[Download] Tải Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản
Nội dung Text: Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

Download


“Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản” giới thiệu tài sản, cơ cấu tài sản và phương pháp quản lý trong một Ngân hàng thương mại. Ngoài ra bài học cũng cung cấp cách thức đánh giá hiệu quả quản lý tài sản, các chỉ số cần thiết cho người học.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản File Word, PDF về máy

Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

  1. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    BÀI 3 TÀI SẢN VÀ QUẢN LÝ TÀI SẢN

    Hướng dẫn học
    Bài này giới thiệu khái niệm về tài sản của 1 NHTM và nội dung quản lý chúng. Sinh
    viên cần hiểu được bản chất và chức năng của tài sản và nguồn vốn, giải thích được mối
    liên hệ giữa các khái niệm này. Ngoài ra, sinh viên cũng cần nắm bắt được tinh thần của
    việc quản lý tài sản, đặc điểm của từng loại tài sản và cách thức quản lý tương ứng, ý
    nghĩa của việc quản lý này đối với NHTM và từ phía chính phủ cũng như NHTW. Sinh
    viên cần liên hệ được kiến thức của học phần này với các học phần trước, và một số kiến
    thức của các môn học tài chính công, kinh tế vĩ mô, kinh tế vi mô.
    Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu:
    1. Giáo trình Quản trị Ngân hàng thương mại, PGS. TS. Phan Thị Thu Hà, NXB
    Giao thông vận tải.
    2. Tiền tệ, Ngân hàng và Thị trường tài chính, Frederic S.Mishkin, NXB Khoa học
    Kỹ thuật, 2001.
     Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
     Trang Web môn học.

    Nội dung
    Bài này giới thiệu tài sản, cơ cấu tài sản và phương pháp quản lý trong một NHTM.
    Ngoài ra bài học cũng cung cấp cách thức đánh giá hiệu quả quản lý tài sản, các chỉ số
    cần thiết cho người học.

    Mục tiêu
     Nắm được cơ cấu tài sản chung của ngân hàng thương mại.
     Phân biệt được sự giống và khác nhau của giữa tài sản của 1 doanh nghiệp kinh doanh
    và tài sản của 1 ngân hàng thương mại.
     Trình bày được các loại tài sản của ngân hàng phù hợp với mục đích và nội dung sử
    dụng của chúng.
     Trình bày được nhu cầu của quản lý tài sản, phương thức quản lý với từng loại tài sản
    khác nhau.
     Tính được lãi suất trước thuế (LSTT), lãi suất sau thuế (LSST), ROA, ROE của ngân hàng.
     Phân tích được nhu cầu về quản lý tài sản của NHNN đối với các NHTM.
     Phân tích được chức năng và các bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính.

    NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211 43

  2. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    Tình huống dẫn nhập
    KHỦNG HOẢNG NGÂN HÀNG HOA KÌ

    Cuộc khủng hoảng cho vay dưới chuẩn (tiếng Anh: subprime mortgage crisis) bắt nguồn từ các
    khoản vay thế chấp bất động sản rủi ro ở Mỹ bắt đầu từ tháng 7 năm 2007, đã gây ra cuộc khủng
    hoảng tài chính từ năm 2007 đến 2011. Cuộc khủng hoảng này chính thức bắt đầu từ quý II năm
    2006 với sự đổ vỡ của các khoản tín dụng bất động sản, khi mà những người vay, với điều kiện
    kinh tế trung bình, không còn khả năng trả nợ. Đến tháng 2/2007, được phát hiện thông qua việc
    công bố dự trữ năm trước của HSBC, nó đã trở thành cuộc khủng hoảng mở khi các cuộc đấu
    thầu chứng khoán định kỳ không có người tham gia vào tháng 7/2007. Theo các chuẩn mực kế
    toán lúc bấy giờ, các chứng khoán này được định giá với giá trị gần bằng 0. Cũng thời điểm đó,
    những người nắm giữ các chứng khoán này cũng không thể bán được chúng trên thị trường. Sự
    bất tín nhiệm lan đến các chứng khoán phái sinh khác (ABS, RMBS, CMBS, CDO) và các quỹ
    đầu tư, quỹ tương hỗ (bao gồm các quỹ thị trường tiền tệ) và hệ thống ngân hàng có khả năng
    nắm giữ các khoản tín dụng phái sinh.
    Việc mất lòng tin đồng loạt đã khiến thị trường chứng khoán Mỹ sụt giảm lần đầu tiên vào hè
    2007, được báo hiệu đầu tiên bởi sự chững lại của đầu cơ. Mặc cho nỗ lực của ngân hàng trung
    ương rót tiền liên tục vào thị trường cho vay liên ngân hàng, kênh này đã bị đóng băng do các
    ngân hàng mất niềm tin vào khả năng trả nợ của nhau. Khủng hoảng bắt đầu lan rộng khi trường
    hợp phá sản đầu tiên xuất hiện (Lehman Brothers), sau đó trở thành cuộc khủng hoảng toàn cầu
    vào tháng 9/2008
    Cuộc khủng hoảng này đã gây thất thoát 500 tỷ đôla và một khoản chi 300 tỷ đôla để khắc phục
    hậu quả. Việc mất mát tài sản của người dân kéo theo sự thịnh nộ và biểu tình, làm sụt giảm của
    tổng cầu do các hộ gia đình thắt chặt chi tiêu. Các ngân hàng Châu Âu và Châu Á cũng bị ảnh hưởng,
    đồng đôla mất giá và sự lao dốc của các thị trường chứng khoán làm suy giảm tăng trưởng kinh
    tế toàn cầu.

