[Download] Tải Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát “sandbox” – Khả năng sử dụng trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực Fintech – Tải về File Word, PDF

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát “sandbox” – Khả năng sử dụng trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực Fintech

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát “sandbox” – Khả năng sử dụng trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực Fintech
Nội dung Text: Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát “sandbox” – Khả năng sử dụng trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực Fintech

Download


Bài viết nhằm đưa ra những kiến nghị mang tính lưu ý sẽ góp phần bổ trợ và nhắc nhở “các nhà làm luật” những vấn đề cần lưu tâm, khi tiến hành xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát chuyên biệt cho lĩnh vực Fintech tại Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo.

Bạn đang xem: [Download] Tải Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát “sandbox” – Khả năng sử dụng trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực Fintech – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát “sandbox” – Khả năng sử dụng trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực Fintech File Word, PDF về máy

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát “sandbox” – Khả năng sử dụng trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực Fintech

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát “sandbox” – Khả năng sử dụng trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực Fintech

  1. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    64.

    1

    Bùi Duy Hưng*
    Dương Kim Thế Nguyên**

    Tóm tắt
    Dưới sự tác động ngày càng lớn của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các cơ quan quản
    lý nhà nước đang đứng trước những thách thức nhất định trong việc quản lý các mô hình,
    sản phẩm kinh tế mới xuất hiện, nhất là trong lĩnh vực Fintech (công nghệ tài chính) vốn
    có nhiều nhạy cảm. Học hỏi từ kinh nghiệm của các quốc gia phát triển trên thế giới,
    Sandbox là giải pháp cho vấn đề trên khi có thể tạo ra môi trường thử nghiệm có kiểm
    soát, hạn chế rủi ro, thất bại có thể xảy ra mà vẫn đảm bảo các quan điểm của Nhà nước
    trong công tác quản lý. Phân tích tình hình thực tiễn tại Việt Nam, cho thấy đã có nhiều
    mảng hoạt động của Fintech chứng minh khả năng thuận lợi để sử dụng Sandbox trong
    xây dựng khuôn khổ pháp lý (điển hình như cho vay ngang hàng). Vì vậy, để xây dựng
    Sandbox thành công, tác giả đã đưa ra các kiến nghị mang tính chất định hướng tham
    khảo việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát chuyên biệt đối với lĩnh vực Fintech
    tại Việt Nam.
    Từ khóa: Sandbox; Fintech; cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.

    1. Đặt vấn đề
    Việc xây dựng Sandbox hiệu quả rất khó khăn, dễ xảy ra các sai lầm dẫn đến độc quyền
    chính sách, tạo lỗ hổng cho các doanh nghiệp bất chính lợi dụng… Nhu cầu nghiên cứu
    để chỉ ra những lưu ý trong việc xây dựng một cơ chế thử nghiệm có kiểm soát chuyên
    biệt đối với lĩnh vực Fintech cho Việt Nam là cần thiết và phải được tiến hành một cách
    nhanh chóng. Vì vậy, mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đưa ra một số lưu ý để bổ

    *Ban Tuyên giáo, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh| Email liên hệ: buiduyhung.law@gmail.com
    **Trường Đại học Kinh tế TP. HCM

    959

  2. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    trợ cho quá trình xây dựng (bước đầu) cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho lĩnh vực
    Fintech tại Việt Nam phù hợp với những đặc điểm chuyên biệt.

    2. Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của bài viết
    Bài viết tập trung nghiên cứu về một vấn đề cấp thiết nhưng chưa được quan tâm làm rõ
    đúng mức, vì vậy khi hoàn thành bài viết sẽ có giá trị khoa học to lớn, là cơ sở để những
    nghiên cứu tiếp theo được thực hiện. Với mục đích nghiên cứu của bài viết, những kiến
    nghị mang tính lưu ý được đưa ra sẽ góp phần bổ trợ và nhắc nhở “các nhà làm luật”
    những vấn đề cần lưu tâm, khi tiến hành xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát chuyên
    biệt cho lĩnh vực Fintech tại Việt Nam.
    3. Tổng quan nghiên cứu
    Hiện nay, do đề tài hướng đến việc xây dựng một cơ chế mới tại Việt Nam nên chưa có công
    trình nghiên cứu cũng như tìm hiểu chuyên sâu nào về cơ chế này. Mặc dù vậy, tác giả cũng
    tiến hành tham khảo một số nghiên cứu trên thế giới và các bài viết có đề tài liên quan như
    nền kinh tế chia sẻ, Fintech… có thể liệt kê đến các bài nghiên cứu và bài viết như:
    – Bài nghiên cứu “Building FinTech Ecosystems: Regulatory Sandboxes, Innovation
    Hubs and Beyond” (tạm dịch: Xây dựng hệ sinh thái Fintech: Sandbox, trung tâm đổi
    mới và hơn thế nữa) của nhóm tác giả Ross P. Buckley, Douglas W. Arner, Robin
    Veidt, Dirk A. Zetzsche, được đăng trên Tạp chí Luật và Chính sách của Đại học
    Washington, số 61, năm 2020. Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả nhận định:
    Trên thế giới, các nhà quản lý và hoạch định chính sách đang tích cực để hỗ trợ sự
    phát triển của hệ sinh thái công nghệ tài chính (Fintech). Hiện nay đã có hơn 50 quốc
    gia và vùng lãnh thổ tiến hành thành lập hoặc công bố Sandbox cho lĩnh vực Fintech.
    Bên cạnh đó, những trung tâm đổi mới cũng được thiết lập, và đôi khi chứa đụng
    Sandbox như một thành phần bao hàm trong đó. Bài viết lập luận rằng các trung tâm
    đổi mới cung cấp tất cả lợi ích cho việc hoạch định chính sách và thử nghiệm
    Sandbox, đồng thời hạn chế hầu hết hạn chế của Sandbox.
    – Bài nghiên cứu “Fintech Sandboxes: Achieving a Balance between Regulation
    and Innovation” (tạm dịch: Sandbox cho Fintech: Cách để đạt được sự cân bằng
    giữa quy định và sáng tạo) của nhóm tác giả Lev Bromberg, Andrew Godwin và
    Ian Ramsay được đăng trên Tạp chí Luật Tài chính – Ngân hàng và Thực tiễn, tập
    28, số 4, trang 314-336, năm 2017. Trong nghiên cứu của mình, nhóm tác giả
    nhận định: Sự phát triển của Fintech đang ngày càng phá vỡ các thị trường dịch
    vụ tài chính toàn cầu. Bối cảnh công nghệ phát triển nhanh chóng đã dẫn đến
    những thách thức cho các nhà quản lý tài chính, vốn đã phải đối mặt với các mục
    tiêu quan trọng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (GFC). Sandbox, nhằm

