[Download] Tải Bài giảng Nguyên lý kế toán – Bài 1: Tổng quan về kế toán – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Nguyên lý kế toán – Bài 1: Tổng quan về kế toán

Bài giảng Nguyên lý kế toán – Bài 1: Tổng quan về kế toán
Nội dung Text: Bài giảng Nguyên lý kế toán – Bài 1: Tổng quan về kế toán

Download


“Bài giảng Nguyên lý kế toán – Bài 1: Tổng quan về kế toán” giới thiệu các vấn đề tổng quan về bản chất, vai trò của kế toán; cơ hội, triển vọng phát triển của nghề nghiệp kế toán; các báo cáo tài chính và vai trò của báo cáo tài chính đối với các đối tượng sử dụng thông tin; các nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Nguyên lý kế toán – Bài 1: Tổng quan về kế toán – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Nguyên lý kế toán – Bài 1: Tổng quan về kế toán File Word, PDF về máy

Bài giảng Nguyên lý kế toán – Bài 1: Tổng quan về kế toán

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Nguyên lý kế toán – Bài 1: Tổng quan về kế toán

  1. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    BÀI 1 TỔNG QUAN VỀ KẾ TOÁN

    Hướng dẫn học
    Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu:
    Giáo trình Nguyên lý kế toán – NXB Tài chính – TS. Phạm Thành Long – TS. Trần
    Văn Thuận.
     Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc qua email.
     Trang Web môn học.
    Nội dung
    Bài học này giới thiệu các vấn đề tổng quan về bản chất, vai trò của kế toán; cơ hội, triển
    vọng phát triển của nghề nghiệp kế toán; các báo cáo tài chính và vai trò của báo cáo tài chính
    đối với các đối tượng sử dụng thông tin; các nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính.
    Mục tiêu
     Giúp sinh viên hiểu được khoa học kế toán là gì? Vai trò và vị trí của kế toán trong
    mỗi đơn vị cụ thể cũng như trong nền kinh tế.
     Giúp sinh viên phân biệt các loại kế toán khác nhau, mục tiêu, phương pháp và vai trò
    của từng loại kế toán.
     Giúp sinh viên thấy được ý nghĩa của thông tin kế toán đối với từng đối tượng khác
    nhau trong vấn đề ra quyết định kinh doanh hoặc quản lý kinh tế.
     Giúp sinh viên nắm bắt được các đẳng thức cơ bản của kế toán và mối liên hệ của các
    đẳng thức này với các nghiệp vụ kinh tế và nhiệm vụ ghi chép của kế toán.
     Giúp sinh viên hiểu được các loại báo cáo tài chính cơ bản và cách thức sử dụng
    thông tin trên các báo cáo tài chính để phục vụ việc ra quyết định.

    ACC202_Bai1_v1.0013107218 1

  2. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    Tình huống dẫn nhập
    Vì sao có Tổng giá trị Tài sản rất lớn nhưng Campus Pizza
    vẫn gặp khó khăn về vấn đề tài chính?
    Tài sản của Campus Pizza đạt xấp xỉ 30,5 tỉ USD. Tuy nhiên,
    đã có một khoảng thời gian công ty đứng trước tình hình tài
    chính lao đao. Bởi vì, trong số 30,5 tỉ USD, Công ty có tới 25 tỉ
    USD Nợ phải trả và chỉ có 5,5 tỉ vốn chủ sở hữu.

    Tổng giá trị Tài sản của một doanh nghiệp lớn có thể hiện khả năng tài chính của
    Doanh nghiệp vững mạnh? Để hiểu rõ tình hình tài chính của một doanh nghiệp, kế
    toán cần nghiên cứu những đối tượng nào?

    2 ACC202_Bai1_ v1.0013107218

  3. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    1.1. Bản chất và vai trò của kế toán
    1.1.1. Kế toán là gì?
    Với bề dày của lịch sử hình thành và phát triển hàng nghìn năm, từ lúc còn sơ khai
    cho đến khi trở thành một môn khoa học kinh tế độc lập, kế toán luôn được coi là
    “ngôn ngữ của kinh doanh”.
    Nhiều người cho rằng kế toán là một nghề nghiệp
    đặc biệt với các kĩ thuật đặc thù mà chỉ những
    người làm kế toán chuyên nghiệp mới cần phải
    quan tâm, mới hiểu và có thể và thực hiện được.
    Quan điểm này là hoàn toàn sai lầm. Trên thực tế,
    gần như tất cả chúng ta đều tiếp xúc và thực hiện
    công tác kế toán dưới một góc độ và một cách thức
    nhất định nào đó.
    Các nhà đầu tư, nhà quản trị, những người ra quyết định kinh doanh… cho dù kinh
    doanh trong ngành nghề, lĩnh vực nào hay tại bất cứ quốc gia nào, đều cần hiểu rõ
    những khái niệm mang tính kĩ thuật của kế toán như tài sản, nguồn vốn, nợ phải trả,
    thu nhập thuần, lợi nhuận, lưu chuyển tiền…, để có thể tiến hành các hoạt động kinh
    doanh một cách hiệu quả nhất. Chính vì thế, kế toán được coi là ngôn ngữ chung của
    tất cả các cá nhân, doanh nghiệp và mọi hoạt động kinh doanh.
    Tuy nhiên, việc sử dụng thông tin kế toán không chỉ giới hạn trong kinh doanh. Trong
    cuộc sống hàng ngày, mỗi cá nhân đều phải quan tâm và giải quyết các vấn đề như:
    thanh toán hoá đơn điện thoại, chi phí sinh hoạt cá nhân, tính toán thu nhập từ công
    việc, cân đối thu chi cá nhân, lên kế hoạch tiết kiệm, vay ngân hàng, tính toán và nộp
    thuế thu nhập cá nhân… tất cả các vấn đề đó đều ít nhiều liên quan đến các thông tin
    kế toán. Chính phủ, các cơ quan nhà nước, các tổ chức cũng cần sử dụng thông tin kế
    toán để phục vụ cho hoạt động của mình.
    Có nhiều cách hiểu về bản chất của kế toán:
     Quan điểm 1: Kế toán là nghệ thuật xử lý, đo lường và truyền tin về kết quả của
    các hoạt động kinh tế.
     Quan điểm 2: Kế toán là một hệ thống thông tin có nhiệm vụ cung cấp các thông
    tin kinh tế – tài chính về các hoạt động kinh doanh để làm cơ sở ra quyết định kinh
    doanh của những đối tượng sử dụng.
     Quan điểm 3: Kế toán là quá trình xác định, đo lường và truyền đạt thông tin kinh
    tế nhằm cho phép người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá và ra quyết định trên
    cơ sở được thông tin đầy đủ và phù hợp.
     Quan điểm 4: Kế toán là môn khoa học kinh tế có nhiệm vụ phản ánh và giám đốc
    (bao gồm: quan sát, đo lường, tính toán, ghi chép) các quá trình kinh tế – tài chính
    ở các đơn vị.
     Quan điểm 5: Kế toán là quá trình thu thập, phân tích, đo lường, sắp xếp, ghi chép,
    tóm tắt và phản ánh kết quả các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp dưới dạng
    thông tin.

    ACC202_Bai1_v1.0013107218 3

  4. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    Mỗi quan điểm nêu trên đề cập đến kế toán ở một góc độ khác nhau hoặc nhấn mạnh
    tới một vai trò nhất định của kế toán. Tuy nhiên, các khái niệm đều thể hiện sự tương
    đồng ở các điểm sau:
     Kế toán liên quan đến 3 đối tượng: người làm kế toán, người sử dụng thông tin kế
    toán và các hoạt động kinh doanh.
     Mục tiêu của kế toán là cung cấp thông tin về hoạt động kinh doanh cho người sử
    dụng, phục vụ quá trình ra quyết định của đối tượng này.
     Về mặt kĩ thuật, người làm kế toán cần thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin về
    kết quả của các nghiệp vụ kinh tế.
     Sản phẩm trực tiếp của kế toán là các báo cáo kế toán về tình hình tài chính, kết
    quả kinh doanh, lưu chuyển tiền…của doanh nghiệp.
    Qua các phân tích về khái niệm và vai trò của kế toán, có thể khẳng định việc nghiên
    cứu, học tập kế toán không chỉ dành riêng cho sinh viên chuyên ngành kế toán. Hiểu
    biết về bản chất, tầm quan trọng, quy trình vận hành cũng như hạn chế của thông tin
    kế toán là cần thiết và đem lại lợi ích thiết thực đối với tất cả sinh viên khối kinh tế và
    quản trị kinh doanh nói chung.

