[Download] Tải Đào tạo cử nhân kế toán – kiểm toán quốc tế trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 – Tải về File Word, PDF

Đào tạo cử nhân kế toán – kiểm toán quốc tế trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Đào tạo cử nhân kế toán – kiểm toán quốc tế trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Nội dung Text: Đào tạo cử nhân kế toán – kiểm toán quốc tế trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Download


Cùng với việc kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng, Việt Nam có rất nhiều cơ hội cũng như thách thức. Trong lĩnh vực nghề nghiệp kế toán – kiểm toán, lao động Việt Nam có cơ hội tham gia làm việc ở nước ngoài và ngược lại, lao động nước ngoài cũng có nhiều cơ hội làm việc tại Việt Nam. Bài viết này tập trung vào việc đào tạo kế toán có tính quốc tế trên nền tảng công nghệ – E-Learning.

Bạn đang xem: [Download] Tải Đào tạo cử nhân kế toán – kiểm toán quốc tế trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Đào tạo cử nhân kế toán – kiểm toán quốc tế trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 File Word, PDF về máy

Đào tạo cử nhân kế toán – kiểm toán quốc tế trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Đào tạo cử nhân kế toán – kiểm toán quốc tế trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

  1. ĐÀO TẠO CỬ NHÂN KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN QUỐC TẾ
    TRƯỚC CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

    Trần Thế Nữ
    Khiếu Hữu Bình
    Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội
    Tóm tắt
    Cùng với việc kinh tế quốc tế ngày một sâu rộng, Việt Nam có rất nhiều cơ hội
    cũng như thách thức. Trong lĩnh vực nghề nghiệp kế toán – kiểm toán, lao động Việt
    Nam có cơ hội tham gia làm việc ở ngước ngoài và ngược lại, lao động nước ngoài
    cũng có nhiều cơ hội làm việc tại Việt Nam. Tuy nhiên, dòng chảy lao động Việt Nam
    ra nước ngoài chưa nhiều nhưng nguy cơ dòng lao động từ các nước như Singapore,
    Malaysia, Philippines trong lĩnh vực kế toán – kiểm toán là rất lớn do họ có lợi thế
    nhiều hơn về tiếng Anh và tính quốc tế trong nghề nghiệp. Điều này đặt ra những yêu
    cầu cao hơn về chất lượng của đào tạo nhân lực kế toán và kiểm toán, đặc biệt là
    tính quốc tế. Cùng với đó, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tới gần với tốc độ
    đột phá và được dự đoán sẽ tác động đến mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, trong
    đó có giáo dục đại học. Bài viết này tập trung vào việc đào tạo kế toán có tính quốc
    tế trên nền tảng công nghệ – E-Learning.
    Từ khóa: cách mạng công nghiệp 4.0, kế toán kiểm toán, E-Learning
    1. Thực trạng đào tạo cử nhân kế toán kiểm toán
    Kế toán – kiểm toán từ trước tới nay luôn là nghề nghiệp có nhu cầu xã hội rất
    lớn. Đặc biệt, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu và số lượng đào tạo cử
    nhân kế toán, kiểm toán luôn nằm trong nhóm dẫn đầu tại các trường đại học khối
    kinh tế ở Việt Nam. Về nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy các môn
    học kế toán, kiểm toán trong các trường đại học, những năm qua đã có thay đổi căn
    bản về nội dung và hình thức. Bên cạnh việc trang bị những kiến thức lý luận nền
    tảng, các chương trình đào tạo dần chú trọng đào tạo kỹ năng thực hành nhằm giúp
    sinh viên có thể lập sổ sách kế toán và báo cáo tài chính. Mặc dù vậy, có thể dễ dàng
    nhận thấy ở hầu hết chương trình đào tạo ở các trường đại học, số lượng các môn học
    chuyên ngành căn bản còn quá nhiều do các trường phải tuân thủ chương trình khung
    của Bộ GD&ĐT, trong đó các môn học bắt buộc thuộc phần giáo dục đại cương còn
    chiếm khối lượng khá lớn khiến cho việc giảm tải chương trình gặp nhiều khó khăn.
    Các nội dung chuyên ngành được phân thành hai khối chính, thứ nhất là các nội dung
    Kế toán tài chính, Kế toán quản trị, Hệ thống thông tin kế toán, Nguyên lý kế toán.
    Thứ hai là các môn học nâng cao, hoặc chuyên biệt như Kế toán công ty, Kế toán