    960

  3. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    khuyến khích sự đổi mới bằng cách cho phép các doanh nghiệp thử nghiệm các
    dịch vụ Fintech của họ trong môi trường an toàn, là ví dụ cho sự thoát ly khỏi các
    phương pháp tiếp cận quy định truyền thống, thể hiện nỗ lực nắm bắt các quy định
    một cách chủ động.
    – Tham luận “Fintech và cách mạng công nghiệp 4.0, những tác động lên thế giới
    tài chính” của tác giả Hoàng Hà (Khoa Đào tạo Quốc tế – Đại học Duy Tân) đóng
    góp tại Hội thảo quốc tế Khoa học quản trị và kinh doanh lần thứ VI năm 2017.
    Tham luận nhận định: Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ và nhận
    được nhiều sự quan tâm của dư luận trong thời gian gần đây. Đối với thế giới tài
    chính, cuộc cách mạng này đã khai sinh ra thế hệ startup mới mang tên gọi chung
    là Fintech – các công ty khởi nghiệp bằng công nghệ tiên tiến dựa trên nền tảng
    Internet. Các công ty khởi nghiệp này, bằng những chiến lược riêng của mình,
    đang cạnh tranh với những lĩnh vực vốn là độc quyền của các ngành dịch vụ tài
    chính truyền thống như huy động vốn, cho vay, quản lý tài sản… Kết quả nghiên
    cứu cho thấy Fintech trong thời gian đây đã có những tác động to lớn lên thế giới
    tài chính và các định chế tài chính truyền thống. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng chỉ
    ra rằng Fintech sẽ là một miền đất hứa với khởi nghiệp tại Việt Nam, giúp thúc
    đẩy đổi mới, cạnh tranh và phục vụ khách hàng tốt hơn. Đồng thời, như nhiều
    nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra, các nhà quản lý cần theo dõi sát sao nhưng
    không nên đưa ra các quy định quá sớm hoặc quá chặt chẽ, có thể dập tắt một lĩnh
    vực mang lại nhiều lợi thế cho Việt Nam trong cuộc cách mạng 4.0.
    Ngoài các tài liệu trên, tác giả còn tham khảo thêm bài nghiên cứu “Thực trạng kinh
    tế chia sẻ ở Việt Nam: Kiến nghị giải pháp quản lý nhà nước” và bài nghiên cứu “Quản
    lý nhà nước trong nền kinh tế chia sẻ: Kinh nghiệm quốc tế và gợi ý cho Việt Nam” đều
    của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương – Trung tâm Thông tin – Tư liệu (năm
    2018); bài viết “Kinh tế chia sẻ: Thực trạng và giải pháp” của Hoàng Văn Cương đăng
    trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam (năm 2020); bài viết “Ứng dụng Fintech
    trong thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam” của Phạm Thị Huyền đăng trên Tạp chí
    Khoa học & Đào tạo ngân hàng số 209 – Tháng 10.2019; các bài viết trong Kỷ yếu hội
    thảo khoa học “Tương lai của fintech và ngân hàng: Phát triển và đổi mới” (Khoa Ngân
    hàng – Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, năm 2018)… và các các bài viết gợi
    mở như bài viết “Sandbox – Cơ chế thử nghiệm áp dụng trong phạm vi hạn chế – kinh
    nghiệm quốc tế và một số gợi ý cho Việt Nam” của TS. Chu Thị Hoa đăng trên Tạp chí
    Nghiên cứu lập pháp (năm 2020); bài viết “Kinh nghiệm phát triển Fintech trong lĩnh vực
    ngân hàng từ cơ chế thử nghiệm Sandbox của Malaysia” của ThS. Trần Nguyễn Minh
    Hải đăng trên Tạp chí Thị trường tài chính – tiền tệ (năm 2019)…

    961

  4. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    4. Phương pháp nghiên cứu
    Trong xuyên suốt bài viết, tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, dựa trên các
    cơ sở khoa học, cơ sở lý luận và bản chất thực tế của sự vật, hiện tượng nhằm giải thích
    và làm rõ những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu chính (cơ chế thử nghiệm có kiểm
    soát) để rút ra những nhận xét phù hợp với thực tiễn. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng phương
    pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa từ các cơ sở lý luận, đường lối, chủ trương, chính
    sách hiện hành, số liệu… nhằm củng cố thêm giá trị cho các kiến nghị.

    5. Kết quả nghiên cứu và kết luận
    5.1. Fintech – Những xu hướng phát triển mới chưa từng có tiền lệ và nhu cầu điều
    chỉnh pháp luật
    Dưới tác động mạnh mẽ của nền công nghiệp 4.0, các ý tưởng mới ngày càng được sản sinh
    và yếu tố công nghệ dần hòa trộn vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội. Hệ thống
    tài chính – ngân hàng, vốn đã tồn tại lâu đời, nay lại có xu hướng ứng dụng các thành tựu
    công nghệ để tạo ra nhiều cơ hội phát triển hơn2, từ đây, thuật ngữ Fintech ra đời nhằm mô
    tả tất cả hoạt động công nghệ trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng (thuật ngữ “Fintech” được
    ghép từ 2 chữ cái đầu của “Financial” – thuộc về lĩnh vực tài chính, hiểu rộng ra là lĩnh vực
    tài chính – ngân hàng và “Technology” – nghĩa là công nghệ; phiên dịch là “công nghệ tài
    chính”). Điều này đặt ra yêu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ mới này. Tuy vậy,
    tâm lý dè dặt, thậm chí không muốn thừa nhận và điều chỉnh những quan hệ mới này, thường
    xuất hiện và khiến “các nhà làm luật” hạn chế áp dụng những chính sách mới, có tính đột phá
    khi chưa có đủ cơ sở. Điều đó có thể dẫn đến hậu quả làm triệt tiêu những nhiệt huyết, tinh
    thần khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo của các doanh nghiệp còn non trẻ đang kinh doanh theo
    mô hình mới, ứng dụng công nghệ mới.
    Hiện nay trên thị trường Việt Nam tồn tại khoảng 150 công ty Fintech đang hoạt động
    trong nhiều lĩnh vực khác nhau và thực tế cho thấy mảng hoạt động các công ty Fintech
    trên thị trường chiếm tỷ trọng lớn3 là: thanh toán (60,526%), tiếp đến là Crowdfunding
    (gọi vốn cộng đồng, chiếm 10,526%), Bitcoin/Blockchain (tiền điện tử, chiếm 7,895%),
    POS/mPOS Management (giải pháp thanh toán kỹ thuật số, chiếm 5,263%), Data
    Management (quản lý dữ liệu, chiếm 5,263%), Personal Fiance (quản lý tài chính cá nhân,
    chiếm 5,263%), Lending (cho vay, chiếm 2,632%) và cuối cùng là Comparison sites

    2
    Đặng Hà Giang (2020). Công nghệ tài chính: Cơ hội và thách thức phát triển ngân hàng số. Tạp chí Tài
    chính, Kỳ 2 – Tháng 7/2020. [Ngày truy cập: 05 tháng 4 năm 2021].
    3
    So với toàn bộ các mảng hoạt động của các công ty Fintech.

