[Download] Tải Bài giảng Ngân hàng thương mại 2 – Bài 2: Rủi ro tín dụng – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Ngân hàng thương mại 2 – Bài 2: Rủi ro tín dụng

Bài giảng Ngân hàng thương mại 2 – Bài 2: Rủi ro tín dụng
Nội dung Text: Bài giảng Ngân hàng thương mại 2 – Bài 2: Rủi ro tín dụng

Download


“Bài giảng Ngân hàng thương mại 2 – Bài 2: Rủi ro tín dụng” trnag bị cho người học các kiến thức khái niệm rủi ro tín dụng và bản chất của rủi ro tín dụng; phân tích được các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng; mối liên hệ giữa rủi ro tín dụng và các loại rủi ro khác.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Ngân hàng thương mại 2 – Bài 2: Rủi ro tín dụng – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Ngân hàng thương mại 2 – Bài 2: Rủi ro tín dụng File Word, PDF về máy

Bài giảng Ngân hàng thương mại 2 – Bài 2: Rủi ro tín dụng

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Ngân hàng thương mại 2 – Bài 2: Rủi ro tín dụng

  1. Bài 2: Rủi ro tín dụng

    BÀI 2 RỦI RO TÍN DỤNG

    Hướng dẫn học
    Bài này giới thiệu về loại rủi ro cơ bản và quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh của
    ngân hàng thương mại: Rủi ro tín dụng. Sau khi tìm hiểu về khái niệm rủi ro tín dụng ở
    bài trước, ở bài này, sinh viên cần tìm hiểu sâu hơn về bản chất của rủi ro tín dụng, những
    nguyên nhân gây ra rủi ro này và hậu quả mà nó gây ra cho bản thân ngân hàng và rộng
    hơn là nền kinh tế.
    Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu:
    1. Phan Thị Thu Hà (2013), Ngân hàng Thương mại, Nhà xuất bản Đại học Kinh tế
    Quốc dân, Hà Nội. Chương 9.
    2. Peter S. Rose (2003), Quản trị Ngân hàng Thương mại, Sách dịch. Nhà xuất bản
    Tài chính, Hà Nội.
    3. Joel Bessis (2012), Quản trị rủi ro trong ngân hàng, Sách dịch. Nhà xuất bản Lao
    động – Xã hội, Hà Nội. Chương 13, chương 19, chương 20 và chương 21.
     Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc
    qua email.
     Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
    Nội dung
    Bài hai trình bày khái niệm và bản chất về rủi ro tín dụng, và mối quan hệ của nó với các
    loại rủi ro khác trong ngân hàng thương mại. Phân tích những nguyên nhân gây ra rủi ro
    tín dụng, từ đó làm cơ sở để sinh viên nghiên cứu nội dung quản lý rủi ro tín dụng ở bài
    tiếp theo.
    Mục tiêu
    Sau khi học xong bài này, sinh viên cần thực hiện được các việc sau:
     Trình bày được các khái niệm rủi ro tín dụng và bản chất của rủi ro tín dụng;
     Phân tích được các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng;
     Hiểu được mối liên hệ giữa rủi ro tín dụng và các loại rủi ro khác.

    TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227 21

  2. Bài 2: Rủi ro tín dụng

    Tình huống dẫn nhập
    Khủng hoảng ngân hàng Hoa Kỳ
    Khủng hoảng các khoản vay dưới chuẩn là một cuộc khủng hoảng tài chính liên quan đến thị
    trường bất động sản ở Mỹ và bắt đầu lan rộng ra toàn cầu từ năm 2007. Các khoản vay dưới
    chuẩn (subprime) là những khoản vay được thế chấp bằng bất động sản với lãi suất thả nổi rất
    phổ biến ở Hoa Kì. Do giá nhà ở không ngừng tăng lên trong nhiều năm, những khoản vay này
    được đánh giá là rủi ro nhưng rất sinh lời. Rất nhiều hộ gia đình Mỹ đã bị hấp dẫn bởi các
    khoản cho vay này do kì hạn trả nợ dài cho phép họ có thể cho thuê căn hộ dễ dàng để trang
    trải tiền nợ. Các ngân hàng Mỹ thì tin rằng nếu các hộ gia đình không trả được nợ, việc bán lại
    các tài sản đảm bảo là những căn hộ vẫn chắc chắn đem lại cho họ mức lợi suất cao nên đẩy
    mạnh việc cho vay với ngay cả những khách hàng dưới chuẩn (những khách hàng được đánh
    giá có rủi ro tín dụng vượt mức cho phép). Do theo đuổi mức lợi suất cao trong thời gian đầu
    và vì mục tiêu đảm bảo thanh khoản, các ngân hàng đã tiến hành bán lại các khoản nợ này
    thông qua các công ty chuyên nghiệp gọi tắt là SPV (Special Purpose Vehicle), từ đó lập ra
    những chứng khoán để rao bán trên thị trường tài chính. Những tổ chức chấm điểm đã đánh
    giá các khoản tín dụng này ở mức AAA (điểm cao nhất) khiến việc mua đi bán lại các khoản
    nợ trở nên rất dễ dàng do công chúng bị thuyết phục bởi rủi ro thấp và mức độ sinh lời cao khi
    đầu tư vào các giấy tờ này. Tuy nhiên, việc nhiều khách hàng dưới chuẩn mất khả năng thanh
    toán khi lãi suất tăng cao, làm ngân hàng tiến hành bán tài sản đảm bảo để thu hồi nợ khiến số
    lượng căn hộ bán ra ở Mỹ tăng vọt và hệ quả là giá nhà lao dốc nhanh chóng. Từ sau tháng 7
    năm 2007, 500 tỷ đôla giá trị trên thị trường chứng khoán đã bốc hơi, từ 1 đến 3 triệu hộ gia
    đình Mỹ đứng trước nguy cơ bị mất nhà, gần 84 tổ chức tín dụng bị phá sản…

