[Download] Tải Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính – Tải về File Word, PDF

Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính

Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính
Nội dung Text: Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính

Download


Bài viết tổng quan hai phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính (FCI hay chỉ số DFC), gồm phương pháp tổng có trọng số và phương pháp phân tích thành phần chính, từ đó đặt ra các vấn đề đối với Việt Nam về lựa chọn phương pháp xây dựng chỉ số, thu thập số liệu, lựa chọn khu vực xây dựng chỉ số, và lựa chọn biến đưa vào chỉ số.

Bạn đang xem: [Download] Tải Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính File Word, PDF về máy

Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính

  1. Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính
    quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh
    hội nhập tài chính

    Nguyễn Thanh Phương Trần Thị Xuân Anh
    Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng

    Phạm Tiến Mạnh Trần Thị Thu Hương
    Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng Khoa Tài chính, Học viện Ngân hàng

    Ngày nhận: 06/01/2021
    Ngày nhận bản sửa: 19/01/2021
    Ngày duyệt đăng: 28/01/2021

    Financial condition index construction methods and the problems posed for Vietnam in the
    context of financial integration
    Abstract: Domestic Financial Conditions (DFC) is discussed by researchers as well as policy makers,
    market experts in recent years because it does not only reflect the current economic situation but also
    market expectations about the future state of the economy. This index is deployed in many countries
    or regions such as the UK, US, EU, Japan, Finland, South Africa, Asia or at international organizations
    such as IMF, OECD, aiming to produce a set of indicators to forecast the market, to forecast the growth
    or recession of the economy. In Vietnam, there is no national financial condition index (FCI) that is
    constructed and officially published annually, and there are very few studies on the development of
    a national financial condition index. In terms of global economic and financial integration as today,
    domestic financial conditions in the world can be strongly affected by global factors and Vietnam
    is also. This paper reviews two main methods to construct FCI which are weighted-sum approach
    and principal components analysis, and poses some problems for Vietnam on selecting methods,
    collecting data, choosing area and variables to build FCI.
    Keywords: Domestic financial condition- DFC; Financial condition index-FCI; Financial condition index
    construction methods, Vietnam.

    Phuong Thanh Nguyen
    Email: phuongnt@hvnh.edu.vn
    Anh Thi Xuan Tran
    Email: anhttx@hvnh.edu.vn
    Manh Tien Pham
    Email: manhpham@hvnh.edu.vn
    Huong Thi Thu Tran
    Email: tranhuong@hvnh.edu.vn
    Organization of all: Finance Faculty, Banking Academy of Vietnam

    © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
    ISSN 1859 – 011X 15 Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  2. Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam
    trong bối cảnh hội nhập tài chính

    Thuật ngữ điều kiện tài chính quốc gia (Domestic Financial Conditions- DFC) được
    các nhà nghiên cứu cũng như các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia về thị
    trường đưa ra bàn thảo trong những năm gần đây bởi DFC không chỉ phản ánh tình
    hình kinh tế hiện tại mà còn cả những kỳ vọng của thị trường về trạng thái tương lai
    của nền kinh tế. Nhiều quốc gia và khu vực đã xây dựng chỉ số điều kiện tài chính
    quốc gia (Financial condition index-FCI) cho riêng mình như Anh, Mỹ, EU, Nhật,
    Phần Lan, Nam Phi, Châu Á hay tại các tổ chức quốc tế như IMF, OECD, nhằm
    đưa ra một bộ chỉ số để dự báo thị trường, dự báo sự tăng trưởng hoặc suy thoái
    của nền kinh tế. Việt Nam hiện nay chưa có chỉ số DFC được xây dựng và công bố
    chính thức thường niên, và có rất ít các nghiên cứu về xây dựng chỉ số này. Trong
    điều kiện hội nhập kinh tế, tài chính toàn cầu sâu rộng như hiện nay, các điều kiện
    tài chính tại các quốc gia trên thế giới có thể bị tác động mạnh mẽ bởi các nhân
    tố toàn cầu và Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Bài viết tổng quan hai phương
    pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính (FCI hay chỉ số DFC), gồm phương pháp
    tổng có trọng số và phương pháp phân tích thành phần chính, từ đó đặt ra các vấn
    đề đối với Việt Nam về lựa chọn phương pháp xây dựng chỉ số, thu thập số liệu, lựa
    chọn khu vực xây dựng chỉ số, và lựa chọn biến đưa vào chỉ số.
    Từ khoá: Điều kiện tài chính quốc gia (DFC); Chỉ số điều kiện tài chính quốc gia
    (FCI); Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia, Việt Nam

    1. Đặt vấn đề kênh truyền dẫn chính gồm:
    Thứ nhất, thông qua kênh “truyền
    Điều kiện tài chính quốc gia (DFC) được thống”, tức trường phái Keyne mới (New
    hiểu là các biến số tài chính hiện tại của Keynesian), hay còn gọi là kênh CSTT. Ở
    quốc gia có tác động đến hành vi của các góc độ này, DFC nhấn mạnh tới tác động
    chủ thể trong nền kinh tế, qua đó tác động của việc thay đổi chính sách lãi suất ngắn
    đến tương lai của nền kinh tế. Nghiên cứu hạn và kỳ vọng về sự thay đổi của lãi suất
    của IMF (2014) đã khái quát hoá DFC với dài hạn, qua đó tác động đến các quyết
    quan điểm rằng DFC phản ánh mức độ định tiêu dùng và đầu tư trong nền kinh tế.
    dễ dàng trong việc tiếp nhận các nguồn Ngoài ra, DFC còn xem xét tác động của tỷ
    tài chính tại mỗi quốc gia. Ngoài mức lãi giá như một kênh truyền thống có tác động
    suất ngắn hạn, DFC còn bao gồm chi phí, tới thương mại của quốc gia đó.
    điều kiện tiếp cận các nguồn vốn, mức độ Thứ hai, DFC bao hàm xem xét yếu tố
    sẵn có của nguồn vốn trong nước và thậm không hoàn hảo của nguồn cung tín dụng,
    chí cả khẩu vị rủi ro của tổ chức cung ứng phát sinh từ những hạn chế từ các trung
    cũng như cá nhân tiếp cận nguồn vốn. Các gian tài chính, từ hiện tượng bất cân xứng
    DCF này đóng vai trò trung tâm trong việc thông tin, từ bảng cân đối kế toán, từ nguồn
    truyền tải chính sách tiền tệ (CSTT) cũng vốn của ngân hàng, từ yếu tố chấp nhận rủi
    như các chính sách vĩ mô khác và cuối ro của các chủ thể trong nền kinh tế.
    cùng tác động trực tiếp đến sản xuất, tiêu Đối với kênh truyền dẫn CSTT “phi truyền
    dùng, thương mại, đầu tư trong nền kinh tế. thống” có thể bóp méo thị trường tiền tệ
    Cụ thể, CSTT sẽ tác động đến phần còn lại và gây ảnh hưởng xấu trong dài hạn bởi
    của nền kinh tế thông qua các DFC qua hai sự không đồng nhất giữa các bộ ngành