    1.1.2. Thông tin kế toán với việc ra quyết định kinh doanh
    1.1.2.1. Các đối tượng sử dụng thông tin kế toán
    Mục tiêu cơ bản của kế toán là cung cấp cho người
    sử dụng các thông tin hữu ích phục vụ cho việc ra
    các quyết định kinh doanh. Mỗi đối tượng sử dụng
    thông tin kế toán liên quan đến lợi ích của doanh
    nghiệp dưới các góc độ khác nhau, có mục tiêu và
    động cơ khác nhau trong kinh doanh, chính vì vậy,
    có sự khác nhau trong nhu cầu và cách thức sử dụng
    thông tin kế toán. Xác định được các đối tượng sử dụng thông tin kế toán là tiền đề
    quan trọng để xây dựng hệ thống thông tin kế toán hiệu quả.
    Có thể nhận diện các đối tượng sử dụng thông tin kế toán dưới nhiều góc độ khác
    nhau. Thông thường, xét trên mối quan hệ với doanh nghiệp (đơn vị kế toán), có thể
    chia đối tượng sử dụng thông tin kế toán thành 02 nhóm: các đối tượng bên trong và
    các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp:
     Các đối tượng bên trong đơn vị: chủ yếu là các nhà quản trị, những người bên
    trong doanh nghiệp, chịu trách nhiệm lập kế hoạch, tổ chức và vận hành hoạt động
    kinh doanh. Đây là nhóm đối tượng sẽ đưa ra các quyết định tác động trực tiếp tới
    hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để tiến hành các hoạt động kinh doanh,
    các nhà quản trị cần phải giải đáp hàng loạt các câu hỏi quan trọng như: lượng tiền
    hiện có của doanh nghiệp có đủ để trả nợ? Giá thành sản xuất của sản phẩm là bao
    nhiêu? Cần bố trí quy trình sản xuất như thế nào để đạt lợi nhuận cao nhất?… Để
    trả lời được các câu hỏi này, các nhà quản trị cần các thông tin kịp thời và chi tiết
    như các báo cáo so sánh về mặt tài chính của các phương án, kế hoạch khác nhau,
    báo cáo tăng trưởng doanh thu sau các chính sách marketing, dự báo nhu cầu tiền
    cho năm sau…

    4 ACC202_Bai1_ v1.0013107218

  5. Bài 1: Tổng quan về kế toán

     Các đối tượng bên ngoài đơn vị: bao gồm tất cả các cá nhân, tổ chức không tham
    gia trong bộ máy quản lý của doanh nghiệp. Các đối tượng này không thể tiếp cận
    một cách trực tiếp với các ghi chép kế toán của đơn vị, mà nắm bắt thông tin kế
    toán thông qua hệ thống báo cáo do bộ máy kế toán của đơn vị cung cấp. Có thể
    chia nhóm đối tượng bên ngoài thành các loại sau:
    o Chủ nợ: bao gồm các cá nhân, tổ chức (ví dụ: Ngân hàng hay công ty bảo
    hiểm) cung cấp tín dụng cho doanh nghiệp (cho doanh nghiệp vay tiền). Quan
    hệ lợi ích giữa chủ nợ và doanh nghiệp chủ yếu thể hiện trong các giao dịch
    thanh toán gốc và lãi vay. Các chủ nợ cần sử dụng các thông tin kế toán để xác
    định khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
    o Các nhà đầu tư: lợi ích của các nhà đầu tư
    thể hiện qua sự tăng trưởng giá trị của khoản
    đầu tư vào doanh nghiệp. Lợi ích này sẽ ảnh
    hưởng đến các nhà đầu tư khi quyết định
    mua hay bán cổ phần của doanh nghiệp.
    Chính vì vậy, các nhà đầu tư cần có các
    thông tin để có thể so sánh tình hình tài
    chính và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp nhằm trả lời các câu hỏi:
    Doanh nghiệp có các hoạt động sinh lời hay không? Khả năng sinh lời của
    doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác? Doanh nghiệp sử dụng các nguồn
    lực có hiệu quả hay không?
    o Cơ quan thuế và các cơ quan quản lý Nhà nước khác: đóng vai trò là cơ quan
    quản lý của nhà nước trên các lĩnh vực khác nhau, các đối tượng này sử dụng
    thông tin kế toán để phục vụ các mục tiêu như: tính toán và giám sát tình hình
    thực hiện nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp đối với nhà nước, tính toán và giám
    sát tình hình thực hiện nghĩa vụ về các khoản đóng góp bắt buộc (bảo hiểm xã
    hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp…) của doanh nghiệp đối với người
    lao động và nhà nước…
    o Các đối tượng khác: người lao động, công đoàn, người tiêu dùng, các nhóm lợi
    ích khác trong xã hội cũng có thể có nhu cầu sử dụng và tiếp cận thông tin kế
    toán dưới các góc độ khác (báo cáo niêm yết, báo chí, truyền thông…) và trong
    nhiều trường hợp, việc sử dụng thông tin của các đối tượng này cũng có ít
    nhiều ảnh hưởng tới doanh nghiệp hay các vấn đề chính trị (chính sách tiền
    lương, chính sách đối với người lao động,…).

    1.1.2.2. Đặc điểm của thông tin kế toán ảnh hưởng tới việc ra quyết định kinh doanh
    Thông tin kế toán có vai trò khác nhau đối với mỗi đối tượng sử dụng. Tuy nhiên,
    trong quá trình sử dụng, thông tin kế toán phục vụ việc ra các quyết định kinh doanh
    của mình, mỗi đối tượng cần chú ý đến đặc điểm của thông tin kế toán nhằm sử dụng
    được tối đa vai trò cũng như khắc phục được các mặt hạn chế của các thông tin này.
    Thông tin kế toán có các đặc điểm đáng chú ý sau:
     Thông tin kế toán luôn chú trọng vấn đề định lượng. Mọi yếu tố của quá trình sản
    xuất kinh doanh đều được kế toán lượng hoá thông qua thước đo tiền tệ.

    ACC202_Bai1_v1.0013107218 5

  6. Bài 1: Tổng quan về kế toán

     Thông tin kế toán luôn hướng tới mục tiêu ra quyết định kinh doanh, quyết định
    quản lý.
     Thông tin kế toán là các thông tin thể hiện quá trình vận động liên tục của các
    nguồn lực qua các giai đoạn sản xuất – kinh doanh.
     Thông tin kế toán luôn phản ánh tình hình hoạt động hay kết quả của các giao dịch
    trong quá khứ, nhưng lại được sử dụng để phục vụ cho việc dự báo và ra quyết
    định trong tương lai.
    Các đặc tính trên cần được mỗi đối tượng sử dụng thông tin quan tâm thích đáng để có
    thể đưa ra được các đánh giá và quyết định đúng đắn.

    1.1.3. Các loại kế toán
    Với mỗi loại quyết định kinh tế khác nhau, mỗi đối tượng sử dụng thông tin (người ra
    quyết định) cần được cung cấp các thông tin kế toán phù hợp. Chính vì vậy, cần có các
    loại kế toán khác nhau để đáp ứng các nhu cầu khác nhau của từng loại quyết định.

    1.1.3.1. Kế toán tài chính
    Kế toán tài chính được xây dựng chủ yếu phục vụ
    các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như chủ nợ,
    các nhà đầu tư. Kế toán tài chính có nhiệm vụ lập
    các báo cáo phản ánh tình hình tài chính của doanh
    nghiệp (thể hiện qua tình hình tài sản, nguồn vốn
    của doanh nghiệp tại một thời điểm) và báo cáo
    phản ánh kết quả hoạt động của doanh nghiệp (thể
    hiện qua các thông tin về hoạt động kinh doanh,
    doanh thu, chi phí của doanh nghiệp trong kỳ kế toán). Thông tin trên báo cáo tài
    chính thường có phạm vi bao quát toàn bộ doanh nghiệp.
    Kế toán tài chính cần tuân thủ các thông lệ, chuẩn mực và luật pháp trên các mặt: nội
    dung công tác kế toán, quy trình kế toán, hình thức báo cáo, kỳ báo cáo… Thực hiện
    công tác kế toán tài chính là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các tổ chức.

