[Download] Tải Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên – Tải về File Word, PDF

Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên

Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên
Nội dung Text: Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên

Download


Mục tiêu bài viết nhằm phân tích mối quan hệ về thái độ hoài nghi nghề nghiệp (TĐHNNN) và tính độc lập của kiểm toán viên. TĐHNNN và tính độc lập đều là tiền đề quyết định cho cuộc kiểm toán hiệu quả theo (Bazerman, 2005; Francis, 2011; Hurtt và cộng sự, 2013 và Nelson; 2009).

Bạn đang xem: [Download] Tải Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên File Word, PDF về máy

Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên

  1. Tạp chí Khoa học – Trường ĐH Quy Nhơn, ISSN: 1859-0357, Tập 12, Số 6,Tập 12,Tr.
    2018, Số101-109
    6, 2018

    CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA THÁI ĐỘ HOÀI NGHI NGHỀ NGHIỆP
    VÀ TÍNH ĐỘC LẬP CỦA KIỂM TOÁN VIÊN

    MAI THỊ HOÀNG MINH1,, NGUYỄN VĨNH KHƯƠNG2,*
    1
    Khoa Kế toán, Trường Đại học Kinh tế TP. HCM
    2
    Trường Đại học Kinh tế – Luật, ĐHQG TP. HCM

    TÓM TẮT

    Mục tiêu bài báo nhằm phân tích mối quan hệ về thái độ hoài nghi nghề nghiệp (TĐHNNN) và tính
    độc lập của kiểm toán viên. TĐHNNN và tính độc lập đều là tiền đề quyết định cho cuộc kiểm toán hiệu
    quả theo (Bazerman, 2005; Francis, 2011; Hurtt và cộng sự, 2013 và Nelson; 2009). Tiếp đến, bài viết thảo
    luận về mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên dựa trên kết
    quả nghiên cứu của các nghiên cứu trước đây. Từ kết quả nghiên cứu trước đây, để kết luận về mối quan
    hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên và đưa ra các ý tưởng cho nghiên
    cứu trong tương lai.
    Từ khóa: Thái độ hoài nghi nghề nghiệp; tính độc lập của kiểm toán viên.

    ABSTRACT

    Studies on the Relationship Between Professional Skepticism and the Auditor Independence

    This paper is aimed to analyze the relationship between the professional skepticism and the auditor
    independence. Professional skepticism and independence were the decisive prerequisites for an effective
    audit (Bazerman, 2005, Francis, 2011; Hurtt et al., 2013 and Nelson; 2009). In addition, the article discusses
    the relationship between professional skepticism and auditor independence based on the findings of the
    previous studies. From the results of the previous studies, this paper with draws the relationship between the
    professional skepticism and the auditor independence and proposes some ideas for future research.
    Keywords: Professional skepticism; Auditor independence.

    1. Đặt vấn đề

    Mục tiêu của bài báo này là phân tích mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và
    tính độc lập của kiểm toán viên (KTV) mà rất ít nghiên cứu đề cập đến vấn đề này (Hurtt và cộng
    sự, 2013). Tầm quan trọng của việc thể hiện mức độ hoài nghi nghề nghiệp phù hợp đối với cuộc
    kiểm toán không được chú ý nhiều (Hurtt và cộng sự, 2013, Nelson, 2009, PCAOB, 2012). Thái
    độ hoài nghi nghề nghiệp được đề cập trong suốt các chuẩn mực kiểm toán và giả định rằng kiểm
    toán viên phải thể hiện thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng tài chính
    toàn cầu 2008 – 2009, phản đối của công chúng về chất lượng kiểm toán, các cuộc thanh tra kiểm
    toán được tiến hành và các báo cáo kết luận về chất lượng kiểm toán được công bố đã nêu bật sự
    cần thiết về việc thái độ hoài nghi nghề nghiệp cần được thể hiện rõ hơn (FMA, 2013, FMA, 2014,