    16 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  3. NGUYỄN THANH PHƯƠNG – TRẦN THỊ XUÂN ANH – PHẠM TIẾN MẠNH – TRẦN THỊ THU HƯƠNG

    khi cung cấp thông tin, hoặc do yếu tố thị Các đặc tính riêng biệt của mỗi quốc gia sẽ
    trường chưa hoàn chỉnh tại một số quốc quyết định việc các điều kiện tài chính của
    gia; từ đó làm cho lãi suất phi rủi ro chưa quốc gia đó sẽ nhạy cảm như thế nào đối
    thể hiện được vai trò của mình khi xác định với những cú sốc tài chính toàn cầu. Với sự
    chi phí tài trợ vốn trong nền kinh tế thực. nổi bật của Mỹ trong hệ thống tiền tệ quốc
    Chính vì vậy, DFC sẽ chắt lọc thông tin từ tế, DFC của Mỹ được coi là một yếu tố tác
    một loạt các biến số tài chính, bao gồm việc động đến điều kiện tài chính toàn cầu. Do
    đánh giá mức độ chấp nhận rủi ro và nhiều đó, các đặc tính quan trọng của mỗi quốc
    loại biến số tài chính không hoàn hảo trong gia được xem xét đó là những điều kiện tài
    nền kinh tế, đặc biệt là nắm bắt được sự chính có mối quan hệ chặt với Mỹ (như đầu
    phổ biến của những hạn chế tín dụng, và tư trực tiếp nước ngoài, danh mục đầu tư tại
    nhiều yếu tố khác cản trở việc tiếp cận tín nước ngoài…), mức độ phát triển và độ mở
    dụng trong nền kinh tế. DFC còn nắm bắt của thị trường tài chính, chất lượng của các
    và đánh giá được những chi phí vốn bình tổ chức tài chính, cơ chế tỷ giá hối đoái…
    quân trong nền kinh tế, mặc dù nhiều đối (Sahay và các cộng sự, 2015). Ví dụ, điều
    tượng khác nhau có thể tiếp cận với nhiều kiện tài chính của quốc gia có nền kinh tế
    nguồn vốn khác nhau, với các điều kiện mở, có mối quan hệ chặt chẽ với Mỹ có
    khác nhau. Một số nghiên cứu khác đánh thể sẽ nhạy cảm hơn với các điều kiện tài
    giá DFC rất hữu ích trong việc dự đoán chính toàn cầu. Ngược lại, những quốc gia
    triển vọng của nền kinh tế hơn là việc sử có nền tảng chính sách và các tổ chức tài
    dụng các chỉ số để đánh giá các hoạt động chính mạnh, thị trường tài chính phát triển
    của nền kinh tế trong quá khứ và hiện tại theo chiều sâu, sẽ có mức độ nhạy cảm ít
    (Hatzius và các cộng sự, 2018; Koop và hơn (Chinn và Ito, 2007; Alfaro và các cộng
    Korobilis, 2014). sự, 2008).
    Trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu Bên cạnh việc nghiên cứu tầm quan trọng
    sâu rộng như hiện nay, DFC có thể được cũng như kênh truyền dẫn DFC, việc tìm
    chuyển giao qua các nước thông qua các kiếm xây dựng chỉ số DFC cũng được các
    kênh khác nhau. Một trong những nguyên nhà nghiên cứu, các tổ chức tài chính thực
    tắc điều hành CSTT trong điều kiện nền hiện nhằm lượng hoá cụ thể điều kiện tài
    kinh tế mở được gọi là “Bộ ba bất khả thi”. chính tại mỗi quốc gia và thậm chí là từng
    Điều này hàm ý rằng các nhà điều hành khu vực với tăng trưởng kinh tế. Chỉ số điều
    chính sách chỉ có thể đạt được hai trong số kiện tài chính (FCI- Financial Condition
    ba mục tiêu, đó là (1) Ổn định tỷ giá; (2) Tự Index) là một chỉ số toàn diện được xây
    do hóa dòng vốn; và (3) CSTT độc lập. Tuy dựng trên cơ sở kết hợp nhiều biến số khác
    nhiên các điều kiện tài chính có thể chuyển nhau như giá tiền tệ (bao gồm tỷ giá, lãi
    giao qua các quốc gia thông qua những cơ suất…), giá tài sản (chỉ số chứng khoán và
    chế khác nhau. Các điều kiện tài chính tại giá nhà) và các biến khác nhằm đánh giá
    các quốc gia trên thế giới có thể bị tác động toàn bộ các DFC. Nhiều phương pháp khác
    mạnh mẽ bởi các nhân tố toàn cầu, có thể nhau được các quốc gia sử dụng để xây
    thay đổi cùng với sự thay đổi điều kiện tài dựng FCI, trong đó mỗi phương pháp có
    chính của các quốc gia khác thông qua cơ những ưu, nhược điểm khác nhau.
    chế tác động một cách tự nhiên, do các quốc Bài viết tổng hợp các phương pháp xây
    gia này có mối quan hệ thương mại, do việc dựng chỉ số DFC và chỉ ra những vấn đề
    hội nhập tài chính sâu rộng với nhau. khi xây dựng chỉ số DFC tại Việt Nam, đặc

    Số 224+225- Tháng 1&2. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 17

  4. Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam
    trong bối cảnh hội nhập tài chính

    biệt trong bối cảnh hội nhập tài chính sâu ước tính các phương trình tổng cầu dạng rút
    rộng như hiện nay. gọn, và ước tính hệ thống VAR và các hàm
    phản ứng.
    2. Tổng quan các phương pháp xây Theo cách trên, công thức xác định FCI là:
    dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia

    Theo Hatzius và cộng sự (2010), Debuque-
    Gonzales và cộng sự (2013), Ian và cộng sự, Trong đó qit là giá trị chỉ số i tại thời điểm
    (2018), hai phương pháp chính và phổ biến t, là xu hướng giá trị chỉ số i trong dài
    được sử dụng để xây dựng FCI là phương hạn hoặc giá trị cân bằng tại thời điểm t, wi
    pháp tổng có trọng số và phương pháp phân là tỷ trọng của i.
    tích thành phần chính với nhiều phiên bản
    mô hình khác nhau. Khi xây dựng, các FCI Bước 1: Lựa chọn biến
    sẽ được làm sạch để loại bỏ ảnh hưởng chu Trước khi tính FCI cần lựa chọn các biến
    kỳ của các biến kinh tế vĩ mô, chỉ phản phù hợp. CSTT chủ yếu được truyền dẫn
    ánh những biến động ngắn hạn trong môi qua 3 kênh là cung tiền, lãi suất và tỷ giá
    trường tài chính, những cú sốc trong chính hối đoái. Giá cổ phiếu và giá nhà cũng có
    sách. Tổng quan hai phương pháp xây dựng tác động đến sản lượng và giá thông qua
    FCI như sau: hiệu ứng của cải và hiệu ứng cân bằng.
    Tất cả các FCI hiện nay đều bao gồm hai
    2.1. Phương pháp tổng có trọng số biến số cơ bản là lãi suất ngắn hạn và tỷ giá
    hối đoái. Kênh lãi suất là một công cụ quan
    Phương pháp tổng có trọng số là phương trọng nhất của CSTT. Mặt bằng giá cả, sản
    pháp với từng biến tài chính thường được lượng và việc làm chịu ảnh hưởng bởi sự
    gán trọng số dựa trên đánh giá tác động thay đổi lãi suất ngắn hạn của ngân hàng
    đến GDP thực (Debuque – Gonzales và trung ương (NHTW). Lý thuyết kỳ vọng
    cộng sự, 2017). Các phương pháp thống kê chỉ ra rằng việc tăng lãi suất ngắn hạn dẫn
    thường được sử dụng để xác định trọng số đến tăng lãi suất dài hạn. Sự thay đổi này
    của các thành phần tài chính bao gồm mô ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến lãi suất
    phỏng các mô hình cấu trúc kinh tế vĩ mô, thực tế và đến chi phí vốn. Việc thực hiện

    Bảng 1. Các chỉ số thường được sử dụng để xây dựng FCI trong các nghiên cứu
    Loại Các chỉ số
    Cung Tiền Tiền hẹp (M1) và tiền mở rộng (M2)
    Tỷ giá hối Tỷ giá hối đoái song phương
    đoái Chỉ số tỷ giá như tỷ giá hối đoái hiệu dụng
    Lãi suất Lãi suất thị trường (lãi suất ngắn hạn, lãi suất trái phiếu, thu nhập lãi trái phiếu thuần)
    Lãi suất chính sách (lãi suất tiền gửi và cho vay tham chiếu)
    Thị trường Giá trị thị trường/GDP
    vốn Tỷ số giá trên thu nhập
    Giá trị tài sản chứng khoán nắm giữ bởi người dân
    Giá chứng khoán
    Giá bất
    Giá nhà trung bình
    động sản
    Nguồn: Zheng và cộng sự (2014)

    18 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  5. NGUYỄN THANH PHƯƠNG – TRẦN THỊ XUÂN ANH – PHẠM TIẾN MẠNH – TRẦN THỊ THU HƯƠNG