    1.1.3.2. Kế toán quản trị
    Khác với kế toán tài chính, kế toán quản trị sử dụng các phương pháp chuyên biệt để
    phản ánh và xử lý thông tin kế toán theo hướng chỉ phục vụ cho hoạt động quản lý và
    ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp (đối tượng bên trong) nhằm tiến hành các
    hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
    Các nhà quản trị sử dụng thông tin do kế toán quản trị cung cấp trong mọi quyết định
    quản lý như: thiết lập mục tiêu hoạt động, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và đánh giá
    hiệu quả hoạt động của toàn doanh nghiệp, từng bộ phận hay từng cá nhân, đưa ra các
    quyết định về việc sản xuất sản phẩm mới hay dừng sản xuất, các quyết định về cung
    ứng… Do đó, kế toán quản trị thường chỉ tập trung đáp ứng yêu cầu trực tiếp của các
    nhà quản trị hơn là các chuẩn mực, phạm vi báo cáo cần chi tiết, cụ thể chứ không đơn
    thuần là bao quát toàn bộ doanh nghiệp.
    Thông tin đầu vào của kế toán quản trị về cơ bản tương đồng với thông tin đầu vào
    của kế toán tài chính (đều xuất phát từ các hoạt động, giao dịch của doanh nghiệp), chỉ
    khác nhau ở phương thức xử lý thông tin. Bên cạnh đó, kế toán quản trị còn sử dụng

    6 ACC202_Bai1_ v1.0013107218

  7. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    nhiều thông tin phi tài chính nhằm có được thông tin đầy đủ và hữu ích nhất cho nhà
    quản trị.
    Trên thực tế hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, nhiều doanh
    nghiệp đã vận hành các hệ thống thông tin quản lý hay các hệ thống quản trị nguồn
    lực doanh nghiệp, trong đó kết hợp cả kế toán tài chính và kế toán quản trị.
    1.1.3.3. Kế toán thuế
    Việc lập báo cáo và xác định thu nhập chịu thuế là
    một lĩnh vực đặc thù của kế toán. Sản phẩm trực
    tiếp của kế toán thuế là các báo cáo thuế, kết quả
    tính toán thu nhập chịu thuế được đệ trình cho cơ
    quan thuế. Kế toán thuế mang tính tuân thủ cao.
    Nhìn chung, thu nhập chịu thuế được xác định dựa
    trên cơ sở các thông tin kế toán tài chính. Tuy
    nhiên, các thông tin này thường được điều chỉnh lại
    để đáp ứng các yêu cầu của các luật thuế. Chính vì
    vậy, về phương pháp xử lý cũng như kết quả thông
    tin của kế toán thuế có thể có những khác biệt nhất định so với kế toán tài chính. Bên
    cạnh đó, kế toán thuế còn có mục tiêu tối đa hoá lợi ích của doanh nghiệp trong quá
    trình thực hiện nghĩa vụ thuế thông qua việc lập và thực hiện các kế hoạch về thuế.
    1.1.4. Các lĩnh vực chuyên môn và triển vọng phát triển của nghề kế toán
    Những người được đào tạo nghề kế toán có thể làm việc cho nhiều đơn vị, tổ chức
    khác nhau. Nhiều bộ phận, phòng ban của các doanh nghiệp, chính phủ, các tổ chức
    phi lợi nhuận…đòi hỏi nhân lực phải được trang bị các kiến thức về kế toán ở các cấp
    độ khác nhau tuỳ theo công việc. Thông thường, nhân lực kế toán hoạt động trong các
    lĩnh vực chuyên môn chủ yếu sau: (1) Kế toán tư nhân, (2) Kế toán công chứng, (3)
    Kế toán nhà nước.
    1.1.4.1. Kế toán tư nhân
    Các kế toán viên làm việc cho các doanh nghiệp với tư cách là một người lao động
    của doanh nghiệp hay nói cách khác là một thành phần của bộ máy quản lý của doanh
    nghiệp được xem là hoạt động trong lĩnh vực kế toán tư nhân. Trong lĩnh vực này, kế
    toán viên của doanh nghiệp đảm trách nhiệm vụ vận hành hệ thống thông tin kế toán
    nhằm lập các báo cáo tài chính phục vụ các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp. Hoạt
    động của các kế toán viên được tổ chức thành bộ máy kế toán hoặc rộng hơn là một hệ
    thống thông tin kế toán. Người đứng đầu bộ máy kế toán, chịu trách nhiệm chính
    trong việc lập báo cáo tài chính được gọi là kế toán trưởng. Kế toán trưởng là một
    trong những nhân sự chủ chốt của bộ máy quản lý doanh nghiệp và thường đảm nhận
    chức năng kiểm soát trong doanh nghiệp. Ở Việt Nam, để được bổ nhiệm kế toán
    trưởng, một cá nhân cần đáp ứng được các yêu cầu chuyên môn do pháp luật qui định.
    Kế toán trong lĩnh vực tư nhân có các đặc điểm sau:
     Quá trình làm việc của các kế toán viên trong lĩnh vực tư nhân chính là quá trình
    bán sức lao động để hưởng lương chứ không mang tính chất cung cấp dịch vụ để
    thu phí.

    ACC202_Bai1_v1.0013107218 7

  8. Bài 1: Tổng quan về kế toán

     Các khoản tiền hoặc lợi ích mà doanh nghiệp thanh toán cho các kế toán viên của
    mình được coi là chi phí tiền lương của doanh nghiệp đó, chứ không phải chi phí
    dịch vụ.
     Các kế toán viên làm việc trong lĩnh vực tư nhân không nhất thiết phải có chứng
    chỉ hành nghề độc lập.
    Số lượng kế toán viên mà một doanh nghiệp cần thuê mướn chủ yếu phụ thuộc vào
    quy mô của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn có thể có nhiều lao động kế toán,
    được phân công trong các lĩnh vực chuyên môn cụ thể như:
     Kế toán quản trị: cung cấp dữ liệu và báo cáo cho phép các nhà quản trị doanh
    nghiệp lập kế hoạch và kiểm soát hoạt động. Các kế toán viên quản trị chủ yếu tập
    trung vào công tác lập kế hoạch lợi nhuận, lập dự toán và kiểm soát chi phí. Hoạt
    động của các kế toán viên này được phối hợp với hoạt động của các nhà quản trị
    để xây dựng các mục tiêu ngắn hạn cũng như dài hạn của doanh nghiệp.
     Kế toán chi phí: là một phần chuyên biệt của kế toán quản trị, kế toán phí chỉ tập
    trung vào việc thu thập và xử lý dữ liệu về chi phí. Kế toán viên đảm nhận công
    tác kế toán phí có nhiệm vụ nhận diện và phân tích chi phí cho từng sản phẩm hoặc
    bộ phận riêng biệt trong doanh nghiệp. Kế toán phí cho phép các nhà quản trị có
    thể kiểm soát được chi phí và đem lại lợi nhuận từ hoạt động.
     Kiểm toán nội bộ: các kiểm toán viên nội bộ có nhiệm vụ hỗ trợ kiểm soát trong tổ
    chức. Công việc chủ yếu của các nhân viên này là đánh giá các hoạt động và kiểm
    soát các hệ thống trong doanh nghiệp với mục tiêu đảm bảo cho các hoạt động
    được vận hành một cách có hiệu quả.

