết bài tập thực hành, đặc biệt hỏi thi cho các môn học, bộ phận chọn đề thi độc
    đưa thêm các tình huống thực tế để sinh viên thảo lập với giảng viên trực tiếp giảng dạy để hạn chế
    luận, trình bày, nhằm tăng khả năng tư duy và rèn “dạy tủ, học tủ”. Trong việc giám sát sinh viên
    luyện các kỹ năng mềm cho sinh viên như thuyết kiểm tra, thi cử, các trường nên cân nhắc giữa
    trình, làm việc nhóm… Muốn vậy, trong việc sắp việc lắp đặt camera với việc bố trí nhiều nhận sự
    tham gia để đạt hiệu quả cao nhất.

    54

  9. AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 47 – 56

    4. KẾT LUẬN bước đổi mới để dạy và học kế toán theo chuẩn
    Đề án áp dụng IFRS vào Việt Nam có diễn ra quốc tế.
    đúng như lộ trình mà Bộ Tài Chính đề vạch ra hay TÀI LIỆU THAM KHẢO
    không phụ thuộc một phần không nhỏ vào công Bộ Tài Chính. (2019). Đề án “Áp dụng chuẩn mực
    tác đào tạo tại các Trường Đại học ở Việt Nam báo cáo tài chính quốc tế vào Việt Nam”. Hà
    trong thời gian tới. Như tác giả đã trình bày ở Nội: Bộ Tài Chính.
    phần đặt vấn đề, VAS mới sẽ được bắt đầu có
    Đào Thị Đài Trang. (2018). Giải pháp nâng cao
    hiệu lực từ 2022, thời gian là rất cận kề và gấp rút.
    chất lượng đào tạo ngành kế toán trong các
    Do đó, các cơ sở đào tạo mà chủ yếu là các trường
    trường đại học ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu
    đại học nơi đào tạo ra các kế toán viên cần nhanh
    câu hội nhập. Truy cập tại
    chóng nghiên cứu, triển khai và đưa nội dung
    IFRS vào giảng dạy càng sớm càng tốt. Tuy nhiên http://kketoan.duytan.edu.vn/Home/ArticleDetail/
    đưa những nội dung nào, mức độ bao nhiêu, tiếp vn/132/2780
    cận như thế nào thì mỗi trường cần nghiên cứu Munter, P. & Reckers PM. (2009). IFRS and
    thiết kế để phù hợp nhất với điều kiện hoàn cảnh Collegiate Accounting Curricula in the United
    riêng của mình. Đặc biệt, các trường cần đánh giá States: 2008 A Survey of the Current State of
    lại các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo kế Education Conducted by KPMG and the
    toán như: CTĐT, đề cương chi tiết, đội ngũ giảng Education Committee of the American
    viên, phương pháp giảng dạy, đánh giá, giáo trình Accounting Association. Issues in Accounting
    tài liệu… để khắc phục những mặt hạn chế; từ đó Education, 2, 131-139.
    góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo
    Nguyễn Hữu Ánh. (Tháng 6, 2017). Đổi mới đào
    ngành Kế toán để có thể đáp ứng nhu cầu hội
    tạo ngành kế toán của các trường đại học của
    nhập.
    Việt Nam đáp ứng yêu cầu xã hội trong xu thế
    Tính mới của nghiên cứu là trình bày một cách có hội nhập. Bài viết được trình bày tại hội thảo
    hệ thống thực trạng và giải pháp tháo gỡ khó khăn Đổi mới phương pháp đào tạo, cập nhật giáo
    trong công tác đào tạo kế toán ở các trường đại trình giảng dạy kế toán phù hợp với yêu cầu
    học tại Việt Nam theo các nhóm yếu tố quan cải cách kế toán trong giai đoạn mới, Hồ Chí
    trọng. Trong khi hầu hết các nghiên cứu tương tự Minh, Việt Nam.
    trước đây chỉ trình bày chung, chưa có sự phân
    Nguyễn Thị Thu Hiền., Phạm Tú Anh., & Trần
    phân loại này, hoặc nếu có cũng chưa đầy đủ các
    Thị Quỳnh Hương. (Tháng 6, 2017). Một số
    nhóm yếu tố này. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài vừa
    thay đổi cần thiết trong việc đào tạo kế toán
    cung cấp cơ sở lý thuyết cho các nghiên cứu tiếp
    tại các trường đại học Việt Nam dưới sự tác
    theo nghiên cứu về đào tạo kế toán tại Việt Nam.
    động của việc chuyển đổi sang IFRS Bài viết
    Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cung cấp các giải
    được trình bày tại hội thảo Đổi mới phương
    pháp giúp cho các sinh viên, giảng viên và các
    pháp đào tạo, cập nhật giáo trình giảng dạy kế
    nhà quản lý giáo dục trong việc nâng cao chất
    toán phù hợp với yêu cầu cải cách kế toán
    lượng dạy và học chuyên ngành kế toán nói riêng
    trong giai đoạn mới, Hồ Chí Minh, Việt Nam.
    và trong nâng cao chất lượng đào tạo nói chung ở
    các trường đại học tại Việt Nam. Đặc biệt, trong Nguyễn Xuân Hưng. (Tháng 6, 2017). Định
    giai đoạn cấp bách như hiện nay thì nghiên cứu hướng đào tạo kế toán tại Việt Nam trong quá
    góp thêm phần thúc đẩy tinh thần cho người học, trình hội nhập chuẩn mực lập báo cáo tài
    người dạy và cả những nhà quản lý giáo dục trong chính quốc tế (IFRS). Bài viết được trình bày
    việc sẵn sàng tiếp nhận thử thách là phải từng tại Hội thảo Đổi mới phương pháp đào tạo, cập
    nhật giáo trình giảng dạy kế toán phù hợp với

    55

  10. AGU International Journal of Sciences – 2021, Vol. 27 (1), 47 – 56

    yêu cầu cải cách kế toán trong giai đoạn mới, Chí Minh (Số 411). Truy cập từ:
    Hồ Chí Minh, Việt Nam. http://www.dubaonhanluchcmc.gov.vn/tin-
    Phan Thanh Hải., & Nguyễn Phi Sơn. (2016). tuc/7617.thi-truong-lao-dong-nam-2018-du-
    Đào tạo nhân lực cho ngành kiểm toán độc lập bao-nhu-cau-nhan-luc-nam-2019-tai-thanh-
    của Việt Nam trong các trường đại học – Cơ pho-ho-chi-minh.html
    hội và thách thức khi gia nhập TPP, AEC. Bài Vụ Chế Độ Kế toán và Kiểm toán. (2017). Phát
    viết được trình bày tại Hội thảo 20 năm thành triển và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về
    lập Hội Kế toán – Kiểm toán Việt Nam, Hà Chuẩn mực Báo cáo tài chính tại Việt Nam.
    Nội, Việt Nam. Bài viết được trình bày tại Hội thảo Đổi mới
    Trung tâm Dự báo Nhu cầu nhân lực và Thông tin phương pháp đào tạo, cập nhật giáo trình giảng
    Thị trường lao động TP.HCM. (2018). Báo dạy kế toán phù hợp với yêu cầu cải cách kế
    cáo phân tích thị trường lao động năm 2018 toán trong giai đoạn mới, Hồ Chí Minh, Việt
    dự báo nhu cầu nhân lực năm 2019 tại TP. Hồ Nam.

    56

Download tài liệu Đào tạo kế toán tại các trường đại học ở Việt Nam giai đoạn hội tụ chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) File Word, PDF về máy