    CSTT mở rộng sẽ dẫn đến cung tiền tăng, (2008) sử dụng đặc điểm tín dụng, được
    từ đó giảm lãi suất ngắn hạn. Điều này làm phản ánh qua khảo sát về tiêu chuẩn cho
    giảm chi phí sử dụng vốn, tăng đầu tư và vay trong điều kiện hoạt động tài chính
    cuối cùng tăng tổng cầu và tăng việc làm và kinh tế tại Mỹ; hay Guichard và cộng
    cho nền kinh tế. Ngoài ra, trong nền kinh tế sự (2009) nhấn mạnh quan điểm cho vay
    mở và cơ chế tỷ giá linh hoạt, kênh truyền ở Nhật, Anh và các nước Châu Âu so với
    dẫn CSTT thông qua tỷ giá được chú trọng, Hoa Kỳ để điều chỉnh các chỉ số; Shinkai
    do đó biến số tỷ giá luôn được đưa vào xây và Kohsaka (2010) xây dựng FCI cho Nhật
    dựng FCI. Bản dựa vào các điều kiện thị trường tín
    Bên cạnh đó, một số FCI của các quốc gia dụng; Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) sử dụng
    như FCI của Canada, Colombia, hay một số thêm biến phản ánh tăng trưởng tín dụng
    nước Châu Âu còn bao gồm lãi suất dài hạn cho khu vực tư nhân, tiêu chuẩn cho vay
    hoặc phần bù rủi ro trái phiếu doanh nghiệp ngoài các biến cơ bản khác (IMF, 2010);
    (Gauthier và cộng sự, 2004; Gomez, 2011; Hatzius và cộng sự (2010) cũng xây dựng
    Angelopoulou và cộng sự, 2014). Mặc dù mô hình nhân tố cho Mỹ có đến 45 chỉ số
    lãi suất dài hạn ít bị ảnh hưởng trực tiếp bởi tài chính, sử dụng một số biến mới như chỉ
    CSTT so với lãi suất ngắn hạn nhưng chúng số tín dụng dựa trên số lượng và khảo sát.
    lại liên quan nhiều đến các quyết định tài trợ Các nghiên cứu trước cho thấy, việc mở
    của các doanh nghiệp và hộ gia đình. Chênh rộng phạm vi các biến tài chính đã giúp tạo
    lệch lãi suất cũng được thêm vào để tính chỉ ra các DFC tốt hơn, đặc biệt là cải thiện về
    số vì được cho rằng có khả năng dự đoán sức mạnh dự báo.
    lạm phát tốt hơn là chỉ sử dụng lãi suất ngắn
    hạn. Tuy nhiên, nếu sử dụng cả hai biến này Bước 2: Xác định trọng số của các biến
    có thể dẫn đến việc bị chồng chéo thông tin. tài chính
    Ngoài ra, JP Morgan sử dụng cả chỉ số cung Có nhiều cách khác nhau được sử dụng để
    tiền khi xây dựng FCI. xác định trọng số của các biến tài chính.
    Các FCI được xây dựng bởi các học giả Các mô hình kinh tế lượng vĩ mô quy mô
    khác nhau, cho các quốc gia khác nhau có lớn thường có kết quả tốt nhưng lại khó
    sự khác biệt lớn nhất về việc lựa chọn các chạy mô hình. Các mô hình dạng rút gọn
    biến số đại diện cho thị trường vốn. Một số thường bao gồm một phương trình tổng cầu
    biến được sử dụng như giá cổ phiếu, giá trị liên quan đến chênh lệch sản lượng hoặc
    vốn hoá thị trường/ GDP, chỉ số cổ tức/ giá tăng trưởng sản lượng cho các thành phần
    cổ phiếu… Goodhart và cộng sự (2001) và FCI đã được sử dụng phổ biến. Các mô
    Mayes và cộng sự (2001) đều thêm biến số hình này dễ ước lượng.
    giá tài sản, cụ thể là giá nhà và giá cổ phiếu, (1) Mô hình cân bằng tổng cầu giảm
    vào các tính toán FCI cho Anh và Phần Lan (Reduced Aggregate Demand Equation
    để đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố này model)
    đến tổng cầu và kiểm tra bất kỳ thông tin Phương pháp này đã được NHTW Canada
    nào có thể góp phần vào dự đoán kết quả áp dụng xây dựng chỉ số MCI (Dugauy,
    kinh tế trong tương lai bao gồm tỷ lệ tăng 1994) và đây cũng là phương pháp phổ
    trưởng và lạm phát. biến để xây dựng FCI. Mô hình được sử
    Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng đưa dụng là đường IS và đường cong Phillips.
    thêm các biến định khác vào tính FCI như Theo phương pháp này, trước tiên cần
    Guichard và Turner (2008) và Swiston thiết lập đường IS phản ánh mối quan hệ

    Số 224+225- Tháng 1&2. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 19

  6. Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam
    trong bối cảnh hội nhập tài chính

    giữa chênh lệch sản lượng (GDP) thực tế sinh trong mối quan hệ với nhau. Do đó,
    và sản lượng (GDP) tiềm năng, lãi suất, tỷ ảnh hưởng lẫn nhau và tác động nhân quả
    giá hối đoái và các biến số khác và đường trong sự biến động của các biến phụ thuộc
    cong Phillips phản ánh mối quan hệ giữa và độc lập không thể tách biệt. Tuy nhiên
    lạm phát và chênh lệch sản lượng (GDP) các nhà nghiên cứu tính toán chỉ số CSTT
    thực tế và sản lượng (GDP) tiềm năng và ban đầu đã nhận ra vấn đề này và tính đến
    tác động của giá dầu, thuế suất và những các tác động trực tiếp và gián tiếp của lãi
    thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực, sau suất lên cả các biến giải thích khác và biến
    đó tính trọng số trong FCI dựa trên hệ số độc lập. Do vậy đây vẫn là một phương
    (coefficients) và xác suất có ý nghĩa thống pháp được sử dụng rộng rãi để dự báo và
    kê của các biến trong mô hình (Zheng và nắm bắt các tác động của các cú sốc tiền tệ
    cộng sự, 2014; Dugauy, 1994; Goodhart đến kinh tế vĩ mô (Christiano và cộng sự,
    và Hofmann, 2001). Gauthier và cộng sự 1999; Justiniano, 2009).
    (2004) sử dụng đường IS gồm các biến trễ (2) Mô hình VAR
    của sản lượng, giá tài sản, và giá hàng hoá. Khung VAR, không có đánh giá cụ thể về
    Các biến trễ của sản lượng được cho là tính cơ chế truyền dẫn, cũng được sử dụng rộng
    đến các loại cú sốc khác như cú sốc về sản rãi do khả năng đánh giá tác động giữa các
    lượng và tài khoá của Mỹ. Đường cong biến. Bên cạnh việc ước tính mối liên kết
    Phillips chứa các giá trị trễ của sản lượng giữa thị trường tài chính và nền kinh tế
    và lạm phát cũng như các giá trị cùng thời thực, phân tích VAR cũng chỉ ra các cơ chế
    và giá trị trễ của giá dầu. Hai phương trình phản hồi giữa các biến tài chính trong FCI
    thường có dạng như sau: và giữa tăng trưởng, lạm phát với các biến
    tài chính trong FCI, đặc biệt là với các cú
    sốc tài chính (Swiston, 2008). Hạn chế của
    phương pháp này là chỉ có một số lượng
    hạn chế các thành phần trong FCI được đưa
    ra và cho vào mô hình. Nguyên nhân là khi
    đưa quá nhiều tham số (biến) vào mô hình,
    đồng thời nếu số quan sát hạn chế, ước
    lượng nhiều tham số sẽ sử dụng rất nhiều
    bậc tự do và cho kết quả không chính xác.
    Theo phương pháp này, trước tiên cần thiết
    lập mô hình VAR, phản ánh tác động của
    Trong đó y là chênh lệch sản lượng, xi là các thành phần như cung tiền, lãi suất, tỷ
    thành phần thứ i của FCI (có thể bao gồm giá và giá tài sản đến tổng cầu. Trong phép
    lãi suất ngắn hạn, lãi suất trái phiếu chính lập mô hình VAR, giá trị của một biến được
    phủ 10 năm, tỷ giá, giá nhà, chỉ số chứng biểu diễn là một hàm tuyến tính của các giá
    khoán, phần bù rủi ro trái phiếu doanh trị quá khứ hay trễ của biến đó và tất cả các
    nghiệp hoặc chênh lệch lãi suất trái phiếu biến khác trong mô hình.
    Mỹ…), pcom là chỉ số giá hàng hoá, π là Theo Sims (1980), mô hình VAR theo thứ
    lạm phát cơ bản so với năm trước, poil là tự p được viết như sau:
    mức tăng giá dầu hàng tháng.
    Mô hình cân bằng tổng cầu giảm thường
    xem các biến tài chính chỉ là yếu tố ngoại Với yt = (y1t,…, ynt)’, ꞵi = (ꞵ1,…,ꞵp) α và εt lần