    1. Nguyên nhân cơ bản dẫn tới cuộc khủng hoảng này là gì?
    2. Cơ cấu tài sản của ngân hàng đóng vai trò như thế nào trong khủng hoảng?
    3. Tại sao NHNN luôn luôn can thiệp vào việc sử dụng nguồn vốn của các
    NHTM?

    44 NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211

  3. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    3.1. 3.1. Các khoản mục tài sản và đặc điểm

    3.1.1. Tiền tại quỹ
    Bao gồm nội tệ và ngoại tệ. Tuỳ theo đặc thù của từng quốc gia, một vài ngân hàng
    còn cất giữ vàng và các kim loại quý, đá quý khác. Ưu điểm của loại tài sản này là chi
    trả nhanh chóng, tuy nhiên có nhược điểm là không sinh lời, và làm cho ngân hàng trở
    thành mục tiêu của trộm cướp, thụt két, làm giả… Ngoài những điều trên, tiền tại quỹ
    còn làm phát sinh chi phí bảo quản, đếm, vận chuyển…

    3.1.2. Tiền gửi
    Tiền gửi hay cụ thể hơn là tiền gửi tại các ngân hàng
    nhà nước, tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác.
    Ngân hàng thương mại phải thực hiện dự trữ bắt buộc.
    Hình thức và tỷ lệ dự trữ bắt buộc có thể khác nhau
    giữa các nước. Nhiều ngân hàng trung ương yêu cầu
    ngân hàng thương mại phải duy trì dự trữ bắt buộc
    dưới hình thức tiền gửi tại ngân hàng trung ương. Bên cạnh đó NHTM nắm giữ loại
    tiền gửi này còn vì mục tiêu thanh toán tiện lợi: rất nhiều khoản thanh toán giữa các
    ngân hàng được thực hiện qua ngân hàng nhà nước (ngân hàng trung ương), hoặc qua
    ngân hàng đại lý (thanh toán qua các nước khác nhau). Khoản tiền gửi này có thể sinh
    lời song rất thấp.
    Với sứ mệnh khi ra đời của mình, ngân hàng có trách nhiệm chi trả kịp thời mọi nhu
    cầu của người gửi tiền dưới hình thức chuyển khoản và cả bằng tiền mặt. Do vậy ngân
    hàng luôn phải giữ một lượng tiền mặt trong két, và tiền gửi tại các ngân hàng và tổ
    chức tín dụng khác. Lượng tiền mặt trong két nhiều hay ít phụ thuộc vào nhu cầu chi
    tiêu và khả năng hút tiền mặt mỗi thời kì, khoảng cách giữa ngân hàng thương mại và
    kho tiền của ngân hàng nhà nước. Các ngân hàng thương mại Việt Nam thường phải
    giữ tỉ lệ tiền mặt cao do tâm lý và thói quen sử dụng tiền mặt trong thanh toán của đại
    đa số dân chúng và doanh nghiệp nhỏ. Nhìn chung ngân quỹ của ngân hàng là tài sản
    không sinh lời (hoặc sinh lời thấp trong trường hợp tiền gửi tại NHNN và các ngân
    hàng khác được hưởng lãi) song lại là tài sản có tính thanh khoản cao nhất, đáp ứng
    nhu cầu chi trả thường xuyên. Do vậy, mỗi ngân hàng đều cố gắng giữ ngân quỹ ở
    mức thấp nhất có thể được. Tỷ trọng ngân quỹ trong tổng tài sản của ngân hàng
    thường thấp và khác nhau giữa các ngân hàng. Thông thường, ngân hàng gần trung
    tâm tiền tệ, tỷ lệ này thường thấp hơn so với ngân hàng ở xa. Tỷ lệ này có xu hướng
    tăng trong giai đoạn kinh tế suy thoái, khi ngân hàng khó tìm kiếm được nhiều cơ hội
    cho vay và đầu tư.