    1.1.4.2. Kế toán công chứng
    Kế toán công chứng (kế toán công) là thuật ngữ
    dùng để chỉ lĩnh vực chuyên môn trong đó các hoạt
    động liên quan đến nghề nghiệp kế toán được cung
    cấp cho các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức dưới
    dạng dịch vụ từ những cá nhân hành nghề kế toán
    độc lập (kế toán viên công chứng) hoặc các công ty
    chuyên hành nghề kế toán. Để có thể được hành
    nghề độc lập về cung cấp dịch vụ kế toán, một cá
    nhân cần phải trải qua các khoá đào tạo và các kỳ
    thi sát hạch để được cấp chứng chỉ hành nghề. Chứng chỉ hành nghề được cấp theo
    những tiêu chuẩn nghiêm ngặt về trình độ chuyên môn, kinh nghiệm hoạt động và đạo
    đức nghề nghiệp của kế toán viên. Các tiêu chuẩn này phụ thuộc vào quy định của
    từng quốc gia.
    Các kế toán viên công chứng có thể hoạt động độc lập hoặc tham gia một công ty
    chuyên nghiệp (công ty kiểm toán, công ty hành nghề kế toán…), thực hiện cung cấp
    dịch vụ về kế toán cho các cá nhân, đơn vị để thu phí. Các dịch vụ chủ yếu được cung
    cấp trong lĩnh vực kế toán công chứng bao gồm: (1) Kiểm toán, (2) Dịch vụ về thuế,
    đại lý thuế, (3) Dịch vụ tư vấn quản lý. Thông thường, lĩnh vực hoạt động trọng tâm
    của một công ty hành nghề kế toán sẽ bị chi phối chủ yếu bởi quy mô công ty đó. Ví
    dụ như các công ty kiểm toán lớn sẽ tiến hành kiểm toán và cung cấp dịch vụ tư vấn
    quản lý cho các doanh nghiệp, tập đoàn lớn. Các công ty kiểm toán nhỏ sẽ phục vụ

    8 ACC202_Bai1_ v1.0013107218

  9. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    các doanh nghiệp nhỏ và vừa hoặc tư vấn thuế cho các cá nhân. Tuy nhiên, một số
    công ty kiểm toán lớn có thể thành lập các bộ phận kinh doanh chuyên phục vụ cho
    các doanh nghiệp nhỏ.
     Kiểm toán: là một trong những chức năng cơ bản của kế toán công chứng, nghĩa là
    đánh giá độc lập về các báo cáo tài chính của một đơn vị. Đơn vị thực hiện hoạt
    động kiểm toán không phải là một bộ phận của doanh nghiệp, tổ chức được kiểm
    toán (người đi thuê công ty kiểm toán). Sự độc lập này nhằm đảm bảo cho việc
    kiểm toán sẽ được tiến hành một cách khách quan. Sau khi kiểm toán, công ty
    kiểm toán cần phát hành báo cáo kiểm toán, trong đó trình bày rõ quan điểm, đánh
    giá của kiểm toán viên, kế toán viên công chứng về tính trung thực và hợp lý của
    những báo cáo kế toán của đơn vị được kiểm toán.
     Dịch vụ thuế: được cung cấp cho các cá nhân hoặc doanh nghiệp, nhằm hỗ trợ cho
    các đối tượng này trong việc lập kế hoạch thuế và lập báo cáo thuế. Với các kiến
    thức của mình, kế toán viên sẽ tư vấn và trợ giúp cho khách hàng của mình các
    phương án tối ưu để kết hợp hài hoà việc tuân thủ pháp luật và giảm thiểu nghĩa vụ
    nộp thuế.
     Dịch vụ tư vấn quản lý: cùng với sự phát triển của nền kinh tế, công nghệ thông
    tin, thị trường… dịch vụ tư vấn quản lý được cung cấp bởi kế toán công chứng có
    sự tăng tưởng đáng kể, đem lại doanh thu lớn cho các công ty hoặc cá nhân hành
    nghề kế toán. Dịch vụ tư vấn quản lý bao gồm nhiều loại, từ lập kế hoạch tài chính
    đến nghiên cứu chi phí, đến thiết kế và triển khai hệ thống xử lý dữ liệu điện tử
    cho các doanh nghiệp.

    1.1.4.3. Kế toán Nhà nước
    Hoạt động của các cơ quan Nhà nước cũng đòi hỏi
    có sự đóng góp của kế toán. Trong lĩnh vực kế toán
    Nhà nước, nhiệm vụ chính của kế toán là thu thập
    và xử lý các thông tin tài chính liên quan đến hoạt
    động của bộ máy nhà nước, hỗ trợ các cơ quan này
    trong việc thực thi các chính sách thuế, kiểm soát
    thu – chi ngân sách nhà nước, đảm bảo tính minh
    bạch, công khai của các hoạt động của Nhà nước,
    ngăn chặn gian lận, tham nhũng…
    Với các chức năng và hoạt động kể trên, có thể thấy nghề kế toán đã có những đóng
    góp to lớn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội trên thế giới nói chung cũng như
    ở Việt Nam nói riêng. Kinh tế – xã hội càng phát triển thì vai trò của kế toán càng trở
    nên quan trọng. Tuy nhiên, cho dù ở lĩnh vực chuyên môn nào, kế toán luôn cần bảo
    đảm trách nhiệm đối với sự trung thực, hợp lý của các thông tin cung cấp cho các đối
    tượng sử dụng.

    1.2. Đối tượng phản ánh của kế toán và các công thức kế toán căn bản
    1.2.1. Đối tượng phản ánh của kế toán
    Đối tượng phản ánh của kế toán bao gồm:
     Các yếu tố có liên quan trực tiếp tới việc xác định và đánh giá tình hình tài chính là
    Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu.

    ACC202_Bai1_v1.0013107218 9

  10. Bài 1: Tổng quan về kế toán

     Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả hoạt động kinh
    doanh là doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh.

    1.2.1.1. Các yếu tố liên quan đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
    Chúng ta nghiên cứu tình huống khởi động: Vì sao có Tổng giá trị Tài sản rất lớn
    nhưng Campus Pizza vẫn gặp khó khăn về vấn đề tài chính?
    Tài sản của Campus Pizza đạt xấp xỉ 30,5 tỉ USD. Tuy nhiên, đã có một khoảng thời
    gian công ty đứng trước tình hình tài chính lao đao. Vậy câu hỏi đặt ra là: Tổng giá trị
    Tài sản của một doanh nghiệp lớn có thể hiện khả năng tài chính của Doanh nghiệp
    vững mạnh? Để hiểu rõ tình hình tài chính của một doanh nghiệp, kế toán cần nghiên
    cứu những đối tượng nào?
    Trong doanh nghiệp các loại tài sản được
    tài trợ bởi Nguồn vốn. Tình hình tài chính
    tương ứng với các nguồn lực kinh tế của
    doanh nghiệp được gọi là Tài sản. Sự tài
    trợ cho các Tài sản này ở một thời điểm
    nhất định gọi là Nguồn vốn. Trong các
    doanh nghiệp nói chung có hai loại nguồn
    vốn: Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Quay
    lại với ví dụ trên, trong số 30,5 tỉ USD tổng giá trị Tài sản Công ty đang nắm giữ, có
    tới 25 tỉ USD được tài trợ bởi các chủ nợ gọi là Nợ phải trả và chỉ có 5,5 tỉ được tài
    trợ bởi chính người chủ doanh nghiệp gọi là Vốn chủ sở hữu. Chính điều này đã gây
    ra khó khăn trong một thời gian dài cho Campus Pizza do tiềm lực kinh tế, nguồn tài
    chính của Công ty không thực sự vững mạnh.
    Chúng ta có thể biểu diễn mối quan hệ giữa tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu
    thành một phương trình kế toán cơ bản như sau:
    Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
    Mối quan hệ này được gọi là phương trình kế toán cơ bản. Tài sản phải bằng tổng
    của Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Trong phương trình này, Nợ phải trả đứng trước
    Vốn chủ sở hữu vì khi thanh lý một doanh nghiệp, nợ sẽ được thanh toán trước.
    Phương trình kế toán được áp dụng cho mọi thực thể kinh tế bất kể quy mô, ngành
    nghề kinh doanh hay hình thức tổ chức kinh doanh. Nó có thể được áp dụng cho một
    doanh nghiệp tư nhân nhỏ, chẳng hạn như một cửa hàng tạp hóa, cũng như một tập
    đoàn khổng lồ như PepsiCo. Phương trình đem lại khuôn khổ cơ bản cho việc ghi
    chép và tóm tắt sự kiện kinh tế.
    Sau đây, chúng ta sẽ xem xét kỹ hơn từng thành phần trong phương trình kế toán cơ bản.

