[Download] Tải Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam – Tải về File Word, PDF

Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam

Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam
Nội dung Text: Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam

Download


Bài viết nghiên cứu xem xét nguy cơ xảy ra khủng hoảng nợ công tại Việt Nam dựa trên mức độ bền vững nợ công theo mô hình Cây nhị phân. Kết quả cho thấy, nguy cơ xảy ra khủng hoảng nợ còn thấp nhưng để đảm bảo bền vững nợ, Chính phủ cần tăng cường kiểm soát vĩ mô, kiểm soát hiệu quả các khoản vay nợ và nâng cao kỷ luật tài khóa cũng như cơ chế phối hợp chính sách nhằm tránh khủng hoảng nợ công có thể xảy ra trong tương lai.

Bạn đang xem: [Download] Tải Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam File Word, PDF về máy

Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam

  1. Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên
    bền vững nợ công tại Việt Nam

    Lê Thị Diệu Huyền Nguyễn Diệu Linh
    Học viện Ngân hàng Sinh viên K19CLCA, Học viện Ngân hàng

    Ngày nhận: 06/07/2020
    Ngày nhận bản sửa: 11/08/2020
    Ngày duyệt đăng: 25/08/2020

    Trong bối cảnh khó khăn, Chính phủ các nước sử dụng nhiều chính sách để hỗ trợ
    nền kinh tế khắc phục hậu quả của Covid-19 khiến các quốc gia đang lâm vào tình
    trạng nguồn thu sụt giảm, nhu cầu chi tiêu công gia tăng khiến nợ công tăng cao.
    Trước tình hình đó, các quốc gia không có nhiều sự lựa chọn như giãn nợ, tái cấu
    trúc khoản nợ, nguy cơ vỡ nợ và khủng hoảng nợ xảy ra là điều tất yếu. Việt Nam
    mặc dù kiểm soát được tình hình nợ công nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, như áp
    lực trả nợ nước ngoài dưới hình thức trả nợ trái phiếu quốc tế, khoản vay ít ưu đãi
    với điều kiện vay thương mại khắt khe và nguy cơ rủi ro về lãi suất do nhiều khoản
    vay có lãi suất thả nổi, rủi ro tỷ giá… Bài nghiên cứu xem xét nguy cơ xảy ra khủng
    hoảng nợ công tại Việt Nam dựa trên mức độ bền vững nợ công theo mô hình Cây
    nhị phân. Kết quả cho thấy, nguy cơ xảy ra khủng hoảng nợ còn thấp nhưng để đảm
    bảo bền vững nợ, Chính phủ cần tăng cường kiểm soát vĩ mô, kiểm soát hiệu quả

    Assess the possibility of debt crisis based on public debt sustainability in Vietnam
    Abstract: In the difficult context, governments of many countries use policies to support the economy to
    overcome the consequences of Covid-19, These leads to reduce revenues and rise public expenditure,
    causing to high public debt. Under these circumstances, countries do not have many options such as
    debt restructuring, debt rescheduling, the risk of default and the debt crisis is inevitable. Vietnam has
    managed to control the public debt but there are still many risks: the pressure to repay foreign debt,
    the less favorable and commercial loans, interest rate and exchange rate risks… The study examines the
    possibility of public debt crisis in Vietnam based on public debt sustainability under Binary Recurrsive
    Tree methodology. Therefore, the Government has controlled macro economy, effectively loans and
    improved fiscal discipline as well as coordinated policies to avoid public debt crisis.
    Keywords: Public debt sustainability, Public debt crisis, State budget.

    Huyen Thi Dieu Le
    Email: huyenltd@hvnh.edu.vn
    Banking Academy of Vietnam
    Linh Dieu Nguyen
    Email: dieulinh.2710@gmail.com
    Banking Academy of Vietnam

    © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
    ISSN 1859 – 011X 13 Số 222- Tháng 11. 2020

  2. Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam

    các khoản vay nợ và nâng cao kỷ luật tài khóa cũng như cơ chế phối hợp chính sách
    nhằm tránh khủng hoảng nợ công có thể xảy ra trong tương lai.
    Từ khóa:Bền vững nợ công, khủng hoảng nợ công, Ngân sách Nhà nước.