    3.1.3. Chứng khoán
    Ngân hàng nắm giữ chứng khoán vì 2 mục tiêu: chứng khoán được coi là tài sản đệm
    cho ngân quỹ, và vì chứng khoán mang lại thu nhập cao hơn ngân quỹ.
    Các loại chứng khoán ngân hàng nắm giữ bao gồm: chứng khoán kinh doanh và
    chứng khoán đầu tư, trong chứng khoán đầu tư có chứng khoán giữ đến ngày đáo hạn
    và chứng khoán sẵn sàng để bán.

    NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211 45

  4. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    Ngân hàng thương mại nắm giữ chứng khoán vì mục tiêu thanh khoản và đa dạng hoá
    tài sản. Ngân hàng thường chia chứng khoán thành 2 loại thanh khoản và kém thanh
    khoản. Thông thường các chứng khoán có tính thanh khoản cao (chứng khoán thanh
    khoản) – chứng khoán an toàn, dễ bán, ít giảm giá – là những chứng khoán có tỷ lệ
    sinh lời thấp, và ngược lại các chứng khoán kém thanh khoản (chứng khoán đầu tư) –
    rủi ro cao – thường có tỷ lệ sinh lời cao.
    Các chứng khoán ngắn hạn của chính phủ thường được xếp hàng đầu trong số các
    chứng khoán thanh khoản. Tuỳ theo khả năng trả nợ của chính phủ nước phát hành mà
    một số loại chứng khoán chính phủ có thể bán tại hầu hết các thị trường tài chính trên
    thế giới hoặc giới hạn tại địa phương. Sau chứng khoán ngắn hạn của chính phủ là
    giấy nợ ngắn hạn do các ngân hàng, hoặc các công ty tài chính nổi tiếng phát hành
    hoặc chấp nhận thanh toán. Sau nữa là các chứng khoản chính phủ có thời hạn dài,
    chứng khoán trung và dài hạn của các công ty có tỷ lệ sinh lời cao được ngân hàng
    nắm giữ đến ngày đáo hạn để thu lời. Ngoài các mục tiêu thanh khoản và lợi nhuận đã
    nói ở trên, Ngân hàng cũng nắm giữ chứng khoán để thực hiện quyền tham dự, kiểm
    soát hoạt động của tổ chức phát hành.

    3.1.4. Tín dụng
    Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng thương mại,
    phản ánh hoạt động đặc trưng của ngân hàng. Loại tài sản này được phân chia theo
    nhiều tiêu thức khác nhau.

    3.1.4.1. Tín dụng ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
    Phân chia theo thời gian có ý ngĩa quan tọng đối với
    ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an
    toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn
    trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng được
    phân thành:
     Tín dụng ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống tài trợ
    cho tài sản lưu động.
     Tín dụng trung hạn: từ trên 1 năm đến 5 năm tài trợ cho các tài sản cố định như
    phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bị chóng hao mòn.
     Tín dụng dài hạn: trên 5 năm tài trợ cho công trình xây dựng như nhà, sân bay,
    cầu, đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu.
    Việc xác định thời hạn trên cũng chỉ có tính chất tương đối vì nhiều khoản cho vay
    không xác định trước được chính xác thời hạn. Phân chia tín dụng theo thời gian có ý
    nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và
    sinh lợi của tài sản.
    Tỷ trọng tín dụng ngắn hạn tại các ngân hàng thương mại thường cao hơn tín dụng
    trung và dài hạn: Các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho tài sản lưu động của khách hàng.

    46 NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211

  5. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    Tín dụng trung và dài hạn thường có tỷ trọng thấp hơn do rủi ro cao hơn, nguồn vốn
    đắt và khan hiếm hơn. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này như kì hạn và tính ổn
    định của nguồn vốn, khả năng quản lí thanh khoản của ngân hàng, khả năng dự báo và
    dự phòng rủi ro trong trung và dài hạn…

