[Download] Tải Bài giảng Ngân hàng phát triển – Bài 4: Tài trợ dự án tại ngân hàng phát triển – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Ngân hàng phát triển – Bài 4: Tài trợ dự án tại ngân hàng phát triển

Bài giảng Ngân hàng phát triển – Bài 4: Tài trợ dự án tại ngân hàng phát triển
Nội dung Text: Bài giảng Ngân hàng phát triển – Bài 4: Tài trợ dự án tại ngân hàng phát triển

Download


“Bài giảng Ngân hàng phát triển – Bài 4: Tài trợ dự án tại ngân hàng phát triển” phục vụ cho các bạn học tập thông qua các kiến thức các bước tài trợ dự án; nội dung chính của hợp đồng tín dụng, thẩm định dự án trong ngân hàng phát triển.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Ngân hàng phát triển – Bài 4: Tài trợ dự án tại ngân hàng phát triển – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Ngân hàng phát triển – Bài 4: Tài trợ dự án tại ngân hàng phát triển File Word, PDF về máy

Bài giảng Ngân hàng phát triển – Bài 4: Tài trợ dự án tại ngân hàng phát triển

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Ngân hàng phát triển – Bài 4: Tài trợ dự án tại ngân hàng phát triển

  1. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    BÀI 4 TÀI TRỢ DỰ ÁN TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN

    Hướng dẫn học
    Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu:
    1. Giáo trình “Ngân hàng Phát triển”, PGS.TS. Phan Thị Thu Hà, NXB Lao động –
    Xã hội.
    2. Sách “Kinh tế và tài chính công”, ThS. Vũ Cương, trường ĐH Kinh tế Quốc dân.
    3. Giáo trình “Kinh tế đầu tư”, PGS.TS. Nguyễn Bạch Nguyệt và Từ Quang Phương,
    trường ĐH Kinh tế Quốc dân.
    4. Sách “Thẩm định tài chính dự án”, PGS.TS. Lưu Thị Hương, NXB Tài chính,
    Hà Nội.
     Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc
    qua email.
    Nội dung
    Bài Tài trợ dự án tại Ngân hàng Phát triển mô tả quy trình ngân hàng phát triển cho vay đối
    với các dự án phát triển. Qua phân tích quy trình này, sinh viên cần thấy được những điểm
    giống và khác nhau giữa quy trình cho vay của ngân hàng phát triển với quy trình này tại
    các ngân hàng thương mại, tập trung vào các nội dung quan trọng như thẩm định dự án,
    thống nhất các đô nội dung trong hợp đồng tín dụng…
    Mục tiêu
    Sau khi học xong bài này, sinh viên cần nắm được các nội dung sau:
     Trình bày được các bước tài trợ dự án.
     Biết được các nội dung chính của hợp đồng tín dụng

    70 TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226

  2. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    Tình huống dẫn nhập
    Dự án nhà máy thủy điện Sơn La
    “Ngày 25/09/2007, tại Hà Nội, các ngân hàng thương mại nhà nước đã ký hợp đồng với Tập
    đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tài trợ vốn cho dự án Nhà máy Thuỷ điện Sơn La. Dự án với
    tổng vốn đầu tư 36.933 tỷ đồng (chưa bao gồm lãi vay thi công), khoản vay các ngân hàng
    thương mại trong nước là 17.500 tỷ đồng trong đó Vietcombank tài trợ 6.000 tỷ đồng;
    Incombank 5.000 tỷ đồng; VBARD 3.500 tỷ đồng và BIDV 3.000 tỷ đồng. Thời hạn của khoản
    vay là 15 năm, bao gồm 5 năm ân hạn được 4 ngân hàng tham gia cho vay uỷ quyền cho Ngân
    hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam làm đầu mối giải ngân. Dự án Nhà máy
    Thuỷ điện Sơn La với công suất 2400 MW, dự kiến khi đi vào vận hành khoảng tháng 12/2010
    sẽ tạo ra sản lượng điện bình quân 9,429 tỷ kWh/năm đảm bảo đủ cung ứng nguồn điện cho nhu
    cầu phát triển kinh tế xã hội đất nước. Đến Ngày 7/10/2007 tại Hà Nội, Ngân hàng Phát triển
    Việt Nam (VDB) đã ký với EVN hợp đồng tín dụng cho vay ngoại tệ nhập khẩu thiết bị cho dự
    án thủy điện Sơn La, trị giá 400 triệu USD”.

