[Download] Tải Chính sách thuế đối với loại hình kinh doanh trực tuyến – Tải về File Word, PDF

Chính sách thuế đối với loại hình kinh doanh trực tuyến

Chính sách thuế đối với loại hình kinh doanh trực tuyến
Nội dung Text: Chính sách thuế đối với loại hình kinh doanh trực tuyến

Download


Bài viết đưa ra khung phân tích nhằm đánh giá tính hiệu quả, công bằng và khả thi của chính sách đối với các khoản thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động thương mại điện tử trực tuyến trên nền tảng mạng xã hội. Mời các bạn cùng tham khảo!

Bạn đang xem: [Download] Tải Chính sách thuế đối với loại hình kinh doanh trực tuyến – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Chính sách thuế đối với loại hình kinh doanh trực tuyến File Word, PDF về máy

Chính sách thuế đối với loại hình kinh doanh trực tuyến

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Chính sách thuế đối với loại hình kinh doanh trực tuyến

  1. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    51.

    1Lê
    Văn*
    2TrầnAnh Tùng**
    3Nguyễn Khánh Minh***

    Tóm tắt
    Bài viết này đưa ra đề xuất về một chính sách thuế đối với phương thức kinh doanh trực
    tuyến dựa vào các nền tảng mạng xã hội. Dựa vào cơ sở lý thuyết, thực tiễn tại Việt Nam
    và một số thông lệ quốc tế, bài viết đưa ra khung phân tích nhằm đánh giá tính hiệu quả,
    công bằng và khả thi của chính sách đối với các khoản thu nhập cá nhân và thu nhập
    doanh nghiệp từ hoạt động thương mại điện tử trực tuyến trên nền tảng mạng xã hội.
    Từ khóa: Chính sách thuế, kinh doanh trực tuyến, thương mại điện tử.

    1. Giới thiệu
    Theo một nghiên cứu về phát triển thương mại điện tử Việt Nam (Nguyen, 2021), cụm
    ngành này phát triển với tốc độ tăng trưởng ước tính trên 30% cho giai đoạn 2020-2025,
    và là 1 trong 6 quốc gia dẫn đầu khu vực Đông Nam Á bên cạnh Indonesia, Malaysia,
    Philippines, Singapore, Thái Lan. Thật vậy, nhìn vào bức tranh chung, Việt Nam có nền
    kinh tế điện tử đạt giá trị gần 14 tỷ đô la Mỹ trong năm 2020, mang sức bật tăng trưởng
    mỗi năm 16%, đang được kỳ vọng sẽ chạm mốc 52 triệu tỷ đô la Mỹ trong năm 2025, và
    vì vậy hoàn toàn là mảnh đất màu mỡ cho thương mại điện tử với mô hình kinh doanh
    qua mạng 2 không (không mặt bằng, không kho bãi) phát triển. Đứng trước sức phát triển
    nóng như vậy, câu hỏi đặt ra là chính phủ hiện đang quản lý nó như thế nào, ở cả góc độ
    tiếp thêm nhiên liệu phát triển và góc độ kiềm chế sự phát triển, để tránh tình trạng sự
    phát triển đó vượt quá tầm kiểm soát, dẫn đến nhiều hệ lụy khó sửa chữa khắc phục.

    1
    Trường Đại học Kinh tế TP. HCM | Email liên hệ: levan@ueh.edu.vn
    2
    Trường Đại học Quản lý và Công Nghệ TP. HCM
    3
    AIA Việt Nam
    748