    1. Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên phòng tránh khủng hoảng nợ có thể xảy ra.
    cứu về tính bền vững nợ công và khủng Cho đến hiện nay, nhiều nghiên cứu liên
    hoảng nợ quan đến nợ công, tính bền vững của nợ
    công và nguy cơ khủng hoảng nợ:
    Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới
    (World Bank- WB, 2002), nợ công là toàn Bài nghiên cứu “The future of public debt:
    bộ những khoản nợ của Chính phủ và prospects and implications” của các tác
    những khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh. giả Stephen G Cecchetti, M.S. Mohanty và
    Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế Fabrizio Zampolli (2010) đã phân tích các
    (IMF, 2012), nợ công là tất cả các nghĩa chỉ số thực trạng cán cân ngân sách, vay nợ
    vụ trả nợ của Chính phủ và các tổ chức của Chính phủ, nợ công ở một số quốc gia
    công. Tại Việt Nam, Luật Quản lý nợ công và đưa ra những dự báo về tương lai, nguy
    năm 2017, sửa đổi đã quy định, nợ công cơ khủng hoảng nợ công ở các nước phát
    bao gồm: nợ chính phủ; nợ được Chính phủ triển như Anh, Mỹ, Đức, Nhật Bản, Pháp…
    bảo lãnh; nợ chính quyền địa phương. Bên khi nhận thấy tính không bền vững của nợ
    cạnh đó, theo quan điểm của tổ chức phát công. Đồng thời, chỉ ra một số gợi ý chính
    triển tài chính quốc, nợ bền vững chính là sách để nhằm kiểm soát nợ công và ngăn
    khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ của một chặn những khủng hoảng có thể xảy ra do
    quốc gia mà không cần phải xóa nợ hay lũy mất bền vững nợ công tại các nước. Bên
    kế nợ. Theo WB (2006) định nghĩa “Nợ cạnh đó, báo cáo “Debt and Deleveraging:
    công nước ngoài của một quốc gia được The Global Credit Bubble and Its Economic
    coi là bền vững nếu như các nghĩa vụ nợ Consequences” của McKinsey (2010) đã
    (trả gốc và lãi) được thực hiện một cách nghiên cứu về tác động của nợ và các đòn
    đầy đủ mà không cần sử dụng đến các biện bẩy tài chính tới tín dụng toàn cầu và hệ
    pháp tài trợ ngoại lệ hoặc không cần phải quả kinh tế của nó tại các nước phát triển
    thực hiện những điều chỉnh lớn đối với cán như Canada, Pháp, Đức, Ý… và các nền
    cân thu nhập và chi tiêu của mình”. Theo kinh tế mới nổi như Brazil, Trung Quốc, Ấn
    IMF (2011) thì nợ được coi là bền vững khi Độ. Nghiên cứu cho thấy cách ngăn chặn
    người đi vay nợ kỳ vọng có khả năng chi các cuộc khủng hoảng tài chính thế giới
    trả mà không cần phải thay đổi quá nhiều trong tương lai dựa vào tỷ lệ nợ trên GDP.
    giữa nguồn thu nhập và cân đối chi tiêu Ngoài ra, nghiên cứu của Reihart và Rogoff
    trong tương lai. Ngoài ra, WB đã xây dựng (2010) đã chứng minh rằng tỷ trọng vay nợ
    khung nợ bền vững (DSF) áp dụng cho các bằng ngoại tệ càng cao, rủi ro vỡ nợ và mức
    nước thu nhập thấp (2006), IMF hướng độ tác động tiêu cực của nợ công đến tăng
    dẫn toàn cầu về thống kê nợ của khu vực trưởng kinh tế càng lớn. Trong nghiên cứu
    công, cung cấp hướng dẫn tính bền vững về khủng hoảng nợ công tại Châu Âu của
    nợ công, những công cụ để phân tích bền Sandoval và cộng sự (2011), Nelson và
    vững nợ dựa trên các chỉ số. Với các nghiên cộng sự (2010) đã chỉ ra rằng nguyên nhân
    cứu cho thấy đảm bảo tính bền vững nợ để phổ biến ở hầu hết các nước đang lâm vào

    14 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 222- Tháng 11. 2020

  3. LÊ THỊ DIỆU HUYỀN – NGUYỄN DIỆU LINH

    tình trạng khủng hoảng nợ ở châu Âu đó Anh nghiên cứu trong bài giảng “Tính bền
    là: Chi tiêu Chính phủ cao trong khi nguồn vững của nợ công Việt Nam” (2012) đã chỉ
    thu yếu dẫn đến thâm hụt ngân sách kéo ra các yếu tố vĩ mô như cán cân ngân sách,
    dài; kỷ luật ngân sách lỏng lẻo; năng lực tăng trưởng kinh tế, lãi suất, lạm phát, tỷ
    cạnh tranh toàn cầu suy giảm; cơ cấu chính giá, nghĩa vụ trả nợ… ảnh hưởng đến tính
    sách bộc lộ nhiều yếu kém… Ngoài ra, do bền vững của nợ công.
    việc tiếp cận các nguồn vốn giá rẻ trước
    khủng hoảng dễ dàng đã dẫn đến tình trạng Tuy nhiên, để tránh khủng hoảng nợ có
    các nước thành viên lạm dụng nợ công để thể xảy ra trong tương lai, đòi hỏi đảm
    tài trợ cho thâm hụt ngân sách. Điều này bảo tính bền vững nợ công. Mô hình Cây
    lý giải rằng tác động của khủng hoảng nợ nhị phân được xây dựng và phát triển
    công châu Âu có thể lan truyền sang các bởi Manasse và Roubini (2005) dựa trên
    khu vực khác thông qua các kênh: (i) khu CART (Classification and Regression
    vực tài chính; (ii) tác động đến chi phí phát Trees) là phương pháp cây nhị phân để
    hành trái phiếu quốc tế của các nước khác; phân loại và dự báo theo dạng hình cây
    (iii) tác động thông qua kênh thương mại nhằm đánh giá khả năng hay xác suất xảy
    quốc tế do sự sụt giảm cầu của các nước ra khủng hoảng nợ ở một quốc gia sử dụng
    châu Âu đối với hàng hóa và dịch vụ của số liệu ở một thời điểm. Mỗi điểm nút mẹ
    các nước khác… được phân tách thành 2 điểm nút con, sau
    đó mỗi điểm nút con lại được phân tách
    Tại Việt Nam, vấn đề về nợ công hay tính thành hai điểm nút cháu và cứ tiếp tục như
    bền vững của nợ công đã được đề cập trong vậy cho đến nút cuối cùng. Cây nhị phân
    một số nghiên cứu. Cuốn sách “Nợ công (Hình 1) được phân tách thành hai nhánh:
    và tính bền vững ở Việt Nam: Quá khứ, (i) nhánh các nước có nợ nước ngoài cao
    hiện tại và tương lai” của nhóm tác giả (>50% GDP) ở bên phải với xác suất xảy
    Phạm Thế Anh và cộng sự (2013) đã xem ra khủng hoảng tăng từ 20,5% trong toàn
    xét kinh nghiệm quốc tế về các cuộc khủng bộ mẫu lên tới 45,4%; (ii) nhánh với nợ
    hoảng nợ công, từ đó rút ra bài học dành nước ngoài thấp với xác suất xảy ra khủng
    cho Việt Nam. Nhóm tác giả phân tích hoảng là 9,7%. Tiếp theo, nhánh các nước
    thực trạng, những tác động tiêu cực của có nợ nước ngoài cao (> 50% GDP) lại tiếp
    thâm hụt tài khóa và nợ công tăng nhanh tục được phân tách thành hai nhánh nhỏ
    đối với các biến số vĩ mô. Đồng thời, đề với lạm phát cao và thấp (lớn hơn hoặc
    xuất một số gợi ý chính sách nhằm nâng nhỏ hơn 10,47%). Các nước thuộc nhánh
    cao khả năng giám sát và quản lý nợ công có lạm phát cao có xác suất xảy ra khủng
    theo hướng bền vững trong tương lai ở Việt hoảng nợ lên tới 66,8%. Hơn một nửa số
    Nam. Bài nghiên cứu “Đánh giá tính bền cuộc khủng hoảng trong mẫu nghiên cứu
    vững của nợ công Việt Nam theo mô hình thoả mãn hai điều kiện này. Bất chấp nợ
    Cây nhị phân” của Nguyễn Thị Lan (2017) nước ngoài chỉ ở mức trung bình (từ 19
    đã sử dụng mô hình Cây nhị phân để đánh – 49,7% GDP), hiệu ứng kết hợp giữa nợ
    giá tính bền vững của nợ công Việt Nam. ngắn hạn (lớn hơn 130% dự trữ), tỉ giá hối
    Dựa trên Cây nhị phân, tác giả cho rằng nợ đoái tương đối cứng nhắc (mức độ biến
    công Việt Nam vẫn đang thỏa mãn điều động thấp) và sự bất ổn chính trị đã làm cho
    kiện an toàn với các số liệu được đưa ra xác suất xảy ra khủng hoảng lên tới 41%.
    cho đến năm 2016. Tác giả Vũ Thành Tự Ngược lại, dọc theo phía bên trái của cây,