    187

  2. công, Kế toán tập đoàn, Kế toán doanh nghiệp dịch vụ, Kế toán ngân hàng thương
    mại… Các môn học chuyên biệt này khai thác các nội dung chuyên sâu về kế toán
    trong từng mảng sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì thế dẫn tới việc
    trùng lặp một số nội dung ở những phần chuyên sâu/chuyên biệt này và phần kiến
    thức trước đó.
    Về học liệu, giáo trình các trường đang sử dụng, phần lớn học liệu sử dụng
    hiện là dạng giáo trình được biên soạn theo các văn bản Bộ Tài chính về chuẩn mực
    kế toán Việt Nam, chế độ kế toán, các bài giảng và đề thi cũng được thiết kế theo
    hướng này. Điều này dẫn đến việc sinh viên nhớ kiến thức một cách máy móc, hạn
    chế khả năng suy luận, tìm hiểu bản chất vấn đề và phát triển kiến thức. Rất nhiều
    sinh viên sau khi ra trường và đi làm cho các doanh nghiệp không thể làm việc và tư
    duy độc lập, gặp nhiều lúng túng trong các tình huống thực tế.
    Về phương pháp dạy và học, một số trường đã thực hiện thay đổi tích cực trong
    phương pháp giảng dạy theo hướng giảm giờ học lý thuyết, đẩy mạnh thời gian tự học
    của sinh viên, tăng cường thời gian thực hành. Nhưng phần lớn chương trình đào tạo cử
    nhân hiện nay được đào tạo trong mô hình truyền thống, hiệu quả của việc này còn thấp
    do cơ sở vật chất cũng như kinh phí thực hiện của các trường còn thiếu. Việc áp dụng
    công nghệ thông tin vào giảng dạy chỉ dừng lại ở số hóa bài giảng, dùng slide thay cho
    bảng phấn hay có thực hành trên các phần mềm kế toán (kế toán máy).
    Như vậy, có hai điểm yếu trong chương trình đào tạo của các trường. Thứ nhất
    là thiếu các nội dung mang tính hội nhập quốc tế trong đó có kế toán và chuẩn mực
    báo cáo tài chính quốc tế. Rất nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp làm cho các doanh
    nghiệp nước ngoài, hoặc doanh nghiệp Việt Nam có trình bày báo cáo tài chính theo
    chuẩn mực quốc tế gặp rất nhiều khó khăn đối với những mảng kiến thức này. Thứ
    hai là chưa áp dụng công nghệ cao như lớp học ảo, lớp học trực tuyến vào đào tạo hệ
    cử nhân.
    2. Yêu cầu về tính quốc tế cho nghề nghiệp kế toán – kiểm toán
    2.1. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ngày một nhiều
    Trong hành trình mở cửa nền kinh tế, việc thu hút FDI của Việt Nam tạo ra
    diện mạo mới cho nền kinh tế. Từ năm 1991 đến năm 2016, Việt Nam đã thu hút
    được 151,39 tỷ USD vốn FDI thực hiện. Giai đoạn 1991 – 2000 phần lớn dự án FDI
    có quy mô nhỏ, vốn đầu tư trung bình mỗi dự án khoảng 4 triệu USD, tập trung vào
    may mặc, giày dép, đồ uống, thực phẩm, có một số dự án lớn thăm dò và khai thác
    dầu khí, sản xuất ô tô, xe máy, khách sạn, dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm của
    những tập đoàn kinh tế lớn. Giai đoạn 2001 – 2010, sau khi khắc phục hậu quả của
    khủng hoảng kinh tế khu vực, từ năm 2005 đã có thêm nhiều dự án lớn công nghệ
    188
  3. cao, dịch vụ hiện đại của Intel, Nokia, Canon, Samsung, LG… làm tăng thêm tỷ trọng
    của khu vực FDI trong giá trị sản xuất công nghiệp và kim ngạch xuất khẩu. Giai
    đoạn 2011 – 2016 có thêm nhiều dự án quy mô lớn, với vốn đầu tư từ 1 tỷ USD trở
    lên, đưa Việt Nam trở thành cứ điểm sản xuất một số sản phẩm công nghệ cao của
    thế giới, như điện thoại di động, máy tính bảng, hàng điện tử…