  2. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Ở thời điểm hiện tại, chính phủ đang tập trung lớn vào chuyển đổi số, vì vậy sự tăng
    trưởng của nền kinh tế điện tử (digital economy). Ví dụ cụ thể nhất là Quyết định 749 của
    Thủ tướng Chính phủ ngày 03/06/2020 phê duyệt “Chương trình chuyển đổi số quốc gia
    đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, với mục tiêu đảm bảo năm 2025 có hơn 80%
    hộ gia đình trên toàn lãnh thổ được tiếp cận với hạ tầng mạng băng rộng cáp quang, nền
    kinh tế kỹ thuật số hình thành phải đạt được mốc 10% tỷ trọng kinh tế cho mọi lĩnh vực,
    dẫn đến tăng năng suất lao động hàng năm lên trên 7%. Và cả ngoại tác khách quan không
    kiểm soát được cũng hỗ trợ cho sự tăng trưởng này: đại dịch Covid-19 thay đổi triệt để
    thói quen mua sắm của hơn 1/3 người tiêu dùng tại khu vực Đông Nam Á.
    Một trong những nhân quả của nền kinh tế điện tử phát triển, là sự xuất hiện của hình
    thức kinh doanh mới: kinh doanh livestream hay kinh doanh với nền tảng phát trực tiếp.
    Đây là giải pháp lưu trữ video cho phép người dùng tải lên và phát nội dung video tới
    khán giả của họ, được doanh nghiệp hoặc cá nhân sử dụng để chia sẻ video với mục đích
    tạo khách hàng tiềm năng, xây dựng nhận thức về thương hiệu, quảng cáo sản phẩm hoặc
    bản quyền truy cập để xem video trực tuyến. Hệ quả đầu tiên của kinh doanh livestream,
    là các cá nhân tham gia vào nền kinh tế này, ở thời điểm hiện tại, vẫn không hề có trách
    nhiệm nghĩa vụ thuế đối với nhà nước theo quy định, gây thất thu một khoản khổng lồ
    cho ngân sách và tạo bất bình đẳng xã hội. Cụ thể, trong báo cáo kỳ họp Hội đồng Nhân
    dân Thành phố Hồ Chí Minh ngày 06/12/2007, Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh đã lập
    biên bản xác định số liệu hơn 3.700 tổ chức cá nhân có hoạt động kinh doanh qua mạng
    nhưng không đăng ký kinh doanh, trong đó có gần 14.000 tài khoản Facebook đã trực
    tiếp tham gia quá trình kinh doanh này. Gần đây nhất, vào tháng 7 năm 2020 một kho
    hàng rộng 10.000m2 đã được phát hiện tại Lào Cai với toàn bộ hàng nhập lậu không hóa
    đơn chứng từ, đã có doanh thu hơn 649 tỷ đồng, khi chỉ mới kinh doanh chưa đầy 20
    tháng bằng hình thức livestream trên mạng xã hội.
    Hậu quả liên đới của sự bùng phát kinh doanh livestream, đi kèm với việc lỏng lẽo
    trong cơ chế quản lý và thu thuế, là sự tràn lan của các loại hàng giả, hàng nhái, hàng kém
    chất lượng gây nên ngoại tác tiêu cực cho sự tồn tại của các loại hàng chất lượng tốt, hàng
    chính hãng. Thậm chí, hậu quả sẽ diễn tiến theo chiều hướng tồi tệ hơn khi các doanh
    nghiệp nước ngoài đang kinh doanh hàng thật phát hiện và tố cáo, dẫn đến sự ảnh hưởng
    không nhỏ đối với niềm tin thị trường và thể diện của chính quốc gia. Dẫn chứng thêm
    từ báo cáo số 301 của USTR (Văn phòng Bộ Thương mại Hoa Kỳ), Việt Nam nằm trong
    danh sách các nước cần được theo dõi về đảm bảo quyền sỡ hữu trí tuệ trong giai đoạn 4
    năm liên tiếp trong giai đoạn 2015-2019, vì các lý do như không có biện pháp hiệu quả
    trong việc chống hàng giả và sao chép lậu, bao gồm cả trên môi trường trực tuyến, và

    749

  3. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    không đủ bao quát và khả năng phản ứng trước những thách thức mới về vấn đề xâm
    phạm bản quyền đã, đang và sẽ xảy ra trong tương lai.
    Sự gia tăng hình thức thương mại điện tử qua các nền tảng mạng xã hội là hệ quả tất
    yếu của tiến trình chuyển đổi số trước thềm cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cũng
    như những tác động ngẫu nhiên của đại dịch Covid-19. Sự nhân rộng ứng dụng trực tuyến
    thông qua nền tảng mạng xã hội cũng được nhận dạng, là một trong những hệ quả của
    việc định hình lại hệ thống tài chính toàn cầu. Xu hướng mới của thời đại tạo ra nhiều cơ
    hội gia tăng việc làm và phát triển kinh tế khu vực tư nhân, đồng thời cũng làm nảy sinh
    cơ hội thu ngân sách nhà nước thông qua thu nhập từ kinh doanh trực tuyến, thông qua
    nền tảng mạng xã hội. Với những bối cảnh trên, bài viết này được thực hiện nhằm nhận
    diện xu hướng, đánh giá các cơ hội và rủi ro tiềm tàng từ những biến chuyển tất yếu của
    hệ thống tài chính Việt Nam. Qua đó, bài viết đề xuất chính sách thu thuế một cách phù
    hợp đối với khoản thu nhập từ kinh doanh trực tuyến thông qua mạng xã hội. Đây được
    kỳ vọng là một chính sách thích nghi trong bối cảnh mới cho nền kinh tế mới nổi và đang
    phát triển như Việt Nam.
    Trong những nội dung tiếp theo, Phần 2 trình bày về cơ sở lý thuyết và khung phân
    tích, Phần 3 đưa ra kết luận và khuyến nghị cho các nhà tạo lập chính sách.

