[Download] Tải Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng
Nội dung Text: Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

Download


“Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng” trình bày khái niệm và quy trình của từng hình thức cấp tín dụng; sự khác nhau giữa các hình thức cấp tín dụng; ví dụ minh họa về từng hình thức cấp tín dụng.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng File Word, PDF về máy

Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

  1. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    BÀI 5 CÁC NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG

    Hướng dẫn học
    Bài này giới thiệu về các nghiệp vụ tín dụng theo các hình thức cấp tín dụng của ngân
    hàng thương mại. Sinh viên cần hiểu được khái niệm, quy trình cũng như ưu nhược
    điểm của từng nghiệp vụ, phân biệt được sự khác nhau giữa các hình thức cấp tín dụng.
    Ngoài ra, sinh viên cũng cần vận dụng được các nghiệp vụ này để giải quyết những tình
    huống thực tế trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng.
    Để học tốt bài này, học viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu:
    1. Giáo trình Quản trị Ngân hàng thương mại, PGS. TS. Phan Thị Thu Hà, NXB Giao
    thông vận tải.
    2. Quản trị Ngân hàng thương mại (Commercial Bank Management), Peter S. Rose,
    Nhà xuất bản Tài chính.
     Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc
    qua email.
     Trang Web môn học.
    Nội dung
    Bài này nêu khái niệm, quy trình, ưu nhược điểm của 5 hình thức cấp tín dụng của ngân
    hàng, đó là cho vay, chiết khấu, cho thuê, bảo lãnh và bao thanh toán. Bài học cũng
    minh hoạ từng hình thức bằng các ví dụ cụ thể để sinh viên có thể vận dụng nhằm giải
    quyết các tình huống thực tế.
    Mục tiêu
     Trình bày được các khái niệm và quy trình của từng hình thức cấp tín dụng.
     Phân biệt được sự khác nhau giữa các hình thức cấp tín dụng.
     Phân tích và lấy ví dụ minh họa về từng hình thức cấp tín dụng.

    NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226 43

  2. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    Tình huống dẫn nhập
    Cho vay theo hạn mức tín dụng
    Ngày 15/9/2012, doanh nghiệp A đề nghị vay vốn lưu động để thực hiện một phương án kinh
    doanh là sản xuất quần áo may sẵn. Có các thông tin như sau (đơn vị tiền: triệu đồng):
     Nhu cầu tài sản lưu động: 720
     Vốn tự có trong phương án kinh doanh: 520
     Thời hạn đề nghị vay: 3 tháng. Trả nợ gốc và lãi một lần khi đến hạn từ nguồn tiền hàng thu
    được theo hợp đồng bán hàng với bên tiêu thụ.
     Tài sản đảm bảo theo thẩm định của ngân hàng:

     Một bất động sản: 400

     Một động sản: 300
     Theo chính sách tín dụng của ngân hàng:

     Vốn tự có của khách hàng tham gia vào phương án tối thiểu chiếm 50% nhu cầu tài sản
    lưu động.

     Mức cho vay của ngân hàng tối đa chiếm 50% giá trị tài sản thế chấp và 60% giá trị tài
    sản cầm cố.
     Khi thẩm định khách hàng, nhân viên tín dụng tập hợp các thông tin sau:

     Các yếu tố về tài chính, pháp lý, uy tín, tính hợp lý, nguồn trả nợ khả thi… của phương án
    đều rất tốt, đáp ứng mọi yêu cầu của ngân hàng.

     Trong hợp đồng thương mại, các khoản phải trả cho phương án với thời hạn 2 tháng là 80
    triệu đồng ; các khoản phải thu của phương án bằng 0.
    Với phương án trên, khách hàng đề nghị vay 200 triệu đồng. Ngân hàng chấp nhận cấp hạn mức
    200 triệu đồng trong thời hạn 3 tháng. Ngày 1/10/2005, khách hàng đề nghị giải ngân toàn bộ
    hạn mức và được ngân hàng chấp nhận.

    1. Ngân hàng xác định hạn mức tín dụng cho phương án là 200 triệu đồng.
    Đúng hay sai? Vì sao?

    2. Ngân hàng chấp nhận giải ngân như vậy đúng hay sai? Vì sao?

    44 NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226

  3. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    5.1. Phân loại tín dụng

    5.1.1. Phân loại theo thời hạn tín dụng
    Phân chia theo thời hạn tín dụng có ý nghĩa quan trọng
    với ngân hàng, vì thời hạn liên quan mật thiết đến tính
    an toàn và sinh lời của tín dụng cũng như khả năng
    hoàn trả của khách hàng. Tuy nhiên, việc xác định thời
    hạn trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì nhiều khoản
    cho vay không xác định trước được chính xác thời hạn.
    Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng được phân thành:
    Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn từ 12 tháng trở xuống, thường được dùng để tài trợ cho
    tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp hoặc nhu cầu tiêu dùng có giá trị nhỏ của cá nhân.
    Tín dụng trung hạn: Có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm, thường được dùng để tài
    trợ cho các tài sản cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng, vật nuôi, trang
    thiết bị nhanh hao mòn hoặc nhu cầu tiêu dùng có giá trị lớn của cá nhân.
    Tín dụng dài hạn: Có thời hạn trên 5 năm, thường được dùng để tài trợ cho các công
    trình xây dựng như nhà cửa, sân bay, cầu, đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, hoặc
    nhu cầu tiêu dùng có giá trị lớn của cá nhân. Đây là những tài sản được sử dụng lâu dài.
    Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại thường cao hơn tín dụng trung
    và dài hạn, do các ngân hàng chủ yếu có nguồn vốn kỳ hạn ngắn nên tập trung tài trợ cho
    nhu cầu vốn ngắn hạn của khách hàg. Tín dụng trung và dài hạn thường có tỷ trọng thấp
    hơn do rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt và khan hiếm hơn. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến
    tỷ lệ này như kỳ hạn và tính ổn định của nguồn vốn, khả năng quản lý thanh khoản của
    ngân hàng, khả năng dự báo và dự phòng rủi ro trong trung và dài hạn…

    5.1.2. Phân loại theo hình thức tài trợ
    Theo hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính,
    chiết khấu và bao thanh toán.
    Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho
    khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất
    định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Cho vay là hình thức
    cấp tín dụng chủ yếu của ngân hàng. Cho vay thường được định lượng theo 2 chỉ tiêu:
    doanh số cho vay trong kỳ và dư nợ cuối kỳ. Doanh số cho vay trong kỳ là tổng số
    tiền mà ngân hàng đã cho vay ra trong kỳ. Dư nợ cuối kỳ là số tiền mà ngân hàng hiện
    đang còn cho vay vào thời điểm cuối kỳ. Trên bảng cân đối kế toán, cho vay được thể
    hiện dưới hình thức dư nợ cho vay. Một số ngân hàng thường ghi giảm dư nợ bằng
    phần trích lập dự phòng rủi ro tín dụng.
    Chiết khấu là việc mua ngân hàng mua các giấy tờ có giá của người thụ hưởng trước
    khi đến hạn thanh toán với giá nhỏ hơn giá trị của giấy tờ có giá tại thời điểm đáo hạn.
    Giá chiết khấu (hay mua của ngân hàng) phụ thuộc vào mệnh giá của giấy tờ có giá,
    thời gian đáo hạn còn lại và lãi suất thị trường, chứ không phụ thuộc vào lãi suất trên
    giấy tờ có giá.

    NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226 45

  4. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    Cho thuê tài chính là việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản để cho khách hàng thuê
    theo những thỏa thuận nhất định. Trong thời gian thuê, khách hàng phải trả gốc và lãi
    cho ngân hàng dưới hình thức tiền thuê. Trên bảng cân đối kế toán, dư nợ cho thuê
    được ghi với giá trị bằng giá trị tài sản cho thuê trừ đi phần thu gốc trong tiền thuê
    ngân hàng đã thu được.
    Bảo lãnh ngân hàng là việc ngân hàng cam kết với bên
    nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính
    thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện
    hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết;
    khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng
    bảo lãnh theo thỏa thuận. Mặc dù không phải xuất tiền
    ra, nhưng ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng uy
    tín của mình để tăng thu nhập. Số dư bảo lãnh được
    ghi vào tài khoản ngoại bảng, đó là giá trị mà ngân hàng cam kết trả thay khách hàng
    của mình. Phần giá trị bảo lãnh ngân hàng phải trả thay cho khách hàng được ghi vào
    tài sản nội bảng (mục dư nợ cho vay và được tính lãi quá hạn).
    Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các
    khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo hợp đồng
    mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ. Khi bán các khoản phải thu cho ngân hàng,
    người bán hàng về cơ bản đã chuyển quyền sở hữu các khoản phải thu cho ngân hàng
    thực hiện bao thanh toán, bằng cách chỉ định ngân hàng có được tất cả các quyền liên
    quan đến các khoản phải thu. Theo đó, ngân hàng có được quyền nhận các khoản
    thanh toán của người mua với số tiền nhận nợ trong hợp đồng mua, bán hàng hoá,
    cung ứng dịch vụ, và trong bao thanh toán miễn truy đòi, ngân hàng còn phải chịu
    những tổn thất nếu người mua không trả số tiền nhận nợ đó. Thông thường, người
    mua được thông báo về việc bán khoản phải thu, và phải chuyển tiền trả cho ngân
    hàng khi đến hạn thanh toán.

    5.1.3. Phân loại theo hình thức đảm bảo
    Theo hình thức đảm bảo, tín dụng được chia thành tín dụng không có đảm bảo (tín
    chấp) và tín dụng có đảm bảo bằng tài sản (dưới hình thức thế chấp hoặc cầm cố). Về
    nguyên tắc, mọi khoản tín dụng của ngân hàng đều có đảm bảo. Tuy nhiên, ngân hàng
    chỉ nhận làm đảm bảo những tài sản mà ngân hàng có thể bán đi để thu hồi nợ nếu
    khách hàng không trả được nợ.
    Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản mà mình
    đang sở hữu hoặc sử dụng (đối với quyền sử dụng đất), hoặc sẽ có quyền sở hữu/sử
    dụng (đối với tài sản hình thành từ vốn vay), hoặc tài sản của người thứ ba, để trả nợ
    cho ngân hàng. Khi cấp tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo, ngân hàng và khách hàng
    phải ký hợp đồng bảo đảm. Trong quá trình quản lý tín dụng, ngân hàng thường xuyên
    kiểm tra, đánh giá tình trạng của tài sản đảm bảo (quyền sở hữu, giá trị thị trường, khả
    năng bán lại trên thị trường, khả năng tài chính của người bảo lãnh…), giám sát việc
    vận hành, bảo dưỡng tài sản đảm bảo.
    Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho khách hàng có uy tín, thường
    là khách hàng có mối quan hệ tín dụng thường xuyên, thu nhập ổn định, tình hình tài

    46 NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226

  5. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so
    với tổng tài sản của khách hàng. Các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ, cho
    vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn, hoặc các khoản cho vay trong
    thời gian ngắn mà các ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng… cũng có thể
    không cần tài sản đảm bảo.

    5.1.4. Phân loại theo rủi ro
    Các khoản cho vay cần được phân loại theo mức độ rủi
    ro (hay khả năng thu hồi nợ) để ngân hàng có thể áp
    dụng biện pháp quản lý phù hợp. Để phân loại theo rủi
    ro, ngân hàng cần xây dựng căn cứ để đánh giá và xếp
    loại rủi ro. Thông thường, ngân hàng thiết lập hệ thống
    xếp hạng tín dụng nội bộ để đánh giá và phân loại nợ
    theo các thang bậc khác nhau. Một số ngân hàng lớn
    phân chia tín dụng theo 10 thang bậc rủi ro theo các dấu hiệu rủi ro từ thấp đến cao.
    Phân loại tín dụng theo rủi ro giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại chất lượng tín
    dụng, làm cơ sở để quản lý một cách thích hợp những khoản cho vay hiện hành, cấp
    tín dụng bổ sung cho khách hàng, và trích lập dự phòng cho những khoản tín dụng có
    rủi ro cao.
    Thông thường, ngân hàng phân loại tín dụng thành 5 nhóm như sau:
     Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là
    có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn, và các cam kết ngoại bảng
    được ngân hàng đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
    theo cam kết.
     Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: Các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là có
    khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi nhưng có dấu hiệu khách hàng suy giảm
    khả năng trả nợ, và các cam kết ngoại bảng được ngân hàng đánh giá là khách
    hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết nhưng có dấu hiệu suy giảm
    khả năng thực hiện cam kết.
     Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là
    không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn (có khả năng tổn thất), và các
    cam kết ngoại bảng được ngân hàng đánh giá là khách hàng không có khả năng
    thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết.
     Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được ngân hàng đánh giá là có khả
    năng tổn thất cao, và các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực
    hiện cam kết là rất cao.
     Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được ngân hàng đánh
    giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn, và các cam kết ngoại bảng mà khách
    hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết.

    5.1.5. Phân loại khác
    Theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp…)
    Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định)
    Theo mục đích (cho vay sản xuất, cho vay tiêu dùng…)

    NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226 47

  6. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hóa trong cấp tín dụng
    của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ song
    vẫn có thể duy trì lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế. Ví dụ, Ngân hàng Nông nghiệp và
    Phát triển Nông thôn Việt Nam, bên cạnh việc đa dạng hóa các ngành tài trợ, vẫn tập
    trung tài trợ cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Cách phân loại trên cho phép
    ngân hàng theo dõi rủi ro và khả năng sinh lợi gắn liền với những lĩnh vực tài trợ, để
    có chính sách lãi suất, đảm bảo, hạn mức và chính sách mở rộng phù hợp.

    5.2. Cho vay

    5.2.1. Thấu chi
    Thấu chi là nghiệp vụ qua đó ngân hàng cho phép người vay được chi trội (vượt) trên
    số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời
    gian xác định. Giới hạn này được gọi là hạn mức thấu chi.

    Số dư tiền
    gửi thanh
    toán
    Số dư tiền gửi
    thanh toán

    Vay ngân
    Hạn mức Thời gian
    hàng
    thấu chi

    Hình 5.1: Cho vay thấu chi

    Để được thấu chi, khách hàng cần làm đơn xin ngân hàng hạn mức thấu chi và thời gian
    thấu chi (có thể phải trả phí cam kết cho ngân hàng). Trong quá trình hoạt động, khách
    hàng có thể ký séc, lập ủy nhiệm chi, mua thẻ… vượt quá số dư tiền gửi để chi trả (song
    trong hạn mức thấu chi). Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản tiền gửi ngân hàng
    sẽ thu nợ gốc và lãi. Số tiền lãi mà khách hàng phải trả được tính theo công thức:
    Lãi suất thấu chi × Thời gian thấu chi × Số tiền thấu chi
    Các khoản chi quá hạn mức thấu chi sẽ chịu lãi suất phạt và bị đình chỉ sử dụng hình
    thức này.
    Thấu chi dự trên cơ sở thu và chi của khách hàng không phù hợp về thời gian và quy
    mô. Thời gian và số lượng tiền dùng để thanh toán còn thiếu có thể được dự đoán dựa
    vào ngân quỹ, song có thể không chính xác. Do vậy, hình thức cho vay này tạo điều
    kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình thanh toán được nhanh chóng, chủ
    động, kịp thời.
    Thấu chi là hình thức tín dụng ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản, phần lớn không
    có tài sản đảm bảo, có thể cấp cho cả doanh nghiệp lẫn cá nhân vài ngày trong tháng,
    vài tháng trong năm, dùng để trả lương, chi các khoản phải nộp, mua hàng… Hình
    thức này nhìn chung chỉ sử dụng đối với các khách hàng có độ tin cậy cao, thu nhập
    đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.