    Tại sao dự án Nhà máy thủy điển Sơn La không chỉ nhận được vốn từ một
    ngân hàng?

    TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226 71

  3. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    Hoạt động cơ bản của Ngân hàng phát triển là tài trợ hoặc đồng tài trợ cho các dự án
    phát triển, theo phương thức tài trợ một phần hoặc toàn bộ nhu cầu vốn đầu tư. Nội
    dung chính của tài trợ bao gồm các vấn đề sau:
    4.1. Thẩm định dự án
    4.1.1. Khái niệm thẩm định dự án
    Ngân hàng phát triển thẩm định dự án trước khi tài trợ. Thẩm định dự án là quá trình
    kiểm tra, rà soát lại toàn bộ các nội dung của dự án nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu
    quả của dự án, là căn cứ để ra quyết định đầu tư vào dự án đó. Theo đó, đây là quá
    trình phân tích, dự báo và đánh giá lại một cách toàn diện nội dung kinh tế, kỹ thuật
    của dự án nhằm xác định hiệu quả và khả năng hoàn trả vốn vay của dự án. Dự án
    được lập bởi chủ đầu tư. Để đảm bảo tính xác thực trong các thông tin mà dự án cung
    cấp, chủ đầu tư tiến hành thẩm định lại các yếu tố của dự án. Người chịu trách nhiệm
    về dự án có thể thuê cơ quan ngoài, hoặc bộ phận khác trong tổ chức để thẩm định dự
    án, đảm bảo tính độc lập, khách quan so với quá trình phân tích dự án. Tùy theo tầm
    quan trọng và ảnh hưởng của dự án mà các cơ quan hữu quan tham gia thẩm định dự
    án. Ví dụ cơ quan quản lý môi trường thẩm định ảnh hưởng của dự án đến môi trường,
    cơ cấp phát vốn hoặc cho vay thẩm định hiệu quả dự án, khả năng hoàn trả…, cơ quan
    quản lý đầu tư thẩm định tác động của dự án tới môi trường đầu tư…
    4.1.2. Tổ chức thẩm định dự án cua Ngân hàng phát triển
    Tổ chức thẩm định dự án bao gồm:
     Xây dựng quy trình, phương pháp thẩm định.
     Tổ chức thu thập, xử lý thông tin nhằm thẩm định nhanh chóng, chính xác.
     Tổ chức bộ máy thẩm định đảm bảo tính khách quan, độc lập.
    Quy trình thẩm định bao gồm các bước cơ bản sau đây:

    Trình người
    Lập Báo cáo
    Thực hiện có thẩm quyền
    Tiếp nhận hồ sơ về kết quả
    thẩm định để ra quyết định
    thẩm định
    đầu tư

    4.1.2.1. Phương pháp thẩm định dự án
    Ngân hàng áp dụng phương pháp thẩm định thích hợp nhằm tiết kiệm chi phí, hạn chế
    rủi ro.
     Phương pháp so sánh
    Thứ nhất, so sánh với các dự án cũ theo các chỉ tiêu đã lựa chọn. Dựa trên các chỉ
    tiêu của dự án tương tự đã hoàn thành, ngân hàng tiến hành phân tích các nhân tố
    tác động đến chúng, từ đó xây dựng các chỉ tiêu cho dự án mới. Dự án mà ngân
    hàng tài trợ có quy mô lớn, có tính đặc thù cao, thời gian tồn tại lâu dài, chịu tác
    động của nhiều yếu tố khó dự đoán. Nghiên cứu dự án tương tự đã hoàn thành giúp
    ngân hàng thấy được những tác động bất ngờ vào dự án, những ảnh hưởng trong
    dài hạn của dự án đối với phát triển kinh tế… từ đó xác định những định mức khoa
    học, so sánh dự án chuẩn bị tài trợ với định mức đó. Ngân hàng phát triển có thể
    tham khảo dự án thực hiện tại các nước khác, do các tổ chức tài chính khác
    tài trợ.