    2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
    Để đưa ra quyết định xem có nên thu một loại thuế mới liên quan đến kinh doanh
    livestream, chúng ta cần xem xét lại một cách có hệ thống từ gốc rễ của việc thu thuế đến
    mục đích cuối cùng của việc thu thuế, để tìm ra sự phù hợp với năng lực và bối cảnh hiện
    tại, trong môi trường trong nước và quốc tế, nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai.
    2.1. Tổng quan nguyên lý thu thuế
    Thuế được thu dựa trên 2 nguyên tắc: lợi ích và khả năng chi trả (Ozcan, 2020). Theo
    nguyên tắc lợi ích, thuế được dùng để trả gián tiếp cho các dịch vụ công cá nhân/đơn vị
    nộp thuế thụ hưởng, bao gồm nhưng không loại trừ, giáo dục, quốc phòng, tòa án, chăm
    sóc sức khỏe, và chính sách. Nguyên tắc này có khuynh hướng thiên về nghĩa vụ đạo đức
    nhiều hơn, vì khó có thể tính toán một cách chính xác lượng dịch vụ công mỗi đối tượng
    nộp thuế sử dụng và hưởng lợi. Theo nguyên tắc khả năng chi trả, thuế được nộp theo
    mức lũy tiến, có nghĩa đối tượng nộp thuế có thu nhập cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn
    so với cá nhân/đơn vị có thu nhập thấp hơn. Nguyên tắc này ngụ ý ngầm rằng thu nhập
    cao hơn tương đương với việc sử dụng nhiều dịch vụ công hơn trong cùng một hoàn cảnh
    kinh tế. Và cũng có nghĩa khi hoàn cảnh kinh tế khác biệt, như trường hợp các quốc gia
    khác nhau, thuế sẽ được thu ở các mức khác nhau. (Đối với các đối tượng nộp thuế quốc

    750

  4. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    tế, thuế được chia ra theo nguyên tắc nơi cư trú (residency principle) và nguyên tắc nguồn
    gốc (source principle). Nguyên tắc nơi cư trú được dựa trên nguyên tắc khả năng chi trả,
    và áp dụng cho đối tượng cư trú (resident taxpayers) có thu nhập quốc tế. Nguyên tắc
    nguồn gốc được dựa trên nguyên tắc lợi ích, và áp dụng cho đối tượng không cư trú (non-
    resident taxpayers) có thu nhập ở nước sở tại).
    Chính sách thuế được đánh giá dựa trên nguyên tắc đảm bảo sự cân bằng phù hợp
    giữa tính chính xác và khả năng thực thi của tài phán ở các mức độ phát triển khác nhau,
    và dựa trên nền tảng nguyên tắc kinh tế vững chắc và cơ sở khái niệm hợp lý. Nói cách
    khác, nó được thể hiện qua Ottawa Taxation Framework conditions (khung phân tích thuế
    Ottawa), áp dụng được cho thương mại điện tử: (i) Nguyên tắc trung lập: Thuế cần trung
    lập và không kỳ thị thương mại điện tử hay thương mại truyền thống, để mục tiêu cuối
    cùng của hoạt động thương mại là động lực kinh tế, không phải động lực thuế, (ii) Nguyên
    tắc hiệu quả: Chi phí tuân thủ của đối tượng nộp thuế và chi phí hành chính của chính
    phủ phải được giảm thấp nhất có thể, (iii) Nguyên tắc vững chắc và mạch lạc: Để đạt
    được cơ sở pháp lý vững chắc, luật thuế phải rõ ràng và đơn giản, (iv) Nguyên tắc hiệu
    lực và công bằng: Thuế cần phải được thu với lượng vừa đúng, ở thời gian vừa đúng, và
    những trường hợp như bị thu đè thuế (double taxation) hay bị thu thiếu thuế (no taxation)
    cần phải tránh, (v) Nguyên tắc linh hoạt: Hệ thống thuế cần phải được thiết kế để phù hợp
    ở cả thời điểm hiện tại và tương lai, đặc biệt bởi những thay đổi đến từ cải tiến công nghệ
    và thương mại.
    Nền kinh tế điện tử chỉ mới phát triển trong thời gian gần đây, song hành với sự hình
    thành và phát triển như vũ bão của nền công nghiệp 4.0 và các tiến bộ công nghệ và thông
    tin. Nền kinh tế điện tử này dần trở thành nền kinh tế độc lập tách biệt khỏi nền kinh tế
    truyền thống, với phần lớn giao dịch thoát ra khỏi biên giới lãnh thổ quốc gia, không cần
    sự hiện diện vật lý (physical presence), và hiện phần lớn vẫn đang hưởng thụ lợi nhuận
    không thuế, hoàn toàn thoát khỏi khung thuế gạch vừa cũ kỹ truyền thống. Là một trong
    những hệ quả của nền kinh tế điện tử, kinh doanh livestream, cũng hoàn toàn thoát khỏi
    khuôn mẫu truyền thống. Vì vậy, hiểu biết về những nguyên lý cơ bản nhất của việc thu
    thuế là cần thiết để có thể linh hoạt tìm cách cư xử phù hợp với nó.
    2.2. Bối cảnh thu thuế tại Việt Nam
    Ngành thuế Việt Nam, tính cho nền kinh tế hiện tại, chịu một số cải cách về chính sách
    thuế. Hai cuộc cải cách lớn đầu tiên diễn ra vào năm 1990 và 1998 nhằm giúp xây dựng
    hệ thống thuế phù hợp với sự phát triển của thị trường ở thời điểm bấy giờ: sự chuyển đổi
    dần từ nền kinh tế xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường mang định hướng xã hội
    chủ nghĩa (Shukla, Phạm, Engelschalk, & Lê, 2011). Mục đích của việc xây dựng hệ