    Email: khuongnv@uel.edu.vn
    *

    Ngày nhận bài: 01/8/2018; Ngày nhận đăng: 04/10/2018

    101

  2. Mai Thị Hoàng Minh, Nguyễn Vĩnh Khương

    FRC, 2006). Do đó, các nhà hoạch định chính sách về kiểm toán kêu gọi các nghiên cứu về thành
    phần của thái độ hoài nghi nghề nghiệp và lý giải lý do tại sao kiểm toán viên vào những thời điểm
    quan trọng dường như thiếu thái độ hoài nghi nghề nghiệp cần thiết (PCAOB, 2012; CAQ, 2010).
    Tính độc lập của Kiểm toán viên đã ngày càng trở nên quan trọng hơn sau khi Luật Sarbanes-
    Oxley (2002) ra đời. Độc lập là yếu tố cơ bản để kiểm toán viên có khả năng hành động với tính
    chính trực, khách quan và duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp (IAASB, 2014). Có rất nhiều
    nghiên cứu trước đây điều tra tác động của tính độc lập của kiểm toán viên và tác động của thái
    độ hoài nghi nghề nghiệp đối với chất lượng kiểm toán đã được tiến hành riêng rẽ nhưng nghiên
    cứu điều tra tác động trực tiếp của tính độc lập của kiểm toán viên đối với thái độ hoài nghi nghề
    nghiệp là rất ít (Hurtt và cộng sự, 2013). Bazerman (2005) nhận xét rằng các nghiên cứu như vậy
    có “ít ảnh hưởng đến xã hội”. Do đó, ông kêu gọi các nhà nghiên cứu “thực hiện các nghiên cứu
    có khả năng cung cấp thông tin hữu ích cho các cá nhân, tổ chức và xã hội; Tập trung vào sự hiểu
    biết về tâm lý học và xã hội học của các nhà hoạch định chính sách như mục đích của chương
    trình nghiên cứu (Bazerman, 2005). Ngoài ra, Francis (2011) đã nhận thấy rằng trong hai mươi
    năm qua, rất ít người biết đến và nghiên cứu về kiểm toán viên thực hiện các cuộc kiểm toán mặc
    dù điều này rất quan trọng trong tổng quan cho lĩnh vực liên quan như tâm lý học, nhân khẩu học,
    đặc điểm sinh học và nhận thức có thể ảnh hưởng đến hiệu suất của cá nhân.
    Chính vì vậy, cần thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp
    và tính độc lập của kiểm toán viên. Phần còn lại của bài báo được bố trí như sau. Phần tiếp theo
    phát triển các khái niệm về thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập. Phần ba thảo luận về
    tác động của tính độc lập của kiểm toán viên đối với thái độ hoài nghi nghề nghiệp và đưa ra các
    gợi ý cho các cơ hội nghiên cứu trong tương lai. Phần bốn kết luận bài báo.

    2. Khái niệm thái độ hoài nghi nghề nghiệp

    Định nghĩa về thái độ hoài nghi nghề nghiệp đã được phát triển trong hơn một thế kỷ, gắn
    liền với việc thảo luận tại tòa án về các khái niệm liên quan về kỹ năng phù hợp, sự xét đoán về
    việc KTV có trách nhiệm khi báo cáo của khách hàng bị sai sót trọng yếu. Quá trình này không
    đưa ra những định nghĩa ban đầu về xét đoán chuyên môn của KTV hoặc các khía cạnh của xét
    đoán chuyên môn như thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Thay vào đó, các cuộc thảo luận đưa ra các
    thuật ngữ như “sự đảm bảo hợp lý” và “kỹ năng phù hợp”. Tuy nhiên, các thuật ngữ này vẫn còn
    được đề cập đến ngày nay và là nền tảng cho các khái niệm.
    Thái độ hoài nghi nghề nghiệp được định nghĩa và áp dụng không đồng nhất trong nhiều ngữ
    cảnh khác nhau. Nguồn gốc Hy Lạp của thuật ngữ thái độ hoài nghi nghề nghiệp là “skeptikos”,
    nghĩa là tập trung nhiều hơn vào việc nghi vấn hoặc suy nghĩ (Glover & Prawitt, 2014), điều này
    phù hợp hơn với việc duy trì thái độ khách quan hoặc trung lập. Nghĩa là không có giả định hay
    thiên vị cho đến khi tìm được bằng chứng kiểm toán để xác định liệu cơ sở dẫn liệu được khẳng
    định bởi nhà quản lý có được chấp nhận hay không. Bên cạnh đó, thái độ hoài nghi nghề nghiệp
    dưới góc độ là thái độ khá nghi ngờ hoặc nghi ngờ sẽ dẫn tới việc thực hiện kiểm toán quá mức
    và không hiệu quả (Glover & Prawitt, 2014) .
    Tác giả lựa chọn trình bày các định nghĩa về thái độ hoài nghi nghề nghiệp dưới các góc
    nhìn từ hội nghề nghiệp và các nhà nghiên cứu hàn lâm.