    20 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  7. NGUYỄN THANH PHƯƠNG – TRẦN THỊ XUÂN ANH – PHẠM TIẾN MẠNH – TRẦN THỊ THU HƯƠNG

    lượt là vector cột p của các biến độc lập, ma đặt ở cuối do được coi là nội sinh nhất.
    trận n-n của hệ số VAR, các hệ số chặn và Tương tự, Charleroy và Stemmer (2014) đã
    vector cột p của các sai số, độc lập với các dùng dữ liệu được điều chỉnh theo mùa vụ
    giá trị trễ của yt sao cho εt ~ N(0,Σ) trong với tần suất hàng tháng, và xếp các biến từ
    đó Σ đại diện cho ma trận hiệp phương sai ngoại sinh nhiều nhất đến ít nhất. Đầu tiên
    của các sai số và là ma trận xác định dương. VAR được chạy với các biến cơ bản, biến
    Cách tiếp cận truyền thống theo VAR do tài chính và ước tính phản ứng của tăng
    Sims (1980) đề xuất là sử dụng phân rã trưởng GDP đối với biến tài chính riêng lẻ.
    phương sai theo phương pháp Cholesky Sau đó giữ lại biến tài chính quan trọng và
    để trực giao hoá các cú sốc, xem tác động có mối quan hệ phù hợp với GDP. Trọng
    của các cú sốc vĩ mô lên phương sai sai số của mỗi biến là được xác định từ IRF
    số. Hàm phản ứng đẩy (Impulse Response dựa trên phản ứng của GDP với một đơn
    Function- IRF) phát hiện phản ứng của vị sốc. Charleroy và Stemmer (2014) tính
    biến phụ thuộc trong hệ VAR đối với các toán phản ứng của GDP đối với một cú sốc
    cú sốc của các số hạng sai số. Tiếp theo, mô phỏng trên mỗi biến tài chính trong một
    tính toán trọng số của từng biến dựa trên khoảng thời gian nhất định p. FCI cho một
    mức độ tác động. IRF cho phép xác định quốc gia nhất định tại thời điểm t với m
    trọng số của từng biến thông qua ước tính biến tài chính được giữ lại là:
    tác động của các cú sốc lên cả biến phản hồi
    và các biến hồi quy khác. Tuy nhiên trước
    đó cần lựa chọn tiêu chí sắp xếp các biến.
    Việc sắp xếp các biến theo cách này hay Trong công thức này, FCI trong mỗi giai
    cách khác ảnh hưởng đến phân rã Cholesky đoạn t là trung bình của IRF trong khoảng
    của ma trận phương sai- hiệp phương sai thời gian p đến một cú sốc mô phỏng trên
    và rồi sau đó là việc tính toán IRF, kết quả mỗi biến tài chính j; wji là tỷ trọng, là phản
    là làm sai lệch quá trình xác định tỷ trọng. ứng đẩy độ trễ tháng thứ i của GDP trong
    Goodhart và Hofmann (2001) đã xây dựng nước với cú sốc của các biến; vjt-1 là cú
    FCI cho các nước G7 với mục đích đánh sốc cấu trúc của biến tại từng thời điểm,
    giá tác động của thông tin giá tài sản đối được xác định bằng độ lệch của các biến tài
    với tổng cầu và thực thi CSTT, trong cách chính so với giá trị trung bình. Nghiên cứu
    tiếp cận VAR, thứ tự các biến theo quy tắc của Charleroy và Stemmer (2014) chọn
    giảm dần độ trễ trong phản ứng đã được khoảng thời gian p là 8 tháng sau khi tính
    chọn cho phân rã Cholesky. Do đó, mức độ toán giá trị trung bình của các phản ứng
    phản ứng với các cú sốc của các biến sẽ trong 8 tháng.
    quyết định vị trí của biến đó, chuyển từ các Để tránh tác động của việc sắp xếp các biến
    biến kinh tế vĩ mô ngoại sinh sang các biến đến kết quả, theo Pesaran và Shin (1998),
    tài chính. So sánh các trọng số có được từ Gauthier và cộng sự (2004), Guichard và
    OLS và VAR, kết quả cho thấy sự giống cộng sự (2008), Osorio và cộng sự (2014),
    nhau về trọng số thu được ở cả 2 mô hình. trọng số của IRF tổng quát được dùng để
    Shinkai và Kohsaka (2010) xây dựng FCI xác định FCI cho Hoa Kỳ và Châu Á. Độ
    cho Nhật Bản sắp xếp các biến theo thứ tự trễ trung bình nằm trong khoảng từ 4 đến
    giảm dần mức độ ngoại sinh. Do đó giá dầu 6 quý khi tính toán đến độ trễ tác động của
    được đặt ở trước, tiếp theo là các biến tài CSTT. Mặc dù các phản ứng đẩy trực giao
    chính và tất cả các biến kinh tế thực được không phải là cố định đối với sắp xếp lại

    Số 224+225- Tháng 1&2. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 21

  8. Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam
    trong bối cảnh hội nhập tài chính

    thứ tự các biến trong VAR, nhưng trong i tại thời điểm t, wi là tỷ trọng của thành
    hàm phản ứng đẩy tổng quát lại có. Hàm phần chính i.
    phản ứng đẩy tổng quát là duy nhất và tính Giống như VAR, PCA không phụ thuộc
    đến mối tương quan trong lịch sử giữa các vào bất kỳ loại mô hình kinh tế cụ thể nào
    cú sốc. Sau đó, FCI có thể được xây dựng (English và cộng sự, 2005; Gauthier và cộng
    bằng cách tính trọng số các biến theo tác sự, 2004). Phương pháp này cũng đánh giá
    động trung bình tương đối của chúng đối sự đóng góp của các chỉ số tài chính phù
    với sản lượng trong 18- 24 tháng tiếp theo, hợp với những biến động quan trọng lịch
    khoảng thời gian mà CSTT được cho là có sử trong mở rộng hệ thống tài chính và cho
    tác động đủ đến sản lượng và lạm phát. phép giải thích tầm quan trọng hệ thống
    Nhiều nghiên cứu trước đây đã dùng VAR của từng thành phần (Brave và Butters,
    để phân tích các điều kiện tài chính và xây 2011). Phương pháp này giúp giải quyết
    dựng chỉ số như nghiên cứu của Guichard vấn đề hạn chế của số liệu. Nghiên cứu của
    và Turner (2008), Swiston (2008), Shinkai Debuque-Gonzales và cộng sự (2013) sử
    và Kohsaka (2010), IMF (2010). Ưu điểm dụng phân tích nhân tố chung cho phạm vi
    chính của FCI dựa trên VAR so với các dữ liệu rộng lớn và dễ sử dụng so với mô
    phương pháp khác là khả năng tính toán hình cấu trúc quy mô lớn. Hatzius và cộng
    các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa sự (2010) cũng sử dụng chuỗi dữ liệu dài,
    các biến tài chính (Ho và cộng sự, 2013). sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng, đưa
    Như tác động của việc thắt chặt CSTT bao ra các chuỗi thời gian có độ dài khác nhau.
    gồm cả tác động trực tiếp của việc tăng lãi Để ước tính được FCI theo phương pháp
    suất đối với hoạt động kinh tế và tác động này, mỗi chỉ số tài chính được tách ra khỏi
    gián tiếp thông qua tác động của việc tăng các thành phần kinh tế vĩ mô nội sinh bằng
    lãi suất đến các biến số thị trường tài chính cách sử dụng hồi quy:
    khác. Xit = At (L)Yt + vit
    Trong đó: Xit đại diện cho biến tài chính
    2.2. Phương pháp phân tích thành phần thứ i tại thời điểm t; Yt là vector của biến
    chính (PCA) kinh tế vĩ mô; vit là phần dư, không tương
    quan với giá trị hiện tại và giá trị trễ của Yt,
    Phương pháp phân tích thành phần chính được coi là chỉ số tài chính độc lập với các
    (PCA) liên quan đến việc xác định các chuyển động của chu kỳ kinh doanh. Nó có
    thành tố chính từ một loạt các biến tài chính thể được phân tách ra thêm:
    thông qua phân tích các thành tố chính vit = λi’Ft + uit
    hoặc các phương pháp liên quan. Giả định Trong đó: Ft là một vector kx1 của các yếu
    là các thành tố chính tạo ra sự thay đổi lớn tố tài chính không quan sát được – đây là
    nhất trong tập hợp các biến tài chính, có thể nhân tố chung; λi’ là một ma trận k x m các
    được coi là đại diện cho các thành tố cơ bản hệ số; Sai số uit không liên quan đến cả Ft
    ảnh hưởng đến hệ thống tài chính và có thể và Yt và không tương quan (hoặc tương
    sử dụng để tính FCI. quan yếu) với các biến khiến cho Ft phản
    FCI có thể được xác định bằng PCA theo ánh sự biến động chung của các thành phần
    công thức: tài chính. Ft được tính toán thông qua ước
    lượng bình phương nhỏ nhất. Với điều
    kiện có một lượng lớn các chỉ số trong một
    Trong đó Fit là giá trị của thành phần chính khoảng thời gian mẫu khá lớn, phương pháp