    751

  5. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    thống quy định pháp luật về thuế quy chuẩn này nhằm: (i) tạo khuôn khổ pháp lý vững
    chắc cho nền kinh tế và tài khóa quốc gia; (ii) giúp hệ thống thuế Việt Nam trở nên tương
    thích với thông lệ quốc tế, và vì vậy giúp nền kinh tế nội địa tương thích với nền kinh tế
    khu vực và thế giới (Đặng, 2014). Những cuộc cải cách chính sách thuế sau này giúp làm
    vững hơn sự hội nhập sâu rộng của Việt Nam với thế giới, điều chỉnh cơ cấu và quy mô
    thuế cho phù hợp, và tăng cường tính hiệu quả và quản lý – đặc biệt với sự áp dụng của
    công nghệ thông tin (Cao, 2020). Với chiến lược phát triển cho 10 năm tới, giai đoạn
    2021-2030, ngành thuế có đặt ra một số mục tiêu, nhưng nhìn chung vẫn chủ yếu là hoàn
    thiện và phát triển từ những gì đang có, không mang tính đột phá để đảm bảo sự bao trùm
    lên nền kinh tế điện tử.
    Sắc thuế phù hợp đối với việc kinh doanh trực tuyến thông qua các nền tảng xã hội chính
    là thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi xét về dữ liệu hiện tại với các
    cá nhân kinh doanh livestream là đơn lẻ, và khi xét về xu thế tương lai là xu hướng cá nhân
    hóa mọi thứ trong thời đại công nghệ số ở cả phương diện tiêu thụ lẫn cung cấp, việc đặt thuế
    kinh doanh livestream vào danh mục thuế thu nhập cá nhân sẽ hợp lý hơn. Lý do khác nữa
    để tập trung xem xét lại thuế thu nhập cá nhân là nếu các doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh
    tổ chức bán hàng thông qua các phương thức thương mại điện tử, các cơ quan quản lý có
    thẩm quyền đã tương đối đầy đủ cơ sở để thu thuế doanh nghiệp kinh doanh. Trong khi đó,
    ở điều kiện thực tế, phần lớn người làm kinh doanh nhỏ lẻ ở Việt Nam vẫn chọn hình thức
    đóng thuế thu nhập cá nhân (theo hình thức hộ kinh doanh cá thể), thay vì thuế thu nhập
    doanh nghiệp để giảm bớt lượng thuế phải nộp.
    Theo quy định hiện hành của pháp luật về thuế thu nhập cá nhân (Điều 3 Luật Thuế
    thu nhập cá nhân 2007, sửa đổi 2012; Điều 3 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP; và Điều 2
    Thông tư số 111/2013/TT-BTC), các khoản thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ kinh
    doanh; tiền lương, tiền công; đầu tư vốn; chuyển nhượng vốn; chuyển nhượng bất động
    sản; trúng thưởng; bản quyền; nhượng quyền thương mại; nhận thừa kế; và nhận quà tặng.
    Trong 10 khoản thu nhập chịu thuế này, nội dung liên quan nhất đến cá nhân kinh doanh
    livestream chính là thu nhập từ kinh doanh.
    Định nghĩa hiện tại của pháp luật về thu nhập kinh doanh là như sau:
    Thu nhập từ kinh doanh là thu nhập có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh trong
    các lĩnh vực sau:
    a) Thu nhập từ sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả lĩnh vực, ngành
    nghề kinh doanh theo quy định của pháp luật như: sản xuất, kinh doanh hàng hóa;
    xây dựng; vận tải; kinh doanh ăn uống; kinh doanh dịch vụ, kể cả dịch vụ cho
    thuê nhà, quyền sử dụng đất, mặt nước, tài sản khác.
    752