    102

  3. Tập 12, Số 6, 2018

    Góc độ từ cơ quan ban hành, hội nghề nghiệp.
    Theo chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 200 và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 đưa
    ra định nghĩa về thái độ hoài nghi nghề nghiệp: Là thái độ luôn nghi vấn, cảnh giác đối với những
    tình huống cụ thể có thể là dấu hiệu của sai sót do nhầm lẫn hay do gian lận, và đánh giá cẩn trọng
    đối với các bằng chứng kiểm toán.
    Theo CAQ (Center of Audit Quality) đưa ra khái niệm về thái độ hoài nghi nghề nghiệp P
    là quan điểm luôn nghi vấn, thái độ luôn luôn xét đoán cho đến khi bằng chứng đẩy đủ, thúc đẩy
    nhận thức về rủi ro và thái độ hoài nghi nghề nghiệp là kẻ thù tiềm ẩn của gian lận.
    Góc độ từ nghiên cứu hàn lâm.
    Về phương diện nghiên cứu hàn lâm, có rất nhiều nghiên cứu đưa ra khái niệm, định nghĩa
    về thái độ hoài nghi nghề nghiệp và chưa có định nghĩa nhất quán trên phương diện này. Tuy
    nhiên, có hai góc nhìn chiếm ưu thế được các nhà nghiên cứu sử dụng đó là góc nhìn trung lập
    (neutral) và khá nghi ngờ (presumptive doubt). Nghiên cứu trình bày hai định nghĩa của hai nhà
    nghiên cứu tiêu biểu về vấn đề này trên hai góc nhìn.
    Trên góc nhìn khá nghi ngờ, Nelson (2009) đưa ra định nghĩa thái độ hoài nghi nghề nghiệp
    được chỉ ra trong xét đoán và quyết định của kiểm toán viên, phản ánh rằng rủi ro được đánh giá
    cao đối với cơ sở dẫn liệu bị vi phạm và trên điều kiện về các thông tin sẵn có mà kiểm toán viên
    thu thập được.
    Trên góc nhìn trung lập, Hurtt (2010) đưa ra định nghĩa thái độ hoài nghi nghề nghiệp là
    đặc trưng cá nhân được đo lường đa chiều. Thái độ hoài nghi nghề nghiệp là một đặc trưng cá
    nhân, vì vậy, thái độ hoài nghi nghề nghiệp có thể vừa là đặc tính (tương đối ổn định, các thuộc
    tính cố hữu của một cá nhân) và cũng là một trạng thái (tình trạng tạm thời do các biến cố tạo ra).

    3. Khái niệm tính độc lập của kiểm toán viên

    Tính độc lập đã được xem là “tránh các tình huống có xu hướng làm giảm tính khách quan
    hoặc thiên vị cá nhân ảnh hưởng đến xét đoán chuyên môn” (Carey và cộng sự, 1966). Đặc biệt,
    tính độc lập của kiểm toán viên ngụ ý rằng “không có ảnh hưởng hoặc kiểm soát đối với hành vi,
    hành động và ý kiến của kiểm toán viên” (AAA, 1973). Tính độc lập của KTV đề cập đến khả
    năng của kiểm toán viên để thể hiện kết luận một cách trung thực và không thiên vị. Khi thảo
    luận về nền tảng của khái niệm về tính độc lập của kiểm toán viên, Pany & Reckers (1983) nhấn
    mạnh rằng khái niệm về độc lập của kiểm toán viên có nguồn gốc rất chặt chẽ từ lý do cho sự tồn
    tại của kiểm toán. Theo đó, lý do của công việc kiểm toán độc lập (nghĩa là kiểm toán độc lập)
    – thực sự là minh chứng chính cho sự tồn tại của nghiệp vụ kế toán công chứng và phát sinh từ
    sự cần thiết của thông tin tài chính đáng tin cậy. Khái niệm về tính độc lập là khái niệm nền tảng
    của lý thuyết kiểm toán (Moore và cộng sự, 2010). Độc lập cả về hình thức và tư tưởng của kiểm
    toán viên là yếu tố quan trọng trong việc duy trì niềm tin của công chúng đối với nghề kiểm toán
    (Pany & Reckers, 1983).

    4. Mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên

    Chuẩn mực kiểm toán quốc tế yêu cầu kiểm toán viên thực hiện xét đoán chuyên môn và
    duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt quá trình lập kế hoạch và thực hiện công việc

