[Download] Tải Chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn từ khía cạnh nợ xấu – Tải về File Word, PDF

Chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn từ khía cạnh nợ xấu

Chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn từ khía cạnh nợ xấu
Nội dung Text: Chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn từ khía cạnh nợ xấu

Download


Bài viết tiến hành phân tích thực trạng chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam thông qua công tác quản lý và xử lý nợ xấu thông qua đối tượng là các ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn năm 2018, 2019 và quý I/2020.

Bạn đang xem: [Download] Tải Chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn từ khía cạnh nợ xấu – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn từ khía cạnh nợ xấu File Word, PDF về máy

Chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn từ khía cạnh nợ xấu

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn từ khía cạnh nợ xấu

  1. KINH TẾ XÃ HỘI P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619

    CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
    VIỆT NAM NHÌN TỪ KHÍA CẠNH NỢ XẤU
    CREDIT QUALITY OF VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS FROM THE PERSPECTIVE
    OF BAD DEBTS
    Dương Thị Hoàn

    TÓM TẮT NHTM Ngân hàng thương mại
    Nợ xấu là chỉ tiêu tài chính quan trọng nhất biểu hiện chất lượng của khoản TCTD Tổ chức tín dụng
    tín dụng ngân hàng cấp cho khách hàng. Do đó để nâng cao chất lượng tín dụng VAMC Công ty Quản lý tài sản các tổ chức
    thì việc quản lý và xử lý nợ xấu được đặt lên hàng đầu, có tính cấp bách nhất tín dụng Việt Nam
    trong điều kiện nền kinh tế bất ổn như hiện nay. Mục tiêu của nghiên cứu là phân
    tích thực trạng chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
    thông qua công tác quản lý và xử lý nợ xấu. Đối tượng nghiên cứu là các ngân
    hàng thương mại Việt Nam giai đoạn năm 2018, 2019 và quý I/2020. Tác giả kết Chất lượng tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu của
    hợp phương pháp nghiên cứu định tính, tổng hợp và xử lý số liệu dựa trên các hệ thống ngân hàng. Điều này được thể hiện rõ qua việc
    báo cáo tài chính của ngân hàng. Nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nợ xấu có xu hướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam luôn tích cực
    giảm trong năm 2018, 2019 và tăng trong quý I/2020. Từ đó tác giả đánh giá kết hoàn thiện các quy định pháp lý về phòng ngừa và xử lý nợ
    quả đạt được và những khó khăn, thách thức đối với các ngân hàng thương mại xấu, thường xuyên ban hành các văn bản chỉ đạo nghiệp vụ
    trong công tác xử lý nợ xấu nhằm nâng cao chất lượng tín dụng về nâng cao chất lượng tín dụng, nhờ đó mà tỷ lệ nợ quá
    hạn, nợ xấu đã kiềm chế sự gia tăng
    Từ khóa: Chất lượng tín dụng; ngân hàng thương mại Việt Nam; nợ xấu.
    Trong những năm qua, nợ xấu luôn tồn tại trong bất kỳ
    ABSTRACT ngân hàng nào, là một phần tất yếu của hoạt động tín
    Bad debt is the most important financial indicator of the quality of bank dụng. Nợ xấu không chỉ là “căn bệnh” của hệ thống ngân
    credit to customers. Therefore, in order to improve credit quality, the hàng Việt Nam nói riêng, mà đã trở thành vấn đề đáng
    management and handling of bad debts are top priority, most urgent in the quan ngại của nền kinh tế nói chung. Nợ xấu lớn cũng
    current unstable economy. The objective of the paper is to analyze the current đồng nghĩa với chất lượng tín dụng của ngân hàng suy
    situation of credit quality of Vietnamese commercial banks through the giảm kéo theo một loạt hệ lụy tiêu cực như: một lượng vốn
    management and handling of bad debts. The subjects of study are Vietnamese tương ứng không được quay vòng, dòng tiền trong nền
    commercial banks in 2018 and 2019. The author combines qualitative research kinh tế không lưu thông được và hệ thống ngân hàng sẽ
    methods, aggregates and processes data based on the bank’s financial gặp khó khăn về thanh khoản, doanh nghiệp không có vốn
    statements. The study showed that the bad debt ratio tended to decrease in sản xuất kinh doanh. Do đó để nâng cao CLTD thì việc quản
    2018, 2019 and forecast that off-balance sheet bad debt at VAMC will return to lý và xử lý nợ xấu được đặt lên hàng đầu, có tính cấp bách
    “reunite” with the bank in 2020. From there, the author assessed the results. and nhất trong điều kiện nền kinh tế bất ổn như hiện nay.
    difficulties and challenges for commercial banks in dealing with bad debts in 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
    order to improve credit quality Nợ xấu thường được xác định căn cứ vào hai yếu tố
    Keywords: Credit quality; Vietnam commercial bank; bad debt. chính là thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách
    hàng. Có thể hiểu một cách khái quát nợ xấu là những
    Khoa Quản lý kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội khoản nợ được đánh giá không có khả năng thanh toán
    Email: hoanduonghaui102@gmail.com đầy đủ, đúng hạn theo cam kết.
    Ngày nhận bài: 18/01/2020 Tại Việt Nam, việc xác định nợ xấu ngân hàng phải
    Ngày nhận bài sửa sau phản biên: 19/6/2020 thông qua việc phân loại nợ. “Nợ xấu” là các khoản nợ
    Ngày chấp nhận đăng: 23/12/2020 thuộc các nhóm 3, 4 và 5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ
    nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn. Xét theo thời gian, nợ
    xấu là những món vay khách hàng nợ quá hạn từ 90 ngày
    CHỮ VIẾT TẮT GIẢI NGHĨA trở lên [3].
    CLTD Chất lượng tín dụng Tỷ lệ nợ xấu là một chỉ tiêu cơ bản đánh giá chất lượng
    NHNN Ngân hàng Nhà nước tín dụng của ngân hàng, phản ánh khả năng thu hồi vốn