  6. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    b) Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập […] c) Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh nông nghiệp, lâm nghiệp […] Dựa trên căn cứ cơ sở pháp lý này, cơ quan thuế có cơ sở để thu thuế của cá nhân
    kinh doanh thông qua hình thức bán hàng livestream, và cần phải thực hiện thu thuế để
    đảm bảo công bằng cho tất cả đối tượng có thu nhập kinh doanh.
    2.3. Cơ sở đảm bảo cho loại thuế mới
    2.3.1. Kinh doanh trực tuyến trong bối cảnh thương mại điện tử
    Để xác định có thu được thuế kinh doanh livestream hay không, ta cần phải nhận dạng và
    mô tả được nó một cách rõ ràng, trong bối cảnh những nhân tố thuế khác có thể chi phối
    trùng lặp với nó. Vì vậy phần này sẽ đi vào việc nhìn tổng quan ngành thương mại điện
    tử và các cấu phần của nó, để biết kinh doanh livestream thuộc nhóm nào, nằm ở đâu, và
    đặc tính là gì.
    Thương mại điện tử được OECD định nghĩa rộng rãi năm 2011 như sau: “[thương
    mại điện tử] là sự mua bán hàng hóa hay dịch vụ, được thực hiện trên hệ thống máy tính,
    bởi phương pháp được thiết kế đặc biệt cho mục đích mua nhận đơn hàng. Hàng hóa và
    dịch vụ được thực hiện theo phương thức [online] này, nhưng việc trả tiền và vận chuyển
    không nhất thiết phải thực hiện online. Một giao dịch thương mại điện tử có thể diễn ra
    giữa các doanh nghiệp, hộ gia đình, cá nhân, tổ chức chính phủ, hay các tổ chức công
    cộng và cá nhân khác” (OECD, 2014). Các mô hình của thương mại điện tử bao gồm mô
    hình kinh doanh B2B (business-to-business), B2C (business-to-consumer), và C2C
    (consumer-to-consumer).
    Theo như sự liệt kê các mô hình này, kinh doanh livestream thuộc về một nhánh mới
    của mô hình C2C. Trong khi việc tính thuế và thu thuế cho các mô hình B2B và B2C đã
    được thực hiện và triển khai, mô hình C2C vẫn còn đang rất mới mẻ, sống động, linh hoạt
    và khó thu thuế, ở ngay cả các nước phát triển bởi khác với các loại thị trường khác, việc
    kinh doanh livestream có thể thực hiện trực tuyến và từ mọi nơi trên thế giới, nhất là khi
    được thêm hỗ trợ nhờ vào các công cụ thanh toán nội địa và quốc tế, cùng với phát triển
    rất mạnh mẽ của hệ thống giao nhận hàng hóa.