    48 NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226

  7. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    5.2.2. Cho vay theo hạn mức
    Để đầu tư vào tài sản lưu động, doanh nghiệp thường phải vay vốn ngắn hạn từ ngân
    hàng nhiều lần trong năm, khách hàng và ngân hàng thường gặp một số vấn đề sau:
    Trong một năm, khách hàng có nhu cầu vay – trả nhiều lần, tuy nhiên, số dư nợ của
    mỗi kỳ vay – trả tương đối ổn định và có thể dự tính trước (hạn mức đối với từng
    khách hàng).
    Khách hàng muốn được ngân hàng cam kết đảm bảo nhu cầu tín dụng, để việc vay
    mượn nhanh chóng và chắc chắn. Ngân hàng cũng muốn biết trước nhu cầu tín dụng
    của khách hàng để chuẩn bị nguồn vốn.
    Nếu ngân hàng áp dụng cho vay từng lần, mỗi một lần “vay-trả nợ”, khách hàng phải
    làm đơn đề nghị, trình bày dự án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phải phân tích khách
    hàng, ký hợp đồng tín dụng, xác định quy mô cho vay, tài sản đảm bảo… tốn kém thời
    gian và công sức của cả ngân hàng và khách hàng.
    Đó là nguyên nhân của việc ngân hàng cho vay theo hạn mức.
    Cho vay theo hạn mức là nghiệp vụ theo đó ngân hàng thoả thuận cấp cho khách hàng
    hạn mức tín dụng trong khoảng thời gian và cho vay theo hạn mức tín dụng đó. Như
    vậy, khi cấp hạn mức, ngân hàng cam kết cho vay nếu khách hàng đủ điều kiện.
    Hạn mức tín dụng là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong một thời hạn nhất định
    (thường là 1 năm) mà ngân hàng và khách hàng đã thoả thuận trong hợp đồng hạn mức.
    Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn.
    Hạn mức được duyệt trong kỳ
    Dư nợ

    Dư nợ
    trong kỳ

    Thời gian
    Hình 5.2: Cho vay theo hạn mức duyệt trong kỳ

    Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở nhu cầu vốn để thực hiện kế hoạch sản xuất
    kinh doanh, và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Ngân hàng ước lượng hạn mức tín
    dụng đối với doanh nghiệp như sau:
     Đối với vay ngắn hạn để dự trữ hàng hóa, nguyên nhiên liệu có tính thời vụ

    Xác định nhu cầu dự trữ hợp lý cao nhất trong kỳ:
    Dự trữ thực tế cao nhất kỳ trước sau khi loại trừ những dự trữ bất hợp lý (hàng kém
    Bước 1 phẩm chất, chậm luân chuyển, hàng ko thuộc đối tượng cho vay…).

    Xác định dự trữ cao nhất hợp lý kỳ này:
    Dự trữ cao nhất hợp lý kỳ trước + Δ dự trữ (do giá hàng hóa thay đổi) + Δ dự trữ
    Bước 2 (do kế hoạch thay đổi sản lượng tiêu thụ).

    Xác định hạn mức tín dụng cao nhất trong kỳ:
    Dự trữ cao nhất hợp lý kỳ này – Vốn chủ sở hữu và các nguồn khác dùng để tài trợ
    Bước 3 cho hàng dự trữ.

    NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226 49

  8. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

     Đối với vay ngắn hạn để dự trữ hàng hóa, nguyên nhiên liệu không có tính thời vụ
    Bước 1: Xác định nhu cầu dự trữ hàng hóa, nguyên nhiên liệu bình quân trong kỳ:

    Nhu cầu dự trữ hàng Doanh số bán hàng tính theo giá vốn trong kỳ
    =
    hóa bình quân trong kỳ Vòng quay hàng hóa dự trữ trong kỳ

    Vòng quay tính được dựa trên doanh số bán hàng của kỳ trước:

    Vòng quay hàng hóa dự Doanh số bán hàng tính theo giá vốn kỳ trước
    =
    trữ kỳ trước Dự trữ hàng hóa bình quân kỳ trước

    Bước 2: Xác định nhu cầu tín dụng:

    Nhu cầu dự trữ Vốn chủ sở hữu và các
    Nhu cầu vay ngắn hạn
    = hàng hóa bình – nguồn khác dùng để tài trợ
    ngân hàng
    quân trong kỳ cho hàng dự trữ bình quân

     Đối với tín dụng trung và dài hạn

    Nhu cầu đầu tư Vốn chủ sở hữu và các
    Nhu cầu vay ngân hàng = –
    dự án nguồn khác dùng để tài trợ

    Nếu doanh nghiệp chưa vay ngân hàng, ngân hàng có thể cho vay bằng nhu cầu
    vừa tính. Nếu đã và đang vay ngân hàng thì số tiền có thể vay thêm là:

    Nhu cầu
    Số tiền có thể Dư nợ đến
    = vay ngắn hạn –
    vay thêm thời điểm xin vay
    ngân hàng

    Trong kỳ, khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần, song dư nợ không được
    vượt quá hạn mức tín dụng. Mỗi lần vay, khách hàng chỉ cần trình bày phương án
    sử dụng tiền vay, nộp các chứng từ chứng minh đã mua hàng hóa hoặc dịch vụ và
    nêu yêu cầu vay. Sau khi kiểm tra tính chất hợp pháp và hợp lệ của chứng từ, ngân
    hàng sẽ phát tiền cho khách hàng.
    Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những khách hàng vay mượn thường
    xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh (ngân
    hàng cam kết cho vay, thời gian xét duyệt cho từng lần vay nhanh, đảm bảo tiền
    vay thuận tiện). Đối với khách hàng có uy tín, ngân hàng sẽ thu nợ khi khách hàng
    có thu nhập, chứ không định kỳ hạn nợ cụ thể cho từng lần vay, do đó tạo điều
    kiện chủ động quản lí ngân quỹ cho khách hàng.
    Ví dụ về tính hạn mức tín dụng:
    Công ty thương mại Sao Mai muốn xin hạn mức vay vốn lưu động ngân hàng
    NN&PTNT X là 18 tỷ đồng. Công ty trình bản báo cáo tài chính gần nhất (số dư
    bình quân cả năm, đơn vị tính: tỷ đồng):

    50 NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226

  9. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    TÀI SẢN Số dư NGUỒN VỐN Số dư

    1. TSLĐ 32,5 1. Nợ phải trả 22,5
    – Vốn bằng tiền 0,5 – Các khoản phải trả 10
    – Các khoản phải thu 2 – Vay ngắn hạn ngân hàng X 12,5
    – Hàng dự trữ 30
    2. TSCĐ 90 2. Vốn chủ sở hữu 100
    – Nguyên giá 250
    – Hao mòn luỹ kế (160)
    Tổng Tài sản 122,5 Tổng Nguồn vốn 122,5

    Doanh thu thuần: 190
    Lợi nhuận sau thuế: 12,3
    Hiện tại công ty đang vay ngân hàng theo phương thức cho vay từng lần. Phương
    thức này gây nhiều khó khăn cho công ty, hơn nữa nhu cầu vay phát sinh thường
    xuyên nên công ty đề nghị ngân hàng chuyển thành phương thức cho vay theo hạn
    mức. Công ty cũng trình phương án mở rộng dự trữ để tăng thêm doanh thu 10%
    trong năm sau. Hãy phân tích và đưa ra phán quyết. Biết vòng quay vốn lưu động
    năm sau của công ty không thay đổi.
    Đáp án:
    Phân tích Bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, có thể thấy trong năm nay
    doanh nghiệp đang dùng 100 tỷ đồng Vốn chủ sở hữu dùng để tài trợ cho TSCĐ
    (90 tỷ đồng) và TSLĐ (10 tỷ đồng). Nguồn để tài trợ cho TSLĐ (32,5 tỷ đồng) gồm
    có VCSH (10 tỷ đồng), Tín dụng TM (10 tỷ đồng) và Vay NH X (12,5 tỷ đồng).
    Năm sau:
    Công ty cần vay NH để tài trợ cho các chi phí của mình nhưng không cần tài trợ
    cho toàn bộ chi phí trong năm mà chỉ cần đủ cho 1 vòng quay vốn. Vậy trước hết
    tính số vòng quay vốn năm nay (và cũng là vòng quay vốn năm sau):
    VVLĐ = Doanh thu / TSLĐ = 190 / 32,5 = 5,8 vòng
    Năm sau Doanh thu tăng 10% nhưng vòng quay VLĐ không thay đổi, nên doanh
    nghiệp cần lượng TSLĐ là:
    TSLĐ = (190 × 1,1) / 5,8 = 36,03 tỷ đồng
    Vậy nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp năm sau là 36,03 tỷ đồng, nhưng
    doanh nghiệp đã có VCSH (10 tỷ đồng), Tín dụng thương mại (10 tỷ đồng), nên
    chỉ cần vay thêm NH 16,03 tỷ đồng.
    NH xét đến các chỉ tiêu tài chính như ROA, ROE, vòng quay vốn, cơ cấu vốn, khả
    năng thanh toán… và lịch sử tín dụng của doanh nghiệp để xem xét việc chuyển
    hình thức vay vốn từ cho vay từng lần sang cho vay theo hạn mức tín dụng. Nếu
    được thì hạn mức tín dụng được duyệt sẽ là 16,03 tỷ đồng.