    3.1.4.2. Theo hình thức tài trợ tín dụng được chia thành cho vay, bảo lãnh, cho thuê…
    Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng
    với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi
    trong khoảng thời gian xác định. Cho vay là tài sản
    lớn nhất trong khoản mục tín dụng. Cho vay thường
    được định lượng theo 2 chỉ tiêu: Doanh số cho vay
    trong kì và dư nợ cuối kì. Doanh số cho vay trong
    kì là tổng số tiền mà ngân hàng đã cho vay ra trong
    kì. Dư nợ cuối kì là số tiền mà ngân hàng hiện đang
    còn cho vay vào thời điểm cuối kì. Khi lập các báo cáo tài chính (thời điểm), cho vay
    được ghi dưới hình thức dư nợ. Một số ngân hàng thường ghi giảm dư nợ phần trích
    lập dự phòng tổn thất hoặc lãi được nhận trước.
    Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho khách hàng tương ứng
    với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở hữu một thương
    phiếu chưa đến hạn (hoặc một giấy nợ).
    Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê theo những
    thoả thuận nhất định. Sau thời gian nhất định, khách hàng phải trả cả gốc lẫn lãi cho
    ngân hàng. Cho thuê tài sản trung và dài hạn (Leasing) được ghi vào khoản mục tài
    sản theo giá trị tài sản cho thuê trừ đi phần tiền thuê ngân hàng đã thu được (dư nợ
    cho thuê).
    Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng
    của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng đã cho khách hàng sử
    dụng uy tín của mình để thu lợi. Bảo lãnh được ghi vào tài sản ngoại bảng, đó là giá
    trị mà ngân hàng cam kết trả thay khách hàng của mình. Phần bảo lãnh ngân hàng
    phải thực hiện chi trả được ghi vào tài sản nội bảng (mục cho vay bắt buộc, tính vào
    nợ quá hạn).

    3.1.4.3. Tín dụng được chia theo đảm bảo
    Không có đảm bảo, có đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố. Về nguyên tắc, mọi
    khoản tín dụng của ngân hàng đều có đảm bảo. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ ghi vào hợp
    đồng tín dụng loại đảm bảo mà ngân hàng có thể bán đi để thu nợ nếu khách hàng
    không trả nợ. Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài
    sản mà mình đang sở hữu hoặc sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba để trả
    nợ cho ngân hàng.
    Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín,
    thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít
    xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người

    NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211 47

  6. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    vay. Các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu, không cần
    tài sản đảm bảo. Các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn,
    hoặc những khoản cho vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có khả năng giám sát
    việc bán hàng… cũng có thể không cần tài sản đảm bảo.
    Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải kí hợp
    đồng đảm bảo. Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tình trạng của tài sản đảm bảo
    (quyền sở hữu, giá trị, tính thị trường, khả năng bán, khả năng tài chính của người thứ
    ba…), có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc có khả năng bảo quản tài sản đảm bảo.

    3.1.4.4. Tín dụng phân loại theo rủi ro
    Tín dụng bao gồm các khoản có độ an toàn cao, khá,
    trung bình, và thấp. Để phân loại theo tiêu thức này,
    ngân hàng cần nghiên cứu các mức độ, các căn cứ để
    chia loại rủi ro. Một số ngân hàng lớn chia tới 10
    thang bậc rủi ro tín dụng, tức là xếp loại tín dụng
    theo các dấu hiệu rủi ro từ thấp đến cao. Cách phân
    loại này giúp ngân hàng thường xuyên đánh giá lại
    khoản mục tín dụng, dự trù quĩ cho các khoản tín dụng rủi ro cao, đánh giá chất lượng
    tín dụng.
     Tín dụng lành mạnh: các khoản tín dụng có khả năng thu hồi cao.
     Tín dụng có vấn đề: Các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như khách
    hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoặch bị chậm, khách hàng gặp thiên tai,
    khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính…
     Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn và
    khách hàng có kế hoặch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn…
     Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản thế
    chấp nhỏ hoặc bị giảm gía, khách hàng chây ì…

    3.1.4.5. Phân loại khác
     Theo ngành kinh tế (công, nông nghiệp..).
     Theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố định).
     Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng…).
    Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trong cấp tín dụng
    của ngân hàng. Với xu hướng đa dạng, các ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ song
    vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà ngân hàng có lợi thế. Ví dụ ngân hàng Nông
    nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, bên cạnh việc đa dạng hoá các ngành tài trợ,
    vẫn tập trung tài trợ cho lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn. Cách phân loại trên cho
    phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liền với những lĩnh vực tài trợ để có
    chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức và chính sách mở rộng phù hợp.

    48 NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211

  7. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    3.1.5. Các tài sản nội bảng khác

    3.1.5.1. Tài sản uỷ thác
    Tài sản ủy thác là tài sản được hình thành theo sự uỷ thác của khách hàng. Ngân hàng
    làm dịch vụ uỷ thác cho vay cho các ngân hàng khác, các tổ chức chính phủ hoặc phi
    chính phủ. Ví dụ, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam cho vay
    hộ WB theo chương trình xoá đói giảm nghèo tại một số tỉnh tại Việt Nam. Nguồn
    tiền, các yêu cầu cho vay cũng như toàn bộ tổn thất thuộc về Ngân hàng Thế giới.
    Ngân hàng Nông nghiệp chỉ thực hiện cho vay hộ và hưởng hoa hồng (phí uỷ thác).
    Tài sản uỷ thác còn bao gồm chứng khoán uỷ thác (đầu tư uỷ thác). Tuy chiếm tỷ trọng
    không lớn trong tổng tài sản, song tài sản uỷ thác ít rủi ro và mang lại thu nhập đáng kể
    cho ngân hàng. Qui mô của tài sản uỷ thác phụ thuộc vào khả năng cung cấp dịch vụ
    uỷ thác có chất lượng cao của ngân hàng.