    962

  5. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    (chiếm 2,632%)4. Như vậy có thể thấy, lĩnh vực Fintech tại Việt Nam đang không ngừng
    phát triển. Tuy nhiên, khuôn khổ pháp lý hiện tại lại như “chiếc áo chật” so với Fintech,
    có thể hình dung 3 thái độ của “các nhà làm luật” một cách khái quát như sau:
    Một là, ghi nhận và cố gắng điều chỉnh các lĩnh vực mới của Fintech như thanh toán điện
    tử, chuyển khoản trực tuyến… Trong đó, hoạt động sôi nổi và nhận được nhiều sự quan tâm
    nhất chính là thanh toán điện tử5 với sự tham gia của các ứng dụng ví điện tử nổi tiếng, điển
    hình như MoMo hay Zalo Pay… Tính đến ngày 15/10/2020, tại Việt Nam đã có có 39 doanh
    nghiệp cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán điện tử hoạt động6. Tuy nhiên, nhiều vấn đề
    còn tồn tại đã cho thấy khả năng thích ứng kém của pháp luật so với thực tế. Điển hình như
    vấn đề an toàn và bảo mật thông tin khách hàng. Hầu hết ví điện tử đều sử dụng các thông
    tin cá nhân do người dùng cung cấp (như họ tên, số chứng minh nhân dân/căn cước công dân,
    số điện thoại…) để đối chứng với những thông tin của tài khoản ngân hàng liên kết. Điều này
    giúp đảm bảo tài khoản ngân hàng có thể liên kết trùng khớp với tài khoản ví nhằm tránh tình
    trạng lừa đảo, gian lận hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác có thể xảy ra. Tuy nhiên, một
    số ví điện tử đã “gài” thêm các điều khoản bất lợi cho khách hàng, như trong điều khoản sử
    dụng Zalo Pay có đoạn: “Trong trường hợp cần thiết, chúng tôi có thể tiết lộ và cung cấp các
    thông tin cá nhân của bạn tới các chuyên gia tư vấn, cơ quan có thẩm quyền, bên bảo hiểm,
    hoặc các định chế pháp lý” và “không đảm bảo rằng các công nghệ hoặc thủ tục có thể loại
    bỏ tất cả rủi ro về trộm cắp, mất mát hoặc sử dụng sai”. Như vậy, lo lắng của người dùng về
    tình trạng mất thông tin cá nhân khi xác thực (như xác thực ví điện tử) của khách hàng là
    hoàn toàn có cơ sở, khi họ buộc phải bấm “Đồng ý” với các điều khoản này nếu muốn sử
    dụng ứng dụng7.
    Hai là, thái độ e dè, chưa ghi nhận khuôn khổ pháp lý cho một số mảng hoạt động của
    Fintech. Bên cạnh việc ghi nhận khuôn khổ pháp lý cho thanh toán điện tử, như đã trình
    bày ở trên, vẫn còn nhiều doanh nghiệp đã và đang khởi nghiệp để thực hiện các hoạt
    động trong các mảng khác, như gọi vốn, dịch vụ cho vay trực tuyến, chuyển tiền, quản lý

    4
    Trần Nguyễn Minh Hải (2020). Phát triển Fintech trong lĩnh vực thanh toán tại Việt Nam. Tạp chí Thị
    trường Tài chính – Tiền tệ, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam. [Ngày truy cập: 05 tháng 4 năm 2021].
    5
    Nguyễn Thị Ánh Ngọc, Đặng Thùy Linh, Nguyễn Thị Diễm (2020). Thị trường ví điện tử Việt Nam – cơ
    hội và thách thức. Tạp chí Ngân hàng, số 8/2020. [Ngày truy cập: 05 tháng 4 năm 2021].
    6
    Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chi tiết xem tại:
    [Ngày truy cập: 05 tháng 4 năm 2021].
    7
    Lưu Quý (2020). Sợ lộ dữ liệu cá nhân khi xác thực ví điện tử. VN Express. [Ngày truy cập: 05 tháng 4 năm 2021].

    963

  6. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    dữ liệu tài chính cá nhân”8. Tuy nhiên, những lĩnh vực này vẫn chưa có được khuôn khổ
    pháp lý phù hợp. Điều này cho thấy pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn đang bỏ ngỏ rất
    nhiều mảng hoạt động của Fintech.
    Ba là, một số mảng hoạt động của Fintech thậm chí còn bị cấm, đặt ra ngoài vòng
    pháp luật. Thực trạng các mảng hoạt động như tiền điện tử… dù bị cấm9 và chưa xác định
    rõ bản chất pháp lý nhưng vẫn tồn tại và dần trở thành xu hướng sử dụng để thanh toán
    trên thế giới10 đang tạo ra hãm lực cản trở đổi mới sáng tạo phát triển. Thực trạng này
    xuất phát từ đặc điểm ảnh hưởng rộng lớn, mạnh mẽ của lĩnh vực tài chính – ngân hàng
    đến nền kinh tế, bởi nếu công tác quản lý nhà nước xảy ra bất kỳ sai sót nào đều sẽ gây
    ra những ảnh hưởng cực kỳ khủng khiếp.
    Từ những phân tích trên, có thể thấy, trong khi các cơ quan quản lý vẫn đang “loay
    hoay tìm kiếm” những quy định phù hợp, Fintech vẫn ngày ngày phát triển và thiếu vắng
    đi những hành lang pháp lý vững chắc. Chính vì những nguyên nhân trên đã đặt ra yêu
    cầu cấp thiết phải điều chỉnh pháp luật sao cho phù hợp với sự phát triển của Fintech.
    5.2. Sandbox – Một phương pháp tiếp cận thích hợp để xây dựng khuôn khổ pháp
    lý cho Fintech
    Nếu ví các chính sách, quy phạm pháp luật như “phần mềm giả lập”, những “nhà làm
    luật” chính là các lập trình viên luôn cố gắng để tạo ra các phần mềm phù hợp với người
    dùng và diễn biến của nền kinh tế – xã hội, thuận lợi để người dùng tạo ra các giá trị mới
    trong môi trường vận hành, kiểm soát của phần mềm. Trong lĩnh vực công nghệ thông
    tin, phương pháp Agile (phương pháp phát triển phần mềm linh hoạt) là phương pháp phổ
    biến và được nhiều doanh nghiệp phần mềm áp dụng. Phương pháp này chú trọng vào
    vấn đề thử nghiệm và cải tiến sản phẩm được lặp đi lặp lại, giúp tạo ra những phần mềm
    tối ưu nhất, và khi đưa vào triển khai thực tế, những trục trặc, sai sót sẽ ít xảy ra hơn.
    Trong khi việc tạo lập và triển khai sử dụng sản phẩm phần mềm có được môi trường
    kiểm thử liên tục theo phương pháp Agile, việc soạn thảo và ban hành chính thức một
    chính sách, quy phạm pháp luật lại thiếu một môi trường thử nghiệm. Và nhất là khi nền
    kinh tế của Việt Nam đang dần trở nên hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới, nhiều
    mô hình kinh doanh, khái niệm, sản phẩm kinh tế mới dần xuất hiện mà chưa có khuôn

    8
    Nguyễn Kim Anh (2017). Fintech – Xu hướng phát triển và khuyến nghị đối với NHNN. Ngân hàng Nhà
    nước Việt Nam.
    9
    Theo khoản 6, 7 Điều 1 Nghị định 80/2016/NĐ-CP về sửa đổi bổ sung một số điều của NĐ101/2012/NĐ-
    CP về thanh toán không dùng tiền mặt về thanh toán không dùng tiền mặt, thì tiền điện tử không được xem
    là một phương tiện thanh toán.
    10
    Phong Đỗ (2021). Apple chấp nhận thanh toán bằng Bitcoin. Báo Thanh niên Online.
    [Ngày truy
    cập: 05 tháng 4 năm 2021].