    22 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  9. NGUYỄN THANH PHƯƠNG – TRẦN THỊ XUÂN ANH – PHẠM TIẾN MẠNH – TRẦN THỊ THU HƯƠNG

    bình phương nhỏ nhất sẽ mang lại các ước thành phần chính dựa trên xác suất của mỗi
    lượng đủ chính xác để sử dụng cho các hồi thành phần chính phản ánh vai trò của các
    quy tiếp theo cũng như phân tích và sự báo thành phần chính. Thompson và các cộng
    (Hatzius và cộng sự, 2010). Các chuỗi tài sự (2013) đã xây dựng FCI cho nền kinh tế
    chính được chuyển đổi khi cần thiết (ví dụ Nam Phi nhằm đo lường các điều kiện tài
    như đảm bảo tính dừng) và tiêu chuẩn hoá chính và để hiểu rõ hơn về mối liên kết tài
    trước khi ước tính để hạn chế tác động của chính vĩ mô trong nước. Nhóm nghiên cứu
    sự biến động và đơn vị đo lường. Sau đó, đã sử dụng các phương pháp khác nhau để
    các biến được hồi quy với các biến trễ của xây dựng FCI và thấy rằng phương pháp
    các chỉ số tăng trưởng và lạm phát để tách phân tích thành phần chính hồi quy (PCA)
    từng biến ra khỏi các chuyển động theo chu mang lại kết quả tốt nhất, tức là FCI tính
    kỳ. Phương pháp PCA này hoạt động với theo phương pháp PCA phản ánh đầy đủ,
    các cú sốc tài chính bằng cách loại bỏ các toàn diện hơn thực trạng DFC.
    ảnh hưởng theo chu kỳ.
    Với phần dư là ước lượng của vit, công 3. Những vấn đề đặt ra cho Việt Nam
    cụ ước lượng bình phương nhỏ nhất giải trong xây dựng chỉ số điều kiện tài chính
    quyết vấn đề . quốc gia
    Với dữ liệu không cân bằng, quá trình lặp
    đi lặp lại được sử dụng để tìm ra giải pháp Tại Việt Nam, quá trình tham gia hội nhập
    cho vấn đề giảm thiểu thay vì tính toán vào thị trường tài chính quốc tế diễn ra ngày
    đơn giản các thành phần chính của . càng mạnh mẽ. Xét về phương diện khung
    được tính toán từ mô hình một yếu tố bao pháp lý, việc mở cửa thị trường  tài chính
    gồm chỉ số điều kiện tài chính và tỷ lệ giữa trong hội nhập WTO nói riêng và các hiệp
    tỷ trọng của mỗi chỉ tiêu tài chính với hệ số định thương mại tự do (FTA) nói chung
    của nó. được thực hiện theo cả 3 phương thức:
    Nhiều nghiên cứu trước đây đã sử dụng (1) Cung ứng qua biên giới; (2) Tiêu dùng
    PCA để xây dựng FCI như nghiên cứu ngoài lãnh thổ và (3) Hiện diện thương
    của Lê Đạt Chí và cộng sự (2015), Osorio mại. Trong khuôn khổ hội nhập Cộng đồng
    (2011), Hatzius (2010), Gomez (2011), kinh tế ASEAN (AEC) và ASEAN +3, việc
    Angelopoulou (2013). Brave và Butters tham gia hội nhập thị trường tài chính được
    (2010) đã tăng cường cách tiếp cận PCA chia thành các giai đoạn từ năm 2008 đến
    (phân tích các thành tố chính) và phân năm 2020, trong đó giai đoạn 2008- 2015
    biệt các thành tố động để đưa ra chỉ số tần được coi là giai đoạn tiền đề và quan trọng
    suất cao sử dụng thông tin từ 100 chỉ số nhất, nhằm đảm bảo các nước thành viên
    tài chính tác động đến sự phát triển của có được sự chuẩn bị tốt nhất. Theo lộ trình
    thị trường tiền tệ, nợ và thị trường chứng đã cam kết, đến năm 2015, Việt Nam và
    khoán cũng như hệ thống ngân hàng Mỹ. các nước trong khu vực sẽ phải mở cửa,
    Trong nghiên cứu xây dựng FCI cho Trung xóa bỏ các hạn chế trong các ngành ngân
    Quốc, Zheng Guihuan và Wang Yu (2014) hàng, bảo hiểm và các thị trường vốn.
    sử dụng 5 biến số là cung tiền, lãi suất, tỷ Theo đó, Việt Nam và các nước ASEAN
    giá, chỉ số chứng khoán và chỉ số giá nhà. cam kết tự do hóa cả 4 phương thức bao
    Theo PCA, tác giả lựa chọn thành phần gồm: (1) Cung cấp dịch vụ qua biên giới;
    chính theo nguyên tắc giá trị đóng góp tích (2) Tiêu dùng ngoài lãnh thổ; (3) Hiện
    luỹ hơn 80% và xác định trọng số của từng diện thương mại; (4) Hiện diện thể nhân.

    Số 224+225- Tháng 1&2. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 23

  10. Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam
    trong bối cảnh hội nhập tài chính