    Số 222- Tháng 11. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 15

  4. Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam

    chúng ta có thể thấy rằng các trường hợp có dụng khoảng 50 biến và được chia thành
    rủi ro thấp, đó là những nước có nợ nước ba nhóm: (i) nhóm biến vĩ mô căn bản; (ii)
    ngoài thấp, tỉ lệ nợ ngắn hạn/dự trữ thấp nhóm biến phản ánh sự bất ổn; (iii) nhóm
    (< 130%) và tỉ lệ nợ công nước ngoài/tổng biến phản ánh kinh tế – chính trị. Trong đó,
    thu (< 210%), cùng với nền kinh tế không Manasse và Roubini chú ý sử dụng đến
    ở trong tình trạng suy thoái. Khoảng 58,4% các chỉ số phản ánh gánh nặng nợ nước
    những nước không có khủng hoảng nợ thoả ngoài và tổng nợ công, các chỉ số về khả
    mãn các điều kiện này. năng thanh khoản và các biến nằm trong
    hệ thống cảnh báo sớm của IMF nhằm xem
    Manasse và Roubini (2005), sử dụng xét đến khả năng liên kết giữa khủng hoảng
    phương pháp Cây nhị phân dựa trên số liệu tiền tệ và khủng hoảng nợ công. Kết quả
    quan sát theo năm của 47 nền kinh tế mới nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các chỉ số phản
    nổi trong giai đoạn 1970 – 2002 để giải ánh gánh nặng nợ nước ngoài (bao gồm cả
    thích cho khả năng xảy ra khủng hoảng nợ nghĩa vụ nợ) là tương đối thấp ở những năm
    công. Manasse và Roubini (2005), đã sử không có khủng hoảng nợ, chúng tăng dần

    Hình 1. Sơ đồ Cây nhị phân

    El Salvado 1981 Guatemala 1986 Pakistan 1998 Chile 1993 Jamaica 1981, 87
    Uruguay 1983 Venezuela 1983 Argentina 1991 Argentina 1991
    Paraguay 1986 Mexico 1982, 1995 Tunisia 1991 Egypt 1984
    South Africa 1976
    Argentina 1982, 89, 93 Panama 1983 Bolivia 1986
    Russia 1998
    Peru 1976, 83 Thailand 1997 Peru 1978
    Argentina 1995
    Brazil 1998, 2010 Indonesia 1997 Ecuador 1982, 99
    Thailand 1981
    Jamaica 1978 Philipines 1983 Uruguay 1987
    Turkey 1978 Argentina 2001 Indonesia 2002
    Korea 1997 Jordan 1989 Bolivia 1980
    Trinidad & Tobago 1988 Morocco 1986 Morocco 1983
    Ukraine 1998 Costa Rica 1981 Turkey 2000
    Dominican Rep 1981 South Africa 1985
    Uruguay 1990
    Brazil 1983
    Venezuela 1990, 95

    Nguồn: Manasse và Roubini (2005)