    964

  7. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    khổ pháp lý điều chỉnh cụ thể, những doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mới (như fintech,
    blockchain…) hay doanh nghiệp kinh doanh theo những mô hình kinh tế mới (như kinh
    tế chia sẻ…) – những doanh nghiệp áp dụng công nghệ số và đổi mới sáng tạo, nhất thiết
    phải tiên phong nhằm tạo ra những sản phẩm mới từ các ý tưởng sáng tạo (gọi tắt là các
    công ty tiên phong sáng tạo), sẽ là những đối tượng phải chịu thiệt thòi nhiều nhất và khó
    có cơ hội phát triển trước những rào cản pháp lý. Để giải quyết những vấn đề nêu trên,
    một số quốc gia trên thế giới như Anh11, Hàn Quốc12, Singapore13… đã xây dựng và áp
    dụng “Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát – Regulatory Sandbox” (gọi tắt là “Sandbox”)
    cho hoạt động của các doanh nghiệp khởi nghiệp có áp dụng ứng dụng công nghệ, hay
    doanh nghiệp kinh doanh theo mô hình kinh tế mới, nhất là trong lĩnh vực Fintech.
    Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát – Regulatory Sandbox (hay gọi tắt là “Sandbox”) là
    tạo ra không gian thuận lợi có kiểm soát với các cơ chế quản lý, điều hành riêng (nằm
    ngoài khung pháp lý hiện tại) để tiến hành thử nghiệm các biện pháp quản lý của Nhà
    nước đối với những công ty tiên phong sáng tạo và các lĩnh vực mới xuất hiện, có sức
    ảnh hưởng lớn đến thị trường. Với mục tiêu hướng đến tháo gỡ các rào cản phát triển cho
    sản phẩm mới, đáp ứng quy định và tạo ra giá trị cho xã hội, có thể thấy, Sandbox nổi bật
    khi so sánh với mô hình thí điểm bởi tính an toàn (do được kiểm soát chặt chẽ) và áp
    dụng cho những “cái mới” chưa được pháp luật điều chỉnh. Yếu tố “kiểm soát chặt chẽ”14
    mang lại cho Sandbox một khung giới hạn, khiến những công ty bên trong Sandbox tách
    biệt tương đối so với các công ty bên ngoài về mặt cơ chế quản lý, điều hành (có thể nằm
    ngoài khung pháp lý hiện tại đang được áp dụng chung). Như vậy, Sandbox mang đầy đủ
    những ưu điểm nổi bật để giúp “các nhà làm luật” có cơ hội thử nghiệm và hạn chế sai
    sót trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho Fintech.

    11
    Financial Conduct Authority – FCA (2017). Regulatory sandbox lessons learned report. Website FCA.
    Available at: [Accessed 05 April 2021].
    12
    Vietnamnet (2018). Hàn Quốc: Các công ty Fintech được miễn một số quy tắc pháp lý theo “regulatory
    sandbox”. Website Vietnamnet. [Ngày truy cập: 05
    tháng 4 năm 2021].
    13
    Monetary Authority of Singapore – MAS (2019). Overview of Regulatory Sandbox. Website MAS.
    Available at: [Accessed 05 April 2021].
    14
    Bao gồm các nội dung chính như: (1) Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động, (2) Điều kiện áp dụng Sandbox,
    (3) Đối tượng và số lượng tham gia vào Sandbox, (4) Không gian và thời gian của Sandbox, (5) Các yếu tố
    kiểm soát của Sandbox và biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng khi thử nghiệm thất bại.

    965

  8. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    5.3. Khả năng sử dụng Sandbox trong xây dựng khuôn khổ pháp lý cho một vài
    mảng hoạt động của Fintech
    Hiện nay tại Việt Nam, Sandbox đã được nhắc đến trong nhiều văn bản mang tính chất
    quan điểm chỉ đạo thực hiện như Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quyết định
    số 99/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và nhất là đã được “định hình sơ bộ” tại dự thảo
    Nghị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ tài chính trong lĩnh
    vực ngân hàng. Được “bật đèn xanh” từ Đảng và Chính phủ, Sandbox hoàn toàn có khả
    năng được sử dụng trong xây dựng khuôn khổ pháp lý cho một số mảng hoạt động của
    Fintech trong tương lai, lý do cụ thể như sau:
    Một là, Việt Nam được xem là thị trường tiềm năng trong việc áp dụng và phát triển
    công nghệ số trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng. Việt Nam hiện có 3 yếu tố thuận lợi
    để tạo nên thị trường tiềm năng cho Fintech phát triển, đó là: (1) dân số trẻ với hơn 90
    triệu dân cùng độ tuổi trung bình hơn 30, trong đó chủ yếu là thế hệ Millennials (những
    người có năm sinh từ 1980 đến 2000, có cuộc sống gắn liền với internet); (2) Việt Nam
    hiện có tỷ lệ phổ cập di động cao (trên 145%) và tỷ lệ sử dụng để tiến hành các giao dịch
    ngân hàng rất thấp (4%)15; (3) số lượng người sử dụng điện thoại thông minh
    (Smartphone) là 24,6 triệu người và tỷ lệ sử dụng tiền mặt cao (90%)16.
    Hai là, các cơ quan quản lý nhà nước đã có những động thái nhất định trong việc quản
    lý và thúc đẩy Fintech phát triển (trong đó bao gồm việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có
    kiểm soát Sandbox). Nhận thức được sự phát triển nhanh chóng và tiềm năng của Fintech,
    Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã thành lập Ban chỉ đạo về Fintech17,18 có nhiệm vụ
    tham mưu giúp Thống đốc nhằm hoàn thiện hệ sinh thái Fintech và khuôn khổ pháp lý,
    từ đó tạo điều kiện thuận lợi giúp các doanh nghiệp Fintech Việt Nam phát triển, phù hợp
    với chủ trương, định hướng của Chính phủ. Vào tháng 5 năm 2017, Ban chỉ đạo đã tiến
    hành khảo sát trên quy mô lớn đối với cộng đồng Fintech nhằm tổng kết và phân tích kết
    quả về hoạt động Fintech tại Việt Nam, từ đó xác định được những vấn đề còn tồn tại,
    cần giải quyết để từng bước xây dựng các chính sách quan trọng trong trung và dài hạn
    đối với hoạt động Fintech trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng. Đến tháng 6 năm 2019,
    Ngân hàng Nhà nước đã hoàn thiện và trình Dự thảo Đề án về Cơ chế thử nghiệm có kiểm
    soát (Regulatory Sandbox) cho các doanh nghiệp Fintech cung ứng giải pháp, dịch vụ
    trong lĩnh vực ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước cũng đang nghiên cứu để thành lập một