    72 TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226

  4. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    Thứ hai, so sánh với các định mức kinh tế kỹ thuật do các cơ quan quản lý quy
    định. Các chỉ tiêu như tiêu hao vật tư, yêu cầu về chất đất, nguồn nước, nhân
    công… cho mỗi dự án cụ thể thường được tổng kết qua nhiều năm và trở thành
    định mức do Nhà nước ban hành.

    4.1.2.2. Trình tự thẩm định
     Thẩm định sơ bộ
    Bao gồm: tiếp nhận hồ sơ, kiểm tra tính pháp lý
    của hồ sơ và uy tín của người lập dự án, tiếp xúc
    với chủ dự án và các đơn vị liên quan để tìm
    hiểu qua phân tích dự án.
     Thẩm định chính thức
    Kiểm tra các nội dung sau:
    o Doanh nghiệp chủ dự án: Tính pháp lý của
    doanh nghiệp, báo cáo tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh
    nghiệp, tình hình sử dụng vốn, uy tín…
    o Nội dung dự án: Xem xét lại tính khả thi của dự án, nguồn vốn, các chỉ tiêu kỹ
    thuật, nhu cầu vay, các kiến nghị. Dự toán vốn cho dự án, định mức hao phí
    nguyên, nhiên vật liệu, lao động, máy móc…
    o Yêu cầu đảm bảo nguồn vốn để thanh toán: Nếu công trình thuộc Ngân sách
    cấp phát một phần, phải có cam kết của Ngân sách trong việc cấp đủ vốn cho
    công trình. Nếu công trình do vốn tự bổ sung từ doanh nghiệp hay vay ngân
    hàng, phải xem xét khả năng cho vay của ngân hàng. Nếu công trình do nhiều
    nguồn khác nhau phải có xác định của các bên tham gia.
    o Phương thức thanh toán: Ngân hàng cần xem xét phương thức thanh toán như
    chủ đầu tư ứng trước (hoặc không) cho người trúng thầu, trả ngân hàng đầu
    hoặc cuối kỳ, trả làm nhiều lần, trả bằng nội tệ hay ngoại tệ…

    4.1.2.3. Tổ chức thu thập và xử lý thông tin nhằm thẩm định nhanh chóng chính xác
    Thứ nhất, thu thập thông tin về dự án và chủ đầu tư: bao gồm thông tin về thị trường,
    công nghệ, ban quản lý, tình hình tài chính ban đầu, địa điểm, thời gian… trong đó
    cần phải khảo sát trực tiếp địa điểm mà dự án được tiến hành. Thu thập thông tin từ
    nhiều nguồn, xác định các nguồn thông tin đáng tin cậy. Do đặc điểm của dự án phát
    triển, ngân hàng cần tiến hành thu thập thông tin trước về các tập đoàn, tổng công ty
    hay các tổ chức tín dụng, thu thập thông tin về các ngành, các lĩnh vực, vùng quan trọng.
    Thứ hai, xử lý thông tin. Đây là quá trình rất phức tạp và có vai trò quan trọng. Theo
    đó, ngân hàng cần đánh giá cơ sở xác định dữ liệu như nhu cầu thị trường, giá, nguồn
    nguyên nhiên liệu, lao động… Những số liệu này có loại có định mức, ít thay đổi như
    số tấn xi măng chi diện tích xây dựng, song có thể thay đổi thường xuyên như chi phí
    khảo sát, thăm dò. Kinh nghiệm cho thấy, chỉ cần thay đổi nhỏ trong các định mức
    trên, hiệu quả của dự án cũng thay đổi rất lớn; đối với lĩnh vực ngân hàng không có
    chuyên gia, cần thuê chuyên gia để xử lý. Để đơn giản quá trình xử lý thông tin, ngân
    hàng sử dụng kết quả thẩm định của các ngành khác nhau như thẩm định về công nghệ
    và môi trường của cơ quan quản lý công nghệ và môi trường… hoặc tập trung xử lý
    một số thông tin quan trọng.

    TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226 73

  5. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    Thứ ba, phân tích, dự báo các nhân tố tác động tới
    công cuộc đầu tư nhằm xác định rủi ro của dự án.
    Thông tin thu thập được nhiều khi chỉ phản ánh
    những vấn đề đã và đang diễn ra đối với các yếu tố
    của dự án. Do thời hạn của công cuộc đầu tư dài, sẽ
    có rất nhiều tác động làm thay đổi các yếu tố trên.
    Ví dụ công nghệ mới sẽ tạo nên sản phẩm thay thế
    tốt hơn sản phẩm của dự án, làm giảm khả năng tiêu
    thụ sản phẩm của dự án, nguyên liệu và thiết bị nhập ngoại bị ảnh hưởng bởi tỷ giá và
    biến động của thị trường quốc tế… Do vậy, dự báo là công việc không thể thiếu nhằm
    thẩm định các yếu tố của dự án, giúp ngân hàng thấy được dự án trong thời gian dài,
    lường trước được phần nào rủi ro của dự án để có biện pháp đề phòng.

    4.1.2.4. Tổ chức bộ máy thẩm định
    Bộ máy thẩm định cần phải được tổ chức khoa học nhằm đảm bảo tính độc lập, trung
    thực của các kết quả thẩm định. Quan trọng nhất trong bộ máy thẩm định là phòng thẩm
    định, là nơi thực hiện các nội dung thẩm định dự án, bao gồm các chuyên gia phân
    tích chuyên sâu trên tất cả các lĩnh vực liên quan đến dự án. Ngoài các chuyên gia sẵn
    có của Ngân hàng phát triển, ngân hàng còn thuê các chuyên gia và tư vấn trong từng
    dự án cụ thể nếu cácchuyên gia sẵn có chưa có nhiều kinh nghiệm trong một lĩnh vực
    nhất định hoặc để nhằm nâng cao chất lượng của công tác thẩm định. Thêm nữa, bộ
    phận thẩm định phải tách biệt về nhân sự với bộ phận tiếp nhận hồ sơ, phê duyệt tín
    dụng và quản lý rủi ro để đảm bảo tính khách quan của các kết quả thẩm định.

    Hộp 4.1: Thực trạng bộ máy thẩm định tại VDB
    VDB chưa tách bạch được một cách tương đối các mảng nghiệp vụ quan trọng là công tác thẩm định,
    hoạch định chính sách tín dụng, quản lý tín dụng, quản lý nợ xấu, quản lý rủi ro nhằm đảm bảo tính
    khách quan, tăng tính chuyên nghiệp và nâng cao chất lượng của khoản vay. Thêm nữa, tại các chi
    nhánh, Sở giao dịch thì đến nay chỉ có Sở giao dịch I và II là có Phòng Thẩm định, còn tại các chi
    nhánh khác thì công việc thẩm định được thực hiện tại Phòng Tổng hợp nên tầm quan trọng của thẩm
    định dự án không được coi trọng. Tại VDB chưa có được bộ phận hướng dẫn, tư vấn cho khách hàng
    các thủ tục vay vốn (lập hồ sơ xin vay, quy trình vay vốn…) nên các dự án và phương án vay vốn khi
    chuyển đến ngân hàng rất nhiều trong số đó được lập quá sơ sài, thiếu hồ sơ pháp lý, các nội dung
    trong dự án còn thiếu và mang tính chủ quan, các chỉ tiêu tài chính mâu thuẫn với nhau và chưa được
    xác định hợp lý. Thậm chí một số dự án lớn (nhóm A) do các Bộ, ngành lập còn sơ sài về nội dung,
    thiếu chính xác về số liệu, không có các dự báo về thị trường. Đây là yếu tố làm cho thời gian thẩm
    định bị kéo dài do khách hàng phải làm lại hồ sơ và các nội dung thẩm định không được đảm bảo do
    không có đủ thông tin. Thêm nữa, trong ngân hàng hiện đang thiếu bộ phận thu thập thông tin cần thiết
    và bộ phận lưu trữ thông tin thẩm định hiện đại. Để hỗ trợ cho công tác thẩm định thì ngoài các thông
    tin do khách hàng cung cấp thể hiện trong hồ sơ vay vốn thì bản thân ngân hàng cũng phải có một hệ
    thống các thông tin bổ trợ. Đó là những văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan quản lý nhà
    nước, thông tin cập nhật liên tục về các thị trường trong và ngoài nước, thông tin về tình hình kinh tế –
    chính trị – xã hội trong và ngoài nước, hệ thống các số liệu thống kê hàng năm theo các chỉ tiêu kinh tế
    – xã hội của toàn bộ nền kinh tế cũng như của từng ngành, lĩnh vực và từng vùng. Các kết quả thẩm
    định cũng như thông tin về dự án và chủ đầu tư đều được lưu trữ tại các phòng ban liên quan bằng
    văn bản giấy tờ hoặc trên máy tính của từng cá nhân mà chưa được chuyển về lưu trữ ở một mối (Hội
    sở chính) nên khi cần thông tin cũ thì cán bộ thẩm định phải mất nhiều thời gian tìm kiếm hoặc làm báo
    cáo gửi lên Hội sở chính để được cung cấp thông tin.
    Nguồn: Báo cáo tổng kết về hoạt động thẩm định tại VDB