    753

  7. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Bảng 1. So sánh các mô hình kinh doanh của thương mại điện tử (TMĐT)
    Mô hình B2B Mô hình B2C Mô hình C2C
    Đặc tính Ở thời điểm 2011, phần lớn Là một trong những hình Trở nên ngày càng phổ biến.
    hoạt động kinh doanh thức sớm nhất của TMĐT.
    TMĐT vẫn thuộc nhóm này.
    Định nghĩa Giao dịch online giữa các Giao dịch online giữa tổ Doanh nghiệp tham dự
    tổ chức kinh doanh. Có thể chức kinh doanh với cá trong mô hình này chỉ đóng
    là giao dịch với nội dung nhân không có chuyên môn vai trò trung gian tạo sân
    mua bán hàng sỉ truyền trong ngành. Giúp rút ngắn chơi cho các cá nhân thực
    thống. Cũng có thể là hàng khoảng cách từ nhà sản hiện giao dịch online.
    hóa dịch vụ mới của nền xuất tới người tiêu dùng Doanh nghiệp trung gian
    kinh tế số. bằng cách giảm vai trò của này có thể thu thuế người
    nhà bán sỉ, nhà phân phối, dùng hoặc không.
    nhà bán lẻ, và các đơn vị
    trung gian.
    Ví dụ (Mua bán hàng sỉ để phân Bao gồm (i) pureplay – nhà Bao gồm nhiều hình thức.
    phối lại.) Dịch vụ logistics cung cấp online không có Bán đấu giá ở portal cho
    như vận chuyển, kho cửa hàng hoặc sự hiện diện phép đấu giá online. Hệ
    xưởng, phân phối. Dịch vụ thực tế, (ii) click-and- thống peer-to-peer cho
    phần mềm hỗ trợ như triển mortar, tổ chức kinh doanh phép chia sẻ files giữa
    khai, lưu trữ, quản lý phần online cung cấp cạnh tranh người dùng. Portal của chợ
    mềm từ cơ sở trung tâm. bổ sung hàng hóa dịch vụ hàng hóa online cho phép
    Thuê ngoài các chức năng cho kinh doanh truyền tương tác tức thời và trực
    hỗ trợ TMĐT như quản lý thống, hoặc nhà sản xuất tiếp để giữa người mua và
    web, bảo mật, chăm sóc cho phép người dùng đặt bán. Và các hình thức mới
    khách hàng. Dịch vụ giải mua hàng trực tiếp online. nổi lên khác.
    pháp đấu giá cho đấu giá
    trực tuyến trên Internet.
    Dịch vụ quản lý nội dung
    cho websites. Dịch vụ công
    cụ hỗ trợ TMĐT để mua
    hàng trực tuyến.

    Nguồn: Báo cáo về những thách thức liên quan đến thuế của nền kinh tế số (OECD, 2014)

    2.3.2. Một số thông lệ quốc tế
    Trong toàn cảnh nền kinh tế thế giới, Trung Quốc phát triển mạnh mẽ nhất về hoạt động
    kinh doanh livestream và là ví dụ điển hình về việc cưỡng chế thực thi có hiệu quả việc
    thu thuế với hoạt động thương mại điện tử và kinh doanh qua mạng xã hội. Bộ Luật
    Thương mại điện tử Trung Quốc, cùng với những dự thảo luật gần đây đã chính thức xem
    việc quản lý các mạng xã hội cũng sẽ tương tự như quản lý các công ty thương mại điện
    tử (Xue, 2020). Qua đó, các mạng xã hội có chức năng kinh doanh sẽ phải chịu trách