    15
    Trong khi tỷ lệ sử dụng điện thoại cho mạng xã hội là 46% và tìm kiếm nội dung là 45%.
    16
    Minh Tuyết (2015). Mobile marketing forum on way. Vietnam Economic Times.
    17
    Theo Quyết định số 328/QĐ-NHNN ngày 16/3/2017.
    18
    Với các thành viên bao gồm: Vụ Pháp chế, Vụ Chính sách tiền tệ, Vụ Hợp tác quốc tế, Cục Công nghệ
    Thông tin, Viện Chiến lược, Cơ quan Thanh tra giám sát Ngân hàng, Trung tâm Thông tin tín dụng quốc
    gia Việt Nam (CIC), Công ty Cổ phần Thanh toán quốc gia Việt Nam (Napas).

    966

  9. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Trung tâm đổi mới sáng tạo Fintech (Innovation Hub) và kêu gọi sự hợp tác từ một số
    ngân hàng và doanh nghiệp lớn với 3 hoạt động trọng tâm bao gồm: (i) tạo không gian
    làm việc chung; (ii) mời chuyên gia giàu kinh nghiệm đến hỗ trợ; và (iii) hỗ trợ kêu gọi
    vốn đầu tư cho các doanh nghiệp Fintech19.
    Ba là, một số mảng hoạt động của Fintech đã có đủ cơ sở để tự chứng minh cho việc
    có thể tồn tại trên thị trường và biểu thị đang rất cần môi trường thử nghiệm như Sandbox
    để phát triển. Một ví dụ điển hình là hoạt động cho vay ngang hàng 20. Tính đến ngày
    28/12/2020, tuy đã có 11 công ty thực hiện hoạt động cho vang ngang hàng tại Việt
    Nam21, nhưng do khung pháp lý điều chỉnh hoạt động này vẫn chưa chặt chẽ, đã gây nên
    những biến tướng trong thực tế. Xét về khía cạnh hình thức hoạt động, hầu hết công ty
    nêu trên đều hoạt động dưới dạng công ty cung cấp phần mềm công nghệ đơn thuần hoạt
    động ở các ngành nghề như tư vấn, môi giới, hỗ trợ tài chính… tuy nhiên lại thực hiện
    nhiều hoạt động tín dụng khác rộng hơn ngành nghề đã đăng ký. Ngoài ra, cũng có công
    ty lựa chọn hướng đi hợp tác với các ngân hàng như CTCP Interloan đã hợp tác với
    Sacombank, Vietcapital Bank và Nam Á bank; CTCP Tima hợp tác với Nam Á Bank và
    NCB; CTCP Lendbiz lựa chọn hợp tác với VIB, PGbank…
    Hầu hết quốc gia trên thế giới đều nhìn nhận cho vay ngang hàng là ngành nghề kinh
    doanh riêng biệt, có điều kiện và được quản lý chặt chẽ (về giới hạn, trách nhiệm…). Như
    vậy, việc thiếu sót những quy định cũng như khung pháp lý riêng điều chỉnh hoạt động
    cho vang ngang hàng22 đang khiến hoạt động này nằm ngoài vòng kiểm soát và dễ trở
    nên biến tướng. Theo Vụ Chính sách tiền tệ Việt Nam, trong tài liệu “Hoạt động cho vay
    ngang hàng – P2P Lending” năm 2020, có 8 khía cạnh các quốc gia phát triển trên thế
    giới quan tâm trong việc triển khai và đảm bảo cho vay ngang hàng được vận hành hiệu
    quả, đó là: (1) giới hạn (dịch vụ, mức cho vay, mức đi vay), (2) hệ thống điện tử an toàn
    (nhằm bảo vệ dữ liệu và thông tin khách hàng), (3) rủi ro rửa tiền và tài trợ khủng bố, (4)
    trách nhiệm của các bên, (5) trách nhiệm công bố thông tin của doanh nghiệp, (6) khía
    cạnh truyền thông, (7) các hành vi bị cấm, (8) trách nhiệm báo cáo và hoạt động giám sát
    của Nhà nước.

    19
    Yamadera, S. T (2019). Understanding Technology in Payment System. SBV, Ha Noi.
    20
    Cho vay ngang hàng (P2P Lending) được xây dựng dựa trên nền tảng công nghệ nhằm tạo ra những trung
    gian kết nối giữa người cho vay và người đi vay nhằm đáp ứng các nhu cầu vay mà không thông qua các
    tổ chức tài chính truyền thống.
    21
    Lender.vn (2020). Cập nhật danh sách các công ty cho vay ngang hàng đang hoạt động tại Việt Nam.
    Website Lender. [Ngày truy cập: 05 tháng 4 năm 2021].
    22
    Hoạt động cho vay ngang hàng không được quy định là ngành nghề kinh doanh riêng biệt trong Quyết
    định số 27/2018/QĐ-TTg ngày 06/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ.