    103

  4. Mai Thị Hoàng Minh, Nguyễn Vĩnh Khương

    kiểm toán khi xác định và đánh giá rủi ro của các sai sót trọng yếu khi có được bằng chứng kiểm
    toán thích hợp và đầy đủ để làm cơ sở cho ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính dựa trên kết luận
    rút ra từ các bằng chứng thu được (IAASB, 2014: đoạn 7). Thái độ hoài nghi nghề nghiệp là thái
    độ nghi vấn cần thiết để đánh giá các bằng chứng kiểm toán quan trọng bao gồm việc đặt câu hỏi
    về nguồn gốc bằng chứng kiểm toán, độ tin cậy của các tài liệu. Thái độ hoài nghi nghề nghiệp
    cũng bao gồm việc xem xét tính đầy đủ và hợp lý của các bằng chứng kiểm toán thu thập được
    trong bối cảnh cụ thể (IAASB, 2014: đoạn A20). Vì vậy, thái độ hoài nghi nghề nghiệp là thành
    phần không thể tách rời của bộ kỹ năng kiểm toán viên và có mối liên hệ mật thiết với các khái
    niệm cơ bản về sự độc lập của kiểm toán viên và sự xét đoán chuyên môn. Thái độ hoài nghi nghề
    nghiệp có đóng góp vào chất lượng kiểm toán (IAASB, 2012).
    Tính độc lập của Kiểm toán viên tăng cường khả năng hành động của kiểm toán viên với
    tính chính trực, khách quan và duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Tính độc lập của kiểm toán
    viên là nền tảng của nghề kiểm toán (Falk và cộng sự, 1999; Mautz và Sharaf, 1961) và là cơ sở
    cho công việc và tính hợp pháp của các kế toán viên công chứng hiện nay (Arens và cộng sự,
    2002; Levitt, 2000). Có cam kết mà không có tính độc lập, kiểm toán sẽ là vô nghĩa (Power, 1999).
    Độc lập bao gồm độc lập trong tư tưởng (còn gọi là độc lập trên thực tế) và độc lập trong hình
    thức. Hai khía cạnh độc lập này có liên quan nhưng có cấu trúc khác nhau bị ảnh hưởng bởi các
    biến số khác nhau và các quan điểm. Bài báo này giới hạn tính độc lập trong tư tưởng là trạng thái
    tâm trí cho phép kiểm toán viên thể hiện kết luận không bị ảnh hưởng tới xét đoán chuyên môn,
    do đó, cho phép kiểm toán viên hành động với tính chính trực và tính khách quan và thái độ hoài
    nghi nghề nghiệp (IFAC, 2015).
    Thứ nhất, thái độ về tính độc lập của KTV (tư tưởng) là tiền đề quan trọng của thái độ hoài
    nghi nghề nghiệp. Tính độc lập của KTV tăng khả năng xét đoán chuyên môn với tính chính trực
    và khách quan khi kiểm toán viên xác định được sự tồn tại của vấn đề tiềm ẩn và khi kiểm toán
    viên thay đổi các hành động của thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Tính độc lập của kiểm toán viên
    là điều kiện tiên quyết cần thiết cho các xét đoán và hành động của thái độ hoài nghi nghề nghiệp,
    điều này rất cần thiết cho cuộc kiểm toán và kết quả đầu ra của thái độ hoài nghi nghề nghiệp.
    Mặt khác, các mối nguy cơ đối với tính độc lập là những động lực mạnh mẽ tạo ra thái độ hoài
    nghi nghề nghiệp, dẫn đến việc kiểm toán viên không nhận ra vấn đề (thiếu xét đoán của thái độ
    hoài nghi nghề nghiệp) hoặc không thành công về hành động dựa trên vấn đề đã tìm thấy (thiếu
    hành động của thái độ hoài nghi nghề nghiệp). Ví dụ về các mối nguy cơ đối với tính độc lập
    là: Nguy cơ do tư lợi; Nguy cơ tự kiểm tra; Nguy cơ về sự bào chữa; Nguy cơ từ sự quen thuộc;
    Nguy cơ bị đe dọa. Các nguy cơ đến tính độc lập của kiểm toán viên và tính độc lập sẽ phản ánh
    về niềm tin của kiểm toán viên về tính chính trực của nhà quản lý, cảm nhận đối với nhà quản lý
    và ý định, hành động phản ánh mức độ mà KTV đối mặt (tiếp cận) hoặc thừa nhận (tránh) trong
    các tình huống xung đột.
    Thứ hai, có hai khía cạnh để phân tích sự độc lập của kiểm toán viên. Khía đầu tiên là sự
    độc lập của doanh nghiệp kiểm toán liên quan đến sự sẵn lòng hành động của kiểm toán viên theo
    chuẩn mực kiểm toán và báo cáo những sai sót tìm thấy trong suốt quá trình kiểm toán. Theo quy
    định về đạo đức nghề nghiệp của IESBA nhận định rằng vì lợi ích công chúng, vì vậy, các thành
    viên của nhóm kiểm toán phải độc lập với đơn vị khách hàng (IFAC, 2015). Giả định cơ bản là