    5.2.3. Cho vay từng lần
    Cho vay từng lần là hình thức cho vay phổ biến của ngân hàng. Mỗi lần vay khách
    hàng phải làm đơn và trình ngân hàng phương án sử dụng vốn vay. Ngân hàng sẽ phân
    tích khách hàng, thẩm định dự án và ký hợp đồng cho vay, xác định mục đích, quy mô

    NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226 51

  10. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    cho vay, thời hạn giải ngân, thời hạn trả nợ, lãi suất và yêu cầu đảm bảo (nếu cần)…
    Mỗi món vay được tách biệt nhau thành các hồ sơ (khế ước nhận nợ) khác nhau. Theo
    từng kỳ hạn nợ trong hợp đồng, ngân hàng sẽ thu gốc và lãi.
    Nhu cầu vốn theo Vốn chủ sở hữu và các nguồn
    Nhu cầu vay
    = phương án sử dụng – vốn khác tham gia vào phương
    ngân hàng
    vốn vay án sử dụng vốn vay
    Trong đó:
    Giá trị các khoản mục chi
    Nhu cầu vốn theo phương Nhu cầu vốn để thực phí không thuộc đối
    = –
    án sử dụng vốn vay hiện phương án tượng tài trợ của ngân
    hàng

    Nếu cho vay dựa trên giá trị tài sản đảm bảo:
    Số tiền vay ngân hàng ≤ Giá trị tài sản đảm bảo × Tỷ lệ cho vay trên giá trị tài sản
    đảm bảo.
    Ngân hàng áp dụng cho vay từng lần đối với khách hàng không có quan hệ tín dụng
    thường xuyên với ngân hàng hoặc độ tín nhiệm thấp, hoặc vay trung và dài hạn. Việc
    xét duyệt nhu cầu vay mỗi khi phát sinh làm khách hàng mất nhiều thời gian và chi
    phí, thậm chí có thể bị lỡ mất cơ hội kinh doanh cho thời gian xét duyệt quá lâu. Tuy
    nhiên, hình thức cho vay này lại giúp ngân hàng được cập nhật thông tin về khách
    hàng trước khi cấp tín dụng, và quản lý nhu cầu vay theo từng hồ sơ riêng rẽ.

    Ví dụ về cho vay từng lần:
    Để thực hiện kế hoạch kinh doanh quý III năm 2013, Doanh nghiệp Sao Khuê đã gửi
    hồ sơ vay vốn lưu động đến Ngân hàng M kèm kế hoạch kinh doanh. Trong giấy đề
    nghị vay vốn của doanh nghiệp, nhu cầu vay là 500 triệu đồng. Qua thẩm định hồ sơ
    vay vốn, ngân hàng xác định được các số liệu sau:
     Giá trị vật tư hàng hoá cần mua vào trong quý: 800 triệu đồng
     Chi phí trả lương nhân viên: 560 triệu đồng
     Chi phí quản lý kinh doanh chung: 120 triệu đồng
     Chi phí khấu hao nhà xưởng và thiết bị: 240 triệu đồng
     Tổng số vốn lưu động tự có của khách hàng: 720 triệu đồng
     Giá trị tài sản thế chấp: 700 triệu đồng
    Ngân hàng có thể duyệt mức cho vay theo như doanh nghiệp đề nghị không? Giả định
    ngân hàng có đủ nguồn vốn để thực hiện cho vay doanh nghiệp, doanh nghiệp chỉ vay
    NH M để thực hiện dự án này. NH chỉ cho vay tối đa 70% giá trị của tài sản thế chấp.
    Đáp án:
    Nhu cầu vốn để thực hiện phương án kinh doanh = 1.480 triệu đồng
    Vốn lưu động tự có = 720 tỷ đồng  Nhu cầu vay vốn NH = 1480 – 720 = 760
    triệu đồng
    70% giá trị TSĐB = 490 triệu đồng
    Nếu cho vay 760 triệu đồng thì quá rủi ro.

    52 NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226

  11. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    Nếu cho vay 490 triệu đồng thì không đủ để thực hiện phương án kinh doanh, ảnh
    hưởng đến sự thành công của phương án và khả năng thu nợ của ngân hàng.
    Ngân hàng sẽ xét các trường hợp sau:
    1. Đề nghị doanh nghiệp bổ sung tài sản đảm bảo với giá trị tối thiểu bằng 400 triệu
    đồng (270/0,7 = 385 triệu đồng ). Nếu được, NH giải ngân cho vay 760 triệu đồng.
    2. Đề nghị doanh nghiệp tìm các nguồn tài trợ khác (Vốn tự có, vay NH khác, Tín dụng
    nhà cung cấp, Vay CBCNV…). Nếu được, NH giải ngân cho vay 490 triệu đồng.
    3. Đề nghị doanh nghiệp tìm người bảo lãnh cho món vay 270 triệu đồng. Nếu được,
    NH giải ngân cho vay 760 triệu đồng.
    4. Xem xét lại quan hệ tín dụng trong quá khứ với doanh nghiệp và tính khả thi, khả
    năng sinh lời của phương án vay vốn để cho vay tín chấp với giá trị món vay 270
    triệu đồng. Nếu được, NH giải ngân cho vay 760 triệu đồng.
    5. Đề nghị khách hàng điều chỉnh phương án kinh doanh để giảm bớt nhu cầu đầu tư.
    Nếu được, NH giải ngân cho vay 490 triệu đồng.
    6. Nếu không thể áp dụng giải pháp nào trong các giải pháp trên, NH từ chối cho vay
    vì quá rủi ro.
    Chú ý: Mặc dù trên đơn xin vay doanh nghiệp chỉ đề nghị vay 500 triệu đồng , nhưng
    sau khi thẩm định lại thông tin trên hồ sơ tín dụng, NH tính toán lại nhu cầu là 760
    triệu đồng. Doanh nghiệp lại không vay tại NH khác, không có các nguồn tài trợ
    khác. Nếu NH cho vay 500 triệu đồng cũng không đủ để thực hiện phương án kinh
    doanh trên, ảnh hưởng đến sự thành công của phương án và khả năng thu nợ của NH.
    Do vậy, NH không nên cho vay 500 triệu đồng.

    5.3. Chiết khấu

    5.3.1. Khái niệm chiết khấu
    Chiết khấu là việc ngân hàng ứng trước cho khách hàng (người sở hữu giấy tờ có giá)
    một số tiền bằng giá trị khi đáo hạn của giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán trừ đi
    chi phí chiết khấu của ngân hàng để sở hữu giấy tờ có giá đó. Đối với ngân hàng, việc
    bỏ tiền ra tại hiện tại để thu về một khoản lớn hơn trong tương lai với lãi suất xác định
    trước được coi như là hoạt động tín dụng. Những giấy tờ có giá được ngân hàng nhận
    chiết khấu phải có kỳ hạn và cho phép chủ sở hữu giấy tờ có giá có quyền đòi nợ từ
    người nhận nợ khi đáo hạn, do vậy ngân hàng chỉ chiết khấu các giấy nợ.
    Một số quan điểm cho rằng chiết khấu là việc ngân hàng mua giấy nợ của người thụ
    hưởng trước khi đến hạn thanh toán. Điều này đúng với chiết khấu miễn truy đòi
    (không đòi người thụ hưởng, chỉ đòi người trả nợ). Nếu là chiết khấu có truy đòi, ngân
    hàng có quyền đòi nợ người nhận nợ trên giấy tờ có giá khi đáo hạn, hoặc đòi người
    khách hàng (người đã chiết khấu giấy tờ có giá) nếu người nhận nợ mất khả năng
    thanh toán. Quyền truy đòi giúp ngân hàng được san sẻ rủi ro nên chi phí chiết khấu
    trong trường hợp có truy đòi thường thấp hơn miễn truy đòi.
    Căn cứ vào cơ sở phát hành giấy nợ, có thể chia thành hai loại: giấy nợ thương mại (là
    loại được phát hành trên cơ sở giao dịch thương mại như mua bán hàng hoá, cung ứng
    dịch vụ) và giấy nợ tài chính (là loại được phát hành trên cơ sở giao dịch tài chính,
    như vay nợ).

    NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226 53

  12. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    5.3.2. Quy trình chiết khấu

    Người thụ (1) Người nhận
    hưởng (2) nợ

    (3) (4) (5)

    Ngân hàng

    Hình 5.3: Quy trình chiết khấu

    (1) Người thụ hưởng và Người nhận nợ phát sinh giao dịch (bán chịu hàng hóa, cho
    vay).
    (2) Trên cơ sở giao dịch phát sinh, một giấy nhận nợ được lập (ví dụ như thương
    phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu…) trên đó nêu rõ cam kết trả tiền của người nhận nợ
    cho người thụ hưởng (hoặc người sở hữu giấy nợ) vào một thời điểm nhất định
    trong tương lai.
    (3) Trước thời điểm đáo hạn, người thụ hưởng (hoặc người sở hữu giấy nợ) yêu cầu
    ngân hàng chiết khấu. Trước khi chấp nhận chiết khấu, ngân hàng kiểm tra khả
    năng trả nợ của người nhận nợ hoặc người thụ hưởng. Nếu khả năng trả nợ của
    người nhận nợ cao, ngân hàng có thể chiết khấu miễn truy đòi, ngược lại ngân
    hàng sẽ yêu cầu người thụ hưởng ký hậu, cam kết trả tiền cho ngân hàng.
    (4) Ngân hàng chấp nhận chiết khấu, người sở hữu chuyển giấy nợ cho ngân hàng, và
    nhận tiền.
    (5) Đến thời điểm đáo hạn của giấy nợ, ngân hàng chuyển giấy nợ đến người nhận nợ
    đòi tiền. Trong trường hợp chiết khấu có truy đòi, nếu người nhận nợ không trả
    nợ, ngân hàng sẽ đòi tiền từ người ký hậu.
    Sau khi chiết khấu, ngân hàng muốn có vốn thanh khoản có thể tái chiết khấu tại một
    ngân hàng khác hoặc tại ngân hàng trung ương. Rủi ro của ngân hàng tái chiết khấu
    được giảm thiểu nhờ có sự bảo đảm của ngân hàng chiết khấu. Chính vì vậy, lãi suất tái
    chiết khấu thường nhỏ hơn lãi suất chiết khấu và nhờ đó ngân hàng chiết khấu có được
    một khoản lợi tức do chênh lệch giữa lãi suất chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu.
    Nghiệp vụ chiết khấu được coi là đơn giản, dựa trên sự
    tín nhiệm giữa ngân hàng và người nhận nợ trên giấy
    nợ. Để thuận tiện cho khách hàng, ngân hàng có thể ký
    với khách hàng một hợp đồng chiết khấu với một hạn
    mức chiết khấu nhất định có giá trị trong một khoảng
    thời gian xác định. Khi cần chiết khấu, khách hàng chỉ
    cần gửi giấy nợ đến ngân hàng để xin chiết khấu. Ngân
    hàng sẽ kiểm tra chất lượng của giấy nợ và thực hiện chiết khấu. Do có tối thiểu hai
    người cam kết trả tiền, cùng với việc lựa chọn những giấy nợ có độ an toàn cao để
    chiết khấu, hình thức cấp tín dụng này được coi là khá an toàn đối với ngân hàng (trừ

    54 NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226

  13. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    trường hợp chiết khấu miễn truy đòi). Hơn nữa, ngân hàng còn có thể tái chiết khấu
    giấy nợ trong trường hợp cần tiền để chi trả. Tuy nhiên, đối tượng khách hàng được sử
    dụng hình thức này chỉ giới hạn ở những người có giấy nợ đảm bảo yêu cầu về chất
    lượng của ngân hàng.
    Ví dụ về chiết khấu:
    Ví dụ 1: NH A nhận được yêu cầu chiết khấu sổ tiết kiệm của khách hàng vào ngày
    15/06/200X. Số tiền ghi trên sổ là 100 triệu đồng, kỳ hạn 1 năm, gửi vào ngày
    15/08/200X-1, lãi suất 1,2%/tháng, trả lãi cuối kỳ. Lãi suất chiết khấu hiện tại của NH
    là 1,5%/tháng. Nếu rút trước hạn khách hàng chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi
    không kỳ hạn là 0,35%/th. Tính số tiền khách hàng được nhận về. Chiết khấu giúp
    khách hàng lợi hơn rút tiền trước hạn bao nhiêu tiền?
    Đáp án:
    Nếu giữ sổ đến ngày 15/08/200X, khách hàng sẽ nhận được số tiền là:

    100 × (1 + 1,2% × 12) = 114,4 triệu đồng
    Nếu rút trước hạn và hưởng lãi không kỳ hạn, khách hàng sẽ nhận được số tiền là:

    100 × (1 + 0,35% × 10) = 103,5 triệu đồng
    Khi khách hàng đề nghị chiết khấu, NH coi như cho khách hàng vay trước số tiền sẽ
    được lĩnh (114,4 triệu đồng) trong 2 tháng với lãi suất 1,5%/tháng, số tiền lãi khách
    hàng phải trả là:

    114,4 × 1,5% × 2 = 3,432 triệu đồng
    Vậy khách hàng sẽ nhận được số tiền là:

    114,4 – 3,432 = 110,968 triệu đồng > 103,5 triệu đồng
    Ví dụ 2: Ngày 15/06/200X, NH A nhận được yêu cầu chiết khấu của khách hàng một
    lượng trái phiếu do NH B phát hành vào ngày 15/08/200X-2, có mệnh giá là 250triệu
    đồng, kỳ hạn 2 năm, lãi suất 11%/năm, trả lãi cuối hàng năm. NH mua lại trái phiếu
    với giá bằng 108% mệnh giá. Tính lãi suất chiết khấu của ngân hàng. Tính lãi suất
    sinh lời thực của trái phiếu vào năm thứ hai sau khi chiết khấu đối với nhà đầu tư với
    giả thiết nhà đầu tư mua trái phiếu từ đầu năm đầu tư thứ hai (16/8/200X-1) với giá
    bằng mệnh giá.
    Đáp án:
    Trái phiếu 2 năm, phát hành ngày 15/08/200X-2, lãi suất 11%/năm, trả lãi cuối hàng
    năm nên đến ngày 15/06/200X, chủ sở hữu đã nhận 1 kỳ lãi (năm 200X-1) và nếu giữ
    trái phiếu đến ngày 15/08/200X sẽ nhận được số tiền là:

    250 × (1 + 11%) = 277,5 triệu đồng
    Ngày 15/06/200X, NH A nhận chiết khấu (mua lại) với giá bằng 108% mệnh giá, tức
    là với số tiền:

    250 × 108% = 270 triệu đồng

    NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226 55

  14. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    Như vậy, NH A đã cho khách hàng vay trước số tiền 277,5 triệu đồng trong 02 tháng với
    chi phí 7,5 triệu đồng (=277,5 – 270). Vậy lãi suất chiết khấu (danh nghĩa) của NH là:
    (7,5 x12) / (277,5 × 2) = 16,22%/năm
    Tính lãi suất sinh lời thực của trái phiếu vào năm thứ hai sau khi chiết khấu đối với
    nhà đầu tư:
    Tỷ lệ sinh lời = (20/250) × (12/10) = 9,6%/năm