    967

  10. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Như vậy, hoạt động cho vay ngang hàng hiện nay đã có thể tồn tại trên thị trường và
    việc thiếu vắng hành lang pháp lý cụ thể đang cản trở việc phát triển của hoạt động này.
    Mặc dù các rủi ro về mặt tín dụng có thể được giải quyết phần nào thông qua áp dụng
    Luật Đầu tư năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Luật Các tổ chức tín dụng năm
    2010 (với cơ chế giám sát tín dụng đặc thù), tuy nhiên việc chưa được công nhận là một
    ngành nghề riêng biệt cũng vô hình chung gây khó khăn trong việc áp dụng pháp luật và
    bảo vệ lợi ích chính đáng khi các lừa đảo xảy ra. Như vậy, khả năng áp dụng Sandbox để
    xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hoạt động cho vay ngang hàng hoàn toàn có khả năng
    và việc sớm triển khai thử nghiệm (với đối tượng ứng tuyển tham gia là các công ty đã
    hoạt động và dẫn đầu thị trường) sẽ phần nào giúp hoạt động này sớm có được hành lang
    pháp lý phù hợp, phục vụ sự phát triển chung của thị trường.
    5.4. Một số nhận xét và kiến nghị khi sử dụng Sandbox để xây dựng khuôn khổ pháp
    lý cho một vài lĩnh vực của Fintech
    Sandbox không phải là công cụ toàn năng, mục tiêu của Sandbox không phải là quyết
    định chính sách hay quy phạm pháp luật nào được miễn hay sửa đổi, mà hướng đến tháo
    gỡ các rào cản phát triển cho sản phẩm mới, đáp ứng quy định và tạo ra giá trị cho xã hội.
    Các Sandbox chủ yếu chỉ giúp giải tỏa tạm thời cho một số ít doanh nghiệp, không phải
    toàn bộ doanh nghiệp trên thị trường. Xét cho cùng, Sandbox cũng chỉ là môi trường thử
    nghiệm – một “phép thử” cho các biện pháp quản lý của Nhà nước; chính sách và cơ chế
    quản lý, điều hành linh hoạt, phù hợp với thực trạng kinh tế – xã hội mới là cơ chế tốt
    nhất để thúc đẩy đổi mới.
    Khi áp dụng Sandbox, các Chính phủ phải chấp nhận việc thay đổi tư duy lập pháp
    khác với trước kia, chấp nhận tăng cường việc sử dụng các bằng chứng thực nghiệm trong
    xây dựng chính sách và cho phép một vài cơ quan (như cơ quan điều hành Sandbox) có
    thể thay đổi pháp luật một cách nhanh chóng (tất nhiên không quá nhanh).
    Để xây dựng nên một Sandbox thành công, tác giả đưa ra những kiến nghị mang tính
    chất định hướng tham khảo, cụ thể như sau:
    Một là, cần thiết phải có cơ quan quản lý và điều hành riêng biệt cho từng Sandbox
    (khi thành lập), nhằm đảm bảo hoạt động của Sandbox được hiệu quả và kịp thời can
    thiệp khi có vấn đề phát sinh. Khác với FCA của Anh, CFPB của Hoa Kỳ, MAS của
    Singapore, FTEG của Malaysia hay gọi tắt là cơ quan quản lý chung về Sandbox, các cơ
    quan được nhắc đến trong đề xuất này được tạo ra khi một Sandbox cụ thể được thiết lập
    (tức thuộc cấp nhỏ hơn cơ quan quản lý chung về Sandbox) và đảm nhận các vai trò cụ
    thể như thẩm định hồ sơ ứng tuyển tham gia Sandbox, chịu trách nhiệm vận hành Sandbox
    và kiến nghị kịp thời các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề hoặc rủi ro phát sinh. Việc

    968

  11. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    nghiên cứu để thành lập cũng như bố trí hệ thống tổ chức, nhân sự… của các cơ quan này
    cần phải được suy xét và tiến hành kỹ lưỡng nhằm phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra.
    Ở bất kỳ thử nghiệm nào, việc thất bại hoàn toàn có thể xảy ra. Do vậy, yếu tố quan
    trọng nhất chính là cơ quan quản lý Sandbox. Khi tiến hành tạo lập Sandbox, Nhà nước
    sẽ đóng vai trò là “những nhà thầu xây dựng”, phụ trách thiết lập nên những nền móng
    đầu tiên, tạo ra “hàng rào pháp lý” và thành lập cơ quan điều hành có chức năng quản lý
    tất cả mọi hoạt động của Sandbox và chịu trách nhiệm với những sai sót, tác động, hậu
    quả của nó. Cơ quan điều hành này sẽ phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền nhằm xây
    dựng một bảng các tiêu chuẩn, nhằm chọn ra các công ty phù hợp tham gia Sandbox và
    nhất là đóng vai trò của “nhà tuyển dụng”. Cơ quan này sẽ có nhiều chức năng tùy thuộc
    vào quan điểm của các Nhà nước và loại Sandbox, tuy nhiên, nó phải thực hiện một số
    chức năng sau:
    (1) Theo dõi sự vận hành của Sandbox và thực trạng hoạt động của các công ty tham
    gia thử nghiệm.
    (2) Thường xuyên tổ chức trao đổi, thảo luận với các công ty trong Sandbox để tìm
    ra các vấn đề pháp lý còn bỏ ngỏ hoặc vướng mắc, từ đó lắng nghe thêm các giải pháp từ
    phía các công ty này.
    (3) Đề xuất các sửa đổi nhằm hoàn thiện các cơ chế quản lý, điều hành của Sandbox
    nhằm tìm ra các biện pháp đúng đắn, phù hợp với mục tiêu, quan điểm của Nhà nước khi
    thành lập Sandbox.
    Với sự đồng hành sát sao từ cơ quan điều hành Sandbox, những tác động tiêu cực từ
    Sandbox và sự thất bại sẽ được hạn chế xảy ra.
    Hai là, cần tiến hành nghiên cứu để xác định các mảng hoạt động của Fintech để quản
    lý phù hợp. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có thể soạn thảo một phụ lục, trong
    đó liệt kê đầy đủ những lĩnh vực đương nhiên có thể được tiến hành thử nghiệm; và quy
    định rằng đối với các lĩnh vực không nằm trong phụ lục sẽ tùy trường hợp cụ thể mà xem
    xét, như vậy sẽ tăng cường công tác quản lý và phát huy vai trò của các cơ quan quản lý
    nhà nước.
    Ngoài ra, không phải bất kỳ trường hợp nào cũng đều có thể áp dụng Sandbox. Vì
    vậy, trước khi quyết định có áp dụng Sandbox hay không, các cơ quan quản lý nhà nước
    phải làm rõ tối thiểu 4 câu hỏi sau:
    (1) Các biện pháp quản lý của Nhà nước hiện nay đang bất cập như thế nào đối với
    lĩnh vực, mô hình kinh doanh hay sản phẩm kinh tế mới xuất hiện?