    104

  5. Tập 12, Số 6, 2018

    kiểm toán viên có thể đạt được mức độ độc lập cao mà người sử dụng có thể dựa vào báo cáo tài
    chính đã được kiểm toán, được xem là đánh giá không thiên vị về tình hình tài chính của công ty.
    Cho đến nay, các chuẩn mực kiểm toán dựa trên giả thuyết của Mautz và Sharaf (1961)
    rằng “kiểm toán viên không giữ lại thông tin hoặc cố ý làm sai lệch báo cáo kiểm toán (Jeppesen,
    1998). Cách tiếp cận tương tự đối với các nghiên cứu hàn lâm. Lĩnh vực nghiên cứu về năng lực
    của kiểm toán viên tập trung vào các phương pháp kiểm toán, giả định rằng khả năng phát hiện
    sai sót là một vấn đề kỹ thuật và nhận thức và không liên quan đến hành vi của các kiểm toán
    viên (Humphrey, 2008; Salterio, 2012). Do đó, ở cấp độ doanh nghiệp kiểm toán, cải cách thường
    tập trung vào các cơ chế xung quanh việc tạo ra tính độc lập cho doanh nghiệp kiểm toán. IFAC
    (2015) đã xây dựng khung lý thuyết về tính độc lập nhằm mục đích giúp các công ty và các thành
    viên của nhóm kiểm toán đạt được và duy trì sự độc lập.
    Khía cạnh thứ hai đối với tính độc lập là hoạt động độc lập. Điều này liên quan đến năng
    lực của kiểm toán viên để làm việc đạt hiệu quả để phát hiện các vấn đề sai sót trọng yếu bất kể
    hành vi của kiểm toán viên. Tính độc lập trong hoạt động của kiểm toán viên không được giải
    quyết bằng thực hành và không thể đạt được thông qua các đo lường thông qua doanh nghiệp, và
    các sắp xếp trình tự thời gian tại doanh nghiệp kiểm toán nhằm đảm bảo tính độc lập hoạt động
    sẽ không hiệu quả. Thực tế về tính độc lập của kiểm toán viên vẫn còn chưa rõ ràng và cần được
    tiếp tục nghiên cứu trong tương lai (Gue’nin-Paracini và cộng sự, 2015).
    Thứ ba, mối quan hệ giữa kiểm toán viên và khách hàng làm cho kiểm toán viên gặp nhiều
    nguy cơ khác nhau đến tính độc lập. Kiểm toán viên được được nhìn nhận có nguy cơ tư lợi trong
    việc cung cấp dịch vụ kiểm toán (Staubus, 2005). Giả định rằng kiểm toán viên sẵn sàng tối đa
    hóa lợi ích của mình. Do đó, các quyết định về tính độc lập của KTV chỉ dựa trên lợi ích riêng
    (DeAngelo, 1981). Vấn đề ở đây được hiểu là một vấn đề tạo động lực để làm giảm mức độ hoài
    nghi nghề nghiệp. Trong mối quan hệ này, khách hàng có quyền thuê và dừng hợp đồng với doanh
    nghiệp kiểm toán (Bazerman và cộng sự, 2006; Guiral và cộng sự, 2010), khiến một số kiểm
    toán viên tập trung nhiều hơn vào hậu quả của việc mất khách hàng (Knechel và cộng sự, 2013,
    Bazerman và cộng sự, 1997, Bazerman và cộng sự, 2006, Guiral và cộng sự, 2010). Hơn thế nữa,
    có bằng chứng về mối quan ngại về kiểm soát luồng thông tin của nhà quản lý đối với kiểm toán
    viên (Morrison, 2004). Thông tin do khách hàng cung cấp có thể ảnh hưởng đến các xét đoán của
    kiểm toán viên (ví dụ, đánh giá tính hợp lý của số dư tài khoản), có khả năng làm “xói mòn” tính
    độc lập của kiểm toán viên (Pike và cộng sự, 2013; Frankel và cộng sự, 2002).
    Nghiên cứu gợi ý rằng mối quan hệ tiếp diễn của kiểm toán viên với khách hàng (nhiệm kỳ
    kiểm toán viên) có thể làm tăng nguy cơ thân thuộc (mối đe dọa đối với tính độc lập) và ngược lại,
    thiên vị (Tan, 1995) khiến cho kiểm toán viên khó duy trì mức độ độc lập theo thời gian (Ference,
    2013). Các nghiên cứu thực nghiệm khác gợi ý rằng sự quen thuộc có thể dẫn đến sự tin tưởng
    quá mức của các kiểm toán viên đối với các giải thích và tuyên bố của khách hàng. Rose (2007)
    phát hiện ra rằng các kiểm toán viên tin tưởng ít có khả năng theo dõi các bằng chứng về báo cáo
    bị quản trị lợi nhuận và có thể có sai sót trọng yếu so với các kiểm toán viên khác. Theo thời gian
    và sự quen thuộc ngày càng tăng, hiệu ứng này sẽ tăng lên một cách tự nhiên. Khi mối quan hệ
    giữa kiểm toán viên và khách hàng kéo dài, sự tin tưởng trở nên mạnh mẽ hơn (Rennie và cộng
    sự, 2010). Mặc dù, sự tin tưởng là cần thiết để bắt đầu cuộc kiểm toán (Richard, 2006, Rennie và