    3.1.5.2. Phần hùn vốn (liên kết)
    Ngân hàng có thể tham gia góp vốn với các tổ chức khác (không thể hiện dưới hình thức
    nắm giữ chứng khoán), ví dụ như tham gia hùn vốn vào các ngân hàng liên doanh, các
    công ty…

    3.1.5.3. Các tài sản khác
    Nhà cửa và trang thiết bị của ngân hàng phục vụ cho
    quá trình kinh doanh của ngân hàng và cho thuê. Toà
    nhà ngân hàng là tài sản cố định lớn nhất của ngân
    hàng. Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng tài sản song
    các tài sản này ảnh hưởng tới vị thế, năng suất lao động
    của ngân hàng. Ngoài ra còn có các khoản ứng trước để
    mua công cụ nhỏ chưa phân bổ hết trong kì, ứng trước
    cho cán bộ ngân hàng… Một số ngân hàng còn xếp cả nợ khoanh vào tài sản khác.

    3.1.6. Tài sản ngoại bảng
    Ngân hàng đưa ra những cam kết của mình đối với khách hàng, hình thành nên một loại
    tài sản là hợp đồng cam kết, ví dụ như hợp đồng bảo lãnh, hợp đồng tương lai, hợp đồng
    quyền chọn… ngân hàng có thể quản lý hộ tài sản cho khách hàng, cất giữ hộ… Những
    loại tài sản này không trực tiếp hình thành do sử dụng nguồn vốn mà ngân hàng huy
    động nên được xếp vào tài sản ngoại bảng. Tài sản ngoại bảng phản ánh dung lượng
    công tác của ngân hàng, tạo nên thu nhập và rủi ro cho ngân hàng.

    3.2. Quản lý tài sản

    3.2.1. Quản lý tiền tại quỹ và tiền gửi
    Ngân quĩ của ngân hàng là những tài sản có tính thanh khoản cao nhất, được thiết lập
    nhằm duy trì khả năng chi trả, và các yêu cầu khác của ngân hàng thương mại.

    NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211 49

  8. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    Trước hết, mỗi ngân hàng đều cần duy trì dự trữ bắt buộc (dự trữ pháp định) theo qui
    định của ngân hàng Nhà Nước. Dự trữ bắt buộc được tính dưa trên nguồn huy động
    trong kì tính và tỷ lệ dự trữ bắt buộc cụ thể. Dự trữ bắt buộc được tồn tại trong ngân
    hàng dưới hình thức ngân quĩ của ngân hàng, có nghĩa là ngân quĩ trong kì của ngân
    hàng phải đảm baỏ thoả mãn số lượng dự trữ bắt buộc mà một ngân hàng phải duy trì
    trong kì đó.
    Mức dự trữ Tỷ lệ Số dư bình quân của
    bắt buộc = dự trữ x các nguồn phải dự trữ
    trong kỳ bắt buộc bắt buộc trong kỳ

    Tỷ lệ dự trữ bắt buộc thường do Quốc hội qui định,
    ngân hàng Trung ương (Ngân hàng Nhà Nước), có thể
    thay đổi tỷ lệ này trong các thời kì khác nhau đối với
    các nguồn khác nhau, hoặc có thể được phân biệt theo
    qui mô, theo loại tiền, theo vùng…
    Các nguồn là đối tượng phải tính dự trữ bắt buộc cũng
    có thể bị thay đổi tuỳ theo chính sách của Ngân hàng
    Nhà Nước, thông thường đó là các nguồn tiền gửi. Các nguồn tiền gửi ngắn hạn
    thường phải tính dự trữ bắt buộc với tỷ lệ cao so với các nguồn khác.
    Hình thức biểu hiện của dự trữ bắt buộc cùng khác nhau tại các nước khác nhau, tuỳ
    theo khả năng kiểm soát của ngân hàng Nhà Nước. Tại Việt Nam, dự trữ bắt buộc thể
    hiện ở khoản mục “tiền gửi của ngân hàng thương mại tại ngân hàng Nhà Nước”.
    Ví dụ, các nguồn tiền gửi phải dự trữ bắt buộc bình quân tháng 1 là 200 tỷ, và tỷ lệ dự
    trữ bắt buộc là 5% thì mức trữ bắt buộc phải có trong tháng 2:
    200 * 5% = 10 tỷ.
    Thứ hai, ngân quĩ ngoài đảm bảo dự trữ bắt buộc còn phải đáp ứng yêu cầu chi trả.
    Ngân hàng phải duy trì khả năng chi trả bằng cách duy trì ngân quĩ với tỷ lệ thích hợp
    với nhu cầu thanh toán của khách. Tính toán nhu cầu chi trả chủ yếu dựa vào các
    nguồn tiền gửi ngắn hạn với các tỷ lệ chi trả dự tính và nhu cầu cho vay mà ngân hàng
    đã cam kết, khả năng huy động các nguồn tiền rẻ để chi trả…
    Ngân quĩ ngân hàng sinh lời thấp, vì vậy giữ ngân quĩ nhiều là không kinh tế. Quản lí
    ngân quĩ, về thực chất là tính toán số ngân quĩ tối thiểu cần giữ trong các thời kì khác
    nhau, đồng thời cân đối giữa các bộ phận của ngân quĩ (tiền mặt, tiền gửi…) một cách
    phù hợp với nhu cầu sử dụng của khách hàng. (Phần này sẽ được nghiên cứu kĩ hơn
    trong bài quản lí thanh khoản).