    16 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 222- Tháng 11. 2020

  5. LÊ THỊ DIỆU HUYỀN – NGUYỄN DIỆU LINH

    ở những năm trước khi xảy ra khủng hoảng hoảng lớn hơn hay thấp hơn tỉ lệ trung bình
    nợ và tăng tiếp trong những năm diễn ra đó trong cả mẫu nghiên cứu. Do đó, phương
    khủng hoảng. Các chỉ số này lại giảm dần pháp này không có khả năng phân tích thực
    trong năm trước khi nước đó thoát khỏi trạng liên quan đến các rủi ro về cơ cấu, kì
    khủng hoảng mặc dù chúng vẫn còn cao hạn, lãi suất, khả năng thanh toán hay thanh
    hơn so với mức trước khi khủng hoảng nợ khoản… của nợ công và nợ nước ngoài mà
    xảy ra. nó chỉ có khả năng chỉ ra nguy cơ hay xác
    suất xảy ra khủng hoảng nợ của một quốc
    Điểm nổi bật của mô hình Cây nhị phân gia nào đó dựa trên các bằng chứng thực
    là xem xét rủi ro dưới nhiều góc độ khác nghiệm trong quá khứ.
    nhau. Bằng quá trình phân tích này có thể
    thấy không phải một quốc gia có tỷ lệ vay 2. Thực trạng nợ công và mức độ bền
    nợ cao đã có khả năng xảy ra khủng hoảng vững nợ công tại Việt Nam
    nợ cao, ngược lại một quốc gia có tỷ lệ nợ
    vừa phải, thậm chí là thấp lại có khả năng Theo thống kê được Bộ Tài chính (2019)
    xảy ra khủng hoảng nợ cao. Nguyên nhân công bố, tổng nợ công giai đoạn 2014 –
    của sự khác biệt này là do nhiều yếu tố 2018 của Việt Nam tăng khoảng 1,3 lần, từ
    khác nhau tại một thời kỳ quyết định như 109 tỷ USD năm 2014 tăng mạnh lên 131,1
    khoản vay sắp đáo hạn, chính sách tỷ giá, tỷ USD năm 2016, sau đó lên mức 143,2 tỷ
    sự bất ổn chính trị của quốc gia khiến cho USD năm 2018 (Hình 2). Từ năm 2016 đến
    khủng hoảng thanh khoản của một quốc gia 2018, tổng nợ công tăng nhanh và cao hơn.
    có thể xảy ra ngay cả khi tỷ lệ nợ của quốc Tuy nhiên, năm 2018 nợ công dù tăng cao
    gia đó đang ở mức thấp. Ngược lại, những nhưng vẫn được kiểm soát khá tốt và thấp
    nước có tỷ lệ nợ cao có thể có xác suất xảy hơn mức dự kiến của Chính phủ.
    ra khủng hoảng thấp khi quốc gia đó thực
    hiện hiệu quả chính sách tài khóa và chính Về quy mô nợ công, từ năm 2014 đến năm
    sách tiền tệ, cán cân vãng lai thặng dư… 2018, theo số liệu tổng hợp từ Bản tin nợ
    Hạn chế của phương pháp này là do dựa công của Bộ Tài chính, quy mô nợ công
    trên các quy tắc phân nhánh, các quan sát ở Việt Nam đã tăng nhanh từ 2.318 nghìn
    có thể được xếp vào vùng rủi ro hoặc vùng tỷ VND vào năm 2014 lên 3.256 nghìn tỷ
    an toàn. Các quan sát trong một nút nào VND vào năm 2018 do nhu cầu ngân sách
    đó được phân vào vùng rủi ro hay an toàn lớn vì bội chi ngân sách tăng và phải vay
    nếu trong nút đó tỉ lệ số quan sát có khủng nợ. Nợ công giảm nhẹ, năm 2014 chiếm

    Hình 2. Tình hình nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2014- 2018
    Đơn vị: tỷ USD

    Nguồn: Tổng hợp từ Bản tin Nợ công số 08- Bộ Tài chính

    Số 222- Tháng 11. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 17

  6. Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam

    khoảng 58% GDP, năm 2015 chiếm 61% 13,4% và 3,1% xuống 1,6%. Nợ công tăng,
    GDP, năm 2016 tỷ lệ nợ công cao nhất đồng nghĩa với việc cơ cấu nợ công cũng
    trong giai đoạn này chiếm 63,7% GDP, đến thay đổi bởi khi nhu cầu huy động ngày
    năm 2017 chiếm 61,4% GDP và năm 2018 càng cao, khả năng tiếp cận nguồn vốn ưu
    giảm xuống chiếm còn 58,4% GDP (Hình đãi nước ngoài lại hạn chế, Chính phủ dần
    3). phải dựa vào nguồn vốn vay trong nước.
    Các nguồn huy động vốn cũng có sự thay
    Nếu theo chỉ tiêu giới hạn nợ thì nợ công đổi khi mà trái phiếu Chính phủ trước đây
    ở Việt Nam vẫn đang được kiểm soát chặt chủ yếu hút vốn từ các ngân hàng, tổ chức
    chẽ khi tất cả các chỉ số giới đều đang duy tài chính đã giảm. Các khoản vay vốn được
    trì trong ngưỡng an toàn được Quốc hội huy động đa dạng hơn từ các nguồn bảo
    cho phép. Báo cáo của Cục Quản lý nợ và hiểm, quỹ đầu tư với kỳ hạn dài và lãi suất
    Tài chính đối ngoại – Bộ Tài chính đầu năm hấp dẫn hơn.
    2019 đã cho thấy tốc độ tăng của nợ công
    của Việt Nam ở mức bình quân là 18,1%/ Giai đoạn 2014 – 2018, Chính phủ đã kéo
    năm vào giai đoạn 2014- 2015, sang đến dài hơn thời hạn của trái phiếu, tập trung
    giai đoạn sau là 2016- 2018 thì mức bình nhiều hơn vào các loại có kì hạn từ 5 năm
    quân này đã giảm còn ở mức 8,6%/năm. trở lên. Từ năm 2015 đã không phát hành
    các loại kì hạn dưới 1 năm và từ 2017-
    Về cơ cấu nợ công, trong giai đoạn 2014- 2018 đã không phát hành các loại trái
    2018, Bộ Tài chính thực hiện tái cơ cấu nợ phiếu có kì hạn dưới 3 năm nữa. Thay vào
    công chiều hướng bền vững hơn, cho thấy đó Chính phủ tập trung vào phát hành các
    nợ Chính phủ và nợ được Chính phủ bảo loại trái phiếu có kì hạn từ 15 – 30 năm.
    lãnh chiếm phần lớn (khoảng 96- 98%), Nếu ở năm 2014, Chính phủ chỉ phát hành
    còn lại là nợ chính quyền địa phương khoảng 6,1% trên tổng số trái phiếu là trái
    (khoảng 1,6% – 3,1%) (Bảng 1). Nợ Chính phiếu kì hạn dài thì đến 2018, con số này đã
    phủ có xu hướng gia tăng khi năm 2014 lên đến 48% trái phiếu có kì hạn từ 5 năm
    chiếm 78,7% và đến 2018 thì chiếm đến trở lên. Chỉ số kỳ hạn phát hành bình quân
    85% tổng nợ công. Cả nợ được Chính phủ theo năm cũng tăng đều, từ 4,85 năm ở năm
    bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương lại 2014 lên 12,69 năm ở năm 2018. Điều này
    có xu hướng giảm lần lượt là 18,2% xuống giúp làm giảm bớt áp lực trả nợ ngắn hạn