    105

  6. Mai Thị Hoàng Minh, Nguyễn Vĩnh Khương

    cộng sự, 2010), sự tin tưởng quá mức có thể làm suy yếu tính độc lập ảnh hưởng đến khả năng
    hành động, khách quan và duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp.
    Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa kiểm toán viên và khách hàng cũng tạo ra mâu thuẫn về lợi
    ích. Cơ hội xung đột lợi ích là điểm yếu cơ bản của mối quan hệ giữa kiểm toán viên và khách
    hàng. Xung đột lợi ích là sự đối lập giữa những gì tốt cho mỗi cá nhân và nghĩa vụ của cá nhân
    (Malhotra và Bazerman, 2007). Đối với kiểm toán viên, mâu thuẫn quyền lợi dưới hình thức lựa
    chọn giữa tối đa hóa lợi ích cá nhân kiểm toán viên và lợi ích kinh doanh của doanh nghiệp kiểm
    toán so với nghĩa vụ hành động theo chuẩn mực vì lợi ích công chúng (Malhotra và Bazerman,
    2007). Moore và cộng sự (2010) cho rằng KTV phải đối mặt với xung đột lợi ích có thể gặp khó
    khăn nhưng không phải là không thể, chỉ cần lựa chọn với tính khách quan. Kiểm toán viên ít khi
    bị nguy cơ trở thành bị mua chuộc. Tuy nhiên, nhiều cá nhân phải đối mặt với các động cơ mâu
    thuẫn mạnh mẽ làm cho khó duy trì tính độc lập hoàn toàn (Moore và cộng sự, 2010).
    Xung đột lợi ích có thể được quan sát ở cấp độ doanh nghiệp kiểm toán. Các nhà nghiên
    cứu cho rằng có sự tồn tại của các hoạt động hành lang trong các doanh nghiệp kiểm toán mà các
    nhóm lợi ích đặc biệt thường có ảnh hưởng thành công đến các kết quả cuối cùng vì lợi ích của
    mình thay vì lợi ích công chúng (Bazerman và Moore, 2011). Đạo luật Sarbanes-Oxley (2002)
    đưa ra một số cải cách, trong đó có luân chuyển kiểm toán viên với nhiệm kỳ năm năm. Tuy nhiên,
    Đạo luật trên thực tế chỉ đòi hỏi sự luân chuyển đối với chủ phần hùn, chứ không phải đối với
    doanh nghiệp kiểm toán (Moore và cộng sự, 2006).
    Ngoài ra, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp kiểm toán là vấn đề cần quan tâm. Các doanh
    nghiệp kiểm toán cố gắng tăng số lượng hợp đồng kiểm toán có thể làm giảm tính độc lập của
    kiểm toán viên. Bên cạnh đó, đồng thời tham gia tư vấn và kiểm toán cũng là những thực tiễn mâu
    thuẫn. Vì hai nhiệm vụ này không nên thực hiện cho cùng tổ chức. Tư vấn có tác động nghịch
    chiều đến tính độc lập của kiểm toán viên.
    Việc phân tích mối quan hệ giữa kiểm toán viên và khách hàng chỉ ra những vấn đề trong
    việc tác động đến tính độc lập của kiểm toán viên và những áp lực mâu thuẫn nhau có thể tồn tại
    giữa hình thức về tính độc lập và hoạt động thực tiễn về tính độc lập trong lĩnh vực kiểm toán.
    Các nhà nghiên cứu cần thực hiện các nghiên cứu tiếp theo đối với vấn đề này (Gue’nin-Paracini
    và cộng sự, 2015). De Almeida (2015) đề xuất rằng kể từ khi vấn đề tính độc lập trong lĩnh vực
    kiểm toán là vấn đề trọng tâm trong mối quan hệ trách nhiệm trong xã hội hiện đại nên đây là đối
    tượng phân tích lý thuyết và thực nghiệm trong các nghiên cứu tương lai phân tích mối quan hệ
    giữa kiểm toán viên và khách hàng dưới góc nhìn lý thuyết bản sắc xã hội.