    Ngày 18/9/2020, các Bộ trưởng Tài chính trưởng chỉ số thị trường chứng khoán. Kết
    và Thống đốc NHTW thuộc ASEAN + quả nghiên cứu cho thấy, với bốn nhân tố
    3 đã nhóm họp trực tuyến và ra tuyên bố DFC như trên đã xác nhận tính hiệu quả và
    chung nhấn mạnh tầm quan trọng của việc khả năng dự báo của chỉ số này đối với tăng
    nâng cao hơn nữa hợp tác tài chính trong trưởng GDP thực ở Việt Nam. Bên cạnh
    khu vực do xuất hiện nhiều thách thức mới đó, năm 2018, trường Đại học Kinh tế TP.
    do đại dịch Covid-19. Đồng thời, các nước Hồ Chí Minh (UEH) đã tổ chức hội thảo
    đều nhất trí tiếp tục phối hợp để thúc đẩy khoa học công bố Chỉ số điều kiện tài chính
    ổn định kinh tế và tài chính khu vực, trong FCI, cho thấy với FCI do UEH xây dựng,
    đó tăng tính linh hoạt của Thỏa thuận Đa có sự biến động tương thích với các giai
    phương hóa sáng kiến Chiang Mai, hướng đoạn thắt chặt hay nới lỏng các điều kiện
    tới giải quyết những khó khăn về cán cân tài chính tại Việt Nam trong từng giai đoạn
    thanh toán và thanh khoản ngắn hạn trong khác nhau của thời gian nghiên cứu (2002-
    khu vực vào những thời điểm khủng hoảng.  2017) (https://www.ueh.edu.vn/tin-tuc/
    Như vậy, Việt Nam đã thực sự bước vào ueh-cong-bo-chi-so-dieu-kien-tai-chinh-
    hội nhập tài chính toàn diện từ góc độ các fci-dau-tien-tai-viet-nam_3466). Tuy nhiên
    chủ thể, công cụ, cũng như về hệ thống pháp kết quả phương pháp của hai nghiên cứu
    luật. Từ kinh nghiệm của các nước trong trên cần có thêm thời gian để kiểm định độ
    kiểm soát điều kiện tài chính đã chỉ rõ, việc chính xác, hoặc tính thực tiễn khi điều kiện
    thực hiện tự do hóa tài chính khi chưa tạo lập tài chính của Việt Nam thay đổi trong tương
    đầy đủ các điều kiện và tiền đề cần thiết có lai. Cụ thể trong bối cảnh hội nhập tài chính
    thể gây ra những hậu quả không tốt cho nền hiện nay, việc xây dựng chỉ số DFC cần xem
    kinh tế, thậm chí có thể dẫn tới khủng hoảng xét một số vấn đề có thể tác động trực tiếp
    do những méo mó về điều kiện tài chính. Do đến kết quả của FCI đó là:
    đó, để kiểm soát được DFC trong bối cảnh
    hội nhập, Việt Nam cần xây dựng FCI nhằm Thứ nhất, lựa chọn khu vực để xây dựng
    đánh giá một cách toàn diện thực trạng điều chỉ số điều kiện tài chính. Trong bối cảnh
    kiện tài chính hiện tại, mức độ nhạy cảm đối hội nhập tài chính, nhiều nhóm tác giả sử
    với điều kiện tài chính quốc tế và từ đó xây dụng dữ liệu mảng để xây dựng FCI cho
    dựng lộ trình kiểm soát hiệu quả. một khu vực, hoặc một nhóm quốc gia;
    Thực tế hiện nay cho thấy Việt Nam chưa như Goodhart và Hofmann, (2011); Mayes
    có chỉ số DFC xây dựng mang tính hệ thống và Virén (2001) xây dựng FCI cho Anh
    và thường niên, đồng thời cũng có rất ít các và Phần Lan; Gauthier, Gramaham và
    nghiên cứu về xây dựng chỉ số DFC, nhằm Liu (2004); Guichard và Turner (2008);
    đưa ra một bộ chỉ số để dự báo thị trường, Swiston (2008) xây dựng FCI cho Mỹ và
    dự báo sự tăng trưởng hoặc suy thoái của Canada. Đặc biệt, Osorio và các cộng sự
    nền kinh tế. Nghiên cứu của Lê Đạt Chí (2014); Debuque-Gonzales và Gochoco-
    và Trần Hoài Nam (2015) đã nghiên cứu Bautista (2017) đã xây dựng FCI cho các
    các điều kiện tài chính quốc tế, sau đó thử quốc gia ở Châu Á. Tuy nhiên, thực tế cho
    xây dựng điều kiện tài chính của Việt Nam, thấy việc xây dựng FCI cho một nhóm quốc
    bao gồm (1) chênh lệch lãi suất cho vay gia, hoặc khu vực tài chính đã gặp một số
    và lãi suất cơ bản; (2) tăng trưởng tỷ giá bất cập; đó là việc sử dụng dữ liệu mảng
    thực có hiệu lực; (3) tăng trưởng tín dụng (panel data) khi phân tích số liệu ở các
    ngân hàng cho khu vực tư nhân; và (4) tăng quốc gia/ khu vực này đã gặp hiện tượng

    24 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  11. NGUYỄN THANH PHƯƠNG – TRẦN THỊ XUÂN ANH – PHẠM TIẾN MẠNH – TRẦN THỊ THU HƯƠNG

    các biến cắt ngang bị phụ thuộc lẫn nhau pháp tổng trọng số, tỷ trọng của mỗi chỉ
    và không đồng nhất giữa các biến nghiên báo tài chính được chỉ định thông qua việc
    cứu. Nguyên nhân chủ yếu do các quốc gia ước tính tác động tới biến vĩ mô, như GDP
    được nghiên cứu có mối quan hệ qua lại thực tế, khoảng cách sản lượng đầu ra, hoặc
    thông qua việc giao thương, buôn bán; vì lạm phát. Trong một số nghiên cứu, trọng
    thế có sự biến động giống nhau, phụ thuộc số các biến đưa vào nghiên cứu được đặt ở
    nhau tại các thời điểm nghiên cứu số liệu mức bằng nhau, dựa trên các biến tài chính
    đối với những biến động trên thị trường tài đầu vào khi lựa chọn nghiên cứu (Mayes
    chính. Chính vì vậy, nên nghiên cứu một và Viren, 2001). Tuy nhiên, việc coi tất cả
    quốc gia đơn lẻ, sau đó xem xét biến động các biến này đều có tỷ trọng bằng nhau có
    của FCI này so với những biến động bình thể không phù hợp, do thực tế mỗi nhân tố
    quân trên thị trường tài chính thế giới, hoặc lại có tác động khác nhau nhất định đến chỉ
    so sánh với một quốc gia/ khu vực lớn làm số điều kiện tài chính của quốc gia. Phương
    tham chiếu, như Mỹ hoặc Châu Âu để đưa pháp vec-tơ tự hồi quy (VAR) dần trở nên
    ra nhận xét. phổ biến trong việc tính trọng số trong
    FCI, bởi nó phù hợp để nắm bắt mối quan
    Thứ hai, thời gian thu thập số liệu. Nhiều hệ giữa các biến số vĩ mô và biến số tài
    nghiên cứu về xây dựng FCI sử dụng số liệu chính. Ưu điểm lớn nhất của phương pháp
    hàng năm (annual data) khi thu thập số liệu. tổng trọng số là mối liên hệ trực tiếp giữa
    Tuy nhiên thực tế cho thấy, các nhà điều hành các biến tài chính và nền kinh tế thực. Tuy
    chính sách và các nhà đầu tư thường quan nhiên, phương pháp này gặp phải vấn đề cố
    tâm đến biến động trên thị trường tài chính hữu đó là số lượng các biến đưa vào. Ngày
    một cách thường xuyên hơn để đưa ra các càng có nhiều biến số đưa vào mô hình do
    quyết định của mình. Ví dụ, thông thường trên thực tế, hệ thống tài chính hiện đại rất
    các quyết định về CSTT thường được đưa phức tạp và việc xác định đầy đủ các đặc
    ra theo quý; tương tự các doanh nghiệp cũng tính của nó cần thiết phải bao hàm rất nhiều
    đưa ra các báo cáo tài chính theo quý. Vì biến nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên việc
    thế nếu sử dụng dữ liệu thu thập theo năm, đưa nhiều tham số vào mô hình VAR với
    dẫn đến nhiều dữ liệu, sự kiện sẽ bị bỏ qua số bậc tự do lớn sẽ dẫn đến kết quả không
    hoặc thiếu sót, làm cho kết quả nghiên cứu chính xác nếu số quan sát hạn chế.
    không được bám sát diễn biến liên tục trên Với phương pháp phân tích thành phần
    thị trường. Chính vì vậy, khi nghiên cứu, chính (PCA) có thể giải quyết được vấn đề
    xây dựng FCI của một quốc gia, tốt hơn hết “lời nguyền về quy mô” của các biến nghiên
    là sử dụng dữ liệu càng thường xuyên càng cứu, bằng cách trích xuất một yếu tố chung
    tốt, ví dụ như sử dụng dữ liệu thu thập theo mà nắm bắt được sự biến động chung lớn
    quý hoặc theo tháng. nhất trong một loạt các biến trong nghiên
    cứu. Ưu điểm lớn nhất của phương pháp
    Thứ ba, phương pháp tính chỉ số. Có nhiều PCA là tính thực tiễn của nó, vì nó tạo điều
    phương pháp để tính toán FCI, phần lớn sử kiện cho việc thu gọn một tập hợp biến tài
    dụng các phương pháp như phương pháp chính lớn thành một chỉ số duy nhất. Tuy
    tổng trọng số1, hoặc phương pháp phân tích nhiên phương pháp này chỉ đúng ở góc độ
    thành phần chính (PCA)2. Trong phương lý thuyết, bởi nó giả định rằng những chỉ số
    1
    The weighted-sum approach
    có sự biến động lớn nhất thì sẽ có ý nghĩa
    kinh tế lớn nhất; ngoài ra, phương pháp này
    2
    Principal Component Analysis