    Nguồn: Niên giám thống kê 2010

    Nguồn: Niên giám thống kê 2015

    189

  4. Như vậy, sau gần 30 năm thu hút vốn FDI, số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư
    nước ngoài ở Việt Nam đã tăng lên nhiều với số năm 2014 là 11.046 doanh nghiệp. Đây là
    cơ hội việc làm trong lĩnh vực kế toán có tính quốc tế cao cho lao động Việt Nam.
    2.2. Pháp luật kế toán ngày càng tiệm cận với Chuẩn mực Kế toán quốc tế
    Trong thập niên gần đây, việc áp dụng Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế
    (IFRS) đã phát triển nhanh chóng và được áp dụng phổ biến trên toàn thế giới. Ngay
    từ tháng 7 năm 2002, Liên minh châu Âu đã yêu cầu tất cả công ty niêm yết trên thị
    trường chứng khoán lập báo cáo tài chính theo chuẩn mực IFRS đối với toàn bộ báo
    cáo tài chính hợp nhất cho các kỳ kế toán kể từ 01/01/2005. Kết quả là tính đến năm
    2005, khoảng 7.000 công ty của 25 nước thành viên Liên minh châu Âu khi đó đã
    chuyển từ các hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia sang IFRS1. Quyết định dứt
    khoát của Liên minh châu Âu đã thúc đẩy sự lan tỏa mạnh mẽ của IFRS trên quy mô
    toàn cầu. Khảo sát gần đây của Hội đồng Chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) cho
    thấy 116/140 quốc gia đã yêu cầu các công ty niêm yết áp dụng IFRS2. Trong khi đó,
    các nước còn lại trong khảo sát cũng đã cho phép áp dụng IFRS. Các nghiên cứu đã
    chỉ ra rằng IFRS là một tác nhân quan trọng tới tính bền vững của nền kinh tế toàn
    cầu. IFRS giúp nâng cao trách nhiệm giải trình bằng cách giảm bớt lỗ hổng thông tin
    giữa nội bộ và bên ngoài công ty. Việc IFRS có thể áp dụng cho cả các nền kinh tế
    phát triển và mới nổi cũng góp phần hỗ trợ giảm thiểu chi phí báo cáo. Nó tạo ra một
    thứ ngôn ngữ chung cho thị trường vốn, mang lại sự tin cậy cho các nhà đầu tư, đồng
    thời thúc đẩy các công ty và thị trường hoạt động hiệu quả hơn.
    Tại Việt Nam, báo cáo tài chính của các doanh nghiệp đang được áp dụng theo
    Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) được Bộ Tài chính ban hành thành nhiều đợt
    khác nhau với 26 chuẩn mực. Về bản chất, VAS được xây dựng có chọn lọc dựa trên
    nền tảng của các chuẩn mực quốc tế IAS/IFRS để phù hợp với đặc điểm của nền kinh
    tế và trình độ quản lý của các doanh nghiệp Việt Nam tại từng thời kỳ. Song, VAS
    cũng đã bộc lộ những điểm hạn chế khi chưa có những hướng dẫn cụ thể và cập nhật
    đối với rất nhiều loại hình giao dịch, các công cụ tài chính mới phát sinh.
    Trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển rất nhanh và mạnh, quá trình hội
    nhập của chúng ta ngày càng sâu, rộng với khu vực và thế giới, Bộ Tài chính đã yêu
    cầu phải nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính đối với tất cả các doanh
    nghiệp. Ngoài ra, để có thể thu hút thêm các nhà đầu tư quốc tế hoặc niêm yết tại thị
    trường nước ngoài, việc trình bày báo cáo tài chính theo chuẩn mực quốc tế trở thành
    một xu thế tất yếu của tất cả các tập đoàn, các công ty đại chúng.