    5. Kết luận

    Mục đích của bài báo này là nhằm góp phần hiểu rõ hơn về mối quan hệ trực tiếp giữa thái
    độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên. Việc phân tích các nghiên cứu trước
    đây về các vấn đề còn tồn tại cho thấy tính độc lập của kiểm toán viên, nền tảng của nghề kiểm
    toán giúp tăng cường khả năng hành động của kiểm toán viên với tính chính trực, khách quan và
    duy trì thái độ của thái độ hoài nghi nghề nghiệp. Vì vậy, tính độc lập là tiền đề cơ bản của thái độ
    hoài nghi nghề nghiệp. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu cho rằng tính độc lập của kiểm toán viên là
    không thể do nguy cơ tư lợi và xung đột lợi ích do kết quả của mối quan hệ giữa kiểm toán viên

    106

  7. Tập 12, Số 6, 2018

    và khách hàng. Những mối nguy cơ đối với tính độc lập của kiểm toán viên có tác động tiêu cực
    và làm giảm mức độ hoài nghi nghề nghiệp. Dẫn đến, KTV sẽ rất khó khăn để thể hiện mức độ
    hoài nghi nghề nghiệp khi đưa ra xét đoán chuyên môn. Từ đó, làm nền tảng cho các nghiên cứu
    trong tương lai có thể được tiến hành để xem xét các mô hình lý thuyết về đạo đức để giúp nâng
    cao tính độc lập của kiểm toán viên và tác động đến thái độ hoài nghi nghề nghiệp.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. APB (Auditing Practice Board), Auditor scepticism: Raising the bar feedback paper, Financial
    Reporting Council, London, (2011).
    2. APB, Professional skepticism: Establishing a common understanding and reffirming its central role
    in delivering audit quality, The Financial Reporting Council, London, (2012).
    3. Arens, A., Loebbecke, J.K, Lemon, W.M, Splettstoesser, I.B., Auditing and other assurance services,
    Prentice Hall, Toronto, (2002).
    4. Bazerman, M.H., Conducting influential research: The need for prescriptive implications, Academy
    of Management Review, Vol 30, pp. 25-31, (2005).
    5. Bazerman, M.H. and Moore, D., Is it time for auditor independence yet?, Accounting, Organizations
    and Society, Vol. 36, pp.310-312, (2011).
    6. Bazerman, M.H., Loewenstein, G. and Moore, D.A., Why good accountants do bad audits, Harvard
    Business Review, pp.97-102, (2002).
    7. Chugh, D., Bazerman, M.H. and Banaji, M.R., Bounded ethicality as a psychological barrier to
    recognizing conflicts of interest in Moore, D.A., Cain, D.M., Loewenstein, G., et al. (Eds.) Conflicts
    of Interest, Cambridge University Press, Cambridge, pp. 78-95, (2005).
    8. De Almeida, B.M., Empirical observation of the criteria for independence in auditing: Perception of
    auditors and teachers, Review of Applied Management Studies, Vol.13, pp.1224, (2015).
    9. DeAngelo, L.E., Auditor independence, ‘low balling’ and disclosure regulation, Journal of
    Accounting and Economics, Vol.3, pp.113-127, (1981).
    10. Falk, H., Lynn, B., Mestelman, S., & Shehata, M., Auditor independence, self-interested behavior
    and ethics: some experimental evidence, Journal of Accounting and Public Policy, 18(4-5), 395-428.
    11. Ference, S. B., Independence is in the eye of the beholder. Journal of Accountancy, 215(6), 18,
    (2013).
    12. FMA (Financial Markets Authority)., Audit quality review report, The FMA, Auckland, (2013).
    13. FMA., Audit quality review report, The FMA, Auckland, (2014).
    14. Francis, J.R., A framework for understanding and researching audit quality, Auditing: A Journal of
    Practice & Theory, Vol.30, pp.125-152, (2011).
    15. Frankel, R.M., Johnson, M.F. and Nelson, K.K., The relation between auditors’ fees for non- audit
    services and earnings management, The Accounting Review, Vol.77, pp.71-105, (2002).
    16. FRC., Audit quality framework, FRC, London, (2008).
    17. FRC. (Financial Reporting Council), Promoting audit quality: Discussion paper, FRC, London,
    (2006).
    18. Glover, S.M. and Prawitt, D.F., Enhancing auditor professional skepticism: The professional
    skepticism continuum. Current Issues in Auditing, 8, (2), P1-P10, (2014).
    19. Gue´nin-Paracini, H., Malsch, B. and Tremblay, M., On the operational reality of auditors’independence:
    Lessons from the field, Auditing: A Journal of Practice & Theory, Vol.34, pp.201-236, (2015).