    146 Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 56 – Số 6 (12/2020) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn

  2. P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 ECONOMICS – SOCIETY

    khó khăn, vốn của ngân hàng lúc này không còn ở mức độ Bảng 1. Tỷ lệ nợ xấu của các NHTM Việt Nam từ năm 2018 – Qúy I/2020
    rủi ro thông thường nữa mà là nguy cơ mất vốn. Hiện nay, (+/-) QI
    theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ an toàn cho phép là dưới 3%. STT Ngân hàng Năm 2018 Năm 2019 Quý I/2020
    2020/2019, %
    Chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu được tính toán như sau:
    1 ABBank 1,89% 2,31% 2,58% 11,69
    Tỷ lệ nợ xấu = Nợ xấu/Tổng dư nợ x 100% [3] 2 ACB 0,70% 0,54% 0,65% 20,37
    3. PHẠM VI VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3 BacABank 76,00% 0,69% 0,79% 14,49
    – Phạm vi nghiên cứu 4 BIDV 1,90% 1,75% 1,74% (0,57)
    Để có cơ sở đánh giá một cách cụ thể, chi tiết hơn, tác 5 Eximbank 1,85% 1,71% 1,85% 8,19
    giả tập trung thu thập và phân tích số liệu của 24 NHTM
    6 HDBank 1,53% 1,36% 1,47% 8,09
    Việt Nam đã công bố báo cáo tài chính năm 2018, 2019,
    quý I/2020 7 KienlongBank 0,94% 1,02% 6,62% 549,02
    8 LPBank 1,40% 1,44% 1,44% 0,00
    – Phương pháp nghiên cứu
    9 MBBank 1,33% 1,16% 1,62% 39,66
    Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính
    như phân tích, tổng hợp, so sánh và xử lý số liệu dựa trên 10 MSB 2,23% 2,04% 2,18% 6,86
    các báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán năm 2018, 11 NamABank 1,54% 1,97% 1,98% 0,51
    2019 và quý I/2020 của các NHTM Việt Nam 12 OCB 2,29% 1,84% 1,64% (10,87)
    4. CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG 13 PGBank 2,96% 3,16% 3,29% 4,11
    THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THÔNG QUA NỢ XẤU 14 Sacombank 2,11% 1,94% 1,97% 1,55
    4.1. Thực trạng nợ xấu nội bảng tại các ngân hàng 15 SCB 0,42% 0,49% 0,57% 16,33
    thương mại Việt Nam 16 SeABank 1,51% 2,31% 2,34% 1,30
    4.1.1. Tỷ lệ nợ xấu 17 SHB 2,40% 1,91% 2,17% 13,61
    Theo số liệu từ NHNN năm 2018, toàn hệ thống ngân 18 Techcombank 1,75% 1,33% 1,09% (18,05)
    hàng đã xử lý được 149,22 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Tỷ lệ nợ 19 TPBank 1,10% 1,29% 1,87% 44,96
    xấu nội bảng của hệ thống ngân hàng là 1,89%, giảm so
    20 VIB 2,52% 1,96% 2,19% 11,73
    với mức 2,46% cuối năm 2016 và mức 1,99% cuối năm
    2017. Đây là mức thấp nhất kể từ năm 2012 đến nay và đã 21 VietBank 1,25% 1,09% 1,10% 0,92
    nằm sâu dưới ngưỡng 2%. Nhờ hoạt động xử lý nợ xấu 22 Vietcombank 0,98% 0,79% 0,82% 3,80
    được đẩy nhanh hơn, giá trị nợ xấu xử lý trong năm 2018 23 VietinBank 1,60% 1,16% 1,58% 36,21
    tăng gần 30% so với năm 2017 [2]. Mặc dù đạt được kết 24 VPBank 3,51% 3,42% 3,03% (11,40)
    quả như vậy nhưng nợ xấu còn tiềm ẩn ở các khoản mục
    (Nguồn: [1] và tính toán của tác giả)
    nợ cơ cấu, trái phiếu doanh nghiệp cơ cấu nợ, các khoản
    ủy thác, phải thu khó đòi… Nợ xấu ở nhóm ngân hàng Theo báo cáo tài chính của 24 NHTM Việt Nam vào cuối
    mua bắt buộc, ngân hàng bị kiểm soát đặc biệt, ngân quí I/2020, tỉ lệ nợ xấu nội bảng (tỉ lệ nợ từ nhóm 3 đến
    hàng yếu kém chậm cải thiện. nhóm 5) các ngân hàng từ 0,57% đến 6,62%. Trong đó,
    Kienlongbank là ngân hàng có tỉ lệ nợ xấu cao nhất là
    Kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng bị ảnh hưởng
    6,62%, tăng 5,49% so với con số hơn 1,02% vào cuối năm
    dịch Covid-19 là điều không tránh khỏi, đại dịch gây ảnh
    2019. Nguyên nhân do hạch toán gần 1.896 tỉ đồng dư nợ
    hưởng đến mọi lĩnh vực của các nước trên thế giới và Việt
    các khoản cho vay của nhóm khách hàng có tài sản đảm
    Nam từ những ngày đầu năm 2020. Dư nợ tín dụng toàn hệ
    bảo là cổ phiếu STB của Sacombank vào nợ nhóm 5 theo
    thống bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 cũng là một trong
    quyết định chỉ đạo của NHNN. Ngoài Kienlongbank, hai
    những nguyên nhân làm tăng nợ xấu của các ngân hàng
    ngân hàng khác cũng có tỉ lệ nợ xấu trên mức 3% là PG
    trong quý 1/2020. Các doanh nghiệp gặp khó khăn, không
    Bank (3,29%) và VPBank (3,03%). VPBank là một trong số ít
    thể hoạt động, ảnh hưởng đến thu nhập, cũng không thể
    ngân hàng có nợ xấu giảm trong 3 tháng đầu năm 2020.
    thanh toán nợ cho ngân hàng. Trong bối cảnh giãn cách xã
    Theo đó, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay giảm từ mức
    hội do dịch bệnh, doanh nghiệp không có nhu cầu vay vốn
    3,42% năm 2019 xuống còn 3,03% quý I/2020
    để mở rộng kinh doanh, cho nên ngân hàng không thể
    tăng trưởng tín dụng, trong khi phải triển khai các chương Nhìn chung, nợ xấu có tăng lên ở nhiều ngân hàng
    trình hỗ trợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh trong quý I/2020 (20/24 ngân hàng tăng), tuy nhiên hầu hết
    như giảm lãi suất cho vay, cơ cấu lại nợ. Do đó, nhiều NHTM mức tăng chưa phải là mạnh. Lý do vì các ngân hàng cơ cấu
    sẽ bị ảnh hưởng đến thu nhập và chất lượng nợ vay. Từ đó, lại thời hạn trả nợ, chưa chuyển nhóm nợ cho các khách
    dẫn đến nợ xấu tăng cao hơn mức tăng của tín dụng làm hàng bị ảnh hưởng bởi Covid-19. Theo báo cáo của NHNN
    cho tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ tăng so với đầu năm. vào cuối tháng 3, các NHTM đã bước đầu cơ cấu lại thời
    gian trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ cho trên 52.000 khách
    Chi tiết thông tin về tỉ lệ nợ xấu của 24 ngân hàng cuối
    hàng với dư nợ 17.927 tỷ đồng
    năm 2018, 2019 và đến hết quí I/2020 cụ thể theo bảng 1.

    Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 56 – No. 6 (Dec 2020) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 147

  3. KINH TẾ XÃ HỘI P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619

    Bảng 2. Phân loại nợ xấu tại các NHTM năm 2019 và quý I/2020 Tuy nhiên, hết quý I/2020, nợ
    xấu vẫn chưa phản ánh được đầy
    Đơn vị tính: tỷ đồng
    đủ hệ lụy do dịch bệnh gây ra, mà
    Ngân hàng Phân loại nợ xấu 31/12/2019 Phân loại nợ xấu 31/3/2020 Nợ xấu có thể đến quý II hoặc thậm chí là
    Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5 Nhóm 3 Nhóm 4 Nhóm 5 Năm 2019 QI/2020 (+/-)% quý III mới thấy được tác động rõ
    nét từ dịch bệnh. Sang quý
    ABBank 292 423 597 376 478 592 1.312 1.446 10,21
    2/2020 dự báo sẽ tăng cao hơn
    ACB 235 311 903 442 386 964 1.449 1.792 23,67 bởi hoạt động sản xuất kinh
    BacABank 265 18 216 271 33 276 499 580 16,23 doanh của doanh nghiệp, việc
    BIDV 3.850 4.393 11.209 4.327 4.510 10.453 19.452 19.290 làm của người lao động còn chịu
    (0,83)
    ảnh hưởng tiêu cực kéo dài cả sau
    Eximbank 973 145 815 1.030 181 807 1.933 2.018 4,40 khi hết dịch. Do đó, nguy cơ
    HDBank 484 584 929 643 643 958 1.997 2.244 12,37 khách hàng không có khả năng
    KienlongBank 38 65 239 45 69 2.127 342 2.241 555,26 trả nợ đúng hạn, vẫn tiềm tàng. Vì
    vậy, các NHTM cần theo dõi chặt
    LPBank 280 324 1.426 404 356 1.320 2.030 2.080 2,46 chẽ chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu.
    MBBank 1.380 899 618 1.365 1.734 906 2.897 4.005 38,25 4.2. Thực trạng nợ xấu ngoài
    NamABank 532 537 265 543 474 384 1.334 1.401 5,02 bảng đã bán cho VAMC bằng trái
    OCB 351 225 732 269 331 700 1.308 1.300 (0,61) phiếu đặc biệt tại các ngân hàng
    PGBank 45 138 480 94 122 552 663 768 15,84 thương mại Việt Nam
    Ngày 27/6/2013, Công ty Quản
    Sacombank 298 431 5.022 418 397 5.232 5.751 6.047 5,15
    lý tài sản các tổ chức tín dụng Việt
    SCB 301 274 1.069 399 397 1.176 1.644 1.972 19,95 Nam (VAMC) được thành lập và đi
    SeABank 417 757 1.105 374 461 1.437 2.279 2.272 (0,31) vào hoạt động một tháng sau đó.
    SHB 888 470 3.498 1.700 754 3.683 4.856 6.137 26,38 VAMC đã mua hàng chục nghìn tỷ
    đồng nợ xấu mỗi năm và thanh
    Techcombank 218 305 2.555 405 294 1.830 3.078 2.529 (17,84) toán bằng trái phiếu đặc biệt. Bên
    TPBank 481 305 449 776 500 608 1.235 1.884 52,55 cạnh đó, các NHTM cũng đẩy
    VietBank 87 98 354 68 160 344 539 572 6,12 mạnh nợ xấu vào VAMC giúp kéo
    tỷ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống
    Vietcombank 610 585 4.529 904 837 4.451 5.724 6.192 8,18
    ngân hàng về mức an toàn dưới
    VietinBank 2.063 1.547 7.204 9.703 2.589 4.625 10.814 16.917 56,44 3% vào cuối năm 2015 và duy trì
    VPBank 5.312 1.447 2.038 4.825 1.560 1.598 8.797 7.983 (9,25) dưới mức này kể từ đó đến nay.
    (Nguồn: [1] và tính toán của tác giả) Chi tiết như bảng 3.