    3.2.2. Quản lý chứng khoán
    Chứng khoán có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức. Tuy nhiên ngân hàng quan
    tâm tới chứng khoán trên 2 giác độ chính: an toàn và sinh lợi của chứng khoán. Vì vậy
    ngân ngân hàng phân loại chứng khoán thành 2 nhóm chính: Các chứng khoán thanh
    khoản song sinh lời thấp và các chứng khoán kém thanh khoản hơn song sinh lợi cao.

    50 NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211

  9. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    Loại thứ nhất được nắm giữ chủ yếu để đáp ứng nhu cầu chi trả, loại thứ hai chủ yếu
    đáp ứng yêu cầu sinh lợi. Loại thứ nhất thường là chứng khoán của các chính phủ, các
    tổ chức tài chính hàng đầu trong nước và quốc tế, và có thời gian đến lúc đáo hạn
    ngắn. Loại thứ hai thường là của Chính phủ, các tổ chức tài chính và các công ty, và
    có thời gian đáo hạn tương đối dài.
    Công tác quản lí chứng khoán đòi hỏi phải thường xuyên xếp hạng chứng khoán tuỳ
    theo tính an toàn và thời gian còn lại của chúng. Ví dụ chứng khoán công ty có thời
    hạn 5 năm, song đã được nắm giữ được 4 năm 8 tháng, tình hình tài chính của công ty
    trả nợ tốt, thì có thể xếp vào chứng khoán thanh khoản. Chứng khoán 12 tháng song
    công ty phát hành đang lâm vào tình trạng khó
    khăn bất thường, ít khả năng cứu vãn thì cũng bị
    xếp vào chứng khoán kém thanh khoản. Nhiều
    ngân hàng phân chia nhỏ thang bậc của chứng
    khoán theo cách xếp loại của các tổ chức tư vấn tài
    chính quốc tế (theo chất lượng quốc gia, ngành,
    công ty phát hành chứng khoán). Các chứng khoán
    cũng có thể được xếp loại theo mục đích nắm giữ chủ yếu, như chứng khoán nắm giữ
    nhằm mục đích kiểm soát công ty phát hành, nắm giữ chỉ nhằm mục đích thu lợi tức,
    nắm giữ nhằm mục đích thanh khoản (bán để có tiền chi trả), nhằm mục đích đầu cơ
    (kì vọng giá lên cao, bán để hưởng chênh lệch giá)… Ngân hàng có thể tổ chức phòng
    quản lí chứng khoán, hoặc phòng ngân quĩ sẽ quản lí các chứng khoán thanh khoản
    còn phòng chứng khoán (hoặc công ty chứng khoán) sẽ quản lí chứng khoán đầu tư.
    Để xếp loại chứng khoán, ngân hảng phải thường xuyên theo dõi, phân tích và đánh
    giá tình hình tài chính của các công ty phát hành chứng khoán, sự biến động tỷ giá, lãi
    suất thị trường, giá bất động sản, tình hình chính trị… của mỗi quốc gia, khu vực và
    toàn cầu.
    Ngân hàng thường xem xét một số chỉ tiêu liên quan đến danh mục chứng khoán như
    rủi ro và thu nhập từ chứng khoán, xu hướng vận động của giá chứng khoán và các
    nhân tố ảnh hưởng, tỷ lệ chứng khoán thanh khoản trên ngân quĩ hoặc tiền gửi… các
    tỷ lệ này phản ánh chiến lược quản lí chứng khoán của ngân hàng.
    Chứng khoán thanh khoản
    Tỷ lệ thanh khoản của chứng khoán =
    Tổng tài sản
    Chứng khoán thanh khoản bổ xung cho ngân quĩ, tạo nên tính thanh khoản cho tài sản,
    và thường được coi là “tài sản đệm“ cho ngân quĩ. Chứng khoán thanh khoản có tỷ lệ
    sinh lời cao hơn ngân quĩ song tính thanh khoản lại cao hơn tín dụng. Vì vậy, ngân
    hàng thường phân tích và lựa chọn chứng khoán thanh khoản như mục tiêu quan trọng
    trong quản lý chứng khoán.
    Quản lí chứng khoán được thực hiện trên nguyên tắc quản lí danh mục đầu tư. Các
    chứng khoán thường xuyên được phân tích với giá thị trường và cuối cùng là nguyên
    tắc đa dạng hoá “không bỏ trứng vào một giỏ”.

    NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211 51

  10. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    3.2.3. Quản lý tín dụng
    Ngân hàng cấp tín dụng nhằm mục tiêu thu lời, như vậy, mục tiêu an toàn và sinh lợi
    vẫn là mục tiêu chính trong quản lí tín dụng.
     Khoản mục tín dụng thường chiếm tỷ trọng cao
    nhất, khoảng 50 -70 % tổng tài sản. Với qui mô
    như vậy, tín dụng ảnh hưởng tới rất nhiều chiến
    lược hoạt động của ngân hàng như dự trữ, vay,
    đầu tư… Khi chứng khoán thanh khoản chưa có
    hoặc khan hiếm, hoặc khi khả năng gia tăng huy
    động bị hạn chế, nhiều ngân hàng phải sử dụng
    tín dụng như tài sản đảm bảo thanh khoản. Ngân
    hàng thường nghiêng về nắm giữ các khoản tín dụng ngắn hạn, hoặc các khoản tín
    dụng có thể chuyển đổi nhanh. Chiết khấu thương phiếu có chất lượng cho phép
    ngân hàng thương mại có thể tái chiết khấu. Các khoản vay 3 tháng nhanh chóng
    sẽ được thu hồi để đáp ứng nhu cầu chi trả. Trong điều kiện ngân hàng chuyển
    hoán kì hạn của nguồn, việc thu nợ nhiều lần trong kì (nhiều kì hạn nợ) sẽ góp
    phần tăng tính thanh khoản của khoản cho vay.
     Hoạt động tín dụng mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng. Thu dự tính từ hoạt
    động tín dụng (là một bộ phận của thu lãi) phụ thuộc vào qui mô, thời gian và lãi
    suất và cả ba yếu tố này có mối liên hệ khăng khít. Trước hết, ngân hàng sử dụng
    mọi nỗ lực của mình để tăng qui mô tín dụng như mở rộng mạng lưới, đa dạng hoá
    các loại hình tín dụng, phát triển công nghệ mới nhằm gia tăng tiện ích cho khách,
    giảm lãi suất hoặc cung cấp các điều kiện ưu đãi… các biện pháp này một mặt làm
    tăng qui mô, song mặt khác làm tăng chi phí. Do vậy, thứ hai, ngân hàng phải
    nghiên cứu và xác lập mỗi quan hệ giữa các biện pháp tăng qui mô với thu nhập
    ròng từ hoạt động tín dụng thông qua chênh lệch lãi suất biên. Mối quan hệ này
    cho phép ngân hàng phân biệt lãi suất và các điều kiện tài trợ khác với các khách
    hàng lớn, quan trọng, và liên kết với các tổ chức tín dụng khác trên thị trường.

    3.2.4. Quản lý tài sản nội bảng khác

    3.2.4.1. Quản lí các tài sản uỷ thác
    Tài sản uỷ thác của khách hàng giao cho ngân hàng có rất nhiều loại. Nhiệm vụ của
    ngân hàng là phải bảo quản, theo dõi và (có thể) tăng thu nhập cho khách hàng. Các
    khoản cho vay uỷ thác ngân hàng phải theo dõi để giải ngân, thu nợ kịp thời. Nhiều
    khoản đầu tư, khách hàng uỷ thác cho ngân hàng các quyết định mua, bán. Những
    ngân hàng lớn đã phát triển phòng uỷ thác cung cấp cho khách hàng các dịch vụ uỷ
    thác kèm theo tư vấn. Nhà quản lí sẽ xem xét chi phí liên quan tới hoạt động uỷ thác
    và thu nhập từ phí uỷ thác, các thu khác do mua và bán hộ cho khách với giá buôn
    (mua bán với khối lượng lớn); mối quan hệ tương tác giữa hoạt động uỷ thác và các
    hoạt động khác của ngân hàng (như gia tăng tiền gửi, tăng cho vay, tăng thu từ hoạt
    động thanh toán…). Mục tiêu của quản lí là mở rộng thị trường uỷ thác trên cơ sở
    nâng cao chất lượng dịch vụ.