    74 TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226

  6. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    4.1.3. Nội dung của thẩm định dự án
    Nội dung của thẩm định dự án bao gồm:
     Thẩm định sự cần thiết tài trợ (sự cần thiết của dự án, việc đáp ứng mục tiêu tài trợ
    của ngân hàng).
     Thẩm định hiệu quả vốn đầu tư.

    4.1.3.1. Thẩm định sự cần thiết tài trợ
    Chủ đầu tư cần chứng minh cho ngân hàng thấy sự cần thiết phải đầu tư và được phép
    đầu tư của các cấp có thẩm quyền. Sự cần thiết đầu tư đươc thể hiện thông qua tính
    pháp lý của dự án, là yếu tố quan trọng đảm bảo dự án được triển khai và vận hành
    thông suốt. Tính pháp lý được đảm bảo bằng các văn bản chính thức của các cơ quan
    quản lý mà hoạt động của dự án có liên quan; ví dụ, dự án có liên quan tới cấp phát
    của Ngân sách phải có giấy phép đầu tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính (Sở
    Tài chính).
    Các văn bản gồm:
     Giấy phép đầu tư.
     Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (hoăc thuê đất trong thời gian dài).
     Giấy phép nhập khẩu (nguyên nhiên liệu, máy móc cần thiết…).
    Các dự án được tài trợ ngân hàng phát triển phải đáp ứng được mục tiêu hoạt động của
    ngân hàng. Đây là vấn đề khó khăn nhất trong quá trình thẩm định sự cần thiết của tài
    trợ. Ngân hàng sẽ đánh giá các mục tiêu của dự án, kết quả mà dự án có thể đạt được,
    phân tích tính mâu thuẫn của các mục tiêu, nhằm xác định khả năng sinh lãi và tính an
    toàn của dự án.
    Dự án phát triển do Chính phủ hoạch định. Việc tài trợ là nhiệm vụ của Ngân hàng
    phát triển, đó là sức ép lớn đối với ngân hàng. Việc thẩm định sự cần thiết phải tài trợ
    sẽ định hướng cho Ngân hàng phát triển lựa chọn dự án khả thi và xác định phương
    pháp tài trợ thích hợp. Thông thường do một số nguyên nhân, số lượng dự án được
    đưa ra xét duyệt sẽ rất nhiều, nhưng không phải tất cả các dự án đó đều dựa trên nhu
    cầu của nền kinh tế và khả thi. Thực tế đã cho thấy việc đầu tư ồ ạt do không tính toán
    đến vấn đề nguồn lực đầu vào, trình độ quản lý, thị phần tiêu thụ ở đầu ra nên rất
    nhiều chương trình, dự án sau khi đầu tư xong đã không đạt hiệu quả ban đầu vì
    không có khả năng cạnh tranh hoặc do sản phẩm quá lớn so với nhu cầu thực tế.
    Hộp 4.2: Sự trùng lặp trong đầu tư
    (…) Chẳng hạn, trong hơn 20 năm qua, nhiều cảng nước sâu đã được hình thành suốt dọc bờ biển
    phía đông của Việt Nam. Mặc dù góp phần không nhỏ trong việc phát triển kinh tế nói chung và xuất
    nhập khẩu của các địa phương, hệ thống cảng nước sâu quá dày đặc cũng cho thấy một sự lãng
    phí về vốn đầu tư công. Việc giải thích cho mức độ dày đặc các cảng nước sâu ở Duyên hải miền
    Trung (từ Thanh Hóa đến Ninh Thuận) là điều không đơn giản, song trước đó mỗi dự án này đều
    khả thi và có hiệu quả (nếu không tính đến các dự án khác). Toàn bộ những cảng này đều do nhà
    nước đầu tư từ nguồn ngân sách Trung ương hoặc ngân sách địa phương, gây ra lãng phí lớn trong
    điều kiện tiềm lực còn eo hẹp – trong khi lẽ ra các khoản vốn này có thể được sử dụng cho các mục
    đích khác. Mạng lưới dày đặc khiến các cảng phải cạnh tranh gay gắt với nhau và trong bối cảnh
    quy mô hoạt động thương mại chưa đủ lớn, hầu hết các cảng đều có công suất sử dụng ở mức
    thấp. Mật độ các cảng quá dày đặc song nước ta lại quá thiếu những cảng có quy mô lớn với hệ
    thống logistics thuận tiện để có thể tiếp nhận được những tàu lớn hoặc những tàu chuyên dụng.

    TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226 75

  7. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    Rõ ràng, sự trùng lặp của nhiều dự án đầu tư công trong cùng một lĩnh vực cho thấy thiếu hiệu quả
    điều phối của các dự án này ở cấp vùng. Điều này khiến từng dự án đáp ứng đúng về quy trình (kể
    cả khâu thẩm định) song công tác thẩm định, xét duyệt lại chưa được đúng yêu cầu. Một trong
    những nguyên nhân quan trọng là thiếu thể chế điều phối đủ mạnh và theo dõi công việc đủ sát sao
    ở cấp vùng. Mặc dù nhiều quy hoạch vùng kinh tế, xã hội, vùng kinh tế trọng điểm được phê duyệt,
    nhưng không có bộ máy ở Trung ương, hay bộ máy cấp vùng để thực thi một cách triệt để. Tiêu chí
    đánh giá kết quả hoạt động của các cấp chính quyền nhiều mặt chưa sát với thực tế, còn nặng về
    kinh tế, lo tăng thu cho ngân sách địa phương (có phần do Luật Ngân sách Nhà nước quy định), dẫn
    đến tình trạng không gian kinh tế bị chia cắt theo quản lý hành chính, không được điều phối tạo ra
    sức mạnh tổng thể. Bên cạnh đó, nhiều lý do khách quan và hạn chế năng lực, tầm nhìn có thể
    được đưa ra nhằm giải thích cho hiệu quả điều phối thấp. Chính vì vậy, hiệu quả của phân cấp,
    phân quyền đối với quản lý đầu tư công còn thấp và làm giảm đóng góp của đầu tư công đối với sự
    phát triển kinh tế – xã hội của cả nước.
    Nguồn: Chương 4 trong Báo cáo Kinh tế vĩ mô năm 2014

    4.1.3.2. Thẩm định các mục tiêu của dự án
    Ngân hàng phát triển chỉ tài trợ ưu đãi cho một số mục tiêu nhất định. Các dự án
    không thuộc diện ưu đãi cũng phải nằm trong mục tiêu của ngân hàng. Do vậy xác
    định mục tiêu của các dự án là bước đầu tiên của quá trình thẩm định. Nhiều sai lầm
    được bắt đầu từ xác định sai các mục tiêu của dự án, ví dụ các dự án chỉ nhằm mục
    tiêu xã hội, không tạo nguồn thu trả nợ ngân hàng, không thể là đối tượng cho vay.
    Nhiều mục tiêu của dự án, là đối tượng cho vay của ngân hàng, lại mâu thuẫn với
    nhau. Ngân hàng sẽ loại trừ các dự án không phù hợp với mục tiêu hoạt động của ngân
    hàng, hoặc tính điểm cho các mục tiêu của dự án, hoặc cần có cam kết của các bên
    trong việc thực hiện mục tiêu này. Quá trình thẩm định mục tiêu của dự án là quá trình
    sàng lọc các ý đồ của dự án. Để thực hiện nhiều mục tiêu xã hội, dự án cần đưa ra các
    nội dung về công nghệ, nhân lực, thị trường… Các nội dung này cần phải cân đối với
    mục tiêu đề ra.