    1 ICAEW. 2015. “Moving to IFRS reporting: seven lessons learned from the European experience”, Financial
    Reporting Faculty
    2 http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/tai-chinh-doanh-nghiep/huong-toi-chuan-muc-bao-cao-tai-chinh-

    quoc-te-ifrs-85366.html

    190

  5. Mặc dù có rất nhiều lợi ích trong việc áp dụng IFRS, tuy nhiên, để có thể áp
    dụng được IFRS, các doanh nghiệp Việt Nam phải chuẩn bị rất nhiều công đoạn
    trong đó có việc hoàn thiện hệ thống và phần mềm kế toán doanh nghiệp, cùng một
    đội ngũ nhân lực kế toán có trình độ cao, ngoại ngữ tốt. Các kỹ thuật để thực hiện
    đánh giá theo IFRS cũng tương đối phức tạp đối với đại đa số nguồn nhân lực kế
    toán hiện nay chỉ được đào tạo để hạch toán và trình bày báo cáo tài chính theo VAS.
    Việc tìm hiểu IFRS và nhận thức rõ các điểm khác biệt giữa VAS và IFRS để
    có thể trình bày báo cáo tài chính theo chuẩn IFRS một cách nhất quán là một nhu
    cầu hết sức bức thiết của các doanh nghiệp. Đối với đội ngũ nhân sự kế toán, quá
    trình này đòi hỏi chi phí đào tạo và thời gian thực hành tương đối lớn. Các cơ sở đào
    tạo trong các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu khoa học, Hiệp hội Kiểm toán
    viên hành nghề Việt Nam (VACPA) tại Việt Nam hiện chưa có chương trình đào tạo
    về IFRS một cách hệ thống.
    Các khóa học đào tạo IFRS chỉ mới được tổ chức gần đây bởi các tổ chức nghề
    nghiệp quốc tế như Hiệp hội Kế toán Công chứng Vương quốc (ACCA), Hiệp hội Kế toán
    công chứng Australia (CPA Australia), Viện Kế toán Công chứng Anh và xứ Wales
    (ICAEW). Tuy nhiên, số lượng học viên được tiếp cận chương trình học tập bổ ích này còn
    khá ít ỏi. Một số công ty kiểm toán như các công ty trong nhóm Big 4 cũng mới chỉ đào tạo
    IFRS nội bộ nhân viên trong công ty. Phần lớn kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam là
    những người trực tiếp lập báo cáo tài chính đều chưa được đào tạo và tiếp cận IFRS.
    Tóm lại, với xu hướng áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế tại Việt Nam và các
    nước trong khu vực, cùng với đó là việc nhiều doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư tại
    Việt Nam và nhiều doanh nghiệp Việt Nam có xu thế vươn ra thế giới thì tính quốc tế
    trong hoạt động kế toán được nâng cao dần lên. Để đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho
    các thay đổi đó, hoạt động đào tạo kế toán cũng cần có những thay đổi lớn để tiếp cận
    với các chương trình đào tạo quốc tế hay các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế.
    3. Cách mạng công nghiệp 4.0 và nghề nghiệp kế toán – kiểm toán
    Công nghiệp 4.0 với những tiến bộ công nghệ một cách thần tốc đang ở
    trong giai đoạn phôi thai nhưng đã thay đổi một cách sâu sắc cách thức làm việc
    của các tổ chức doanh nghiệp. Ý tưởng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 bắt
    đầu ở Đức và nhanh chóng được đưa tới các quốc gia và khu vực khác như Mỹ,
    Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc và Liên minh châu Âu với nhiều tên gọi khác
    nhau, trong đó Industrie 4.0, Internet của vạn vật và Internet công nghiệp là các
    thuật ngữ được sử dụng phổ biến.
    Nhìn chung, cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ xuất hiện những máy móc thiết bị
    mà chúng ta gặp trong đời sống hàng ngày có chức năng bật tắt, được kết nối với
    hoặc có thể kích hoạt bằng Internet. Báo cáo năm 2016 của KPMG – Nhà máy của