    Hình 3. Tỷ lệ nợ công/GDP và trần nợ công giai đoạn 2014- 2018
    Đơn vị: %

    Nguồn: Bản tin nợ công số 08- Bộ Tài chính

    18 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 222- Tháng 11. 2020

  7. LÊ THỊ DIỆU HUYỀN – NGUYỄN DIỆU LINH

    Bảng 1. Cơ cấu nợ của các cấp theo GDP giai đoạn 2014- 2018
    Chỉ tiêu 2014 2015 2016 2017 2018
    NỢ CÔNG (nghìn tỷ VND) 2.318,9 2.593,3 2.900,8 3.100.9 3.256,9
    Nợ Chính phủ 1.826,1 2.064,6 2.373,1 2.587,3 2.767,2
    Nợ được Chính phủ bảo lãnh 422,6 455,1 461,6 455,9 437,3
    Nợ chính quyền địa phương 70,2 73,6 66,1 57,7 52,4
    NỢ CÔNG/GDP (%) 58 61 63,7 61,4 58,4
    Nợ Chính phủ/GDP 46,4 49,2 52,7 51,7 50
    Nợ được Chính phủ bảo lãnh/GDP 10,7 10,9 10,3 9,1 7,9
    Nợ chính quyền địa phương/GDP 1,8 1,8 1,5 1,1 0,9
    CƠ CẤU NỢ CÔNG (%) 100 100 100 100 100
    Nợ Chính phủ 78,7 79,6 81,8 83,5 85
    Nợ được Chính phủ bảo lãnh 18,2 17,5 15,9 14,7 13,4
    Nợ chính quyền địa phương 3,1 2,9 2,3 1,8 1,6
    Nguồn: Bản tin Nợ công số 08- Bộ Tài chính (2019)

    Bảng 2. Cơ cấu theo kỳ hạn của trái phiếu Chính phủ từ 2014- 2018
    Đơn vị: %
    Kỳ hạn 2014 2015 2016 2017 2018
    Tổng 100 100 100 100 100
    Tín phiếu 10,5 0 0 0 0
    Từ 2-3 năm 43,3 23,4 8,1 0 0
    Từ 5-10 năm 40 61,6 72,2 56,2 52
    Từ 15-30 năm 6,1 15 19,7 43,8 48
    Kỳ hạn phát hành bình quân (năm) 4,85 7,12 8,74 13,52 12,04
    Nguồn: Báo cáo “Thị trường trái phiếu năm 2018” của Bộ Tài chính (2019)

    trong những năm tiếp theo của Chính phủ. 2018 là 4,71%/năm, thấp hơn 1,27%/năm
    so với mức 5,98%/năm của năm 2017. Mức
    Bên cạnh đó, theo Báo cáo thị trường lãi suất phát hành trung bình của giai đoạn
    trường trái phiếu năm 2018 của Bộ Tài này là 5,9%/năm. Đến cuối năm 2018, dư
    chính (2019), lãi suất trái phiếu Chính phủ nợ nước ngoài chiếm khoảng 38,6% tổng
    cũng có xu hướng giảm ở tất cả các loại dư nợ Chính phủ, trong đó, giá trị các khoản
    kỳ hạn vào cuối năm 2018 khi mà lãi suất vay ODA, vay ưu đãi có kì hạn với lãi suất
    cho kỳ hạn 5 năm là 4,2%/năm; kỳ hạn 10 thấp là chiếm vào khoảng hơn 96% với quy
    năm là 5,1%/năm; kỳ hạn 15 năm là 5,3%/ mô huy động vốn có tính ổn định (khoảng
    năm. So với thời điểm cuối năm 2017, lãi 12%/năm). Lãi suất bình quân của danh
    suất phát hành tại thời điểm cuối năm 2018 mục nợ nước ngoài của Chính phủ là 2,0%/
    giảm từ 0,18% đến 0,98% đối với tất cả các năm. Lãi suất bình quân các khoản nợ trong
    kỳ hạn. Lãi suất phát hành bình quân năm nước cao hơn so với lãi suất bình quân các

    Số 222- Tháng 11. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 19

  8. Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam

    khoản nợ nước ngoài (5,9%/năm và 2,0%/ gây ra rủi ro cho nợ công Việt Nam, nguy
    năm), tức là gánh nặng lãi suất nước ngoài cơ mất tính bền vững và khả năng xảy ra
    hơn ít hơn một nửa so với lãi suất trong khủng hoảng nợ là điều có thể trong thời
    nước. Tuy nhiên, với nhiều khoản vay nợ gian sắp tới nếu không có kiểm soát tốt các
    nước ngoài với lãi suất thả nổi nên tiềm ẩn khoản vay nợ công.
    rủi ro về lãi suất trong tương lai.
    3. Khả năng xảy ra cuộc khủng hoảng nợ
    Chỉ tiêu bền vững nợ, trong giai đoạn 2014- dựa trên bền vững nợ công của Việt Nam
    2018 nợ công/GDP vẫn đang thấp hơn mức
    Quốc hội cho phép (