    1. Khủng hoảng bắt nguồn từ đâu?

    2. Những tác động của khủng hoảng lên nền kinh tế và các hộ gia đình Mỹ
    là gì?

    3. Khủng hoảng lan rộng ra quy mô thế giới như thế nào?

    22 TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227

  3. Bài 2: Rủi ro tín dụng

    2.1. Khái quát về rủi ro tín dụng

    2.1.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
    Rủi ro thường hàm chứa trong nó là khả năng xảy ra
    tổn thất và có thể diễn ra đối với tất cả các lĩnh vực
    trong đời sống kinh tế xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực
    tài chính. Rủi ro có thể xuất hiện bất ngờ và gây tổn
    thất lớn tới lợi nhuận cũng như sự an toàn của ngân
    hàng. Vì vậy việc dự đoán, phòng ngừa rủi ro và hạn
    chế tổn thất là một trong những nội dung mà ngân
    hàng cần đặc biệt quan tâm.
    Rủi ro tín dụng là một trong những loại rủi ro lâu đời nhất và lớn nhất trong thị trường
    tài chính, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề đối với hoạt động kinh doanh
    ngân hàng vì các khoản tín dụng thường chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo ra từ
    70% – 90% thu nhập cho ngân hàng. Rủi ro tín dụng cũng là loại rủi ro phức tạp nhất,
    quản lý và phòng ngừa khó khăn nhất, đòi hỏi ngân hàng phải có những giải pháp
    đồng bộ, hữu hiệu để ngăn ngừa, hạn chế và giảm thiểu tối đa những thiệt hại có thể
    xảy ra.
    Chính vì vậy, khái niệm rủi ro tín dụng được rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu và
    đưa ra những ý kiến khác nhau, tiêu biểu như:
     Rủi ro tín dụng là những tổn thất do khách hàng vay không trả được nợ hoặc sự
    giảm sút chất lượng tín dụng của khoản vay.1
     Rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy
    đủ gốc và lãi của khoản vay hoặc việc thanh toán gốc và lãi không đúng kì hạn.2
     Rủi ro tín dụng là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc không
    hoàn trả gốc so với thời gian ấn định trong hợp đồng tín dụng.3
     Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức
    tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa
    vụ của mình theo cam kết.4
    Những khái niệm trên đều chứa đựng cách hiểu chung nhất về rủi ro tín dụng đối với
    một khoản tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi khách hàng không hoàn trả hoặc
    hoàn trả không đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã kí giữa ngân hàng và khách hàng.
    Ở nước ta, khái niệm rủi ro tín dụng được phản ánh qua thông tư 02/2013/TT-NHNN
    quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và
    việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh
    ngân hàng nước ngoài: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là

    1
    Theo Joel Bessic (Rick Management in Banking).
    2
    Theo PGS-TS Nguyễn Văn Tiến (Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng).
    3
    Theo TS Hồ Diệu (Quản trị Ngân hàng).
    4
    Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005.

    TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227 23

  4. Bài 2: Rủi ro tín dụng

    rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
    hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện
    một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
    Rủi ro tín dụng còn được xem xét trên cơ sở danh mục tín dụng của ngân hàng và
    được hiểu là khả năng xảy ra tổn thất của ngân hàng khi không thu hồi đầy đủ số tiền
    gốc và lãi của danh mục như dự kiến. Danh mục tín dụng sẽ có nguy cơ bị tổn thất cao
    nếu ngân hàng quá tập trung cho vay một ngành, lĩnh vực, hoặc trong cùng một vùng
    địa lý nhất định, hay cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.