    1.2.1.2. Tài sản của doanh nghiệp
     Khái niệm
    Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế
    trong tương lai. (Theo chuẩn mực Kế toán Việt Nam – Số 01)
    o Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền
    và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản
    tiền mà doanh nghiệp phải chi ra.

    10 ACC202_Bai1_ v1.0013107218

  11. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    o Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản được thể hiện trong các trường
    hợp, như:
     Được sử dụng một cách đơn lẻ hoặc kết hợp với các tài sản khác trong sản
    xuất sản phẩm để bán hay cung cấp dịch vụ cho khách hàng;
     Để bán hoặc trao đổi lấy tài sản khác;
     Để thanh toán các khoản nợ phải trả;
     Để phân phối cho các chủ sở hữu doanh nghiệp.
     Điều kiện ghi nhận Tài sản
    o Thuộc quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát lâu dài của đơn vị.
    o Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.
    o Có giá phí được xác định một cách đáng tin cậy.
    Như vậy, khái niệm Tài sản mang ý nghĩa rộng hơn Quyền sở hữu. Có những
    nguồn lực không thuộc Quyền sở hữu doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp có
    Quyền kiểm soát lâu dài hay nói cách khác doanh nghiệp có quyền sử dụng những
    nguồn lực đó theo mục đích của mình trong một khoảng thời gian dài nhằm thu
    được những lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp vẫn được coi là Tài
    sản của doanh nghiệp. Ví dụ: Tài sản thuê tài chính…
    Doanh nghiệp sử dụng tài sản của mình để tiến hành các hoạt động như sản xuất
    và kinh doanh thương mại. Tính chất chung của mọi tài sản là khả năng đem lại
    lợi ích trong tương lai. Trong một doanh nghiệp, tiềm năng dịch vụ hay lợi ích kinh
    tế tương lai cuối cùng sẽ tạo ra dòng tiền vào (số thu). Ví dụ, Campus Pizza sở hữu
    một xe tải giao hàng. Chiếc xe này đem lại lợi ích kinh tế từ việc giao bánh pizza.
    Các tài sản khác của Campus Pizza gồm bàn, ghế, máy đếm tiền, lò nướng, bộ đồ
    ăn, và đương nhiên là cả tiền mặt.
     Phân loại Tài sản
    Tài sản có thể tồn tại dưới nhiều dạng khác như:
    Quỹ tiền mặt, Tiền gửi ngân hàng, các khoản phải
    thu, đất đai, nhà cửa, khấu hao nhà cửa lũy kế,
    nguyên vật liệu, hàng hóa, các khoản tạm ứng, ký
    cược, ký quỹ… hay một số tài sản khác không có
    hình thái vật chất như: Bản quyền thương hiệu,
    bằng phát minh sang chế, quyền sử dụng đất… Tài
    sản của doanh nghiệp được phân thành hai loại: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài
    hạn.
    o Tài sản ngắn hạn: Khái niệm được chia thành các loại như sau:
     Tiền: Bao gồm tiền Việt Nam, ngoại tệ, đá quý ở tại doanh nghiệp hoặc gửi
    tại ngân hàng, kho bạc hoặc tiền đang chuyển.
     Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: Là những khoản đầu tư của doanh
    nghiệp với mục đích sinh lời có thời gian thu hồi vốn dưới một năm. Các
    khoản đầu tư hạn của doanh nghiệp gồm: Cổ phiếu, trái phiếu ngắn hạn,
    góp vốn liên doanh ngắn hạn.
    Mở rộng: Cổ phiếu là chứng chỉ/ bút toán ghi sổ do công ty cổ phần phát hành xác
    nhận quyền sở hữu của cổ đông đối với một phần tài sản của công ty. Cổ phiếu thể
    hiện số tiền, tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư vào các công ty Cổ phần.

    ACC202_Bai1_v1.0013107218 11

  12. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    Trái phiếu là chứng chỉ vay nợ phát hành để vay tiền của người mua trái phiếu
    doanh nghiệp. Trái phiếu thể hiện số tiền mà doanh nghiệp đã cho doanh
    nghiệp khác vay.
     Các khoản phải thu: Các khoản phải thu là số tài sản của đơn vị nhưng
    đang bị các tổ chức, tập thể, cơ quan, cá nhân khác chiếm dụng và doanh
    nghiệp có nghĩa vụ và có quyền thu hồi. Bao gồm: Phải thu của người mua
    (phát sinh trong quá trình doanh nghiệp bán hàng), phải thu của người bán
    (phát sinh trong quá trình doanh nghiệp mua hàng), phải thu của công nhân
    viên (nhân viên phải bồi dưỡng do làm hỏng SP, thiếu vật tư…), phải thu
    của ngân sách (trường hợp trả thuế thừa, thuế GTGT được khấu trừ).
     Hàng tồn kho: Là tài sản của đơn vị tồn tại dưới các hình thái vật chất cụ
    thể có thể cân, đo, đong, đếm được. Bao gồm: Hàng tồn kho có thể do
    doanh nghiệp tự sản xuất (thành phẩm tồn kho) hoặc doanh nghiệp mua
    ngoài (nguyên nhiên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hóa, hàng mua đang đi
    đường). HTK dự trữ cho tiêu thụ (VD: thành phẩm, hàng hóa).
    Dự trữ cao gây ra ứ đọng vốn, dự trữ thấp có thể làm sản xuất kinh doanh
    bị gián đoạn do thiếu vật liệu, hàng hóa. Vì vậy phải dự trữ hợp lý.
     Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm các khoản tạm ứng cho công nhân viên trong
    đơn vị, các khoản tiền doanh nghiệp đặt cọc, ký cược, ký quỹ ngắn hạn…
    Ví dụ: Công ty Campus Pizza tạm ứng trước cho nhân viên 100.000 USD
    để mua nguyên vật liệu phục vụ sản xuất sản phẩm.
    o Tài sản dài hạn: Là những tài sản còn lại không thuộc nhóm Tài sản ngắn hạn.
    Tài sản dài hạn của doanh nghiệp bao gồm:
     Các khoản phải thu dài hạn: Là lợi ích của đơn vị hiện đang bị đối tượng
    khác chiếm dụng, có thời hạn thu hồi trên một năm như: Phải thu khách
    hàng dài hạn, ứng trước dài hạn cho người bán…
     Tài sản cố định: Là những tư liệu lao động có giá trị lớn và thời gian sử
    dụng lâu dài.
    Điều kiện ghi nhận tài sản cố định: Theo quy định hiện hành, tài sản cố
    định phải thỏa mãn đồng thời 3 điều kiện:
    Thứ nhất, chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng
    tài sản đó;
    Thứ hai, tài sản đó phải có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;
    Thứ ba, nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị
    đủ lớn theo quy định của pháp luật hiện hành.
    Phân loại Tài sản cố định: Gồm hai loại Tài sản cố định hữu hình và tài
    sản cố định vô hình.
    Tài sản cố định hữu hình: Là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể,
    bao gồm: nhà cửa, vật kiến trúc; máy móc thiết bị, phương tiện vận tải,
    truyền dẫn…
    Tài sản cố định vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất cụ
    thể. Chúng thể hiện số tiền mà doanh nghiệp đã đầu tư để doanh nghiệp
    được quyền và lợi ích trong tương lai như: Bằng phát minh sáng chế, nhãn
    hiệu thương mại, quyền thực hiện hợp đồng, …

    12 ACC202_Bai1_ v1.0013107218

  13. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    Ví dụ: Nokia phát minh ra mẫu điện thoại N9, các công ty khác muốn sản
    xuất mẫu điện thoại này phải được sự chấp thuận của Nokia và phải trả một
    khoản tiền bản quyền cho công ty này → bằng phát minh sáng chế điện
    thoại N9 là tài sản cố định vô hình của Nokia.
     Đầu tư tài chính dài hạn: Là những khoản đầu tư về vốn nhằm mục đích
    sinh lời có thời gian thu hồi gốc và lãi trên một năm như: đầu tư vào công ty
    con, đầu tư vào công ty liên kết, góp vốn liên doanh dài hạn, cho vay dài hạn.
     Bất động sản đầu tư: Là bất động sản, bao gồm: quyền sử dụng đất, nhà
    hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cở sở hạ tầng do người chủ sở
    hữu hoặc người đi thuê tài sản nắm giữ, nhằm mục đích thu lợi từ việc cho
    thuê hoặc chờ tăng giá. Bất động sản đầu tư khác với bất động sản chủ sở
    hữu sử dụng và hàng hóa bất động sản.
     Tài sản dài hạn khác: Bao gồm chi phí trả trước dài hạn, chi phí đầu tư xây
    dựng cơ bản dở dang và ký cược, ký quỹ dài hạn…
     Ý nghĩa: Việc phân loại tài sản theo từng nhóm như trên cho chúng ta thông tin về
    kết cấu và tình hình sử dụng của tài sản của doanh nghiệp. Để có thông tin đầy đủ
    hơn về nguồn gốc tài sản cũng như tình hình tài chính của doanh nghiệp đòi hỏi
    nghiên cứu tài sản của doanh nghiệp theo nguồn hình thành.