    191

  6. Tương lai – mô tả ngành công nghiệp 4.0 là sự tích hợp đầy đủ của công nghệ thông
    tin và truyền thông và công nghệ tự động hoá trong “nhà máy của tương lai”3. Theo
    xu thế này, thiết bị sẽ không chỉ giao tiếp, mà còn sử dụng thông tin và phân tích dữ
    liệu để điều khiển hành động trong tương lai. Vậy với cách mạng công nghiệp 4.0
    với những thay đổi mạnh mẽ trong việc tiếp cận và xử lý thông tin sẽ ảnh hưởng đến
    các nghiệp vụ kế toán tài chính như thế nào?
    Chắc chắn ngành công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra một cách thức tư duy mới buộc
    những người làm tài chính kế toán phải nâng cao trình độ và thay đổi cách thức làm
    việc. Công nghiệp 4.0 được dự kiến sẽ ảnh hưởng đến việc thực hành kế toán, tài
    chính theo các như sau:
    • Giảm thiểu thời gian thu thập thông tin đầu vào, thu thập dữ liệu từ các kho dữ liệu
    lớn, các giải pháp về “Big Data” hay “Dữ liệu lớn” giúp thu thập thông tin nhanh và chính
    xác hơn đối với tất cả các loại quyết định và quản lý các đối tượng liên quan.
    • Giải quyết công tác kế toán xuyên biên giới: Các bộ phận kế toán tài chính dù
    ở đâu trong chuỗi cung ứng của các công ty đa quốc gia cũng có thể sử dụng trên
    cùng một nền tảng dữ liệu định danh thống nhất, giúp kiểm soát hàng hóa một cách
    hiệu quả, tiết kiệm thời gian và chi phí cũng như giảm thiểu rủi ro.
    Như vậy, với cách mạng công nghiệp 4.0, người làm kế toán sẽ có xu hướng
    giảm đi về số lượng do việc xử lý thông tin được số hóa hoặc được phân tích bằng
    các công nghệ cao hay trí tuệ nhân tạo. Điều này dẫn tới việc đào tạo kế toán sẽ thay
    đổi theo.
    4. Giải pháp tăng cường tính quốc tế cho đào tạo cử nhân kế toán – kiểm toán
    4.1. Tăng cường tính quốc tế cho đào tạo cử nhân kế toán – kiểm toán
    Hiện tại, ở Việt Nam đã và đang triển khai hai hướng đi để giải quyết bài toán
    đó. Thứ nhất, các sinh viên được đào tạo tại môi trường nước ngoài hoặc đào tạo
    trong nước nhưng hoàn toàn theo khung chương trình đào tạo kế toán, kiểm toán
    quốc tế. Tuy nhiên, hướng đi này chỉ áp dụng được đối với một bộ phận nhỏ sinh
    viên trong khi nhu cầu của thị trường là rất lớn. Thứ hai, đó là việc tích hợp các yếu
    tố quốc tế vào chương trình đào tạo hiện tại. Đây là một xu hướng mới đang được rất
    nhiều các cơ sở đào tạo triển khai tại Việt Nam bởi nó phù hợp với trình độ phát triển
    của đất nước và hướng tới đại đa số sinh viên. Sự xuất hiện của các tổ chức nghề
    nghiệp quốc tế tại Việt Nam trong suốt thời gian vừa qua như ACCA, CPA Úc, CIA,
    CIMA hay gần đây là ICAEW, AIA chứng tỏ rằng Việt Nam là một điểm tăng
    trưởng nóng đầy tiềm năng. Việc tích hợp chương trình đào tạo hiện tại của các
    trường đại học với các tổ chức nghề nghiệp danh giá này liệu có trở thành một hướng
    đi đúng đắn?
    3 https://home.kpmg.com/vn/vi