    107

  8. Mai Thị Hoàng Minh, Nguyễn Vĩnh Khương

    20. Guiral, A., Rodgers, W., Ruiz, E., & Gonzalo, J. A., Ethical dilemmas in auditing: Dishonesty or
    unintentional bias?, Journal of business ethics, 91(1), 151-166, (2010).
    21. Hatfield, R.C., Jackson, S.B. and Vandervelde, S.D., The effects of prior audit involvement and
    client pressure on proposed audit adjustments, Behavioral Research in Accounting, Vol.23,
    pp.117-130, (2011).
    22. Humphrey, C., Auditing research: a review across the disciplinary divide. Accounting, Auditing &
    Accountability Journal, 21(2), 170-203, (2008).
    23. Hurtt, R.K., Development of a scale to measure professional skepticism, AUDITING: A Journal of
    Practice & Theory, 29, (1), 149-171, (2010).
    24. Hurtt, R.K., Brown-Liburd, H., Earley, C.E. and Krishnamoorthy, G., Research on auditor
    professional skepticism: Literature synthesis and opportunities for future research. AUDITING: A
    Journal of Practice & Theory, 32, (sp1), 45-97, (2013).
    25. IAASB., Professional skepticism in an audit of financial statements. Staff Questions and Answers,
    IFAC, New York, (2012).
    26. IFAC., The IESBA Code of Ethics for Professional Accountants, IFAC, New York, (2015).
    27. Knechel, W.R., Krishnan, G.V., Pevzner, M., Shefchik, L.B., and Velury, U. K., Audit quality:
    Insights from the academic literature, Auditing: A Journal of Practice & Theory, Vol.32, pp.385-421,
    (2013b).
    28. Krishman, J., Auditor switching and conservatism, The Accounting Review, Vol.69, pp.200-215,
    (1994).
    29. Levitt, A., Testimony Concerning: Commission’s Auditor Independence Proposal, Nueva York,
    EEUU. (http://www. sec. gov/news/testimony/ts152000. htm), (2000).
    30. Malhotra, D., & Bazerman, M. H., Conflicts of interest. Leadership Excellence, 24(12), 16, (2007).
    31. Mautz, R. K., & Sharaf, H. A., The philosophy of auditing, (No. 6), American Accounting Association,
    (1961).
    32. McDaniel, L.S. and Kinney Jr, W.R., Expectation-formation guidance in the auditor’s review of
    interim financial information, Journal of Accounting Research, Vol. 33, pp. 59-76, (1995).
    33. Moore, D.A., Tanlu, L. and Bazerman, M.H., Conflict of interest and the intrusion of bias, Judgment
    and Decision Making, Vol. 5, pp. 37-53, (2010).
    34. Moore, D.A., Tetlock, P.E., Tanlu, L., et al., Conflicts of interest and the case of auditor independence:
    Moral seduction and strategic issue cycling, Academy of Management Review, Vol. 31, pp. 10-29,
    (2006).
    35. Morrison, M. A., Rush to judgment: the lynching of Arthur Andersen & Co. Critical Perspectives on
    Accounting, 15(3), 335-375, (2004).
    36. Nelson, M.W., A model and literature review of professional skepticism in auditing, Auditing: A
    Journal of Practice and Theory, Vol. 28, pp. 1-34, (2009).
    37. Pany, K., & Reckers, P. M., Auditor independence and nonaudit services: Director views and their
    policy implications, Journal of Accounting and Public Policy, 2(1), 43-62, (1983).
    38. PCAOB. (Public Company Accounting Oversight Board), Staff Audit Practice Alert No. 10,
    Maintaining and applying professional skepticism in audits, The PCAOB, Washington, (2012).
    39. Pike, B. J., Curtis, M. B., & Chui, L., How does an initial expectation bias influence auditors’
    application and performance of analytical procedures?, The Accounting Review, 88(4), 1413-1431,
    (2013).

    108

  9. Tập 12, Số 6, 2018

    40. Power, M., The Audit Society: Rituals of verification, Oxford University press, Oxford, (1999).
    41. Rennie, M.D., Kopp, L.S. and Lemon, W.M., Exploring trust and the auditor-client relationship:
    Factors influencing the auditor’s trust of a client representative, Auditing: A Journal of Practice &
    Theory, Vol. 29, pp. 279-293, (2010).
    42. Richard, C., Why an auditor can’t be competent and independent: A french case study, European
    accounting review, 15(2), 153-179, (2006).
    43. Rose, J. M., Attention to evidence of aggressive financial reporting and intentional misstatement
    judgments: Effects of experience and trust. Behavioral Research in Accounting, 19(1), 215-229,
    (2007).
    44. Salterio, S. E., Fifteen years in the trenches: Auditor-client negotiations exposed and explored,
    Accounting & Finance, 52(s1), 233-286, (2012).
    45. Staubus, G. J., Ethics failures in corporate financial reporting, Journal of Business Ethics, 57(1),
    5-15, (2005).
    46. Tan, H. T., Effects of expectations, prior involvement, and review awareness on memory for audit
    evidence and judgment, Journal of Accounting Research, 113-135, (1995).

    109

Download tài liệu Các nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ hoài nghi nghề nghiệp và tính độc lập của kiểm toán viên File Word, PDF về máy