    1.2.1.3. Nguồn vốn của doanh nghiệp (Nguồn hình thành Tài sản)
    Nguồn vốn là những quan hệ tài chính mà thông qua
    đó đơn vị có thể khai thác hay huy động một số tiền
    nhất định để đầu tư tài sản.
    Nguồn vốn gồm có hai loại: Nợ phải trả và Vốn chủ
    sở hữu.
     Nợ phải trả
    Khái niệm: Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của
    doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện
    đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình. (Theo chuẩn
    mực kế toán Việt Nam – số 01)
    Các giao dịch và sự kiện đã qua như: Mua hàng hoá chưa trả tiền, sử dụng dịch vụ
    chưa thanh toán, vay nợ, cam kết bảo hành hàng hoá, cam kết nghĩa vụ hợp đồng,
    phải trả nhân viên, thuế phải nộp, phải trả khác.
    Việc thanh toán các nghĩa vụ hiện tại có thể được thực hiện bằng nhiều cách, như:
    o Trả bằng tiền;
    o Trả bằng tài sản khác;
    o Cung cấp dịch vụ;
    o Thay thế nghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác;
    o Chuyển đổi nghĩa vụ nợ phải trả thành vốn chủ sở hữu.
    Hay nói cách khác, Nợ phải trả là trái quyền đối với tài sản – tức là nợ và các
    nghĩa vụ hiện thời. Các doanh nghiệp ở mọi quy mô vẫn thường vay tiền và mua
    chịu hàng hóa. Các hoạt động kinh tế này làm nảy sinh các khoản phải trả khác nhau:
    o Giả sử, Campus Pizza mua chịu pho mát, xúc xích, bột mì, và đồ uống từ nhà
    cung cấp. Những nghĩa vụ này được gọi là khoản phải trả.

    ACC202_Bai1_v1.0013107218 13

  14. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    o Campus Pizza cũng có một thương phiếu phải trả cho ngân hàng First National
    Bank do trước đó đã vay tiền từ ngân hàng này để mua xe tải giao hàng.
    o Campus Pizza có thể cũng có tiền lương và tiền công phải trả cho nhân viên
    và thuế doanh thu và bất động sản phải trả cho chính quyền địa phương.
    Tất cả những cá nhân và thực thể mà Campus Pizza nợ tiền được gọi là chủ nợ của
    công ty này.
    Chủ nợ có thể, một cách hợp pháp, cưỡng ép một doanh nghiệp phải đóng cửa nếu
    doanh nghiệp này không trả nợ. Trong trường hợp đó, pháp luật yêu cầu các khoản
    được tài trợ bởi các chủ nợ phải được thanh toán trước các khoản được tài trợ bởi
    chính người chủ sở hữu.
    Các khoản nợ được chia ra thành hai loại: Nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
    o Các khoản nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán dưới 1 năm
    hoặc 1 chu kỳ kinh doanh. Ví dụ: Phải trả người bán, phải trả người mua, phải
    trả công nhân viên, phải nộp ngân sách Nhà nước, các khoản nhận ký cược, ký
    quỹ ngắn hạn…
    o Các khoản nợ dài hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán trên 1 năm hoặc
    trên 1 chu kỳ kinh doanh. Ví dụ: Vay dài hạn, nợ dài hạn về thuê tài chính
    TSCĐ, các khoản nhận ký quỹ dài hạn,…
    Mở rộng: Phân biệt nợ và vay ?
    Nợ phải trả ngắn hạn là các khoản phải trả
    phát sinh trong quá trình mua bán vật tư,
    hàng hóa giữa doanh nghiệp với các nhà
    cung cấp. Trong thời hạn chưa phải thanh
    toán, doanh nghiệp có thể sử dụng nguồn
    vốn này mà không phải trả lãi.
    Khác với nợ, vay phải có hợp đồng vay, tài
    sản thế chấp và doanh nghiệp phải trả lãi cho số tiền vay theo lãi suất 2 bên
    thỏa thuận trong hợp đồng vay.
     Vốn chủ sở hữu
    Khái niệm: Là giá trị vốn của doanh nghiệp, được tính bằng số chênh lệch giữa giá
    trị Tài sản của doanh nghiệp trừ (-) Nợ phải trả. (Theo chuẩn mực kế toán Việt
    Nam – Số 01.)
    Để biết được có bao nhiêu tài sản thuộc về chủ sở hữu, chúng ta trừ các khoản mà
    doanh nghiệp phải có trách nhiệm hoàn trả đối với chủ nợ (nợ phải trả) khỏi tài sản
    của doanh nghiệp. Phần còn lại thể hiện sự sở hữu của chủ sở hữu đối với tài sản
    của doanh nghiệp – vốn chủ sở hữu.
    Vốn chủ sở hữu được phản ảnh trong Bảng cân
    đối kế toán gồm: Vốn của các nhà đầu tư, thặng
    dư vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại, các quỹ, lợi
    nhuận chưa phân phối, chênh lệch tỷ giá và
    chênh lệch đánh giá lại tài sản.
    Vốn chủ sở hữu phụ thuộc vào từng loại hình
    doanh nghiệp như: Vốn cổ đông của Công ty
    cổ phần, Vốn Nhà Nước của Doanh nghiệp

    14 ACC202_Bai1_ v1.0013107218

  15. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    Nhà Nước…
    Vốn chủ sở hữu được chia thành ba loại:
    o Vốn góp: Là số tiền do các chủ sở hữu đóng góp ban đầu khi thành lập đơn vị
    kế toán hoặc được bổ sung trong quá trình hoạt động.
    Mở rộng: Phân biệt sự khác nhau giữa vốn kinh doanh, vốn pháp định và vốn
    điều lệ.
     Vốn pháp định là số vốn tối thiểu cần có do pháp luật quy định đối với một
    số lĩnh vực hoạt động nhất định.
     Vốn điều lệ là số vốn mà các thành viên sáng lập cam kết trước pháp luật
    sẽ huy động vào hoạt động kinh doanh của mình, được ghi trong điều lệ ở
    đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.
    o Lợi nhuận chưa phân phối: Là phần chênh lệch giữa doanh thu – chi phí của
    các hoạt động kinh doanh. Phần lợi nhuận này sau khi nộp thuế TNDN và trích
    lập các quỹ của doanh nghiệp sẽ được phân phối cho các chủ sở hữu. Trong
    thời gian chưa phân phối doanh nghiệp có thể dùng nguồn vốn này bổ sung cho
    vốn kinh doanh.
    o Nguồn vốn chủ sở hữu khác: Là số vốn chủ sở hữu có nguồn gốc từ lợi nhuận
    để lại (các quỹ của doanh nghiệp, các khoản dự trữ theo điều lệ, dự trữ theo
    luật định…) hoặc các loại vốn khác (xây dựng cơ bản, chênh lệch đánh giá lại
    tài sản,…).
    Nguồn vốn chủ sở hữu không phải là một khoản nợ của doanh nghiệp, doanh
    nghiệp không phải cam kết thanh toán.
    Chú ý:
    Một tài sản có thể được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau và ngược lại một nguồn
    vốn có thể tài trợ cho nhiều tài sản khác nhau.
    Có thể khái quát cách phân loại Tài sản và Nguồn vốn qua sơ đồ khái quát sau:

    ACC202_Bai1_v1.0013107218 15

  16. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    1.2.1.4. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả hoạt động
    kinh doanh
    Doanh thu và chi phí là các khoản làm tăng hoặc giảm vốn chủ sở hữu sinh ra từ quá
    trình hoạt động của doanh nghiệp
     Doanh thu
    Khái niệm: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán,
    phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp
    phần làm tăng vốn chủ sở hữu. (Theo chuẩn mực Kế toán Việt Nam – Số 14).
    Nhìn chung, tổng doanh thu đến từ việc bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, cho thuê
    tài sản, và cho vay tiền. Nguồn doanh thu phổ biến là bán hàng, phí, dịch vụ, tiền
    hoa hồng, lợi tức, cổ tức, tiền bản quyền, tiền cho thuê.
    Nghiệp vụ phát sinh doanh thu thường làm tăng một loại tài sản. Doanh thu có thể
    đến từ nhiều nguồn khác nhau và được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau tùy thuộc
    vào ngành nghề kinh doanh. Chẳng hạn như, Campus Pizza có hai danh mục
    doanh thu bán hàng – doanh thu từ pizza và doanh thu từ đồ uống.
     Chi phí
    Khái niệm: Chi phí là toàn bộ khoản tiêu hao của tài sản được tiêu thụ hoặc dịch
    vụ được sử dụng trong quá trình kiếm doanh thu.
    Cần phân biệt chi phí với khái niệm chi tiêu. Chi tiêu chỉ là sự giảm đi đơn tuần
    của tài sản hoặc sự tiêu hao nguồn lực của doanh nghiệp.
    Ví dụ: Campus Pizza có những khoản chi phí sau: chi phí nguyên liệu (thịt, bột mì,
    pho mát, sốt cà chua, nấm…); chi phí đồ uống; chi phí tiền lương và tiền công; chi
    phí tiện ích (điện, gas và nước); chi phí cho giao hàng (xăng, sửa chữa, bằng lái…)
    chi phí cho hàng dự trữ (khăn ăn, chất tẩy rửa, tạp dề…); chi phí tiền thuê; chi trả
    lãi; và chi phí thuê tài sản.
    Tóm lại, vốn đầu tư của chủ sở hữu và doanh thu từ hoạt động kinh doanh sẽ làm
    vốn chủ sở hữu tăng lên. Việc chủ sở hữu rút tài sản và chi tiêu sẽ làm vốn chủ sở
    hữu giảm đi.
     Kết quả kinh doanh
    Khái niệm: Kết quả kinh doanh là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí phát
    sinh trong kỳ để tạo ra khoản doanh thu đó.
    Ví dụ: Tổng doanh thu năm 2012 của Campus Pizza là 10 tỷ USD, tổng chi phí
    phát sinh trong kỳ là 6 tỉ USD.
    Kết quả kinh doanh = 10 – 6 = 4 tỉ USD (doanh nghiệp có lãi 4 tỉ USD)

    1.2.2. Các công thức kế toán căn bản
    Mối quan hệ giữa tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu được biểu diễn qua phương
    trình kế toán cơ bản như sau:
    Phương trình cơ bản: Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
    Phương trình kế toán sau biểu diễn các thành phần cấu thành vốn chủ sở hữu, được
    gọi là phương trình kế toán mở rộng.
    Tài sản = Nợ phải trả + Vốn của chủ sử hữu – Các khoản chủ sở hữu rút ra
    + Thu nhập – Chi tiêu

    16 ACC202_Bai1_ v1.0013107218

  17. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    Từ công thức trên có thể suy ra một số công thức khác như:
    Nguồn vốn chủ sở hữu = Tổng Tài sản – Nợ phải trả
    Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
    Câu hỏi: Ý nghĩa của các công thức trên là gì?
    Các kết luận chung về đặc điểm đối tượng của HTKT
     Luôn có tính hai mặt, độc lập với nhau nhưng cân bằng với nhau về lượng.
     Luôn vận động qua các giai đoạn khác nhau nhưng theo một trật tự xác định và
    khép kín sau một chu kỳ nhất định.
     Luôn có tính đa dạng trên mỗi nội dung cụ thể.
     Mỗi loại đối tượng của HTKT đều gắn liền đến lợi ích kinh tế, đến quyền lợi và
    trách nhiệm của nhiều phía khác nhau.
    Những đặc điểm này cũng chi phối việc hình thành hệ thống phương pháp Hạch toán kế toán.

    1.3. Hệ thống báo cáo tài chính
    1.3.1. Vai trò và mục tiêu của hệ thống báo cáo tài chính
    Kế toán có thể được coi là một quy trình công nghệ về thu thập, phản ánh, xử lí, tổng
    hợp, phân tích và cung cấp thông tin mà sản phẩm hoàn thành của quy trình công nghệ
    này chính là các Báo cáo tài chính. Các báo cáo tài chính được lập trong giai đoạn
    cuối của quy trình trên, có nhiệm vụ tổng hợp toàn bộ các thông tin kinh tế – tài chính
    từ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị hạch toán trong một thời kì nhất định.
    Báo cáo tài chính cần tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế – tài chính đã phát sinh để có thể phản
    ánh được các thông tin về Tình hình tài chính (Tài sản, Nợ phải trả, Nguồn vốn chủ sở hữu)
    và Tình hình kinh doanh (Doanh thu, chi phí, thu nhập) của doanh nghiệp qua một kì kế toán.
    Các báo cáo tài chính có nhiệm vụ cung cấp cho người sử dụng các thông tin hữu ích
    cho việc ra quyết định kinh doanh, liên quan đến quá trình phân phối, sử dụng các
    nguồn lực của đơn vị trong quá trình kinh doanh, cũng như trong việc tính toán, sử
    dụng các chỉ tiêu kinh tế khác. Qua các thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính,
    người sử dụng có thể đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời
    điểm cũng như khả năng sinh lời từ các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong
    kì, đồng thời đánh giá được khả năng thanh toán của doanh nghiệp hay dự đoán sự
    phát triển của doanh nghiệp trong tương lai.
    Xét trong một quy trình kế toán, báo cáo tài chính là sản phẩm đầu ra, nhưng trong mô hình
    thông tin ra quyết định, các báo cáo tài chính lại đóng vai trò là đầu vào quan trọng cho việc
    ra quyết định kinh doanh của các nhà quản lí. Có thể thấy vị trí của báo cáo tài chính trong
    quan hệ với hệ thống thông tin kế toán và mô hình ra quyết định qua mô hình sau:
    Thông tin Báo cáo Người ra
    tài chính tài chính quyết định
    bên ngoài
    Hệ thống Mô hình ra
    thông tin
    Quyết định
    Kế toán Thông tin Báo cáo Người ra
    phi quản trị quyết định
    tài chính nội bộ bên trong

    Sơ đồ: Vị trí của báo cáo kế toán

    ACC202_Bai1_v1.0013107218 17

  18. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    Từ mô hình trên, có thể thấy, để xây dựng một hệ thống thông tin kế toán với mục
    đích cung cấp thông tin cho việc ra quyết định, cần xuất phát từ hệ thống các báo cáo
    tài chính. Vì hệ thống báo cáo tài chính thể hiện nhu cầu của người sử dụng thông tin
    cũng như các yêu cầu đối với các thông tin đó, là mục tiêu cần đạt tới của hệ thống kế
    toán. Từ hệ thống báo cáo tài chính, các chỉ tiêu cụ thể trên báo cáo, kế toán sẽ xây
    dựng hệ thống tài khoản, sổ sách và quy trình kế toán phù hợp.