    754

  8. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    nhiệm quản lý chất lượng (bao gồm kiểm tra giấy phép đăng ký kinh doanh, xuất xứ và
    chất lượng hàng hóa, chống lừa đảo), thống kê giao dịch và cung cấp thông tin cho cơ
    quan chức năng. Việc này sẽ hỗ trợ giảm tải cho các cơ quan chức năng, đồng thời tối ưu
    việc nhận diện các đối tượng chịu thuế nhờ vào việc lồng ghép hoạt động giảm sát đăng
    ký kinh doanh thông qua các mạng xã hội và các sàn thương mại điện tử, để có thể truy
    thu đúng và đủ nghĩa vụ thuế. Hơn nữa, Trung Quốc cũng nghiêm cấm việc thực hiện
    giao dịch bằng các hệ thống ngoại lai và khuyến khích thực hiện thanh toán trực tuyến,
    nhờ đó có thể hạn chế các biến dạng hành vi người chịu thuế có thể thực hiện. Cuối cùng,
    bên cạnh các giải pháp khuyến khích và hỗ trợ người kinh doanh trực tuyến thực hiện các
    nghĩa vụ công một cách đơn giản và hiệu quả, giới chức Trung Quốc cũng đưa ra các
    hình phạt rất nghiêm trọng để răn đe. Trên thực tế, các nền tảng không tuân thủ sẽ phải
    đối diện với mức phạt lên tới 300 ngàn đô la Mỹ đối với các yêu cầu về quản lý nhà bán
    hàng và mức phạt lên tới 30 triệu đô la Mỹ với các vi phạm về hàng giả (Melchers, n.d.).
    Việc này sẽ làm tăng chi phí không tuân thủ của các nền tảng nhằm cưỡng chế việc tuân
    thủ thuế cho các nền tảng và cả nhà bán hàng.
    Mặc dù đã có kinh nghiệm đi trước và thành công của Trung Quốc, việc áp dụng mô
    hình của họ vào Việt Nam sẽ có nhiều khó khăn. Trong đó bao gồm có sự hợp tác chặt
    chẽ và đồng thuận quan điểm giữa công ty cung cấp dịch vụ và chính phủ, khi Việt Nam
    chưa có công ty cung cấp dịch vụ riêng và văn hóa của những công nghệ lớn đa quốc gia
    hiện tại khác với văn hóa Việt Nam và quan điểm chính trị của bộ máy quản lý nhà nước.
    2.4. Khả năng thực thi của cơ quan thuế
    Luật Quản lý thuế 2019 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2020) đã quy định cụ thể về Nội dung
    quản lý thuế (Điều 4) và Nguyên tắc quản lý thuế (Điều 5). Tuy nhiên, với các định nghĩa
    hiện tại trong việc quản lý đăng ký kinh doanh, không hề dễ dàng trong việc xác định cá
    nhân nào phải đăng ký kinh doanh và nộp thuế. Nhiều biện pháp hiện tại đã được đề xuất,
    như Nghị định 126/2020-NĐ-CP về việc cho phép cơ quan thuế yêu cầu ngân hàng cung
    cấp thông tin tài khoản. Tuy nhiên, biện pháp này vẫn chủ yếu dựa vào sự tự nguyện của
    các cá nhân, vì cơ quan thuế không thể nào có đủ khả năng để kiểm tra thông tin của tất
    cả tài khoản hàng năm, và với sự ra đời của nhiều phương tiện thanh toán quốc tế mới,
    nhiều cá nhân có thể không cần phải chuyển tiền về tài khoản ngân hàng ở Việt Nam.
    Để đánh giá tính khả thi của chính sách thu thuế từ hoạt động kinh doanh trực
    livestream, ta cần đặt nó trong ma trận các yếu tố hành vi, tài chính, tổ chức, và cân bằng
    tổng quát.
    Ở khía cạnh hành vi kinh tế và xã hội, nếu chính sách thu thuế livestream được thực
    hiện, trong trường hợp tốt, đối tượng chịu thuế sẽ có hành vi xã hội tích cực về việc làm
    755

  9. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    và tiết kiệm chi tiêu, bao gồm cả cân nhắc lựa chọn các hình thức bán hàng của người
    thực hiện kinh doanh để có thể tiết kiệm tiền nộp thuế một cách tối ưu. Trong trường hợp
    xấu, và thường sẽ có xu hướng xảy ra dựa trên hành vi và thói quen của đại đa số người
    dân Việt Nam ở thời điểm hiện tại và quá khứ, chính sách thu thuế sẽ dẫn đến biến dạng
    hành vi của đối tượng chịu thuế, bao gồm né tránh việc đăng ký doanh nghiệp hoặc điều
    chỉnh doanh thu dưới ngưỡng chịu thuế khoán.
    Ở khía cạnh tài chính, nếu chính sách thu thuế livestream được thực hiện, nhà nước
    sẽ tạo thêm được nguồn thu mới cho ngân sách và tạo điều kiện thuận lợi để các nguồn
    lực trong xã hội được sử dụng và phân bổ một cách hiệu quả hơn. Tuy nhiên với hình
    thức đa dạng, số lượng đông đảo, cách thức hoạt động khó kiểm soát, nguồn thu phân tán
    dải rộng của các đối tượng kinh doanh livestream, chi phí chi ra để thu thuế sẽ lớn mà kết
    quả sẽ không như mong đợi.
    Ở khía cạnh tổ chức, để đảm bảo việc thu thuế thu nhập cá nhân có hiệu quả, chính phủ
    có thể dựa vào nguồn lực quan hệ xã hội và tổ chức. Ở thời điểm hiện tại, các mặt trận tổ
    quốc, liên hiệp hội phụ nữ, hội người cao tuổi, tổ dân phố đang hoạt động rất mạnh mẽ và
    hiệu quả để tương tác, giám sát, hỗ trợ người dân. Nếu chính phủ có cơ chế để các tổ chức
    này hoạt động minh bạch không tham nhũng, số thuế thu về sẽ đầy đủ và ít thất thoát.
    Ở khía cạnh cân bằng tổng quát, thị trường thương mại điện tử, đặc biệt là mô hình
    C2C, luôn có sự chuyển động và tiến hóa với sự phát triển của công nghệ thông tin, sự
    giao thoa giữa các nền văn hóa và hành vi trên khắp thế giới, vì vậy mô hình kinh doanh
    livestream có thể cũng sẽ chịu biến đổi, tiến hóa, và thậm chí tiêu vong hoặc chuyển sang
    một hình thức khác. Tất cả điều này đòi hỏi hành lang pháp lý phải mạnh mẽ bao quát
    nhưng vô cùng linh hoạt. Ở thời điểm hiện tại, hệ thống và thực thi pháp luật của Việt
    Nam chưa cho phép điều này.