    5.4. Cho thuê

    5.4.1. Khái niệm cho thuê
    Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là cho vay để khách hàng mua tài sản. Tuy nhiên
    trong nhiều trường hợp, khách hàng chưa có đủ điều kiện để vay như không đủ vốn tự
    có hay không có tài sản đảm bảo. Đáp ứng nhu cầu mở rộng tín dụng, ngân hàng có
    thể mua tài sản theo yêu cầu khách hàng để cho khách hàng thuê. Khách hàng có
    quyền sử dụng tài sản theo mục đích của mình, nhưng tài sản vẫn thuộc sở hữu của
    ngân hàng, ngân hàng nên có thể thu hồi hoặc bán/cho người khác thuê khi người thuê
    không trả được nợ. Điều này góp phần làm giảm thiệt hại cho ngân hàng.
    Hoạt động cho thuê bắt nguồn từ doanh nghiệp sản xuất hoặc cung cấp thiết bị, nhà
    cửa có giá trị lớn, thời gian sử dụng dài. Do người mua không đủ tiền mua, hoặc chỉ
    có nhu cầu sử dụng trong thời gian ngắn hơn thời gian khấu hao của tài sản… đã làm
    nảy sinh nhu cầu thuê (không mua) trong khi các doanh nghiệp sản xuất và cung cấp
    có nhu cầu tiêu thụ để tăng doanh thu và giảm hao mòn của tài sản. Ngoài ra, đi thuê
    tài sản có sẵn của bên cho thuê giúp giảm bớt thời gian tìm kiếm, mua sắm tài sản.
    Hơn nữa, đi thuê tài sản không đòi hỏi phải có tài sản thế chấp. Đây là lợi thế đặc biệt
    có ý nghĩa đối với những doanh nghiệp đang trong giải đoạn khởi đầu. Từ đó phát
    sinh nhu cầu cho thuê/đi thuê.
    Cho thuê có hai hình thức chủ yếu là cho thuê hoạt
    động và cho thuê tài chính. Cho thuê hoạt động đáp
    ứng nhu cầu thuê chủ yếu trong thời gian ngắn, người
    đi thuê không có dự định “mua” tài sản đó để sử dụng
    lâu dài, ví dụ cho thuê phòng trong khách sạn, cho thuê
    xe ô tô ngắn ngày… Cho thuê tài chính đáp ứng nhu
    cầu thuê trong thời gian dài, và người đi thuê có quyền mua lại tài sản hoặc sở hữu tài
    sản khi hết hợp đồng thuê. Quyền sở hữu tài sản được chuyển giao cho bên thuê vào
    cuối kỳ thuê tài chính hoặc khi bên thuê kết thúc hợp đồng thuê trước hạn và thực hiện
    đầy đủ các nghĩa vụ theo hợp đồng thuê tài chính. Hoạt động cho thuê của ngân hàng
    chủ yếu là cho thuê tài chính.
    Vậy cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, theo đó bên cho
    thuê cho khách hàng (bên thuê) quyền sử dụng tài sản trong một thời hạn nhất định,
    với điều kiện bên thuê phải trả tiền thuê và không được hủy bỏ hợp đồng trước hạn.
    Khi kết thúc thời hạn cho thuê, bên thuê được nhận quyền sở hữu tài sản thuê hoặc
    được tiếp tục thuê theo sự thỏa thuận của hai bên.

    56 NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226

  15. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    Tài sản cho thuê tài chính là các động sản được mua trong nước hoặc mua từ nước ngoài
    thông qua hình thức nhập khẩu tài sản. Các tài sản này chủ yếu là các tài sản cố định phục
    vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như dây chuyền máy móc thiết bị,
    phương tiện vận chuyển… có tính chuyên dụng cao. Nếu là tài sản nhập khẩu, khách hàng
    thuê tài chính được miễn thuế nhập khẩu, theo quy định của Bộ Tài chính.

    5.4.2. Đặc điểm của cho thuê tài chính
    Theo quy định của Uỷ Ban Tiêu Chuẩn Kế Toán Quốc Tế (IASC), một giao dịch được
    coi là cho thuê tài chính nếu thoả mãn 1 trong 4 điều kiện:
    1. Quyền sở hữu tài sản thuê được chuyển giao cho bên thuê khi thời hạn thuê kết
    thúc và bên thuê đã thanh toán đủ tiền thuê theo quy định.
    2. Hợp đồng thuê có quy định bên thuê có quyền chọn mua tài sản theo giá tượng
    trưng khi thời hạn cho thuê kết thúc.
    3. Thời hạn cho thuê chiếm phần lớn thời gian hữu dụng của tài sản (trừ trường hợp
    tài sản cho thuê đã qua sử dụng).
    4. Giá trị hiện tại của khoản tiền thuê tối thiểu bằng giá trị thị trường của tài sản tại
    thời điểm ký hợp đồng thuê.
    Theo NĐ16/2001/CP, giao dịch được coi là cho thuê tài chính nếu thỏa mãn 1 trong 4
    điều kiện sau:
    1. Khi hết thời hạn thuê, bên thuê được quyền nhận quyền sở hữu tài sản thuê hoặc
    được tiếp tục thuê theo sự thỏa thuận của 2 bên;
    2. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá
    danh nghĩa thấp hơn giá trị thực tế của tài sản thuê tại thời điểm mua lại;
    3. Thời hạn thuê tài sản ít nhất phải bằng 60% thời gian cần thiết để khấu hao tài sản thuê;
    4. Tổng số tiền thuê tài sản ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời
    điểm ký hợp đồng.

    Giữa cho thuê tài chính và cho thuê hoạt động, có một số điểm khác biệt như sau:

    Tiêu thức Cho thuê tài chính Cho thuê hoạt động

    1. Chuyển quyền sở hữu hoặc
    Có Không có
    bán cho bên thuê

    Rất ngắn so với thời hạn sử
    2. Thời hạn thuê Ít nhất bằng 60% thời hạn sử dụng
    dụng

    3. Mức thu hồi vốn của một hợp Tiền thuê tương đương với số vốn Tiền thuê rất nhỏ so với số vốn
    đồng thuê đầu tư đầu tư

    4. Quyền huỷ ngang hợp đồng Không được quyền huỷ ngang Được quyền huỷ ngang

    5. Trách nhiệm bảo trì, mua bảo
    Bên thuê chịu Bên cho thuê chịu
    hiểm và trả thuế đối với tài sản

    Bên thuê chịu, kể cả những rủi ro Bên cho thuê chịu, trừ những
    6. Trách nhiệm đối với rủi ro
    không do họ gây ra tổn thất do gây ra bởi bên thuê

    Do bên thuê đặt hàng, giao nhận
    7. Cung ứng tài sản thuê Do bên cho thuê cung cấp
    và sử dụng tài sản

    8. Trích khấu hao Bên thuê trích Bên cho thuê trích

    NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226 57

  16. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    5.4.3. Quy trình cho thuê tài chính

    Ngân hàng (bên cho thuê)

    (2) (4) (1)