    4.1.3.3. Thẩm định công nghệ và ảnh hưởng của dự án đến môi trường
    Trên quan điểm lợi nhuận trong ngắn hạn, trong
    điều kiện thiếu vốn đầu tư và chi phí vốn đầu tư đắt
    đỏ, các doanh nghiệp và các chủ đầu tư buộc phải
    chấp nhận công nghệ rẻ, lạc hậu. Lợi thế của công
    nghệ rẻ là sử dụng nhiều lao động, phù hợp với
    trình độ sử dụng. Tuy nhiên mặt trái của nó là ảnh
    hưởng không tốt tới môi trường và tạo ra các sản
    phẩm chất lượng không cao, tính cạnh tranh kém.
    Công nghệ lạc hậu nhiều khi lại tiêu tốn nguyên nhiên vật liệu trong quá trình tạo sản
    phẩm, làm tăng giá thành. Do đó, với mục tiêu hỗ trợ phát triển Ngân hàng phát triển
    sẽ kiểm tra nghiêm ngặt trang thiết bị và công nghệ của các dự án phù hợp với chính
    sách công nghệ và bảo vệ môi trường mà Nhà nước đã đặt ra cho từng dự án. Thông
    qua hoạt động thanh toán, Ngân hàng phát triển kiểm tra nguồn gốc xuất xứ của trang
    thiết bị, các hợp đồng mua bán thiết bị, giá… để đảm bảo tính hiện đại của chúng.

    4.1.3.4. Thẩm định hiệu quả tài chính – xã hội của dự án
    Đây là hoạt động phức tạp nhất trong công tác thẩm định dự án. Yêu cầu đặt ra đối với
    hoạt động này là phải toàn diện, chuẩn xác, nhanh chóng và chi phí thấp. Trình độ của
    cán bộ thẩm định quyết định chất lượng thẩm định. Nội dung thẩm định này bao gồm:

    76 TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226

  8. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

     Thẩm định thị trường như thị trường nguyên nhiên liệu, sản phẩm, lao động, công
    nghệ liên quan đến dự án. Phân tích tính cạnh tranh của sản phẩm, tính khan hiếm
    hay dễ tìm kiếm của nguyên nhiên liệu, nguồn lao động có tay nghề sẵn có hay
    phải qua đào tạo… Đánh giá tính an toàn của các chỉ tiêu bằng các hợp đồng giữa
    chủ đầu tư với các bên có liên quan trong suốt thời gian tồn tại của dự án.
     Thẩm định nguồn vốn: dự án phát triển được tài trợ bởi nhiều nguồn với tính chất
    về quy mô, thời hạn sử dụng, lãi suất… không giống nhau. Cần xác định rõ ràng
    và có căn cứ các nguồn vốn này, đặc biệt phân tích khả năng hoàn trả (nếu cần) đối
    với mỗi nguồn vốn.
     Thẩm định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính: ngân hàng sử dụng các phương pháp và
    kỹ thuật thích hợp để tính toán hiệu quả của dự án, bao gồm tính dòng tiền, xá định
    lãi suất chiết khấu, đo lường rủi ro…Tìm kiếm hệ thống các chỉ tiêu định mức (cơ
    sở) để làm căn cứ so sánh với các chỉ tiêu hiệu quả tính toán từ dự án, làm cơ sở
    tin cậy để ra quyết định tài trợ.
     Thẩm định hiệu quả xã hội và tác động tiêu cực của dự án. Đây là nội dung khó xét
    trên giác độ đo lường hay định lượng. Đại đa số các dự án phát triển hiện nay,
    phần nội dung này chỉ dừng lại ở việc liệt kê các lợi ích xã hội có được từ việc
    triển khai dự án, còn đo lường giá trị của chúng, đo lường hao phí xã hội cùng các
    tác động tiêu cực đến nền kinh tế – xã hội để dự án được tiến hành và cuối cùng là
    gia tăng giá trị xã hội có được thì rất ít dự án làm được.
     Thẩm định rủi ro và xác định các biện pháp dự phòng: như đã đề cập đến ở bài 1,
    các rủi ro đối với dự án phát triển là không tránh khỏi nên ngân hàng luôn phải
    tính toán phần dự phòng phù hợp để bù đắp cho các rủi ro này. Nếu dự phòng quá
    nhiều hoặc quá ít đều ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