    4.1.2. Nợ xấu và phân loại nợ xấu Bảng 3. Trái phiếu đặc biệt do VAMC phát hành tại một số NHTM năm 2018,
    Các NHTM đẩy mạnh xử lý nợ xấu, rà soát, đánh giá, 2019
    phân loại cụ thể từng khoản nợ xấu để nhận diện đầy đủ Đơn vị tính: tỷ đồng
    thực trạng nợ xấu, đặc biệt là các khoản nợ xấu lớn. Chi tiết STT Ngân hàng Năm 2018 Năm 2019 Tăng/giảm %
    như bảng 2. 1 Sacombank 43.266,7 40.233,2 -7,0%
    Báo cáo tài chính năm 2019 và quý I/2020 của nhiều 2 BIDV 19.348,0 14.138,0 -26,9%
    ngân hàng cho thấy, nợ nhóm 3, 4, 5 đều tăng. Điều này 3 Vietinbank 2.471,6 13.426,8 443,2%
    thể hiện ở chuyển biến cơ cấu nợ xấu với mức tăng mạnh 4 SHB 8.118,8 7.501,2 -7,6%
    của nợ nhóm 5 – nợ có khả năng mất vốn. Trong tổng nợ
    5 Eximbank 5.991,6 5.487,4 -8,4%
    xấu của các ngân hàng thì nợ nhóm 5 chiếm tỷ trọng
    6 HDBank 1.838,9 1.407,8 -23,4%
    nhiều nhất. Quý I/2020, TPBank có 1.884 tỷ đồng nợ xấu,
    tăng gần 52,55% so với đầu năm, chủ yếu do tăng nợ nghi 7 LienVietpostbank 1.715,7 1.175,2 -31,5%
    ngờ (+64%). VietinBank tăng đến 56,44% nợ xấu so với 8 MSB 837,4 1.263,3 50,9%
    đầu năm lên mức gần 16.917 tỷ đồng, trong đó nợ nghi 9 ACB 40,4 40,4 0,0%
    ngờ tăng 67% (2.589 tỷ đồng). Tại MBBank khi tăng (Nguồn: [1] và tính toán của tác giả] 38,25% nợ xấu lên 4.005 tỷ đồng, dịch chuyển nhiều sang Bán nợ cho VAMC là một phương thức chủ yếu của các
    nợ có khả năng mất vốn (+47%). Tại KienlongBank, tính ngân hàng để được hỗ trợ trong quá trình xử lý nợ xấu, đồng
    đến cuối quý I/2020, nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) thời cũng là một cách làm đẹp bảng cân đối kế toán. Tuy
    tăng từ 239 tỷ đồng đầu năm lên 2.127 tỷ đồng, chiếm nhiên, bán nợ cho VAMC cũng không đồng nghĩa các ngân
    93% giá trị nợ xấu. hàng sẽ thoát khỏi gánh nặng từ các khoản nợ xấu này.

    148 Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 56 – Số 6 (12/2020) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn

  4. P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619 ECONOMICS – SOCIETY

    Tính đến hết quý I/2020, có 14 ngân hàng đã tất toán xấu của toàn hệ thống TCTD được xử lý tăng lên đáng kể
    trái phiếu và xóa nợ xấu tại VAMC gồm: Kienlongbank, và bước đầu đã đạt được những thành quả tích cực. Chủ
    Vietcombank, VIB, Techcombank, TPBank, NamABank, OCB, yếu là từ phía các TCTD tự xử lý, bình quân xử lý được
    Agribank, SeABank, MB và VPBank, ACB, NamABank, BIDV, khoảng gần 14 nghìn tỷ đồng/tháng, cao hơn khoảng 4
    VietCapital Bank. Đây được xem là tín hiệu tích cực trong nghìn tỷ đồng/tháng so với giai đoạn trước khi Nghị quyết
    quá trình xử lý nợ xấu của hệ thống. Khi các ngân hàng 42 có hiệu lực năm 2012-2017 (khoảng 10,1 nghìn tỷ
    mua lại nợ xấu tại VAMC để tự xử lý, cho thấy các ngân đồng/tháng). Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 70,23
    hàng đã đủ nguồn lực tài chính để xử lý nợ xấu. Bởi chỉ có nghìn tỷ đồng (chiếm 50,78%% tổng nợ xấu đã xử lý), xử
    bản thân các ngân hàng mới hiểu rõ từng khoản nợ xấu để lý các khoản hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán xác
    có hình thức xử lý cũng như thu hồi sớm nhất và đúng đắn định theo Nghị quyết 42 là 21,59 nghìn tỷ đồng (bằng
    như: bán, thanh lý… Khi các khoản nợ xấu này được xử lý 15,61%), xử lý các khoản nợ xấu xác định theo Nghị quyết
    xong sẽ được hoàn nhập dự phòng, góp phần làm tăng lợi 42 đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc
    nhuận thực sự của ngân hàng. biệt là 46,46 nghìn tỷ đồng (bằng 33,59%). Bên cạnh đó,
    4.3. Công tác xử lý nợ xấu đến thời điểm cuối tháng 6/2019, các TCTD đã sử dụng
    NHNN đã xây dựng Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 61,04 nghìn tỷ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội
    21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu và Đề án “Cơ cấu lại hệ bảng [2].
    thống các TCTD gắn liền với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016- 5. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA
    2020”. Trên cơ sở đó, NHNN chủ động, tích cực triển khai CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM THÔNG QUA
    quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp được giao, cụ thể: NỢ XẤU
    (1) Yêu cầu các tổ chức tín dụng rà soát, đánh giá toàn 5.1. Kết quả đạt được
    bộ danh mục tín dụng, thực trạng nợ xấu sửa đổi các quy Thứ nhất, kể từ khi VAMC ra đời đã hỗ trợ các NHTM rất
    định nội bộ liên quan quy trình, hướng dẫn công tác thu nhiều trong quá trình xử lý nợ xấu. Và thực tế, trong 2 năm
    giữ tài sản được xác định theo các quy định tại Nghị quyết trở lại đây, các NHTM đã có xu hướng hạn chế đẩy nợ xấu
    42; thành lập Ban chỉ đạo, các tổ công tác xử lý nợ xấu và sang VAMC, thay vào đó tích cực xử lý nợ xấu qua các hình
    ban hành văn bản chỉ đạo các đơn vị phổ biến, hướng dẫn, thức như bán nợ, phát mại tài sản bảo đảm, sử dụng dự
    tập huấn nội dung Nghị quyết cho cán bộ từ Hội sở đến các phòng rủi ro tín dụng,… Việc bán nợ xấu cho VAMC đã
    chi nhánh trong toàn hệ thống; phối hợp với VAMC, các giúp nhiều NHTM có thêm thời gian để tích tụ tài chính,