    Khách hàng (bên thuê)
    Nhà cung cấp trang thiết bị

    (3)
    Hình 5.4: Quy trình cho thuê tài chính

    (1) Khách hàng làm đơn gửi ngân hàng nêu yêu cầu về tài sản cần thuê, nêu yêu cầu về
    quy cách, chất lượng tài sản thuê. Sau khi phân tích dự án và tình hình tài chính của
    khách hàng, nếu đồng ý, ngân hàng ký hợp đồng cho thuê tài chính với khách hàng;
    (2) Ngân hàng tìm kiếm nhà cung cấp để ký hợp đồng mua (hoặc người thuê chỉ
    định tìm kiếm nhà cung cấp);
    (3) Khách hàng gặp nhà cung cấp để nêu yêu cầu về quy cách, chất lượng tài sản
    thuê, nhận tài sản thuê, kiểm soát chất lượng tài sản thuê. Nhà cung cấp có thể
    phải cam kết bảo hành cho ngân hàng;
    (4) Ngân hàng kiểm soát tình hình sử dụng tài sản thuê, thu tiền thuê, hoặc thu hồi
    tài sản nếu thấy người thuê vi phạm.
    Ngân hàng mua tài sản của người đi thuê và cho thuê lại
    Trong những trường hợp khách hàng có tài sản cố định song lại thiếu hụt ngân quỹ (để
    mua nguyên nhiên vật liệu, trả lương…), việc vay ngân hàng gặp khó khăn… Khách
    hàng có thể bán tài sản cố định cho ngân hàng (lấy tiền) và thuê tài chính lại tài sản
    đó. Trong trường hợp này, ngân hàng tiến hành thẩm định kỹ giá trị của tài sản, hiệu
    quả sử dụng tài sản, thời gian thuê lại… Tài sản đó phải phù hợp với yêu cầu của bên
    cho thuê, và thời gian thuê không quá thời gian khấu hao còn lại của tài sản.
    Ngân hàng thuê tài sản để cho thuê, hoặc mua trả góp tài sản để cho thuê
    Tuỳ theo những yêu cầu cụ thể của người đi thuê với ngân hàng, hoặc giữa ngân hàng
    với người cung cấp mà ngân hàng có thể đi thuê tài sản hoặc mua trả góp để cho thuê.
    Nếu khách hàng yêu cầu thuê với thời gian ngắn hơn thời gian khấu hao của tài sản,
    tài sản đó ngân hàng lại khó cho thuê lại, ngân hàng có thể chọn hình thức đi thuê để
    cho thuê. Nếu có khó khăn về nguồn vốn để mua tài sản cho thuê, ngân hàng có thể sử
    dụng hình thức mua trả góp để cho thuê.

    5.4.4. Những vấn đề chủ yếu
    Trong nghiệp vụ cho thuê, ngân hàng xuất tiền theo yêu cầu của khách hàng với kỳ
    vọng thu đủ gốc và lãi khi hết hạn hợp đồng thuê. Khách hàng phải trả gốc và lãi dưới
    hình thức tiền thuê hàng kỳ. Lãi suất được thoả thuận giữa bên cho thuê và bên thuê,
    tính trên giá trị thuê (số tiền cho vay để mua tài sản). Lãi suất có thể cố định hoặc thả
    nổi, tuỳ thuộc vào thoả thuận của 2 bên, và vào chính sách của bên cho thuê.

    58 NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226

  17. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    Ngoài tiền thuê, khách hàng còn phải trả tiền trả trước,
    tiền ký quỹ, phí quản lý, phí mua lại và phí bảo hiểm
    tài sản thuê.
    Tiền ký quỹ là khoản tiền mà bên thuê chuyển cho bên
    cho thuê để đảm bảo thực hiện hợp đồng thuê. Bên
    thuê sẽ được nhận lại khoản tiền này vào cuối thời hạn
    thuê hoặc theo thỏa thuận của 2 bên trong.
    Tiền trả trước là khoản tiền mà bên thuê thanh toán trước một phần giá trị của tài sản
    thuê (thường bằng 20%-30% giá trị của tài sản khi bắt đầu thuê), phần còn lại sẽ được
    bên cho thuê thanh toán. Tiền trả trước này có thể thực hiện theo 2 cách: (1) bên thuê
    trả tiền trả trước cho bên bán và cần có các chứng từ xác nhận, hoặc (2) bên thuê
    trả tiền trả trước cho bên cho thuê, sau đó bên cho thuê chuyển 100% giá mua cho
    bên bán.
    Phí quản lý là khoản tiền mà bên thuê thanh toán cho bên cho thuê để bên cho thuê
    thực hiện các công tác dịch vụ hỗ trợ cho bên thuê. Phí quản lý đựơc 2 bên thỏa thuận
    và đề cập trong hợp đồng thuê.
    Chi phí mua lại là khoản tiền mà bên thuê thanh toán cho bên cho thuê vào cuối thời hạn
    thuê hoặc vào thời điểm mà 2 bên đã thỏa thuận trước. Bên cho thuê sẽ xuất hóa đơn
    theo giá trị của phí mua lại để chuyển giao quyền sở hữu tài sản thuê cho bên thuê.
    Phí bảo hiểm tài sản thuê là khoản tiền mà bên thuê
    phải trả cho công ty bảo hiểm để được đền bù cho
    những tổn thất có thể phát sinh trong thời gian thuê.
    Người được hưởng bảo hiểm là bên cho thuê. Thời
    gian bảo hiểm bắt đầu từ khi hợp đồng thuê có hiệu lực
    cho đến khi hết thúc hợp đồng.
    Nếu kết thúc hợp đồng thuê tài chính trước hạn, khách
    hàng phải thanh toán cho bên thuê số vốn gốc chưa trả, thuế VAT (vì theo Luật thuế Giá
    trị gia tăng của Việt Nam, Thuế GTGT của tài sản thuê tài chính được khấu trừ), các
    khoản lãi vay quá hạn (nếu có), phí mua lại và khoản tiền phạt kết thúc hợp đồng trước
    hạn. Tiền phạt kết thúc hợp đồng thuê trước hạn được đề cập trong hợp đồng thuê.
    Thời hạn cho thuê có thể gồm hai phần: thời hạn cơ bản và thời hạn gia hạn thêm.
    Thời hạn cơ bản là thời hạn người đi thuê không được phép huỷ hợp đồng; thời hạn
    gia hạn thêm là thời hạn ngân hàng có thể cho người đi thuê tiếp tục thuê, hoặc người
    đi thuê mua lại, trả lại tài sản. Đối với tài sản khó bán, hoặc khó cho thuê lại, thời hạn
    cơ bản phải đảm bảo cho ngân hàng thu được gốc và lãi.
    Ngân hàng không cam kết cung cấp dịch vụ bảo dưỡng tài sản, không chịu trách
    nhiệm về những thiệt hại đối với tài sản cho thuê. Tài sản thuê tài chính được bên bên
    thuê sử dụng theo các quy định về bảo hành và bảo trì của nhà cung cấp. Trường hợp
    tài sản bị hư hỏng, bên thuê phải thông báo cho bên bán để được sử dụng dịch vụ bảo
    hành (nếu có) hoặc được hỗ trợ trong việc sửa chữa tài sản. Ngoài ra, bên thuê còn
    phải thông báo cho bên cho thuê và công ty bảo hiểm để được hưởng các đền bù tổn
    thất theo cam kết trong hợp đồng bảo hiểm tài sản.

    NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226 59

  18. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    Lãi suất cho thuê thường cao do bao gồm chi phí tìm kiếm người cung cấp, chi phí
    dàn xếp, và phụ thuộc vào thời hạn thuê. Ngoài ra, bên thuê còn phải trả các khoản phí
    khác như phí quản lý, phí bảo hiểm, tiền ký quỹ…
    Ngân hàng có quyền thu hồi tài sản nếu thấy người thuê không thực hiện đúng hợp
    đồng, song đồng thời ngân hàng phải có trách nhiệm cung cấp đúng loại tài sản cần
    cho khách hàng và phải bảo đảm về chất lượng của tài sản đó.
    Ngân hàng gặp rủi ro khi khách hàng kinh doanh không có hiệu quả, hoặc lừa đảo
    không trả tiền thuê đầy đủ và đúng hạn. Nhiều tài sản thuê mang tính đặc chủng, khó
    bán, khó cho thuê lại, khi thu hồi chi phí tháo dỡ cao… nên rủi ro cho thuê rất cao đối
    với ngân hàng. Do vậy, khi cho thuê, ngân hàng phải tiến hành phân tích tín dụng
    đồng thời phân tích thị trường tài sản cho thuê, đánh giá nhà cung cấp, lựa chọn các
    hình thức cho thuê thích hợp. Ngân hàng yêu cầu người thuê phải mua bảo hiểm tài
    sản và người thụ hưởng là ngân hàng.
    Rủi ro trong cho thuê tài chính đối với ngân hàng khá lớn do tài sản thuê có tính đặc
    chủng, khó cho thuê lại, dễ bị mất giá nếu bán lại, nên nhiều quốc gia quy định ngân
    hàng phải thành lập pháp nhân mới khi thực hiện cho thuê tài chính. Pháp nhân này
    hoạt động dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần, nhờ đó
    giúp hạn chế tối đa giá trị tổn thất đối với ngân hàng bằng số vốn góp vào vốn điều lệ
    của công ty cho thuê tài chính. Hoạt động dưới hình thức công ty con thuộc ngân hàng
    cũng giúp công ty cho thuê tài chính tập trung nâng cao tính chuyên môn hoá, đồng
    thời vẫn có thể được ngân hàng mẹ hỗ trợ vốn dưới dạng các khoản cho vay.
    Ví dụ về cho thuê tài chính:
    Một doanh nghiệp đề nghị Công ty cho thuê tài chính Vietlease cho thuê một dây
    chuyền sản xuất giấy vở học sinh có giá bán do nhà cung cấp công bố là 15 tỷ đồng.
    Dây chuyền có thời gian khấu hao là 10 năm. Sau khi xem xét kế hoạch kinh doanh
    của doanh nghiệp, Công ty Vietlease đồng ý cho thuê tài chính với thời gian 6 năm.
    Doanh nghiệp phải trả trước cho nhà cung cấp 30% giá trị dây chuyền. Lãi suất cho
    thuê tài chính là 14%/năm. Tính số tiền lãi và gốc mà doanh nghiệp phải trả, nếu:
    a. Tiền thuê được trả theo niên kim cố định vào cuối mỗi quý.
    b. Gốc được trả đều vào cuối mỗi quỹ. Lãi cũng được trả vào cuối quý, tính trên dư
    nợ gốc.
    Đáp án:
    Lãi suất cho thuê tài chính là 14%năm hay 3,5%/quý (=14%/4).
    Số tiền gốc vay trong hợp đồng thuê tài chính là: 15 × 70% = 10,5 tỷ đồng.
    Tiền gốc và lãi phải trả trong vòng 24 quý (6 năm).
    a. Nếu tiền thuê được trả theo niên kim cố định vào cuối mỗi quý:

    10,5 × 3,5%
    Tiền thuê = = 0,654 tỷ đồng
    -24
    1 – (1 + 3,5%)

    60 NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226

  19. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    Bảng tính lãi và gốc mỗi quý:
    Kỳ trả nợ Tiền lãi Tiền gốc Kỳ trả nợ Tiền lãi Tiền gốc

    1 0,368 0,368 13 0,217 0,437
    2 0,355 0,299 14 0,202 0,452
    3 0,344 0,310 15 0,186 0,468
    4 0,333 0,321 16 0,170 0,484
    5 0,322 0,332 17 0,153 0,501
    6 0,310 0,343 18 0,135 0,519
    7 0,298 0,355 19 0,117 0,537
    8 0,286 0,368 20 0,098 0,556
    9 0,273 0,381 21 0,079 0,575
    10 0,260 0,394 22 0,058 0,595
    11 0,246 0,408 23 0,038 0,616
    12 0,232 0,422 24 0,016 0,638

    b. Nếu gốc được trả đều vào cuối mỗi quý. Lãi cũng được trả vào cuối quý, tính trên
    dư nợ gốc.
    10,5
    Tiền gốc trả mỗi quý = = 0,438 tỷ đồng
    24
    Bảng tính lãi và gốc mỗi quý:
    Kỳ trả nợ Tiền lãi Tiền gốc Kỳ trả nợ Tiền lãi Tiền gốc

    1 0,368 0,438 13 0,184 0,438
    2 0,352 0,438 14 0,168 0,438
    3 0,337 0,438 15 0,153 0,438
    4 0,322 0,438 16 0,138 0,438
    5 0,306 0,438 17 0,123 0,438
    6 0,291 0,438 18 0,107 0,438
    7 0,276 0,438 19 0,092 0,438
    8 0,260 0,438 20 0,077 0,438
    9 0,245 0,438 21 0,061 0,438
    10 0,230 0,438 22 0,046 0,438
    11 0,214 0,438 23 0,031 0,438
    12 0,199 0,438 24 0,015 0,438

    5.5. Bảo lãnh

    5.5.1. Khái niệm bảo lãnh
    Bảo lãnh ngân hàng ngày càng được khách hàng sử dụng rộng rãi như một loại hình
    dịch vụ không thể thiếu, bao gồm cả các khách hàng doanh nghiệp và khách hàng cá
    nhân. Nhu cầu sử dụng dịch vụ bảo lãnh phát sinh khi khách hàng cần ngân hàng
    chứng minh năng lực tài chính, khả năng thanh toán của mình hoặc cần ngân hàng
    chứng minh khả năng thực hiện các cam kết của hợp đồng. Các ví dụ điển hình về bảo

    NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226 61

  20. Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng

    lãnh thường thấy bao gồm: (i) Chứng minh năng lực tài chính khi tham gia đấu thầu,
    khi ký kết các hợp đồng kinh tế, (ii) Bảo lãnh của ngân hàng cho doanh nghiệp khi
    mua hàng trả chậm, (iii) Bảo lãnh thực hiện hợp đồng, (iv) Bảo lãnh tài chính cho các
    học sinh và sinh viên Việt nam có điều kiện đi du học tại các trường Đại học nổi tiếng
    trên thế giới, (v) Bảo lãnh của một ngân hàng hoặc một tổ chức tài chính nhà nước để
    doanh nghiệp vay vốn của một ngân hàng khác…
    Bảo lãnh của ngân hàng là việc cam kết của ngân hàng dưới hình thức thư bảo lãnh về
    thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng của ngân hàng khi khách hàng
    không thực hiện đúng nghĩa vụ như cam kết.
    Bảo lãnh thường có ba bên: bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh.
    Bảo lãnh của ngân hàng thường có nghĩa là ngân hàng là bên bảo lãnh, khách hàng là
    người được bảo lãnh và người hưởng bảo lãnh là bên thứ ba.
    Bảo lãnh ngân hàng được xem như là một loại hình tín dụng đặc biệt bởi nhờ có nó
    mà một cá nhân hay một doanh nghiệp không phải bỏ ra một khoản tiền vốn (hoặc
    không phải đi vay) để đặt cọc, giam chân tại chỗ nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
    của mình trong giao kết dân sự với đối tác. Bảo lãnh ngân hàng đã và đang mang tới
    các lợi ích cho khách hàng như: (i) Góp phần hạn chế sử dụng nguồn vốn lưu động
    của doanh nghiệp; (ii) Hạn chế việc sử dụng tiền mặt, qua đó tăng cường tính an toàn
    trong giao dịch; (iii) Giảm thiểu rủi ro trong trường hợp người mua và người bán
    không biết nhau; (iv) Tiết kiệm thời gian, chi phí cho các bên liên quan; và, (v) Nâng
    cao vị thế, vai trò và uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ với đối tác…

    5.5.2. Quy trình bảo lãnh

    Ngân hàng (bên bảo lãnh)

    a

    4 1 2 3

    Khách hàng của ngân hàng Người thứ ba
    (bên được bảo lãnh) (bên nhận/hưởng bảo lãnh)

    Hình 5.5: Quy trình bảo lãnh

    (a) Khách hàng ký các hợp đồng với bên thứ ba về thanh toán, về xây dựng, hay vay
    vốn… Bên thứ ba yêu cầu phải có bảo lãnh của ngân hàng;
    (1) Khách hàng làm đơn xin được bảo lãnh gửi ngân hàng, nêu rõ nội dung hợp đồng
    kinh tế giữa khách hàng với bên thứ 3, số tiền, thời hạn hiệu lực, điều kiện bảo
    lãnh. Ngân hàng thực hiện phân tích khách hàng để tìm hiểu về yêu cầu bảo lãnh,
    xác định mức độ rủi ro và các biện pháp phòng ngừa cần thiết. Nếu đồng ý, ngân
    hàng và khách hàng ký hợp đồng bảo lãnh và ngân hàng phát hành thư bảo lãnh
    cho bên thứ 3, hoặc cả 3 bên tham gia ký hợp đồng bảo lãnh;

    62 NEU_NHTM1_Bai5_v1.0013109226

Download tài liệu Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 5: Các nghiệp vụ tín dụng File Word, PDF về máy