    2.1.2. Bản chất của rủi ro tín dụng
    Rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất,
    có quy mô lớn nhất của ngân hàng thương mại – hoạt
    động tín dụng. Mặc dù rủi ro thường đi đôi với lợi ích,
    rủi ro càng cao thì lợi nhuận kì vọng cho ngân hàng
    càng lớn nhưng khi thực hiện một hoạt động tài trợ
    vốn cụ thể cho khách hàng, ngân hàng cố gắng phân
    tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn của
    khoản vay là cao nhất và ngân hàng chỉ quyết định cấp
    tín dụng khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy ra. Tuy nhiên không một nhà kinh
    doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính xác các vấn đề sẽ xảy ra, khả năng
    hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi do nhiều nguyên nhân, cộng thêm
    nhiều cán bộ ngân hàng không có khả năng phân tích tín dụng thích đáng nên trên
    quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, rủi ro tín dụng là khách quan và không thể
    tránh khỏi. Các ngân hàng cần phải đánh giá các cơ hội sử dụng vốn của khách hàng
    dựa trên mối quan hệ rủi ro – lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được lợi ích xứng
    đáng với mức rủi ro mà ngân hàng có thể chấp nhận.
    Nhiều quan điểm nhất trí rằng rủi ro tín dụng là bạn đường trong kinh doanh, có thể đề
    phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Do vậy, rủi ro dự kiến luôn được xác định
    trước trong chiến lược hoạt động chung của ngân hàng.

    2.2. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
    Về cơ bản, tín dụng luôn hàm chứa trong nó sự bất cân xứng về thông tin. Đây là hiện
    tượng phổ biến xảy ra trước và sau khi khoản vay được giải ngân do thất bại của sự
    phối hợp thị trường. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng vì thế có thể đến từ nhiều
    bên: Thứ nhất là sự thiếu cẩn trọng của ngân hàng trong việc đánh giá khả năng trả nợ
    của khách hàng. Vì để có thể đánh giá chính xác khả năng trả nợ của khách hàng,
    ngân hàng thường phải bỏ ra chi phí lớn để thẩm định, điều này có thể làm sụt giảm
    lợi tức của cổ đông do chi phí cao khiến lợi nhuận giảm. Thứ hai, bối cảnh cạnh tranh
    trên thị trường thúc đẩy các ngân hàng chấp nhận đẩy mạnh các khoản cho vay có độ
    rủi ro nhiều hơn. Ngoài ra, đối với các khách hàng tốt, khả năng trả nợ cũng có thể suy
    giảm và gây ra các tổn thất tín dụng do các nguyên nhân chủ quan và khách quan xảy
    ra bất thường và khó dự báo trước. Tín dụng là cơ sở của đầu tư và tăng trưởng kinh tế
    nên các chính phủ luôn tìm cách duy trì một môi trường ổn định và dễ dự báo để các
    chủ thể kinh tế hoạt động, hoạt động tín dụng được diễn ra suôn sẻ và tích cực. Tuy

    24 TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227

  5. Bài 2: Rủi ro tín dụng

    nhiên, tín dụng luôn có rủi ro tín dụng đi kèm do những bất cập tồn tại trong hệ thống
    kinh tế – cái vẫn luôn được gọi là thất bại thị trường, những thất bại này có thể đến từ
    những nguyên nhân chủ quan và khách quan, hoặc thậm chí đến từ những tác động
    tiêu cực của thiên nhiên – thứ mà chúng ta không thể nào khắc phục được. Khái quát
    lại, rủi ro tín dụng có thể khái quát từ 3 nguyên nhân chính sau đây:

    2.2.1. Nguyên nhân từ phía khách hàng
    Có rất nhiều nguyên nhân khác nhau từ phía khách hàng gây ra tổn thất trong hoạt
    động tín dụng cho ngân hàng, có thể do khách hàng cố ý lừa đảo hay do họ gặp khó
    khăn khách quan trong quá trình sử dụng vốn vay.
     Sử dụng vốn sai mục đích: Đa số các khách hàng
    khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án sử
    dụng vốn cụ thể với mục đích nhất định. Cán bộ
    ngân hàng sẽ xem xét tính khả thi của các phương
    án đó và quyết định có cho khách hàng vay hay
    không, vay với số lượng bao nhiêu, thời hạn bao
    lâu. Tuy nhiên có những khách hàng cố ý sử dụng
    vốn vay được từ ngân hàng sai mục đích, không nằm trong phương án mà ngân
    hàng đã xét duyệt, vì thế không đảm bảo được việc hoàn trả nợ, gây ra tổn thất lớn
    cho ngân hàng, mất uy tín của cán bộ tín dụng do cán bộ tín dụng đã không kiểm
    soát sát sao quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng.
     Khả năng quản lý kinh doanh kém: Đối với khách hàng là doanh nghiệp, khả
    năng quản lý cũng là một yếu tố sống còn. Nếu ban lãnh đạo chưa đủ kinh nghiệm
    quản lý điều hành trong lĩnh vực kinh doanh mà khách hàng tham gia, thì đây sẽ là
    tiềm ẩn một rủi ro khá lớn dẫn tới kinh doanh thua lỗ, từ đó không trả được nợ vay
    cho ngân hàng. Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, kinh nghiệm và năng lực hoạt
    động kinh doanh còn đang ở trình độ thấp, hầu hết ban lãnh đạo các doanh nghiệp
    đều không nắm bắt được thông tin kịp thời, thiếu thích nghi với cạnh tranh. Vì
    vậy, khi dự án vay vốn gặp khó khăn, khả năng trả nợ của khách hàng gặp vấn đề,
    rủi ro tín dụng là điều không thể tránh khỏi.
     Tình hình tài chính của doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Nhiều khách
    hàng hoạt động với quy mô vốn nhỏ, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu cao. Độ rủi ro gia
    tăng do một số khách hàng ghi chép không đầy đủ, chính xác, rõ ràng sổ sách kế
    toán, khiến số liệu kế toán được cung cấp nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức.
    Phân tích tín dụng của ngân hàng khi đó cũng thiếu tính thực tế và xác thực. Để đối
    phó với tình trạng này, nhiều ngân hàng chỉ coi tài sản thế chấp như chỗ dựa cơ bản
    để phòng chống rủi ro tín dụng, tuy nhiên điều này là một sai lầm cơ bản.
     Thiếu thiện chí trong việc trả nợ vay: Đây là vấn đề liên quan đến đạo đức của
    người đi vay. Việc thẩm định một khách hàng cố tình lừa đảo sẽ khó khăn hơn rất
    nhiều so với một khách hàng tìm đến ngân hàng với nhu cầu sử dụng tiền vay thật
    sự, vì khách hàng đã chủ đích lừa đảo để chiếm dụng vốn của ngân hàng, họ sẽ rất
    tinh vi che đậy các chứng cứ và dấu hiệu lừa đảo, những trường hợp này thường sẽ
    dễ tạo được niềm tin nhiều nhất với ngân hàng. Để có thể nhận biết được âm mưu

    TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227 25

  6. Bài 2: Rủi ro tín dụng

    cố tình lừa đảo của khách hàng không chỉ đòi hỏi sự nhạy bén của cán bộ tín dụng
    mà còn cần một quy trình tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ, đồng thời
    với việc tuân thủ chặt chẽ các quy trình này của cán bộ tín dụng.

    2.2.2. Nguyên nhân từ phía ngân hàng
     Công tác kiểm tra nội bộ lỏng lẻo: Kiểm tra nội bộ có điểm mạnh hơn thanh tra
    của ngân hàng trung ương ở tính thời gian vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi
    vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của người kiểm tra, do việc kiểm tra được thực
    hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh. Nếu kiểm tra nội bộ được tiến
    hành thường xuyên, trong mọi vấn đề, mọi bộ phận, lãnh đạo ngân hàng có thể
    sớm phát hiện được rủi ro, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra biện pháp khắc phục
    phù hợp. Ngược lại, sẽ không nhận biết được sớm những sai sót của cán bộ quản
    lý tín dụng tại các cấp do lợi ích cá nhân hay trình độ non kém, khiến ngân hàng
    phải chịu những tổn thất lớn, thậm chí khó vượt qua.
     Cán bộ thiếu đạo đức và/hoặc trình độ chuyên môn nghiệp vụ kém: Nguồn
    nhân lực luôn là một nhân tố quan trọng đối với
    một doanh nghiệp, đặc biệt với ngân hàng thì nhân
    tố này càng quan trọng, vì đây là lĩnh vực kinh
    doanh đầy rủi ro. Đạo đức của cán bộ là một trong
    các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề hạn
    chế rủi ro tín dụng. Là người làm việc trực tiếp với
    khách hàng, cán bộ ngân hàng có thể cùng với
    khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản đảm bảo. Trình độ cán bộ kém
    cũng có thể gây ra những sai sót chết người mà khách hàng có thể lợi dụng để
    chiếm dụng vốn ngân hàng để sử dụng sai mục đích hay trì hoãn trả nợ.
     Thiếu sự giám sát và quản lý sau khi vay: Các ngân hàng thường có thói quen
    tập trung nhiều công sức cho việc thẩm định trước khi cho vay mà lơi lỏng quá
    trình kiểm tra, kiểm soát đồng vốn sau khi cho vay. Theo dõi nợ là một trong
    những trách nhiệm quan trọng nhất của cán bộ tín dụng nói riêng và của ngân hàng
    nói chung. Việc theo dõi hoạt động của khách hàng vay nhằm đảm bảo sự tuân thủ
    nghiêm ngặt các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và
    ngân hàng và tìm ra những cơ hội kinh doanh mới.
     Sự hợp tác của các ngân hàng thương mại thiếu chặt chẽ: Các ngân hàng cần
    hợp tác chặt chẽ với nhau khi một khách hàng vay tiền tại nhiều ngân hàng. Khả
    năng trả nợ của một khách hàng đối với nhiều chủ nợ có mối quan hệ chặt chẽ với
    nhau. Nếu thiếu trao đổi thông tin, nhiều ngân hàng có thể cùng cho vay một
    khách hàng mà không được thường xuyên cập nhật thông tin, hoặc phải gia tăng
    chi phí để có cùng một thông tin. Nhưng khi rủi ro xảy ra, tổn thất có thể đến với
    bất cứ ngân hàng nào. Sự cạnh tranh không lành mạnh nhằm thu hút khách hàng
    giữa các ngân hàng khiến cho việc thẩm định khách hàng trở nên sơ sài và qua loa
    hơn. Hơn nữa, nhiều ngân hàng quá chú trọng đến lợi nhuận nên đã chấp nhận rủi
    ro cao, bất chấp những khoản vay không lành mạnh, thiếu an toàn.