    đơn vị liên quan, chính quyền các cấp để tranh thủ sự chỉ cũng như tập trung nguồn lực xử lý những khoản nợ có vấn
    đạo, hỗ trợ trong quá trình xử lý nợ xấu đề khác cấp thiết hơn. Kết quả là sau vài năm kinh doanh
    (2) NHNN cũng chỉ đạo NHNN chi nhánh tỉnh, thành hiệu quả trở lại, không ít ngân hàng đã mua lại toàn bộ nợ
    phố yêu cầu các chi nhánh TCTD trên địa bàn chấp hành xấu đã bán cho VAMC hoặc đủ sức trích lập 100% dự phòng
    nghiêm túc quy định của pháp luật về cấp tín dụng, bảo và tất toán trái phiếu đặc biệt với VAMC.
    đảm tiền vay, các quy định an toàn trong hoạt động; có văn Thứ hai, mặt khác sau khi triển khai Nghị quyết số
    bản cảnh báo nợ xấu đối với các ngân hàng có nợ xấu vượt 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của
    mức cho phép; đồng thời thanh tra, giám sát công tác tín các TCTD và Quyết định số 1058/QĐ-TTg, các chính sách
    dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro, xử lý thu hồi này đã tạo lập cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho việc xử lý nợ
    nợ, phát hiện và xử lý kịp thời các TCTD và cá nhân có hành xấu, tài sản bảo đảm của các TCTD. Nhờ những thay đổi về
    vi vi phạm nhằm nâng cao chất lượng tín dụng; hành lang pháp lý đó mà nhiều khoản nợ xấu tại ngân hàng
    (3) Đồng thời, giao VAMC hoàn thiện việc sửa đổi và được xử lý, góp phần củng cố năng lực tài chính, cải thiện
    ban hành các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ phù hợp với chất lượng tín dụng của ngân hàng. Nhiều NHTM đã thành
    các quy định mới; ký thỏa thuận hợp tác, phối hợp với một công trong việc xử lý và bán đấu giá nhiều tài sản lớn tồn
    số TCTD (6 TCTD: Agribank, BIDV, Vietinbank, ACB, đọng nhiều năm. Có những khoản nhiều năm không xử lý
    Sacombank, Techcombank) thí điểm triển khai đẩy mạnh được đồng nào, nay giải quyết được trên 90%.
    xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42; hoàn thiện phương án 5.2. Những hạn chế, khó khăn còn vướng mắc
    mua nợ xấu theo giá thị trường, phối hợp chặt chẽ với các Một là, theo NHNN Việt Nam [3], tổng dư nợ bị ảnh
    cơ quan có thẩm quyền và khách hàng vay để hoàn thiện hưởng bởi dịch Covid-19 theo thống kê sơ bộ từ các TCTD
    thủ tục, hồ sơ pháp lý và đề nghị được áp dụng thủ tục rút ước tính lên tới khoảng 900 ngàn tỷ đồng. Đại dịch Covid-
    gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao và xử lý 19 bùng phát làm hàng hóa trở nên ách tắc, sản xuất kinh
    tài sản bảo đảm; đánh giá thực trạng các khoản nợ, nợ xấu doanh đình trệ, hàng xuất đi không bán được hoặc nếu có
    và tài sản đảm bảo cho các khoản nợ xấu đã mua để xác đầu ra thì lại thiếu nguồn nguyên liệu đầu vào do các thị
    định khả năng thu hồi nợ, từ đó, có biện pháp xử lý phù trường nhập khẩu nguyên vật liệu đều dừng hoạt động.
    hợp; tích cực tìm kiếm các đối tác mua nợ đối với các khoản Như vậy, có thể thấy, với việc nền kinh tế rơi vào tình trạng
    nợ đã bán cho VAMC và được VAMC ủy quyền bán nợ. trì trệ, chuỗi cung ứng bị gián đoạn thì doanh nghiệp là
    Kết quả cho thấy, sau khi Nghị quyết 42 và Đề án 1058 những đối tượng sẽ gặp khó khăn đầu tiên, từ đó, ảnh
    được ban hành và có hiệu lực, tính đến cuối năm 2019, nợ hưởng đến năng lực trả nợ vay cho các ngân hàng.

    Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn Vol. 56 – No. 6 (Dec 2020) ● Journal of SCIENCE & TECHNOLOGY 149

  5. KINH TẾ XÃ HỘI P-ISSN 1859-3585 E-ISSN 2615-9619

    Tính đến thời điểm hiện tại, số lượng doanh nghiệp tạm với nhiều đối tượng, thành phần khác nhau, ngay cả người
    ngừng kinh doanh và chờ giải thể tăng vọt so với cùng kỳ dân cũng có thể tham gia thị trường này. Sàn giao dịch
    năm ngoái, dẫn đến khách hàng không có khả năng trả nợ phải có đủ hạ tầng cơ sở, có thông tin đầy đủ về những
    đúng hạn và từ đó gia tăng tỷ lệ nợ quá hạn, gia tăng nợ món nợ xấu được đưa lên sàn và giao dịch buôn bán như
    xấu. Nhiều ngành như nông, lâm nghiệp và thủy sản, món hàng hóa. Điều quan trọng là những quy định về
    doanh nghiệp có hoạt động xuất nhập khẩu, dịch vụ lưu chuyển nhượng tài sản từ bất động sản, đất đai nhà cửa
    trú, ăn uống, thực phẩm, đồ uống, vận tải, dệt may, da giầy, phải được thông thoáng hơn. Bởi hiện tại vẫn còn nhiều
    điện tử, điện lạnh, dầu khí, du lịch, giáo dục, cùng các vướng mắc trong vấn đề chuyển giao, bán đấu giá, chuyển
    doanh nghiệp có thị trường xuất khẩu và nguồn nguyên nhượng, công chứng… Nếu các quy định về pháp luật còn
    liệu nhập khẩu chính từ Trung Quốc… đều là những nhóm khó khăn, còn nhiều ràng buộc thì vấn đề xử lý nợ không
    chịu ảnh hưởng nặng nề từ dịch bệnh. Những doanh dễ thực hiện một cách nhanh chóng.
    nghiệp trong các lĩnh vực này chiếm lượng khá lớn trong số 5.3. Các giải pháp từ phía ngân hàng thương mại
    các khách hàng của các ngân hàng, do đó, nguy cơ gia tăng
    Trước tác động của dịch bệnh, các NHTM cần có các
    nợ xấu là khó tránh khỏi. Đây là các vướng mắc chưa tháo
    chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp, cá nhân như: chính
    gỡ được làm cho dư nợ tín dụng của các ngân hàng trong
    sách cơ cấu nợ, giãn nợ, giảm lãi vay 1 – 1,5%/năm để góp
    quý 1/2020 tăng trưởng chậm, vì vậy cũng khiến cho tỷ lệ
    phần giảm khó khăn cho khách hàng và giữ cho nợ xấu
    nợ xấu tính trên tổng dư nợ tăng.
    không bị đẩy lên cao. Bên cạnh đó, các ngân hàng phải
    Hai là, vào giai đoạn 2014-2015, Công ty VAMC đã mua
    chấp nhận giảm lợi nhuận, tăng trích lập dự phòng rủi ro.
    số lượng lớn nợ xấu từ các NHTM. Thời gian đáo hạn của trái Đồng thời, phải siết chặt chất lượng tín dụng các khoản vay
    phiếu VAMC là 5 năm, nghĩa là các trái phiếu này sẽ đáo hạn mới, tránh làm nợ xấu phát sinh thêm. Việc hỗ trợ tín dụng
    vào năm 2019 và 2020. Năm 2020 là thời điểm nhiều ngân kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp khôi phục sản xuất kinh
    hàng phải nhận lại những khoản nợ xấu đã bán cho VAMC
    doanh trước mắt. Vài tháng nữa mọi chuyện sẽ trở lại bình
    mà không xử lý được. Điều đó sẽ khiến tỷ lệ nợ xấu của các
    thường và các doanh nghiệp được hỗ trợ sẽ đủ khả năng
    ngân hàng còn tăng. Trong các biện pháp giải quyết nợ xấu trả nợ.
    của các NHTM thì chủ yếu vẫn là bán nợ cho VAMC, trích lập
    dự phòng rủi ro đưa ra ngoại bảng,… còn số nợ xấu thu Như vậy, để giảm thiểu nợ xấu, các ngân hàng cần kiên
    được từ bán tài sản đảm bảo, từ khách hàng chiếm tỷ trọng trì tuân thủ các chỉ đạo của NHNN trong việc cơ cấu lại thời
    thấp. Nợ xấu vẫn có khả năng quay lại ngân hàng nếu sau 5 gian trả nợ, miễn giảm lãi vay cho khách hàng vay vốn tại