    969

  12. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    (2) Liệu có thể thay thế bằng các biện pháp quản lý khác vẫn có thể đạt được mục tiêu
    chính sách đã đề ra?
    (3) Liệu có thể tìm kiếm các giải pháp từ các buổi đối thoại với doanh nghiệp, ý kiến
    của chuyên gia hoặc biện pháp quản lý hiệu quả của các quốc gia phát triển trên thế giới…
    vẫn đạt được mục tiêu chính sách?
    (4) Sự tác động của lĩnh vực, mô hình kinh doanh hay sản phẩm kinh tế mới xuất hiện
    có đủ lớn để phải áp dụng Sandbox hay không?
    Một ví dụ cho lập luận trên là quy định đối với giao dịch sử dụng công nghệ cho phép
    khách hàng thực hiện giao dịch không cần gặp mặt trực tiếp nhân viên, theo điểm a khoản 2
    Điều 8 của Nghị định 116/2013/NĐ-CP, yêu cầu hoạt động xác thực lần đầu phải gặp mặt
    trực tiếp. Do đó, trong hoạt động Fintech, việc xác thực lần đầu bằng eKyC (phương thức
    định danh khách hàng trực tuyến, không cần gặp mặt trực tiếp) sẽ là trái quy định. Suy xét
    một cách chi tiết, mục tiêu của quy định tại Nghị định 116/2013/NĐ-CP nhằm để chống rửa
    tiền. Do đó, nếu doanh nghiệp muốn áp dụng eKyC cần phải trình bày các giải pháp thay thế
    để vẫn đạt được mục đích chống rửa tiền mà không cần phải đáp ứng quy định tại Nghị định
    nêu trên. Tiếp đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành thẩm định các giải pháp thay
    thế được doanh nghiệp đề xuất xem có đáp ứng được mục tiêu quản lý không – nếu đạt được
    cho phép doanh nghiệp áp dụng giải pháp đó, thay vì phải đáp ứng quy định pháp luật. Và
    như vậy trong vấn đề này không cần áp dụng đến Sandbox.
    Ba là, cần nghiên cứu để xác định các giới hạn về phạm vi và thời gian thử nghiệm
    phù hợp. Nhìn từ trường hợp thí điểm của Grab và Uber, phạm vi và thời gian thí điểm
    quá rộng, khiến công tác quản lý không được đảm bảo. Tham khảo theo Singapore, Việt
    Nam đầu tiên nên thành lập những trung tâm khoa học công nghệ (điển hình như Khu
    công nghệ cao tại Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh), tiếp đó là thiết lập nên
    một môi trường thử nghiệm có kiểm soát (có thể là Thành phố Hồ Chí Minh) vừa có
    phạm vi vừa phải, dễ dàng quản lý và điều hành để tiến hành các thử nghiệm. Về thời
    gian thử nghiệm, Việt Nam có thể quy định 12 tháng và tùy trường hợp có thể xem xét
    gia hạn (như Singapore).
    Bốn là, không nên giới hạn đối tượng và số lượng tham gia thử nghiệm. Việc giới hạn
    nhằm đảm bảo một cơ cấu thành phần nhất định để Sandbox có thể hoạt động hiệu quả không
    nên được quy định thẳng thắn, mà nên được ẩn giấu thông qua các tiêu chuẩn xét duyệt như
    cách Singapore đã thực hiện (nên quy định một số tiêu chuẩn “cứng” và để các tiêu chuẩn
    còn lại ở chế độ linh hoạt). Như vậy lúc này, vai trò của cơ quan quản lý, điều hành Sandbox
    sẽ phát huy tác dụng trong việc thẩm định và xét duyệt các hồ sơ ứng tuyển.

    970

  13. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Phải nhìn nhận chung một tiêu chuẩn rằng, các công ty tiên phong sáng tạo muốn
    tham gia Sandbox phải đáp ứng được tối thiểu 3 tiêu chuẩn cơ bản sau: các công ty này
    phải (1) có các sản phẩm, dịch vụ, giải pháp hay mô hình kinh doanh mới chưa từng tồn
    tại trước đó, hoặc sản phẩm, dịch vụ có áp dụng công nghệ mới, tiên tiến hơn những công
    nghệ hiện tại và không thể “bắt chước”; và (2) chưa được điều chỉnh trong quy định pháp
    luật hiện hành. Quan trọng hơn, (3) những sản phẩm, dịch vụ ứng dụng công nghệ mới
    này phải có giá trị và lợi ích cho xã hội.
    Ngoài ra, khi chấp nhận tham gia thử nghiệm trong môi trường Sandbox, doanh
    nghiệp phải cam kết đảm bảo việc tuân thủ tất cả yêu cầu, quy định pháp luật và các quy
    tắc trong Sandbox, bắt buộc có nghĩa vụ công bố thông tin và cam kết trách nhiệm với
    khách hàng trong thời gian thử nghiệm, đồng hành cùng các nhà quản lý để điều chỉnh
    các quy định sao cho phù hợp nhất với thực tiễn chính đáng đặt ra mà không làm hạn chế
    các sáng tạo, đảm bảo các sản phẩm, dịch vụ được cung ứng có lợi (ví dụ chi phí rẻ…)
    cho người tiêu dùng và xã hội, cam kết chịu trách nhiệm khi có sự cố, thiệt hại… xảy ra.
    Việc quy định những tiêu chuẩn khắt khe hơn sẽ được tùy biến ở mỗi loại Sandbox khác
    nhau, phụ thuộc vào từng lĩnh vực và quan điểm của các cấp có thẩm quyền.
    Năm là, cần xác lập cụ thể những tiêu chí thẩm định và hồ sơ ứng tuyển cụ thể. Việt
    Nam có thể quy định các tiêu chuẩn “cứng” bao gồm: tính sáng tạo của sản phẩm, dịch
    vụ hoặc giải pháp đề xuất thử nghiệm; bảo mật thông tin khách hàng; các quy định về
    phòng chống rửa tiền; đảm bảo an toàn cho tiền và tài sản của khách hàng; và tiêu chí về
    sự phù hợp, tính đúng đắn của đối tượng tiến hành thử nghiệm, đặc biệt là về sự trung
    thực và liêm chính.
    Ngoài ra, với vai trò nơi thử nghiệm pháp lý cho các hoạt động của doanh nghiệp
    Fintech và hạn chế các rủi ro có thể xảy ra như: rủi ro lạm dụng thị trường; rủi ro rửa tiền
    và tài trợ khủng bố; rủi ro loại bỏ tài chính; rủi ro bảo mật và rò rỉ dữ liệu; rủi ro không
    minh bạch; rủi ro phí trung gian cao. Việt Nam có thể quy định theo hướng:
    ▪ Liệt kê các mục tiêu mà Nhà nước cho rằng cần quản lý để hạn chế những rủi ro
    tiềm ẩn có thể xuất hiện và yêu cầu các công ty ứng tuyển giải trình.
    ▪ Hồ sơ ứng tuyển của công ty có nguyện vọng tham gia thử nghiệm phải chỉ ra
    được những rào cản pháp lý đang cản trở việc thực hiện dự án kinh doanh, kèm
    với đó là đề xuất những biện pháp khắc phục. Những biện pháp này có thể thay
    thế các biện pháp hiện hành được pháp luật quy định, nhưng vẫn phải đáp ứng
    được các mục tiêu quản lý ban đầu đã được đề ra.
    ▪ Cơ quan quản lý, điều hành Sandbox khi tiến hành thẩm định các biện pháp nêu
    trên phải xem tính hiệu quả, khả năng triển khai và có đáp ứng được các mục tiêu
    chính sách đã đề ra hay không. Nếu có phải cấp phép ngay để công ty triển khai
    971