  9. LÊ THỊ DIỆU HUYỀN – NGUYỄN DIỆU LINH

    Bảng 4. Các chỉ số nợ của Việt Nam trữ ra thị trường để ổn định giá trị của đồng
    năm 2018 tiền, tránh tỷ giá VND/USD quá lớn khiến
    Đơn vị: % VND mất giá.
    STT Các chỉ số nợ Năm 2018
    (ii) Nhóm chỉ tiêu phản ánh tính rủi ro
    1 Nợ nước ngoài/GDP 46
    thanh khoản. Tính rủi ro được quyết định
    Nợ nước ngoài ngắn hạn/
    2
    dự trữ ngoại hối
    32,5 bởi quy mô nợ công ở mức vừa phải nhưng
    3 Tốc độ tăng trưởng GDP 7,1
    chỉ số nợ nước ngoài ngắn hạn/dự trữ ngoại
    Nợ công nước ngoài/Tổng
    hối lại vượt quá cao. Năm 2018, nợ nước
    4 193 ngoài ngắn hạn so với dự trữ ngoại hối
    thu ngân sách
    5 Tỷ lệ lạm phát 3,54 chiếm khoảng 32,5%. Điều này một phần
    Lãi suất trái phiếu kho bạc là do lượng dự trữ ngoại hối của Việt Nam
    6 2,5 tăng cao khi NHNN mua được một lượng
    Mỹ
    Nhu cầu tài trợ từ bên lớn ngoại tệ nhằm củng cố chính sách tiền
    7 50
    ngoài tệ. Ngoài ra, các dòng vốn FDI cũng đã góp
    Mức độ định giá quá cao phần tăng một lượng lớn dự trữ ngoại tệ
    8 10
    của VND/USD
    cho Việt Nam. Các yếu tố này góp phần
    Sự biến động của tỉ giá
    9
    VND/USD
    1,5 làm mức rủi ro nợ công trở nên thấp hơn,
    Nguồn: Tổng hợp từ các số liệu của Bộ Tài chính, duy trì nền kinh tế ổn định. Ngược lại, nếu
    UBGSTCQG, GSO và NHNN như lượng dự trữ ngoại hối thấp mà nợ
    nước ngoài trong ngắn hạn lại tăng cao sẽ
    Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) khiến cho sức ép phải trả nợ của Chính phủ
    để xem xét những yếu tố có khả năng ảnh tăng, điều này có thể dẫn đến sự mất ổn
    hưởng đến các kịch bản về khủng hoảng nợ định của nợ công.
    công tại Việt Nam.
    (iii) Nhóm chỉ tiêu phản ánh rủi ro bất ổn
    (i) Nhóm chỉ tiêu phản ánh mức độ rủi ro trên phương diện vĩ mô. Kinh tế của Việt
    trong khả năng thanh toán nợ. Để xem xét Nam năm 2018 thuộc vào nhóm những
    nhóm chỉ tiêu này, dựa vào chỉ số của nợ nước có tốc độ phát triển nhanh nhất khi tốc
    nước ngoài/GDP, sự mất cân đối giữa tài độ tăng GDP đạt 7,1%; tốc độ tăng trưởng
    khóa và thâm hụt tài khoản vãng lai cùng GDP bình quân là 6,5%/năm giai đoạn
    với lượng lớn của nợ công ngắn hạn. Chỉ 2014- 2018. Bên cạnh đó, tỷ giá VND/USD
    tiêu nợ công nước ngoài/GDP của Việt năm 2018 tuy chịu nhiều biến động do chịu
    Nam tính đến cuối năm 2018 là 46%, vẫn nhiều áp lực bởi các đồng tiền khác trên
    đang nằm trong vùng an toàn chưa chạm thế giới nhưng vẫn tăng 1,5% so với đầu
    đến mức trần. Về thâm hụt ngân sách, năm năm, cho thấy VND vẫn khá ổn định. Mức
    2018 có dấu hiệu tăng trở lại vào khoảng thâm hụt vãng lai đã được cải thiện do mức
    191,5 nghìn tỷ VNĐ. Điều này làm ảnh định giá VND đã không còn quá cao mà đã
    hưởng đến sự cân đối của chính sách tài giảm xuống đáng kể. Nếu mức định giá của
    khóa nếu như mức bội chi ngân sách không VND/USD quá cao thì trong bối cảnh dự
    giảm xuống mà tăng mạnh ở những năm trữ ngoại hối thấp sẽ dễ dẫn đến các cuộc
    tiếp theo. Về cán cân vãng lai, năm 2018 có tấn công về tiền tệ gây nên lạm phát, làm
    dấu hiệu thâm hụt, nếu tình trạng thâm hụt giảm giá trị của đồng tiền. Như vậy, dựa
    kéo dài, NHNN buộc phải bơm ngoại tệ dự vào các chỉ tiêu nợ (Bảng 4) và dựa vào sơ