    năm (thời hạn của trái phiếu đặc biệt) vẫn chưa được xử lý. ngân hàng. Việc này sẽ khiến các ngân hàng phải hi sinh
    Hơn nữa, tuy đã bán nợ cho VAMC, các ngân hàng vẫn phải mục tiêu lợi nhuận đã đặt ra, nhưng chung lưng cùng
    tiếp tục trích lập dự phòng với chi phí khá cao ở mức 20% đối doanh nghiệp và cá nhân đang gặp khó khăn vì Covid-19
    với mệnh giá trái phiếu trong vòng 5 năm (chỉ trừ vài trường sẽ giúp họ sớm phục hồi hoạt động, từ đó, không chỉ khách
    hợp đặc biệt dạng tái cơ cấu được trích lập dự phòng ở mức hàng mà cả ngân hàng và nền kinh tế sẽ hồi phục bền
    10% theo thời hạn trái phiếu 10 năm). vững. Ngược lại, nếu ngân hàng theo đuổi mục tiêu lợi
    nhuận, không duy trì những chính sách hỗ trợ khách hàng
    Ba là, công tác xử lý nợ xấu vẫn tồn tại nhiều khó khăn
    khi họ đang gặp khó khăn thì có thể ngân hàng và cả nền
    do chưa có thị trường mua bán nợ thật sự chuyên nghiệp,
    kinh tế sẽ bị ảnh hưởng nhiều khi giải quyết bài toán phải
    dẫn đến việc mua bán nợ xấu chưa sôi động, các thương vụ
    xử lý nợ xấu trong nhiều năm sau đại dịch.
    lớn chưa phát sinh nhiều do quy định pháp luật về các
    ngành, lĩnh vực khác nhau còn thiếu đồng bộ, dẫn đến việc
    không đồng nhất ở các lĩnh vực. Mặt khác, cách tiếp cận
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    cũng như cách hiểu của các cơ quan khác nhau về xử lý nợ
    xấu, xử lý tài sản bảo đảm còn chưa nhất quán làm cho quá [1]. Báo cáo tài chính đã kiểm toán năm 2018, 2019 và quý I/2020 của các
    trình thực thi bị cản trở. Hoặc pháp luật đã cho phép ngân ngân hàng thương mại Việt Nam.
    hàng tự xử lý tài sản bảo đảm, nhưng do các cơ quan chức [2]. Báo cáo thường niên của ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2018.
    năng vẫn quen xử lý các giao dịch chủ sở hữu tài sản mua [3]. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2013. Thông tư số 02/2013/TT-NHNN
    bán, chuyển nhượng với bên mua, nên khi ngân hàng là ngày 21/01/2013 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích
    bên bán/chuyển nhượng thì cơ quan chức năng không lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ
    đồng ý. Thực trạng này làm cho quá trình ngân hàng xử lý chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
    tài sản bảo đảm rất vướng mắc bởi kể cả khi đã bán đấu giá [4] Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 2020. Báo cáo số 67/BC-NHNN, Báo cáo
    tài sản, bên mua vẫn không hoàn thành được thủ tục sang tác động của dịch Covid-19 lên kinh tế, tiền tệ; định hướng giải pháp thời gian tới.
    tên và ngân hàng vẫn phải tham gia vào quá trình xử lý mà
    không thu được nợ.
    Do đó, để xử lý nợ xấu không còn là bài toán khó, đòi AUTHOR INFORMATION
    hỏi phải hình thành được thị trường mua – bán nợ với sự Duong Thi Hoan
    tham gia của các nhà đầu tư, nhất là nhà đầu tư nước ngoài. Faculty of Business Administration, Hanoi University of Industry
    Cùng với đó, thị trường mua – bán nợ phải được đa dạng

    150 Tạp chí KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ● Tập 56 – Số 6 (12/2020) Website: https://tapchikhcn.haui.edu.vn

Download tài liệu Chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam nhìn từ khía cạnh nợ xấu File Word, PDF về máy