  14. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    dự án của mình và theo dõi các hiệu quả mang nhằm đề xuất để các biện pháp đó
    thay cho các quy định pháp luật hiện hành đang gây cản trở.
    Như vậy, theo cách tiếp cận này, các công ty tiên phong sáng tạo sẽ hiểu được những
    vấn đề mà cơ quan quản lý quan tâm, từ đó có thể thiết kế các đề án phù hợp hơn, tập
    trung hơn vào giải trình những điểm quan trọng. Các cơ quan quản lý sẽ giảm được thời
    gian xét duyệt đề án do đề án đã được sắp xếp theo các mục tiêu quản lý, cơ quan quản
    lý chỉ cần xem xét khả năng đáp ứng và tính khả thi của các đề án so với các mục tiêu
    quản lý mà mình đã đề ra.
    Sáu là, việc thông báo kết quả ứng tuyển phải hướng đến việc giúp doanh nghiệp có
    thể hoạt động và phát triển. Theo đó, nếu hồ sơ của doanh nghiệp không đáp ứng đầy đủ
    các tiêu chuẩn đã đưa ra, doanh nghiệp nên có quyền ứng cử lại sau khi đã bổ sung hồ sơ,
    tránh tình trạng “bỏ rơi” ngay từ lần thất bại đầu tiên. Bên cạnh đó, nếu lĩnh vực hoạt
    động của doanh nghiệp là hợp pháp theo các quy định hiện hành và không có vướng mắc
    về mặt pháp lý khi hoạt động, cơ quan xét duyệt phải thông báo (bằng văn bản) cho doanh
    nghiệp về tính hợp pháp của mô hình kinh doanh hiện nay của doanh nghiệp. Điều này
    giúp doanh nghiệp có thể tự tin và hiểu rõ thêm về các quy định của pháp luật, có thể yên
    tâm hoạt động và đầu tư phát triển.
    Bảy là, cho phép việc điều chỉnh có thể được thực hiện. Việc cho phép các doanh
    nghiệp điều chỉnh các nội dung trong đề án thử nghiệm hoàn toàn hợp lý vì chỉ khi trải
    qua thực nghiệm, sản phẩm, dịch vụ hoặc giải pháp đề xuất thử nghiệm mới bộc lộ những
    khiếm khuyết. Việc cho phép, sau quá trình xem xét, thống nhất với cơ quan quản lý, sẽ
    giúp những đối tượng tiến hành thử nghiệm này có thể phát triển một cách phù hợp hơn.
    Bên cạnh đó, yếu tố “điều chỉnh” còn được sử dụng trong việc xem xét một cách linh
    hoạt để cho phép kéo dài hoặc rút ngắn khung phạm vị (phạm vi, thời gian thử nghiệm),
    giúp các doanh nghiệp thử nghiệm thuận lợi hơn trong quá trình hoạt động.
    Tám là, việc cho phép thu hồi phê duyệt thử nghiệm là đáng xem xét. Sandbox được
    tạo ra với mục tiêu lành mạnh hóa thị trường và với ý nghĩa tích cực. Tuy nhiên, khi các
    công ty thử nghiệm có ý đồ xấu, có hành vi vụ lợi, không tuân thủ theo các tiêu chuẩn,
    quy tắc và trách nhiệm đã cam kết, việc Nhà nước thu hồi phê duyệt và loại bỏ các công
    ty này ra khỏi Sandbox là hoàn toàn hợp lý. Các trường hợp thu hồi phê duyệt có thể tham
    khảo trong Khuôn khổ Sandbox trong lĩnh vực Fintech của Malaysia23 tại mục 10.1, cụ
    thể như sau:

    23
    FTEG (2016). Financial Technology Regulatory Sandbox Framework. Website FTEG. Available at:

  15. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    (1) Không thực hiện đúng và đủ các biện pháp bảo vệ và trách nhiệm của công ty.
    (2) Cung cấp thông tin sai lệch, gây hiểu lầm, không chính xác hoặc đã che giấu,
    không tiết lộ sự thật quan trọng trong đơn đăng ký.
    (3) Vi phạm bất kỳ quy phạm pháp luật hiện hành ở Malaysia hoặc tại nước ngoài có
    thể làm ảnh hưởng đến thị trường của Malaysia.
    (4) Đang trong quá trình thanh lý hoặc đã được thanh lý.
    (5) Vi phạm các yêu cầu về bảo mật và bảo mật dữ liệu.
    (6) Tiến hành hoạt động kinh doanh gây bất lợi cho khách hàng hoặc công chúng nói chung.
    (7) Không giải quyết bất kỳ khiếm khuyết, sai sót hoặc lỗ hổng kỹ thuật nào trong sản
    phẩm, dịch vụ hoặc giải pháp và làm phát sinh sự cố gián đoạn, hoặc đã gian lận.

    Tài liệu tham khảo
    Aziz, M. R. A. (2019). Malaysia Regulatory Sandbox: Use case from particiapant perspective.
    Fintech Association of Malaysia. Available at:
    [Accessed 05 April 2021].
    Buckley, Douglas W. Arner, Robin Veidt, Dirk A. Zetzsche (2020). Building FinTech
    Ecosystems: Regulatory Sandboxes, Innovation Hubs and Beyond. Washington University
    Journal of Law and Policy, Vol. 61, 2020. Available at:
    [Accessed 05 April 2021].
    Chu Thị Hoa (2019). Sandbox – Cơ chế thử nghiệm áp dụng trong phạm vi hạn chế – kinh nghiệm
    quốc tế và một số gợi ý cho Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 16, trang 391.
    [Ngày truy cập: 05 tháng
    4 năm 2021].
    Đặng Hà Giang (2020). Công nghệ tài chính: Cơ hội và thách thức phát triển ngân hàng số. Tạp
    chí Tài chính, Kỳ 2 – Tháng 7/2020.
    Đặng Vân Phúc (2019). Một số gợi ý về xây dựng sandbox cho Việt Nam. Tạp chí Thông tin và
    Truyền thông Kỳ 1 – Bưu chính Viễn thông và CNTT tháng 8/2019.
    [Ngày
    truy cập: 5 tháng 4 năm 2021].
    Dự thảo Đề nghị xây dựng Nghị định về Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát hoạt động công nghệ
    tài chính trong lĩnh vực ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

    redirect=%2Fsearch%3Fq%3DFinancial%2BTechnology%2BRegulatory%2BSandbox%2BFramework>
    [Accessed 05 April 2021].

    973

  16. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Lev Bromberg, Andrew Godwin và Ian Ramsay (2017). Fintech Sandboxes: Achieving a Balance
    between Regulation and Innovation. Journal of Banking and Finance Law and Practice,
    Vol.28, No. 4, pp. 314-336. Available at:
    [Accessed 05 April 2021].
    MAS (2016). MAS Issues “Regulatory Sandbox” Guidelines for FinTech Experiments. Website
    MAS. Available at: [Accessed 05 April 2021].
    Modato (2019). Regulatory sandboxes: worthwhile in developing countries?. Website Modato.
    Available at: [Accessed 05 April 2021].
    Trần Nguyễn Minh Hải (2019). Kinh nghiệm phát triển Fintech trong lĩnh vực ngân hàng từ cơ
    chế thử nghiệm Sandbox của Malaysia. Tạp chí Thị trường Tài chính – Tiền tệ.
    [Ngày truy cập: 05 tháng 4 năm 2021].

    974

Download tài liệu Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát “sandbox” – Khả năng sử dụng trong việc xây dựng khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực Fintech File Word, PDF về máy