    Số 222- Tháng 11. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 21

  10. Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam

    đồ Cây nhị phân của Manasse và Roubini Nam không bao gồm nợ của DNNN) nên
    (2005), nhóm tác giả xem xét mức độ rủi những số liệu tính toán tổng hợp ở Bảng 4
    ro khủng hoảng nợ công Việt Nam. Chỉ số có thể chưa phản ánh chính xác nhất khả
    đầu tiên cần được xem xét đến là “Tổng năng xảy ra rủi ro trong tương lai của nợ
    nợ nước ngoài/GDP”. Có hai trường hợp công Việt Nam. Vì thế, cần xây dựng thêm
    xảy ra ở đây, nếu chỉ số này lớn hơn 50%, những tình huống có khả năng sẽ xảy ra
    ta sẽ đi xuống nhánh bên phải và xét tiếp nếu các chỉ số bên trên thay đổi để đánh giá
    đến tỷ lệ lạm phát, còn nếu ngược lại chỉ số được khả năng xảy ra khủng hoảng nợ công
    nhỏ hơn 50% thì ta sẽ đi xuống nhánh bên của Việt Nam.
    trái và xét tiếp đến “Nợ nước ngoài ngắn
    hạn/GDP”. Năm 2018, chỉ số này là 46%, Kịch bản 1: Nếu tỷ lệ “Tổng nợ nước
    nhỏ hơn hạn mức là 50% nên ta sẽ đi xuống ngoài/GDP” không phải 46% mà vượt quá
    theo nhánh bên trái là xét đến tỷ lệ “Nợ 50% (điều này có thể xảy ra nếu Việt Nam
    nước ngoài ngắn hạn/GDP”. Ở nhánh trái vay nợ nước ngoài quá nhiều nhưng lại đầu
    này, nếu tỷ lệ “Nợ nước ngoài ngắn hạn/dự tư vào những dự án lớn khó có khả năng
    trữ ngoại hối” vượt 134%, ta sẽ đi xuống hồi vốn nhanh hay thậm chí là khó hồi vốn)
    nhánh phải và xét tiếp, còn nếu không vượt thì ta sẽ phải xét đến nhánh bên phải theo
    134% thì sẽ xuống đến nhanh trái là tỷ lệ sơ đồ Cây nhị phân là “Tỷ lệ lạm phát”.
    “Nợ công nước ngoài/tổng thu ngân sách”. Theo báo cáo của GSO, tỷ lệ lạm phát của
    Ở đây tỷ lệ này được tính là 32,5% dựa trên Việt Nam năm 2018 là 3,54% thấp hơn rất
    số liệu được Bộ Tài chính công bố, nhỏ hơn nhiều so với hạn mức là 10,47% nên câu
    rất nhiều so với con số hạn mức là 130% trả lời cho mức này là không và tiếp tục
    nên câu trả lời sẽ là “Không” và tiếp tục xét đến mức nhu cầu tài trợ từ bên ngoài.
    xét ở nhánh bên trái là “Tăng trưởng GDP”. Mặc dù hiện tại mức phụ thuộc vào việc
    Theo Manasse và Roubini (2005) dành cần có tài trợ từ bên ngoài của Việt Nam đã
    cho tăng trưởng GDP là -5,45%. Nếu như giảm xuống đáng kể do kinh tế đã phát triển
    không lớn hơn -5,45% thì sẽ xuống bên trái hơn trước nhưng mức độ phụ thuộc vẫn
    và xét đến “Định giá nội tệ cao quá mức”, nằm trong khoảng 50%. Ở đây 50% nhỏ
    còn nếu có lớn hơn -5,45% sẽ rơi vào nút hơn hạn mức đưa ra là 144% nên ta sẽ xét
    3, tức là khả năng xảy ra khủng hoảng vào xuống nhánh trái là tỷ lệ “Nợ nước ngoài/
    khoảng 2,3%. Năm 2018, tăng trưởng GDP tổng thu ngân sách”. Theo thu thập từ báo
    của Việt Nam là 7,1% > -5.45% cho nên ta cáo của Bộ Tài chính thì tỷ lệ này của năm
    có thể đưa ra kết luận cho đến cuối 2018 2018 là 193% lớn hơn rất nhiều so với hạn
    đầu 2019 thì khả năng xảy ra khủng hoảng mức là 3,1%. Tới đây thì nợ công Việt Nam
    nợ công ở Việt Nam trong khoảng thời gian sẽ rơi vào nút 12 nằm trong vùng rủi ro với
    tới là rất thấp, chỉ dưới 2,3%. Chính vì vậy, khả năng xảy ra khủng hoảng là 40% (các
    với đánh giá về nợ nước ngoài cho thấy Việt cuộc khủng hoảng từng xảy ra ở trong nút
    Nam trong tương lai gần chưa có nguy cơ này gồm Chile 1993, Thailand 1997).
    gặp khủng hoảng về nợ công, nhưng do sự
    khác biệt trong phạm vi về nợ công ở Việt Kịch bản 2: Khi tỷ lệ “Tổng nợ nước ngoài/
    Nam so với cách tính toán của các tổ chức GDP” vẫn nhỏ hơn 50% nhưng tỷ lệ “Nợ
    tài chính trên thế giới (quan niệm về phạm công nước ngoài/Tổng thu ngân sách” lớn
    nợ công của IMF, WB khác so với Việt hơn 215%, điều này cũng có khả năng xảy
    Nam: theo định nghĩa, nợ công của Việt ra vì trong những năm gần đây, tỷ lệ này

    22 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 222- Tháng 11. 2020

  11. LÊ THỊ DIỆU HUYỀN – NGUYỄN DIỆU LINH

    liên tục có chiều hướng gia tăng và năm 4. Một số khuyến nghị chính sách đảm
    2018 đã gần với mức 200%. Khi đó ta tiếp bảo bền vững nợ tránh khủng hoảng nợ
    tục xét đến lạm phát của quốc gia, mặc dù công tại Việt Nam
    tỷ lệ lạm phát năm 2018 được kiểm soát
    dưới 4%, nhưng vẫn có thể tăng lại trên Dựa trên phân tích đánh giá nguy cơ tiềm
    hai con số trong tương lai nếu Chính phủ ẩn khủng hoảng nợ công dựa trên các chỉ số
    không thể điều tiết chính sách tiền tệ tốt. bền vững nợ công cũng như bối cảnh vĩ mô
    Khi đó thì Việt Nam sẽ rơi ở nút 5 với tỷ lệ của Việt Nam, nhóm tác giả đề xuất một số
    xảy ra khủng hoảng là 55%. khuyến nghị như sau:

    Kịch bản 3: Khi tỷ lệ “Nợ nước ngoài ngắn Thứ nhất, kiểm soát chặt chẽ nền kinh tế vĩ
    hạn/dự trữ ngoại hối” vượt quá 134%, mô, trước những diễn biến phức tạp của nền
    trường hợp này dù khó xảy ra nhưng nó sẽ kinh tế thế giới, Chính phủ ổn định tiền tệ,
    đến sẽ nếu như nợ nước ngoài ngắn hạn tiếp kiểm soát giá cả nhằm hạn chế những biến
    tục tăng trong khi dự trữ ngoại hối ở NHNN động của thị trường, chính sách thu hút đầu
    càng ngày ít đi. Lúc đó ta sẽ xét tiếp, nên tư nước ngoài, hỗ trợ doanh nghiệp, chống
    xét xuống nhánh trái để quan sát nợ nước thất thu thuế, gian lận thương mại… Bên
    ngoài có lớn hơn 19,1% GDP hay không. cạnh đó, đảm bảo cân bằng cán cân ngân
    Câu trả lời là có vì tỷ lệ này năm 2018 là sách, để hạn chế mức tài trợ nợ, giúp nợ
    46%. Vì vậy xét tiếp xuống bên phải liên công không tăng thêm, giảm đi lượng vay
    quan đến “Biến động tỷ giá”. Mức độ biến nợ, không để xảy ra tình trạng vay thêm nợ
    động này của Việt Nam là 1,5%, không mới. Từ đó, ổn định nền kinh tế, góp phần
    đáng kể so với hạn mức là 27,88%, kết quả giảm nguy cơ xảy ra cuộc khủng hoảng nợ
    rơi vào nút 7, rủi ro xảy ra khủng hoảng nợ trong tương lai.
    công là vô cùng cao, ở mức 41,5%.
    Thứ hai, nâng cao hiệu quả và kiểm soát
    Dựa trên các kịch bản sử dụng số liệu của khoản vay, thực hiện đầu tư khoản vay một
    năm 2018, với các giả thuyết của nền kinh cách hiệu quả, tình trạng sử dụng vay dự
    tế Việt Nam cho thấy hiện nay khả năng án đầu tư cơ sở hạ tầng cần phải được kiểm
    xảy ra khủng hoảng nợ công còn thấp. Tuy soát chặt chẽ hơn nhằm tăng tính minh
    nhiên, với biến động khó lường trong tương bạch đối với khoản đầu tư công, từ đó tăng
    lai, việc kiểm soát tính bền vững nợ công cường hiệu quả sử dụng các khoản vay
    cùng với các biến số kinh tế vĩ mô được dự nhằm đảm bảo nguồn để trả nợ
    báo chuẩn xác hơn sẽ tránh cho Việt Nam
    rơi vào khủng hoảng nợ không đáng có. Thứ ba, nâng cao kỷ luật tài khóa, cần tuân
    Mặc dù vậy, nhóm tác giả cho rằng theo thủ các mức trần, hạn mức về chi tiêu, nợ
    mô hình Cây nhị phân chỉ đưa ra nguy cơ và thâm hụt ngân sách, tiến tới thu hẹp mức
    rơi vào khủng hoảng nợ tại một thời điểm độ thâm hụt ngân sách, tăng thu dùng để
    dựa trên dữ liệu của quá khứ, nhưng cũng giảm bội chi. Các khoản chi tiêu công của
    trên cơ sở đó để dự báo, cũng như khuyến các bộ ngành và chính quyền địa phương
    nghị chính sách cùng phối hợp nhằm tránh chỉ được phép với giới hạn trong dự toán và
    nguy cơ xảy ra một cuộc khủng hoảng nợ đảm bảo trần chi tiêu theo xu hướng giảm
    công trong tương lai. bội chi ngân sách để giảm gánh nặng nợ
    công trong tương lai.