    Số 224+225- Tháng 1&2. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 25

  12. Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam
    trong bối cảnh hội nhập tài chính

    còn có một nhược điểm nữa, đó là nếu chỉ Á nhằm phản ánh điều kiện quốc tế. Hay
    báo nào xuất hiện với một dấu hiệu “sai” thì nghiên cứu của Gauthier và cộng sự (2004)
    ngay lập tức sẽ bị loại khỏi mô hình nghiên cũng bao gồm biến chênh lệch lãi suất của
    cứu. Tuy nhiên, trên thực tế, phương pháp Mỹ vào tính FCI cho Canada bởi cho rằng
    PCA được rất nhiều học giả sử dụng để xây biến này tác động đến tăng trưởng kinh tế
    dựng FCI như Angelopoulou và các cộng của Canada.
    sự (2014); Osorio và các cộng sự (2014);
    Hakkio và Keeton (2009); Micallef (2015); 4. Kết luận
    Hatzius và các cộng sự (2010)…
    Xây dựng chỉ số DFC (FCI) được thực hiện
    Thứ tư, lựa chọn biến để xây dựng chỉ khá phổ biến ở các nước phát triển nhưng
    số điều kiện tài chính. Việc xây dựng vẫn còn hạn chế ở các quốc gia khác trong
    FCI nhằm mục đích tìm ra một chỉ báo đó có Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập
    xem xét tác động của một loạt các biến tài tài chính sâu rộng mới hiện nay, việc xây
    chính tác động đến điều kiện tài chính của dựng chỉ số DFC cũng đứng trước thách
    một quốc gia hoặc một khu vực trọng tâm thức mới. Nhiều vấn đề được đặt ra khi xây
    nghiên cứu. Chính vì vậy, việc lựa chọn dựng chỉ số như phương pháp xây dựng chỉ
    biến nghiên cứu cho vào mô hình đặc biệt số, thu thập số liệu, lựa chọn khu vực xây
    quan trọng, nó quyết định đến tính chính dựng chỉ số, và lựa chọn biến đưa vào chỉ
    xác, kịp thời và nâng cao khả năng dự báo số. Các phương pháp xây dựng FCI từ đơn
    của FCI đối với biến động của nền kinh tế. giản đến phức tạp đều có ưu nhược điểm và
    Biến nghiên cứu nào càng có tương quan cho ra kết quả là các chỉ số FCI khác nhau.
    mạnh với các biến nghiên cứu khác thì tỷ Vì vậy lựa chọn phương pháp phù hợp là
    trọng đưa vào càng lớn. Đồng thời, biến đó quan trọng. Đồng thời, trong bối cảnh hội
    cần phải đại diện cho các thành phần khác nhập tài chính việc lựa chọn biến đưa vào
    nhau trong hệ thống tài chính. Một yếu tố xây dựng FCI cần được cân nhắc kỹ lưỡng
    quan trọng trong việc lựa chọn biến nghiên nhằm xây dựng được FCI phản ánh đầy đủ
    cứu, đó là biến đó phải sẵn có để thu thập hiện trạng DFC và có khả năng dự báo triển
    trong thời gian đủ dài, đặc biệt trong các vọng kinh tế trong tương lai.
    giai đoạn tăng trưởng, hoặc suy thoái của Bài viết đã tổng hợp hai phương pháp chính
    nền kinh tế khu vực, thế giới; nhằm tìm để xây dựng FCI đồng thời chỉ ra những vấn
    ra được biến đó có mối liên hệ thật sự hay đề cần lưu ý trong xây dựng FCI cho Việt
    không. Hơn nữa khi xây dựng FCI trong Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính. Tuy
    bối cảnh hội nhập tài chính cần đưa vào nhiên bài viết chưa xây dựng được FCI cho
    các biến phù hợp phản ánh các nhân tố bên Việt Nam bằng các phương pháp đã đưa ra
    ngoài tác động đến DFC. Nghiên cứu của do hạn chế về mặt số liệu. Hiện nay có rất ít
    Debuque-Gonzales và cộng sự (2017) đã các nghiên cứu thực nghiệm xây dựng chỉ số
    đưa biến chênh lệch lãi suất TPCP Mỹ- đại FCI cho Việt Nam, do đó đây là một hướng
    diện cho cấu trúc lãi suất quốc tế vào tính nghiên cứu mới có giá trị và ý nghĩa thực
    FCI của một số nước trong khu vực Châu tiễn có thể triển khai trong thời gian tới. ■

    Tài liệu tham khảo
    Alfaro, Laura, Sebnem Kalemli-Ozcan, and Vadym Volosovych, 2008, “Why Doesn’t Capital Flow from Rich to Poor
    Countries? An Empirical Investigation,” Review of Economics and Statistics 90 (2): 347–68.

    26 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  13. NGUYỄN THANH PHƯƠNG – TRẦN THỊ XUÂN ANH – PHẠM TIẾN MẠNH – TRẦN THỊ THU HƯƠNG

    Angelopoulou, E., Balfoussia, H., & Gibson, H. D. (2014). Building a financial conditions index for the euro area and
    selected euro area countries: What does it tell us about the crisis? Economic Modelling, 38, 392–403. https://doi.
    org/10.1016/j.econmod.2014.01.013
    Brave, Scott, and R. Andrew Butters. 2010. Gathering Insights on the Forest from the Trees: A New Metric for Finan-
    cial Conditions. Working Paper 2010-07. Chicago, Illinois: Federal Reserve Bank of Chicago.
    Charleroy, R. and Stemmer, M.A., 2014. An Emerging Market Financial Conditions Index: A VAR Approach.
    Chinn, Menzie D., and Hiro Ito. 2007, “Current Account Balances, Financial Development and Institutions: Assaying
    the World ‘Saving Glut,” Journal of International Money and Finance 26 (4): 546–69.
    Christiano, L. J., M. Eichenbaum, and C. L. Evans. 1999. “Monetary policy shocks: what we have learned and to what
    end?”. In: Handbook of Macroeconomics, Vol. 1, ch. 2. Taylor, J. B., and M. Woodford. (eds.). Elsevier: Amster-
    dam; 65-148. 