    52 NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211

  11. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    3.2.4.2. Quản lí trang thiết bị, nhà cửa của ngân hàng.
    Tuy chiếm tỷ trong không lớn trong tổng tài sản, song các trang thiết bị, nhà cửa của
    ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của ngân hàng: Đó là nơi thực hiện
    các giao dịch với khách hàng, lưu giữ và bảo quản các các hợp đồng, tiền, thực hiện
    các hoạt động thanh toán… các thiệt hại về trang thiết bị như mất cắp, hỏng, cháy…
    sẽ gây tổn thất lớn cho ngân hàng. Ngoài việc phải tốn kém mua sắm, xây dựng lại,
    lòng tin của dân chúng và các đối tác vào ngân hàng sẽ giảm sút.
    Ngân hàng thường phân loại tài sản để tính khấu hao phù hợp. Ngân hàng thường đưa
    ra các qui định về quản lí trang thiết bị để hạn chế trộm cắp, sử dụng lãng phí hoặc
    bừa bãi gây hỏng, qui định về sửa chữa, bảo dưỡng, hoặc mua bảo hiểm tài sản.

    3.2.5. Quản lý tài sản ngoại bảng
    Tài sản ngoại bảng mang lại thu nhập cho ngân hàng
    đồng thời gắn với rủi ro. Các cam kết cho vay (hợp
    đồng về hạn mức), hoặc hợp đồng tài chính tương lai,
    có thể mang lại cho ngân hàng khoản thu phí cam kết.
    Các cam kết bảo lãnh được xếp vào hoạt động tín dụng,
    hàm chứa rủi ro rất cao. Khi phải thực hiện cam kết,
    khoản cho vay bắt buộc (đồng thời có thể là nợ quá
    hạn) xảy ra, trở thành tài sản nội bảng. Do vậy về bản chất, quản lí các tài sản ngoại
    bảng là quản lí rủi ro.
    Trước hết, ngân hàng phân loại tài sản ngoại bảng theo thời gian, chủ thể, tính chất rủi
    ro. Các cam kết bảo lãnh không có tài sản đảm bảo, hoặc cho những khách hàng tình
    hình tài chính không thật vững chắc chứa đựng rủi ro cao; các hợp đồng tài chính
    tương lai có thể bị rủi ro lãi suất, hối đoái…
    Thứ hai, Ngân hàng phải thực hiện nghiên cứu dự báo về các nhân tố ảnh hưởng đến
    tài sản ngoại bảng như thị trường nguồn vốn, tỷ giá, lãi suất, sự thành công của các
    đối tác… Việc nghiên cứu này cho phép ngân hàng xếp loại các tài sản ngoại bảng và
    hoạch định chính sách trong cung cấp các hợp đồng tài chính tương lai.
    Thứ ba, ngân hàng cần dự phòng trước nguồn tài trợ cho tài sản ngoại bảng, như gia
    tăng ngân quĩ, các chứng khoán thanh khoản với lãi suất sinh lời thấp, hoặc dự trù vay
    mượn cấp bách với lãi suất cao, hoặc trích quĩ dự phòng tổn thất.
    Một số tài sản nội bảng được đưa ra ngoại bảng để theo dõi, như các khoản nợ không có
    khả năng thu hồi, lãi treo. Ngân hàng đã sử dụng quĩ dự phòng để bù đắp cho những tài
    sản này song vẫn theo dõi ở ngoại bảng để nếu có cơ hội sẽ tìm cách thu hồi.

    NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211 53

  12. Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản

    Tóm lược cuối bài
     Tài sản của 1 ngân hàng, cũng như bất cứ một doanh nghiệp nào, là sự chuyển hoá của
    nguồn vốn nhằm mục đích tối ưu hoá lợi nhuận của chủ sở hữu. Tuy nhiên, do đặc thù của
    ngân hàng là kinh doanh tiền tệ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của nền kinh tế, các
    NHTM phải chịu sự kiểm soát của NHTW, là chủ thể chịu trách nhiệm đảm bảo lượng cung
    tiền cần thiết và điều hành chính sách tiền tệ.
     Cơ cấu tài sản của 1 ngân hàng gồm: tiền tại quỹ, tiền gửi, chứng khoán, tín dụng, các tài
    sản nội bảng khác, tài sản ngoại bảng.
     Quản lý tài sản được thực hiện nhằm các mục tiêu đảm bảo an toàn, tăng giá trị vốn chủ sở
    hữu thông qua tăng lợi nhuận.
     Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý tài sản: lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế,
    ROE, ROA.

    54 NEU_FIN504_Bai3_b3_v1.0013110211

Download tài liệu Bài giảng Quản trị Ngân hàng thương mại – Bài 3: Tài sản và quản lý tài sản File Word, PDF về máy