    192

  7. Với bề dày lịch sử hơn 100 năm hình thành và phát triển, các tổ chức nghề
    nghiệp quốc tế lớn trên thế giới như ACCA và ICAEW có rất nhiều kinh nghiệm
    trong việc nghiên cứu, đào tạo trong lĩnh vực kế toán, kiểm toán, tài chính và kinh
    doanh quốc tế. Các tổ chức này luôn đóng góp tích cực về chuyên môn trong việc
    thảo luận, xây dựng các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế. Năm 2006, ICAEW
    được Ủy ban châu Âu EC chọn là đơn vị nghiên cứu và triển khai áp dụng IFRS trên
    toàn bộ các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu4. Khối lượng kiến thức lớn, luôn
    mang tính thời sự và cập nhật liên tục trong chương trình đào tạo của các tổ chức
    nghề nghiệp này là hành trang cực kỳ hữu ích cho tất cả các học viên. Những người
    theo học và đạt được chứng chỉ nghề nghiệp này luôn được các doanh nghiệp chào
    đón vì các doanh nghiệp hiểu rằng, người học đã được trang bị những kiến thức cần
    và đủ để làm tốt công việc. Do được công nhận trên toàn thế giới và được xem là một
    trong những văn bằng nghề nghiệp danh giá nhất, các học viên hoàn tất chương trình
    đều có cơ hội tiếp cận với các công việc trong lĩnh vực tài chính, kế toán, kiểm toán
    tại các công ty trên toàn thế giới.
    Tại hầu hết các quốc gia có văn phòng đại diện, (ACCA và ICAEW có mạng
    lưới văn phòng hoạt động trên khắp thế giới để hỗ trợ hoạt động của hàng trăm nghìn
    hội viên chính thức), các tổ chức nghề nghiệp này đều có chương trình phối hợp với
    các trường đại học để đào tạo cử nhân hoặc lấy các chứng chỉ chuyên môn trong lĩnh
    vực kinh tế, tài chính, kế toán và kiểm toán. Các chương trình này có sử dụng nội
    dung hoặc thiết kế nội dung theo định hướng các môn học của ACCA và ICAEW, do
    đó sau khi tốt nghiệp, học viên đều có thể nhận đồng thời chứng chỉ/bằng cấp do
    trường đại học ở nước sở tại cung cấp, đồng thời nhận các chứng chỉ hoàn thành từng
    cấp độ chuyên môn của các tổ chức nghề nghiệp. Đối với các nước có ngành tài
    chính kế toán mạnh trong khu vực như Malaysia, Singapore, xu hướng này đã được
    phát triển từ rất nhiều năm nay. Các học viên từ những chương trình này đã có những
    sự nghiệp rất thành công tại các tập đoàn tài chính, các công ty kế toán kiểm toán
    lớn. Thực tế đã chứng minh rằng, sản phẩm đào tạo của các chương trình này trong
    khu vực hoàn toàn có thể cạnh tranh với nguồn nhân lực đến từ các trung tâm tài
    chính phát triển hàng đầu của châu Âu và Mỹ.
    Tại Việt Nam, trong thời gian đầu tiên gia nhập thị trường, các tổ chức nghề
    nghiệp này chủ yếu hướng tới các học viên là người đi làm. Cụ thể, kể từ khi gia
    nhập thị trường Việt Nam vào năm 2002, các hoạt động chính của ACCA là quảng
    bá, giới thiệu chương trình tới nhân sự trong ngành tài chính kế toán. Phần lớn những
    hội viên đầu tiên của ACCA tại Việt Nam là những nhân viên kiểm toán thuộc nhóm
    Big 4. Nhận thấy giá trị và các lợi ích hết sức to lớn của chứng chỉ này cho sự phát
    triển nghề nghiệp và chuyên môn, những hội viên đầu tiên này chính là những người

    4 http://www.eurocapitalmarkets.org/system/files/Flyer%2018%20Oct%20presentation%20_FINAL_.pdf