    Debuque-Gonzales, M., & Gochoco-Bautista, M. S. (2013). Financial conditions indexes for Asian economies (No.
    333). ADB Economics Working Paper Series.
    Debuque-Gonzales, M., & Gochoco-Bautista, M. S. (2017, June 1). Financial Conditions Indexes and Monetary Policy
    in Asia. Asian Economic Papers, Vol. 16, pp. 83–117. https://doi.org/10.1162/ASEP_a_00522
    Dugauy, P. 1994. “Empirical Evidence on the Strength of the Monetary Transmission Mechanism in Can- ada.” Jour-
    nal of Monetary Economics 33: 39-61.
    English, William, Kostas Tsatsaronis, and Edda Zoli. 2005. Assessing the Predictive Power of Measures of Financial
    Conditions for Macroeconomic Variables. In Investigating the Relationship between the Financial and Real
    Economy. BIS Paper No. 22. Basel: Bank for International Settlements. February.
    Gauthier, C., Graham, C., & Liu, Y. (2004). Financial conditions indexes for Canada (No. 2004-22). Bank of Canada.
    Gomez. Financial Conditions Index: Early and Leading Indicator for Colombia. Ensayos sobre Politica Economica
    2011; 66: 174-220.
    Goodhart, C., & Hofmann, B. (n.d.). A Service of zbw Financial Variables and the Conduct of Monetary Policy *.
    Retrieved from http://hdl.handle.net/10419/82468www.econstor.eu
    Guichard, Stéphanie, David Haugh, and David Turner. 2009. Quantifying the Effect of Financial Conditions in the
    Euro Area, Japan, United Kingdom and United States. OECD Economics Department Working Paper No. 677.
    Paris: Organisation for Economic Co- operation and Development.
    Guichard, Stéphanie, and David Turner. 2008. Quantifying the Effect of Financial Conditions on U.S. Activity. OECD
    Economics Department Working Paper No. 635. Paris: Organisation for Economic Co-operation and Develop-
    ment.
    Hatzius, J., Hooper, P., Mishkin, F. S., Schoenholtz, K. L., & Watson, M. W. (2010). Financial Conditions Indexes:
    A Fresh Look after the Financial Crisis. NBER Working Papers. Retrieved from https://ideas.repec.org/p/nbr/
    nberwo/16150.html.
    Hatzius, J. & Stehn, S. J. (2018). The Case for a Financial Conditions Index. Goldman Sachs, Economics Research,
    Global Economics Paper.
    Ho, G., & Lu, Y. (2013). A financial conditions index for Poland(No. 13-252). International Monetary Fund.
    Koop, G. & Korobilis, D. (2014). A New Index of Financial Conditions. European Economic Review, Issue 71, pp. 101-
    116
    Ian, B., & Brian, M. (2018). Constructing a financial condition index for a small-open economy: The case of Malta. Re-
    search in Applied Economics, 10(3), 89-105.
    International Monetary Fund (IMF), 2014, “How Do Changes in the Investor Base and Financial Deepening Affect
    Emerging Market Economies? Global Financial Stability Report, Chapter 2, April, International Monetary Fund,
    Washington, DC.
    International Monetary Fund. 2010. A Financial Conditions Index for Asia. In Regional Economic Outlook: Asia and
    Pacific. Washington, DC. October.
    Justiniano, A., G. E. Primiceri, and A. Tambalotti. 2009. “Investment Shocks and Business Cycles”. NBER Working
    Paper, 15570.
    Lê Đạt Chí, & Trần Hoài Nam. (2015). Xây dựng chỉ số điều kiện tài chính cho Việt Nam. Tạp Chí Phát Triển và Hội
    Nhập, 31(21), 18–22. Retrieved from https://www.uef.edu.vn/newsimg/tap-chi-uef/2015-03-04-21/3-so-21.pdf
    Mayes, D. ;, & Virén, M. (2001). A Service of zbw Leibniz-Informationszentrum Wirtschaft Leibniz Information Centre
    for Economics Standard-Nutzungsbedingungen. Retrieved from www.econstor.eu
    Micallef, B. (2015). Estimating a Credit Gap for Non-Financial Corporations in Malta.
    Osorio, C., Unsal, D. F., & Pongsaparn, R. (2014). A Quantitative Assessment of Financial Conditions in Asia. IMF
    Working Papers. https://doi.org/10.5089/9781462314331.001
    Pesaran, M.H. and Y. Shin. 1998. “Generalized Impulse Response Analysis in Linear Multivariate Mod- els.” Econom-
    ics Letters, 58:17-29.

    Số 224+225- Tháng 1&2. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng 27

  14. Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam
    trong bối cảnh hội nhập tài chính

    Sahay, Ratna, Martin Čihák, Papa M. N’Diaye, Adolfo Barajas, Ran Bi, Diana Ayala, Yuan Gao, Annette Kyobe, Lam
    Nguyen, Christian Saborowski, Katsiaryna Svirydzenka, and Seyed Reza Yousefi, 2015, “Rethinking Financial
    Deepening: Stability and Growth in Emerging Markets,” IMF Staff Discussion Note 15/08, International Mon-
    etary Fund, Washington, DC.
    Sims, C. A. 1980. “Macroeconomics and Reality”. Econometrica, Vol. 48: 1-48. 

    Shinkai, Jun-ichi, and Akira Kohsaka. 2010. Financial Linkages and Business Cycles of Japan: An Analysis Using
    Financial Conditions Index. OSIPP Discussion Paper 2010-E-008 Osaka, Japan: Osaka School of International
    Public Policy.
    Swiston, Andrew. 2008. A U.S. Financial Conditions Index: Putting Credit Where Credit Is Due. IMF Working Paper
    08/161. Washington, DC: International Monetary Fund.
    Thompson, K., van Eyden, R. and Gupta, R., 2013. Identifying a financial conditions index for South Africa. Studies in
    Economics and Finance, 32, pp. 256-274.
    Zheng, G., & Yu, W. (2014). Financial conditions index’s construction and its application on financial monitoring and
    economic forecasting. Procedia Computer Science, 31, 32-39.

    28 Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

  15. Nhận diện rủi ro tỷ giá đối với doanh nghiệp

    Nguyễn Văn Tiến
    Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC)
    Trưởng Khoa Kinh doanh Quốc tế, Học viện Ngân hàng

    Ngày nhận: 07/12/2020
    Ngày nhận bản sửa: 15/12/2020
    Ngày duyệt đăng: 21/12/2020

    Đo lường và quản trị rủi ro tỷ giá luôn là mối quan tâm hàng đầu của các doanh
    nghiệp nhằm giảm thiểu tổn thất khi tỷ giá biến động mạnh. Thế giới và Việt Nam đã
    từng chứng kiến những sự kiện biến động của tỷ giá tác động đến hoạt động ngoại
    thương và nội thương, đầu tư trực tiếp và danh mục đầu tư gián tiếp nước ngoài,
    hoạt động đi vay và cho vay bằng ngoại tệ… Tác động của rủi ro tỷ giá đến nền kinh
    tế thường kéo dài, làm giảm sức cạnh tranh quốc tế của ngành kinh tế, và cuối cùng
    là đến kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Để có những biện pháp phòng
    ngừa kịp thời và hiệu quả, thì công việc đầu tiên, không thể thiếu, làm cơ sở cho
    các biện pháp tiếp theo, đó là nhận diện các loại rủi ro tỷ giá đối với doanh nghiệp.
    Dựa trên đúc kết kinh nghiệm cá nhân, Bài viết tổng hợp các tình huống rủi ro tỷ
    giá đối với doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu, đầu tư trực
    tiếp nước ngoài, đầu tư gián tiếp nước ngoài và tín dụng quốc tế. Đây cũng được
    xem là cơ sở cho việc thiết lập khung quản trị và sử dụng các công cụ phòng ngừa
    rủi ro tỷ giá đối với doanh nghiệp.

    Identifying exchange rate risk for businesses
    Abstract: Measuring and managing exchange rate risk exposure is of utmost importance for reducing
    a firm’s vulnerabilities from major exchange rate movements. The world and Vietnam have witnessed
    constant currency fluctuations which affected the market adversely, causing it to become volatile,
    affecting bothdomestic and foreign trade, foreign direct investment, portfolio investment, currency
    lending and borrowing. This caused a drag on the economy over the long term, as entire industries are
    rendered noncompetitive and operations of economic agents are detrimentally affected.
    Selecting the appropriate timely and effective exchange rate risk prevention measures is often a
    daunting task and therefore there is a demand of identifying different types of exchange rate risks
    for businesses. This will also act as the basis for exchange rate risk management and various hedging
    approaches for firms.
    Keywords: Exchange rate risk, Identification of exchange rate risk, Foreign exchange positon.

    Tien Van Nguyen
    Email: tiennv@hvnh.edu.vn
    Arbitrator of Vietnam Int’l Arbitration Centre (VIAC)
    Dean of Int’l Business of Banking Academy of Vietnam

    © Học viện Ngân hàng Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
    ISSN 1859 – 011X 29 Số 224+225- Tháng 1&2. 2021

Download tài liệu Các phương pháp xây dựng chỉ số điều kiện tài chính quốc gia và vấn đề đặt ra cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập tài chính File Word, PDF về máy