    3. Kết luận và khuyến nghị
    Trước những biến chuyển như hệ quả tất yếu của việc định vị lại hệ thống tài chính toàn
    cầu, nền kinh tế Việt Nam còn chịu những tác động mang tính ngẫu nhiên của đại dịch
    Covid-19 cộng hưởng với tiến trình chuyển đổi số của cuộc cách mạng công nghiệp lần
    thứ tư. Sự xuất hiện của hình thức kinh doanh trực tuyến thông qua các nền tảng mạng xã
    hội là hình thái mới xuất hiện trong chuỗi sự kiện có khả năng cao sẽ xảy ra trong kỷ
    nguyên mới, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin.
    Một chính sách thuế phù hợp sẽ giúp điều tiết thị trường một cách phù hợp và hướng đến
    mục tiêu tối ưu hóa tổng lợi ích ròng của toàn xã hội. Chính sách này sẽ được kiểm chứng
    thông qua 3 đặc tính cố hữu là hiệu quả, công bằng và khả thi.

    756

  10. HỘI THẢO KHOA HỌC QUỐC GIA
    ĐỊNH HÌNH LẠI HỆ THỐNG TÀI CHÍNH TOÀN CẦU VÀ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM

    Thứ nhất, chính sách thuế đối với kinh doanh trực tuyến giúp điều tiết thị trường theo
    hướng tích cực hơn, thông qua việc giảm tình trạng bất cân xứng thông tin giữa các bên
    mua bán và giảm thiểu tác động ngoại vi tiêu cực đối với thị trường thương mại điện tử.
    Thứ hai, chính sách mới sẽ đảm bảo công bằng với tất cả bên tham gia thị trường và
    nhất quán với hệ thống thuế hiện tại của Việt Nam.
    Thứ ba, chính sách mới sẽ khuyến khích việc tuân thủ hơn là vi phạm dựa vào các
    khoản chi phí trực tiếp và gián tiếp, qua đó phát huy tính hiệu quả trong thực thi.

    Tài liệu tham khảo
    Cao, A. T. (2020, 01 07). Năm 2019 – Năm cải cách toàn diện của ngành Thuế. (H. Online, Người
    phỏng vấn)
    Đặng, T.-V. Đ. (2014). Chính sách và thực trạng thu thuế tại Việt Nam. Tạp chí Tài chính, 6.
    Melchers. (không ngày tháng). China’s new e-commerce law improves online market regulation.
    Được truy lục từ Melchers: https://www.melchers.com.hk/chinas-new-e-commerce-law-
    improves-online-market-regulation/
    Nguyen, T. H. (2021). Developing Vietnam electronic commerce in the period 2020-2025.
    Journal of Contemporary Issues in Business and Government, 27(2), 953-966.
    OECD. (2014). Addressing the tax challenges of the digital economy. OECD/G20 base erosion
    and profit shifting project.
    Ozcan, R. (2020, 10 13). Taxing the digital economy: A closer look at OECD’s Pillar One: “Unified
    Approach.”. Master Thesis at Tilburg University. Tilburg, North Brabant, The Netherlands.
    Shukla, G. P., Phạm, M. Đ., Engelschalk, M., & Lê, M. T. (2011). Cải cách thuế ở Việt Nam:
    hướng tới một hệ thống công bằng và hiệu quả hơn. Ban Quản lý Kinh tế và Xóa đói Giảm
    nghèo Khu vực Châu Á và Thái Binh Dương trực thuộc Ngân hàng Thế giới.
    Xue, Y. (2020, 10 20). Chinese social media apps held to same standards as e-commerce
    platforms under new draft regulation. Được truy lục từ South China Morning Post:
    https://www.scmp.com/tech/policy/article/3106578/chinese-social-media-apps-held-same-
    standards-e-commerce-platforms

    757

Download tài liệu Chính sách thuế đối với loại hình kinh doanh trực tuyến File Word, PDF về máy