    193

  8. tạo ra làn sóng nghiên cứu, học tập và theo đuổi mạnh mẽ ACCA cho cộng đồng
    nhân lực của ngành kế toán, kiểm toán tài chính. Hơn thế nữa, tại Thông tư
    129/2012/TT-BTC về việc thi và cấp Chứng chỉ kiểm toán viên và Chứng chỉ hành
    nghề kế toán, Bộ Tài chính đã chính thức chấp nhận những cá nhân có chứng chỉ
    ACCA và CPA Australia được phép tham gia thi chuyển đổi để cấp chứng chỉ CPA
    Việt Nam. Sự kiện này càng cho thấy mức độ ảnh hưởng và thừa nhận rộng rãi của
    các chứng chỉ nghề nghiệp quốc tế này tại Việt Nam.
    Trong thời gian gần đây, các tổ chức nghề nghiệp này đã ký kết các thỏa thuận
    hợp tác với các trường đại học để tích hợp một phần nội dung các môn học vào các
    chương trình đào tạo cử nhân, thạc sỹ. Hoạt động này giúp cho việc tiếp cận với kiến
    thức quốc tế của sinh viên sớm hơn, giúp cho sinh viên tự tin hơn với các công việc
    liên quan sau khi ra trường. Song song với việc nhận bằng đại học chính quy của nhà
    trường, các sinh viên còn được tham gia dự thi các môn học của các tổ chức nghề
    nghiệp để nhận chứng chỉ hoàn thành từng môn học hay các cấp độ học. Từ đó, cơ
    hội kiếm việc làm của sinh viên cũng tốt hơn và cũng giúp giảm thiểu thời gian để
    hoàn thành toàn bộ các chứng chỉ nghề nghiệp danh giá này sau khi tốt nghiệp. Đây
    thực sự là một xu thế mới được rất nhiều các trường đại học lớn ở Việt Nam đón
    nhận và triển khai. Việc quảng bá chương trình cử nhân, thạc sỹ có liên kết với các tổ
    chức nghề nghiệp uy tín đã thu hút được một lượng sinh viên lớn đăng ký theo học.
    Việc thay thế các môn học, phương pháp học, kiểm tra và thi truyền thống bằng các
    môn học mang tính quốc tế và thực tiễn cao đã đem lại một luồng sinh khí mới cho
    cả giảng viên và sinh viên. Việc được hỗ trợ rất lớn về giáo trình, cập nhật kiến thức
    chuyên môn hay các bài thi được thực hiện trên máy tính theo quy chuẩn quốc tế
    cũng giúp các trường giảm thiểu khá nhiều chi phí xây dựng đề cương, giáo án và tổ
    chức thi. Hiện tại có thể kể đến các thỏa thuận hợp tác về chương trình đào tạo cử
    nhân với ACCA của các trường Đại học Ngoại thương, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại
    học kinh tế – Đại học Đà Nẵng, Học viện Ngân hàng, Học viện Tài chính. Đối với
    chương trình cơ bản CFAB của ICAEW, tổ chức nghề nghiệp này cũng đã và đang
    tiến hành việc ký kết các thỏa thuận đối với các trường Đại học Kinh doanh và Công
    nghệ Hà Nội, Đại học Kinh tế – Luật (ĐHQGTP HCM), Đại học Tôn Đức Thắng,
    Học viện Ngân hàng, Đại học Kinh tế Quốc dân, Học viện Tài chính, Đại học kinh tế
    – ĐHQG Hà Nội. Với những tính chất ưu việt trong chương trình đào tạo, các trường
    đại học kỳ vọng sẽ trang bị cho sinh viên đầy đủ kiến thức lý luận và kỹ năng thực
    hành nền tảng trong lĩnh vực tài chính, kế toán, kiểm toán. Sau khi tốt nghiệp, người
    học sẽ có đầy đủ những kỹ năng và phẩm chất chuyên nghiệp để trở thành một
    chuyên gia hoạt động trong môi trường toàn cầu.
    4.2. Đào tạo kế toán kiểm toán trong môi trường E-Learning
    Việc xây dựng và vận hành các chương trình đào tạo cử nhân Kế toán – Kiểm
    toán trong môi trường E-Learning không còn xa lạ với một số trường như Trường