    26 TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227

  7. Bài 2: Rủi ro tín dụng

     Không sẵn có những thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định tín dụng:
    Chất lượng của thông tin có tác động trực tiếp đến tính chính xác của những quyết
    định tín dụng được đưa ra. Cơ sở dữ liệu nghèo nàn trong và ngoài ngân hàng về
    khách hàng và môi trường kinh doanh của khách hàng có thể đưa ngân hàng đến
    những quyết định sai lầm, tín dụng được cấp cho những khách hàng có khả năng
    trả nợ kém, chậm phát hiện rủi ro, biện pháp xử lý rủi ro không phù hợp với
    nguyên nhân gây ra rủi ro.
     Mở rộng hoạt động tín dụng quá mức: Việc làm này thường tạo điều kiện cho
    rủi ro tín dụng tăng lên. Mở rộng tín dụng quá mức đồng nghĩa với việc lựa chọn
    khách hàng kém kỹ càng, khả năng giám sát của cán bộ tín dụng đối với việc sử
    dụng khoản vay giảm xuống, đồng thời cũng làm cho việc tuân thủ chặt chẽ theo
    quy trình tín dụng bị lơi lỏng.

    2.2.3. Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài
     Môi trường kinh tế không ổn định: Đây là yếu tố
    chính quyết định tới định hướng kinh doanh, tới
    thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Môi
    trường kinh tế xã hội trong một nước biến động
    chịu ảnh hưởng của những biến động từ nền kinh tế
    thế giới, đó là nguyên nhân làm phát sinh rủi ro
    trong hoạt động kinh doanh của nền kinh tế, từ đó
    ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh tế trong đó hoạt động kinh doanh tiền tệ chứa
    nhiều nguy cơ rủi ro lớn nhất. Hiện nay, thị trường thế giới biến động quá nhanh
    và không dự đoán được, hậu quả tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập
    quốc tế. Trong nước, sự tấn công của hàng nhập lậu và thiếu sự quy hoạch, phân
    bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số
    ngành. Tuy nhiên, sự biến động của thị trường luôn khó có thể dự đoán một cách
    chính xác, và cần được nghiên cứu kỹ càng trước khi đưa ra quyết định tín dụng.
    Ngoài ra, sự thay đổi các mối quan hệ quốc tế, các quan hệ ngoại giao của chính
    phủ cũng là nguyên nhân gây ra rủi ro lớn cho hoạt động tín dụng của ngân hàng.
    Bên cạnh đó, hoạt động cấp tín dụng phụ thuộc rất nhiều thói quen, truyền thống,
    tập quán của ngươi dân. Những yếu tố đó nhiều khi gây khó khăn và hạn chế mở
    rộng hoạt động tín dụng của các ngân hàng. Tất cả những nguyên nhân khách quan
    đến từ môi trường kinh tế kể trên nếu không được dự báo và có biện pháp phòng
    ngừa kịp thời sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới khả năng thu hồi các khoản cho vay
    của ngân hàng.
     Môi trường tự nhiên biến đổi nhanh chóng: Thiệt hại do thiên tai (bão lụt, động
    đất, lốc xoáy…) rất khó lường trước và có thể gây hậu quả nghiêm trọng cho ngân
    hàng. Ngày nay, sự biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng nhanh chóng và mạnh
    mẽ có thể làm trầm trọng thêm hậu quả của thiên tai. Ở Việt Nam, do thời tiết diễn
    biến phức tạp nên môi trường tự nhiên đươc coi là nguyên nhân gây ra rủi ro cho
    hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cho vay khi đầu tư phát triển các thành
    phần kinh tế. Những biến động lớn về thời tiết, khí hậu gây ảnh hưởng hoạt động
    sản xuất kinh doanh đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, điều kiện tự nhiên

    TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227 27

  8. Bài 2: Rủi ro tín dụng

    là yếu tố khó dự đoán, nó thường xẩy ra bất ngờ với thiệt hại lớn ngoài tầm kiểm
    soát của con người. Vì vậy, khi có thiên tai địch họa xảy ra khách hàng cùng các
    ngân hàng cho vay sẽ có nguy cơ tổn thất lớn, phương án, dự án kinh doanh không
    có nguồn thu… Điều đó đồng nghĩa với các ngân hàng cho vay phải cùng chia sẻ
    rủi ro với khách hàng của mình.
     Môi trường pháp lý chưa đầy đủ và chồng chéo: Chính sách, quy định, luật lệ là
    những công cụ không thể thiếu để điều hành nền kinh tế, đảm bảo sự phát triển
    công bằng, hiệu quả và bền vững. Hệ thống pháp luật của các nước đang phát triển
    thường được xây dựng dựa trên nhu cầu điều chỉnh của thực tế, nhưng đôi khi lại
    đi sau và kìm hãm sự phát triển. Đồng thời, sự chồng chéo và tách rời một cách
    thiếu khoa học của nhiều cơ quan quản lý khiến hệ thống các quy định nhiều khi
    mâu thuẫn và chồng chéo, gây khó khăn trong quá trình vận dụng. Hoạt động kinh
    doanh của các ngân hàng thương mại liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế,
    mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lành mạnh thì môi trường
    kinh doanh của ngân hàng thương mại sẽ có nhiều thuận lợi. Ngược lại, nếu môi
    trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều khe hở thì rất dễ bị lợi dụng gây ra tình
    trạng tham ô, chiếm đoạt tài sản… Kinh tế xã hội kém ổn định dẫn đến kinh doanh
    gặp nhiều khó khăn, ngân hàng gặp rủi ro trong việc thu hồi nợ.

    2.3. Tác động của rủi ro tín dụng

    2.3.1. Tác động đến hoạt động của ngân hàng
    Các nhà kinh tế thường gọi ngân hàng là “ngành kinh
    doanh rủi ro”. Thực tế đã chứng minh không một
    ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lại lớn như kinh
    doanh tiền tệ – tín dụng. Ngân hàng phải gánh chịu
    những rủi ro không những do nguyên nhân chủ quan
    của mình, mà còn phải gánh chịu những rủi ro do
    khách hàng hay môi trường bên ngoài gây ra. Vì vậy, “rủi ro tín dụng của ngân hàng
    không những là cấp số cộng mà còn là cấp số nhân rủi ro của nền kinh tế”.
    Khi rủi ro xảy ra, trước hết lợi nhuận kinh doanh của ngân hàng sẽ bị ảnh hưởng. Khi
    các ngân hàng cho vay xuất hiện những khoản nợ quá hạn, việc đầu tiên là các ngân
    hàng phải tìm cách thu hồi nợ. Việc thu hồi nợ quá hạn vừa làm mất thời gian của cán
    bộ cho vay, vừa làm tăng khoản chi phí về đi lại để lấy nợ. Nếu các khoản nợ này có
    liên quan đến nhiều bên thì ngân hàng phải chi phí về cả thời gian lẫn tiền cho công
    việc thương lượng, gặp gỡ các bên trong quá trình xử lý nợ. Bên cạnh đó các ngân
    hàng phải bỏ ra chi phí cơ hội rất lớn do các khoản nợ quá hạn làm chậm lại vòng
    quay vốn tín dụng, làm mất đi các khoản đầu tư khác của mình, đó là chưa kể đến sự
    ảnh hưởng lớn của nợ quá hạn với tâm lý của cán bộ tín dụng. Nợ quá hạn phát sinh
    làm cho cán bộ tín dụng phải mất thời gian xử lý nợ, không tiếp cận được những món
    vay mới đồng thời còn làm cho cán bộ cho vay ngần ngại mở rộng hoạt động cho
    vay… Nếu rủi ro xảy ra ở mức độ nhỏ thì ngân hàng có thể bù đắp bằng khoản dự
    phòng rủi ro và lợi nhuận thu được trong kỳ. Tuy nhiên, nó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến
    khả năng sinh lời và mở rộng kinh doanh của ngân hàng. Tất cả những vấn đề này làm

    28 TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227

  9. Bài 2: Rủi ro tín dụng

    giảm thu nhập tiềm ẩn và làm tăng chi phí cho các ngân hàng, từ đó làm ảnh hưởng tới
    kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nghiêm trọng hơn, khi rủi ro tín dụng
    xảy ra ở mức độ lớn, dự phòng không đủ bù đắp, vốn khả dụng bị thiếu, lòng tin
    khách hàng giảm tất nhiên sẽ dẫn đến phá sản ngân hàng. Vì vây, việc phòng ngừa và
    hạn chế rủi ro tín dụng là một việc làm cần thiết của mọi ngân hàng.