    1.3.2. Các báo cáo tài chính cơ bản
    Để có thể ra quyết định kinh doanh, các đối tượng sử dụng cần nắm được các thông
    tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền của doanh
    nghiệp. Các yếu tố hay chỉ tiêu kinh tế cụ thể phản ánh các thông tin trên thường được
    sắp xếp và trình bày trong 04 báo cáo tài chính cơ bản sau:
     Báo cáo kết quả kinh doanh: là báo cáo thể hiện tình hình kinh doanh của đơn vị
    trong một thời kì nhất định. Lập báo cáo kết quả kinh doanh nghĩa là báo cáo về
    tình hình doanh thu, chi phí và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời
    kỳ nhất định. Thông qua báo cáo kết quả kinh doanh, người sử dụng có thể đánh giá
    được sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian.
     Báo cáo vốn chủ sở hữu: là báo cáo về sự thay đổi vốn chủ sở hữu (lợi ích của
    chủ sở hữu trong tài sản) trong một thời kỳ. Báo cáo vốn chủ sở hữu cần trình bày
    các thông tin về:
    o Vốn chủ sở hữu đầu kỳ.
    o Vốn chủ sở hữu tăng thêm do đầu tư bổ sung hoặc do lợi nhuận tạo ra trong kỳ
    từ báo cáo kết quả kinh doanh.
    o Vốn chủ sở hữu giảm đi do chủ sở hữu rút vốn hoặc do bị lỗ từ các hoạt động.
    o Vốn chủ sở hữu cuối kỳ.
    Thời kỳ lập báo cáo của Báo cáo vốn chủ sở hữu cần khớp đúng với kỳ lập báo cáo
    kết quả kinh doanh.
     Bảng cân đối kế toán: phản ánh các thông tin tổng quát về tình hình tài chính của
    đơn vị tại một thời điểm nhất định (thời điểm lập báo cáo). Báo cáo này phải trình
    bày đầy đủ các yếu tố: Tài sản, Nợ phải trả, Nguồn vốn chủ sở hữu. Từng yếu tố
    của báo cáo sẽ được định nghĩa theo chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán, tài
    chính hiện hành.

    Tài sản Số ĐK Số CK Nguồn vốn Số ĐK Số CK
    A. Tài sản ngắn A. Nợ phải trả
    hạn
    1. 1.
    2. 2.
    3. 3.
    B. Tài sản B. Nguồn vốn
    dài hạn chủ sở hữu
    1. 1.
    2. 2.
    Tổng Tài sản xxx yyy Tổng Nguồn vốn xxx yyy

    18 ACC202_Bai1_ v1.0013107218

  19. Bài 1: Tổng quan về kế toán

     Báo cáo lưu chuyển tiền: có nhiệm vụ cung cấp các thông tin về tình hình sử
    dụng tiền của đơn vị cũng như các thông tin về sự hình thành của các khoản tiền,
    nói cách khác, báo cáo lưu chuyển tiền cần trình bày về các luồng tiền vào, luồng
    tiền ra khỏi doanh nghiệp trong kì, số dư tiền tại thời điểm đầu kì và cuối kì của
    doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền trình bày thông tin về từng luồng tiền cụ
    thể: Luồng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh, luồng tiền từ hoạt động đầu tư,
    luồng tiền từ hoạt động tài chính. Đây là báo cáo quan trọng không chỉ đối với các
    đối tượng bên ngoài mà còn quan trọng đối với cả các nhà quản trị doanh nghiệp,
    nó cho thấy khả năng tạo ra tiền, tình hình sử dụng tiền, nhu cầu về tiền, khả
    năng thanh toán công nợ, đánh giá các rủi ro tiềm tàng từ tình hình tài chính của
    doanh nghiệp.
     Thuyết minh báo cáo tài chính: là báo cáo nhằm bổ sung, giải trình các thông tin
    đã trình bày hoặc chưa trình bày trên các báo cáo khác về tình hình tài chính, tình
    hình kinh doanh của doanh nghiệp và các vấn đề có ảnh hưởng tới hoạt động kinh
    doanh trong kì của doanh nghiệp.

    1.4. Các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và các tổ chức có ảnh hưởng đến thực
    hành nghề nghiệp kế toán
    1.4.1. Sự hình thành và nội dung các nguyên tắc kế toán chung
    Qua các nội dung kiến thức trình bày trong các phần trước, có thể thấy: kế toán là
    nghề nghiệp mang tính đặc thù cao với các kỹ thuật khá chuyên biệt; đối tượng sử
    dụng thông tin kế toán khá đa dạng với các mục tiêu và động cơ khác nhau. Tuy
    nhiên, các đối tượng sử dụng thông tin kế toán thường bị hạn chế về khả năng tiếp cận
    với quá trình xử lý thông tin kế toán (mang tính kỹ thuật), mà chủ yếu khai thác thông
    tin kế toán thông qua hệ thống báo cáo tài chính, là sản phẩm cuối cùng của công nghệ
    kế toán. Thêm vào đó, quy trình kế toán và cách thức lập báo cáo tài chính còn chịu
    ảnh hưởng bởi các quy định cụ thể của chế độ, chuẩn mực hay thông lệ gắn với đặc
    thù của từng quốc gia, ngành nghề kinh doanh hay từng doanh nghiệp cụ thể. Chính vì
    vậy, để có thể thống nhất về mặt ngôn ngữ kinh doanh, nghĩa là thống nhất cách hiểu,
    đọc báo cáo tài chính, cần phải có sự thống nhất về phương pháp lập và trình bày báo
    cáo tài chính. Đây chính là cơ sở để hình thành nên các nguyên tắc kế toán được thừa
    nhận tổng quát. Hệ thống các nguyên tắc kế toán được thừa nhận tổng quát có thể
    được mỗi quốc gia xây dựng riêng, tuy nhiên, với tính chất tổng quát và là cơ sở, nền
    tảng cho công tác kế toán, các hệ thống nguyên tắc của các quốc gia thường khá tương
    đồng với nhau. Ở Việt Nam, các nguyên tắc này được quy định trong Luật Kế toán và
    Chuẩn mực kế toán.
    Hệ thống báo cáo tài chính cung cấp cho các đối tượng sử dụng cần đáp ứng được các
    yêu cầu sau:
     Khách quan;
     Trung thực;
     Kịp thời;
     Đầy đủ;
     Dễ hiểu;
     Có thể so sánh được.

    ACC202_Bai1_v1.0013107218 19

  20. Bài 1: Tổng quan về kế toán

    Chính vì vậy, việc lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp cần tuân thủ
    các nguyên tắc kế toán được thừa nhận tổng quát, nhằm đảm bảo chất lượng của thông
    tin kế toán, đảm bảo lợi ích của những người sử dụng thông tin kế toán.
    Hệ thống các nguyên tắc kế toán được thừa nhận tổng quát thường bao gồm các
    nguyên tắc chủ yếu sau:
     Cơ sở dồn tích
    Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải
    trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời
    điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc
    tương đương tiền. Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài
    chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
     Giả định Hoạt động Liên tục
    Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt
    động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần,
    nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt
    động hoặc phải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình. Trường hợp thực tế
    khác với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở
    khác và phải giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính.
     Nguyên tắc Giá gốc
    Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc. Giá
    gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc
    khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc
    tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời
    điểm tài sản được ghi nhận. Giá gốc của tài sản
    không được thay đổi trừ khi có quy định khác
    trong chuẩn mực kế toán cụ thể.
     Nguyên tắc Phù hợp
    Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau. Khi ghi nhận một
    khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến
    việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu gồm chi phí của kỳ tạo
    ra doanh thu và chi phí của các kỳ trước hoặc chi phí phải trả nhưng liên quan đến
    doanh thu của kỳ đó.
     Nguyên tắc Nhất quán
    Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng
    thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Trường hợp có thay đổi chính sách và
    phương pháp kế toán đã chọn thì phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi
    đó trong phần thuyết minh báo cáo tài chính.
     Nguyên tắc Thận trọng
    Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán cần thiết để lập các ước tính kế
    toán trong các điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
    o Phải lập các khoản dự phòng nhưng không lập quá lớn;
    o Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
    o Không đánh giá thấp hơn giá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí;

    20 ACC202_Bai1_ v1.0013107218

Download tài liệu Bài giảng Nguyên lý kế toán – Bài 1: Tổng quan về kế toán File Word, PDF về máy