    Số 222- Tháng 11. 2020- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 23

  12. Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam

    Thứ tư, phối hợp hài hòa giữa chính sách không tăng thêm gánh nặng nợ. Ngoài ra,
    tài khóa và chính sách tiền tệ. Các chính để đề phòng trường hợp khủng hoảng nợ
    sách nhằm hướng tới mục tiêu an toàn công xảy ra, cần phải nghiên cứu và xây
    nợ, đối với chính sách tiền tệ đảm bảo ổn dựng thêm các phương án phản ứng nhằm
    định, lãi suất, tỷ giá, chính sách tài khóa đáp ứng mọi tình huống ■
    cùng phối hợp giảm thâm hụt ngân sách để

    Tài liệu tham khảo
    Bộ Tài chính (2019), Bản tin nợ công số từ 01-08, Hà Nội.
    Bộ Tài Chính (2014-2018), Báo cáo quyết toán NSNN 2014 – 2018, Hà Nội.
    Bộ Tài chính (2019), Thị trường trái phiếu Việt Nam năm 2018, NXB Hồng Đức, Hà Nội.
    Chính phủ (2012), Quyết định số 958/QĐ-TTg về phê duyệt Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn
    2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
    Hakan Tokaç & Mike Williams (2013), Government debt management and operational risk: a risk management
    framework and its application in turkey, Sigma paper No.50, OECD.
    IMF & World Bank (2011), Public Sector Debt Statistics: Guide for Compilers and Users
    IMF & World Bank IMF (2012), Guideline for public debt management
    McKinsey (2010), Debt and Deleveraging: The Global Credit Bubble and Its Economic Consequences, McKinsey Global
    Institute, January 2010.
    Manasse P. & Roubini N (2005), Rules of Thumb for Sovereign Debt Crises, IMF Working Paper No. 05/42.
    Nelson và cộng sự (2010), Greece’s Debt Crisis: Overview, Policy Responses, and Implications, Congressional Research
    Service,7-5700 www.crs.gov, R41167
    Nguyễn Thị Lan (2017), Đánh giá tính bền vững của nợ công Việt Nam theo mô hình DSF của Quỹ Tiền tệ Quốc tế và
    Ngân hàng Thế giới, Tạp chí Kinh tế & Phát triển, số 244, tháng 10/2017.
    Phạm Thế Anh và cộng sự (2013), Quản lý nợ công và tính bền vững ở Việt Nam: Quá khứ, hiện tại và tương lai, Ủy ban
    Kinh tế.
    Philip R. Lane (2012), The Europe Sovereign debt crisis, Journal of Economic Perspectives -Volume 26, Number 3,
    Pages 49–68.
    Quốc hội (2017), Luật Quản lý nợ công sửa đổi 2017.
    Reihart và Rogoff (2010), Growth in a Time of Debt, American Economic Review Paper & Proceedings 100 (May 2010):
    pp 573-578.
    Reihart và Rogoff (2013), Fianancial and Sovereign debt crises: Some lessons learned and those forgotten, Working
    Paper No.13/266.
    Sandoval và cộng sự (2011), The European sovereign crisis: Responses to the financial crisis, New voices in public
    policy, ISSN: 1947-2633
    Stephen G Cecchetti, M.S. Mohanty & Fabrizio Zampolli (2010), The future of public debt: prospects and implications,
    BIS working paper No.300.
    Tổng cục thống kê (2014-2018), Niên giám thống kê Việt Nam 2014-2018, NXB Thống kê, Hà Nội.
    Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia. (2018). Báo cáo tổng quan thị trường tài chính năm 2017.
    Vũ Thành Tự Anh (2012), Tính bền vững của nợ công Việt Nam, Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright, Đại học
    Quốc gia Hà Nội.
    WB (2002), Guideline for public debt management: Accompanying Document.
    WB (2006), A Guid to LIC Debt Substainability Analysis.
    Trang web: https://www.imf.org/en/Countries/VNM;
    https://www.worldbank.org/en/country/vietnam

    24 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 222- Tháng 11. 2020

Download tài liệu Đánh giá khả năng xảy ra khủng khoản nợ dựa trên bền vững nợ công tại Việt Nam File Word, PDF về máy