    2.3.2. Tác động đến nền kinh tế
    Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh của ngân hàng liên quan đến nhiều
    thành phần kinh tế, từ cá nhân, hộ gia đình, các tổ chức kinh tế cho đến các tổ chức tín
    dụng khác. Vì vậy, kết quả kinh doanh của ngân hàng phản ánh kết quả sản xuất kinh
    doanh của nền kinh tế và ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh
    nghiệp và đời sống của các khách hàng cá nhân. Khi rủi ro tín dụng xảy ra, không chỉ
    ngân hàng không thu hồi được vốn, mà mục tiêu sử dụng vốn của khách hàng cũng
    khó đảm bảo, đồng thời gây khó khăn cho những lần vay vốn tiếp theo. Nếu rủi ro xảy
    ra ở quy mô lớn, tốc độ phát triển của nền kinh tế, của ngành hay vùng có thể bị chậm
    lại và suy giảm. Ngân hàng còn đóng vai trò quan trọng và có ảnh hưởng lớn đến
    chính sách tiền tệ, đến công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước. Nếu có sự thất thoát lớn
    trong hoạt động tín dụng dù chỉ ở một ngân hàng cho vay trực thuộc, không khắc phục
    kịp thời thì có thể gây nên “phản ứng dây truyền” đe dọa đến an toàn và ổn định của
    toàn bộ hệ thống ngân hàng, gây hậu quả rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế.
    Hiện nay ở Việt Nam, dư nợ cho vay chiếm phần lớn trong dư nợ tín dụng của ngân
    hàng thương mại và phi ngân hàng, đây sẽ là hoạt động kinh doanh chính của ngân
    hàng thương mại, là điều kiện cần phát triển trong nền kinh tế, việc các ngân hàng
    thương mại gặp rủi ro, bị tổn thất sẽ gây ảnh hưởng lớn đến hệ thống ngân hàng và
    gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế.
    Do vậy, phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng không những là vấn đề sống còn đối
    với ngân hàng mà còn là yêu cầu cấp thiết của nền kinh tế góp phần và sự phát triển và
    ổn định của toàn xã hội.
    Bài đọc thêm: Thực trạng nợ xấu của các tổ chức tín dụng
    Đến ngày 31/5/2012, nợ xấu theo các Tổ chức tín dụng báo cáo là hơn 117 ngàn tỷ
    đồng, chiếm 4,47% so với tổng dư nợ tín dụng.
    Theo kết quả giám sát của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng đối với gần 1,01
    triệu khách hàng vay được chọn mẫu của 57 Tổ chức tín dụng của Việt Nam chiếm tới
    90,1% tổng dư nợ tín dụng của các Tổ chức tín dụng này, đến ngày 31/3/2012 nợ xấu5
    của các Tổ chức tín dụng là hơn 202 ngàn tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ cấp tín
    dụng6. Nguyên nhân nợ xấu theo kết quả giám sát cao hơn nợ xấu theo báo cáo của các
    Tổ chức tín dụng tại thời điểm tháng 3/2012 là do:

    5
    Bao gồm nợ xấu hạch toán nội bảng, nợ xấu đã xử lý bằng dự phòng rủi ro đang theo dõi ngoại bảng
    và nợ xấu cam kết ngoại bảng
    6
    Bao gồm dư nợ cho vay hạch toán nội bảng, nợ xấu đã xử lý bằng dự phòng rủi ro đang hạch toán
    ngoại bảng và dư nợ cam kết ngoại bảng

    TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227 29

  10. Bài 2: Rủi ro tín dụng

    Thứ nhất, các tiêu chí xác định nợ xấu theo quy định hiện hành có bao gồm tiêu chí định
    lượng (như: thời gian quá hạn, số lần cơ cấu lại thời hạn trả nợ…) và tiêu chí định tính
    (chấm điểm, xếp hạng khách hàng, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng). Việc bao
    gồm các tiêu chí định tính và định lượng trong phân loại nợ là phù hợp với thông lệ
    quốc tế. Tuy nhiên, do khoản nợ rủi ro và năng lực quản trị rủi ro của các tổ chức tín
    dụng là khác nhau, nên việc sử dụng các tiêu chí định tính trong phân loại nợ dễ dẫn đến
    sự thiếu minh bạch trong xác định và ghi nhận nợ xấu của tổ chức tín dụng.
    Thứ hai, một số tổ chức tín dụng không thực hiện đúng quy định về phân loại nợ, ghi
    nhận nợ xấu thấp hơn thực trạng và quy định để giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro.
    Thứ ba, do thiếu thông tin về phân loại nợ của khách hàng tại các tổ chức tín dụng,
    nên dẫn đến có sự khác nhau về nhóm nợ của 1 khách hàng quan hệ tại nhiều tổ chức
    tín dụng.
    Do các nguyên nhân trên, nợ xấu do tổ chức tín dụng báo cáo thường thấp hơn nợ xấu
    theo kết quả giám sát tổ chức tín dụng và còn thấp hơn nữa so với nợ xấu theo kết quả
    thanh tra tại chỗ của ngân hàng nhà nước. Kết quả thanh tra tại chỗ vừa qua đối với
    một số ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém thuộc diện phải cơ cấu lại, cho thấy nợ
    xấu thực tế của các tổ chức tín dụng cao hơn nhiều số hiện báo cáo của tổ chức
    tín dụng.
    Một số giải pháp xử lý nợ xấu và nâng cao chất lượng tín dụng
    Để từng bước xử lý nợ xấu một cách bền vững, hạn chế nợ xấu gia tăng nhằm khơi
    thông dòng vốn trong hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm an toàn hoạt động ngân
    hàng, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và hỗ trợ vốn tích cực cho nền kinh tế, một số giải
    pháp sau đây cần được triển khai:
     Tổ chức tín dụng chủ động phối hợp với khách hàng vay để cơ cấu lại nợ, giãn
    thời gian trả nợ và xem xét giảm lãi suất một cách hợp lý cho khách hàng có khó
    khăn tài chính tạm thời, có chiều hướng cải thiện sản xuất kinh doanh tích cực,
    được đánh giá có khả năng trả nợ theo thời gian cơ cấu lại nợ.
     Tổ chức tín dụng tăng cường trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu
    theo quy định của pháp luật. Đẩy nhanh tiến độ bán, xử lý các tài sản bảo đảm của
    các khoản nợ xấu để thu hồi vốn.
     Ngân hàng nhà nước rà soát, hoàn thiện các quy định về phân loại nợ, trích lập và
    sử dụng dự phòng rủi ro phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn
    của Việt Nam, đồng thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định về cấp tín
    dụng và an toàn hoạt động ngân hàng.
     Tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để bảo đảm
    các Tổ chức tín dụng tuân thủ đúng các quy định về hoạt động ngân hàng, đặc biệt
    là quy định về cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và quy định về
    an toàn hoạt động tín dụng.
     Thúc đẩy thị trường mua bán nợ phát triển thông qua ban hành và triển khai có
    hiệu quả các quy định, chính sách về mua bán nợ.
    (Nguồn: Thực trạng nợ xấu của các tổ chức tín dụng– Ths. Nguyễn Hữu Nghĩa – Ngân hàng
    nhà nước Việt Namhttp://www.sbv.gov.vn)

    30 TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227

  11. Bài 2: Rủi ro tín dụng

    Tóm lược cuối bài
    Rủi ro tín dụng là loại rủi ro lâu đời và quan trọng nhất của 1 ngân hàng thương mại. Do hiện
    tượng bất cân xứng thông tin và những sự kiện khách quan bất khả kháng, ngân hàng chỉ có thể
    hạn chế rủi ro này mà không thể hoàn toàn loại bỏ nó.
    Các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng do sự tham gia của nhiều chủ thể trên thị
    trường tài chính. Những tác nhân gây ra rủi ro này có thể đến từ ngân hàng, khách hàng (tổ chức
    hoặc cá nhân) và môi trường bên ngoài.
    Rủi ro tín dụng một khi xảy ra sẽ tác động xấu đến nền kinh tế, nó thường là khởi nguồn của rủi
    ro thanh khoản, sau đó là rủi ro thanh toán và nghiêm trọng hơn có thể làm nền kinh tế đi vào
    tình trạng suy thoái.

    TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227 31

  12. Bài 2: Rủi ro tín dụng

    Câu hỏi ôn tập
    1. Thế nào là rủi ro tín dụng? Tại sao lại nói đây là rủi ro lâu đời nhất và quan trọng nhất trong
    hệ thống tài chính?
    2. Phân tích các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng.
    3. Rủi ro tín dụng có thể loại bỏ hoàn toàn được không?
    4. Hậu quả của rủi ro tín dụng đối với ngân hàng thương mại và nền kinh tế là gì?
    5. Quản lý tốt rủi ro tín dụng có thể hạn chế được các loại rủi ro khác không?.

    32 TXNHTM04_Bai2_v1.0015103227

Download tài liệu Bài giảng Ngân hàng thương mại 2 – Bài 2: Rủi ro tín dụng File Word, PDF về máy