    194

  9. Đại học KTQD, Viện ĐH Mở Hà Nội, Đại học Thái Nguyên, Trường Đại học Trà
    Vinh… mặc dù vậy các chương trình đào tạo này vẫn chưa được ngành giáo dục và
    xã hội đón nhận như một hệ thống đào tạo chất lượng tốt. Minh chứng là chương
    trình đào tạo E-Learning có mã bằng tốt nghiệp riêng, trong đó nêu rõ là chương
    trình đào tạo từ xa. Việc này tạo ra hai hệ thống đào tạo độc lập là hệ thống đào tạo
    truyền thống và hệ thống đào tạo E-Learning, tuy nhiên với xu hướng “Internet kết
    nối vạn vật” các mô hình đại học truyền thống cũng sẽ đứng trước các nguy cơ
    Internet hóa, do đó cần sớm nhìn nhận giảng dạy E-Learning là phương pháp giảng
    dạy thay vì coi đó là một loại hình đào tạo như hiện nay.
    Cùng với việc phát triển các hoạt động đào tạo cử nhân nói chung và cử nhân
    kế toán, kiểm toán nói riêng trên nền tảng Internet kết nối vạn vật, các chương trình
    đào tạo cử nhân E-Learning hiện nay cũng cần nâng cao hơn nữa tính quốc tế để tiếp
    cận với chuẩn mực kế toán quốc tế nhằm đáp ứng được nhu cầu học tập của xã hội
    trong tương lai.
    5. Kết luận
    Với sự thay đổi trong công nghệ kết nối, nhiều thay đổi trong chuyên môn
    nghề nghiệp đang diễn ra và nhiều viễn cảnh triển vọng cho các kế toán viên, kiểm
    toán viên trong tương lai gần. Việc quốc tế hóa trình độ đội ngũ nhân viên để có thể
    dịch chuyển, tự do hóa lao động là một xu thế tất yếu. Đối với nhóm ngành kế toán
    và đặc biệt là đối với các công ty kiểm toán quốc tế, việc chuyển đổi nhân viên trong
    công ty từ một quốc gia này sang một quốc gia khác đã bắt đầu được thực hiện trong
    nhiều năm gần đây. Đây là một hướng đi đúng đắn để nhân viên trong công ty có thể
    học hỏi và trao đổi kinh nghiệm nghề nghiệp lẫn nhau. Do đó, nếu không cải thiện
    trình độ chuyên môn thì chúng ta sẽ bị nhân lực chất lượng cao hơn, kinh nghiệm và
    chuyên môn tốt hơn của các nước trong khu vực cạnh tranh. Cùng với đó nguồn nhân
    lực của Việt Nam nếu chất lượng vẫn thấp, ngoại ngữ yếu, khả năng cạnh tranh kém
    sẽ không tận dụng cơ hội được làm việc trong các nước trong khu vực. Việc thay đổi
    phương thức đào tạo, trang bị các kiến thức và kỹ năng mang tầm quốc tế phải được
    thực hiện một cách sớm hơn và bài bản hơn. Thị trường lao động ngành kế toán,
    kiểm toán vẫn luôn cần những sinh viên tốt nghiệp được đào tạo để sẵn sàng ngay
    cho công việc. Chúng ta không hướng tới việc đào tạo số lượng mà cần những nhân
    lực đầu ra thật chất lượng. Việc tích hợp chương trình đào tạo của các tổ chức nghề
    nghiệp quốc tế vào chương trình đào tạo cử nhân đại học có thể được coi là một giải
    pháp phù hợp trong bối cảnh hiện tại. Chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá
    từng bước hiệu quả của mô hình này để hoàn thiện và tiếp tục mở rộng hơn nữa trong
    tương lai. Cùng với đó, Internet ngày càng hữu ích trong hoạt động đào tạo, do đó
    đào tạo trên nền tảng công nghệ nên được xem là các phương pháp đào tạo mới để có
    thể ứng dụng nhiều hơn trong các hoạt động đào tạo truyền thống như các chương
    trình “chính quy”.

    195

  10. TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Thủ tướng Chính phủ, 2011. Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm
    2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều quy định của Nghị định số
    75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và
    hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục.
    2. Bộ Tài chính, 2012, Thông tư số 129/2012/TT-BTC Quy định về việc thi và cấp
    Chứng chỉ kiểm toán viên và Chứng chỉ hành nghề kế toán.
    3. Tạp chí Chứng khoán số 213, Hướng tới chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế IFRS.
    4. Nguyễn Lân, 1998, Từ điển Từ và ngữ Việt Nam, NXB ĐHQG, Thành phố Hồ Chí Minh.
    5. Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014, Đề án thành lập Khoa Kế toán –
    Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế – Đại học Quốc gia Hà Nội.
    6. ICAEW, 2007, “EU implementation of IFRS and the fair value directive”
    7. ICAEW, 2015, “Moving to IFRS reporting: seven lessons learned from the
    European experience”, Financial Reporting Faculty.
    8. ACCA, 2016, “Building for the future”, ACCA integrated report for the year
    ended 31 March 2016.

    196

Download tài liệu Đào tạo cử nhân kế toán – kiểm toán quốc tế trước cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 File Word, PDF về máy