    4.2. Tài trợ theo dự án
    Một cách khái quát, quá trình tài trợ dự án của Ngân hàng phát triển trải qua 5 bước cơ
    bản sau đây:

    4.2.1. Thẩm định trước khi tài trợ
    4.2.1.1. Lựa chọn và thẩm định dự án
    Các dự án phát triển sẽ được tính toán theo nhiều chỉ tiêu. Ngân hàng tiến hành xác
    định số lượng dự án và lựa chọn các dự án tốt nhất trong số các dự án ngân hàng đang
    tiếp cận thông qua các tiêu chuẩn. Ngân hàng làm rõ các cam kết của các chủ đầu tư

    TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226 77

  9. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    và các chủ nợ khác trong quá trình thưc hiện dự án. Ngân hàng cũng xây dựng kế
    hoạch bao gồm thời gian, các điều kiện để dự án thực hiện có hiệu quả, ví dụ kế hoạch
    đấu thầu, kế hoạch đồng tài trợ… Ngân hàng tiến hành thẩm định toàn diện các nội
    dung của dự án.
    4.2.1.2. Thẩm định người chịu trách nhiệm, người điều hành doanh nghiệp và cơ chế
    quản lý đối với dự án
     Khách hàng vay của Ngân hàng phát triển
    o Ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng khác.
    Ngân hàng phát triển tài trợ dự án thông qua các ngân hàng đầu mối, là người
    có trách nhiệm thu hồi vốn trả nợ Ngân hàng phát triển. Ngân hàng phát triển
    lựa chọn dự án, kêu gọi tài trợ từ các Ngân hàng thương mại, các công ty tài
    chính. Nhìn chung đó là các dự án có tỷ lệ sinh lời cao song rủi ro lớn. Hỗ trợ
    một phần vốn với lãi suất thấp của Ngân hàng phát triển là lực hút đối với
    nguồn tài trợ từ Ngân hàng thương mại. Các Ngân hàng thương mại sẽ thực
    hiện cho vay theo cơ chế thương mại đối với phần nguồn vốn của Ngân hàng
    thương mại và giải ngân ủy thác đối với phần nguồn vốn của Ngân hàng phát
    triển. Do vậy đánh giá năng lực cho vay, thu nợ và khả năng tài chính của ngân
    hàng đầu mối là một trong những nội dung thẩm định khách hàng của Ngân
    hàng phát triển. Ngân hàng phát triển thường lựa chọn các ngân hàng có kinh
    nghiệm trong lĩnh vực tài trợ, có khả năng tài trợ với quy mô lớn, thời gian dài.
    o Các tập đoàn kinh tế: có thể gồm công ty mẹ
    và nhiều công ty con, hoặc Tổng công ty.
    Đây là khách hàng có tiềm lực tài chính
    mạnh, trình độ quản lý và công nghệ cao.
    Tuy nhiên tính chất sở hữu phức tạp, cơ chế
    quản lý tài chính đa dạng theo hướng “mở”
    giữa các đơn vị thành viên có thể gây khó
    khăn cho quá trình tài trợ của Ngân hàng
    phát triển. Công ty mẹ có thể trực tiếp vay, hoặc bảo lãnh cho công ty con vay,
    hoặc công ty con trực tiếp vay của ngân hàng để thực hiện dự án. Ngân hàng
    phải thẩm định tình hình tài chính của người vay trong mối quan hệ mẹ – con,
    Tổng công ty – đơn vị thành viên hạch toán độc lập.
    o Các Bộ hoặc chính quyền địa phương: Thực chất Bộ và chính quyền địa phương
    không phải là người trực tiếp vay ngân hàng mà là dự án của họ. Dựa trên
    “dự án” vừa được xây dựng, một chủ đầu tư được thành lập (công ty của Bộ
    hoặc tỉnh). Rất khó phân tích về chủ đầu tư loại này (ngoài yếu tố pháp lý) do
    đây là dự án tạo nên pháp nhân mới. Hoặc chủ đầu tư là cơ quan hưởng lợi,
    hiện chưa rõ về năng lực tài chính. Chủ đầu tư này sẽ trở nên hiện hữu hơn khi
    ngân hàng tài trợ – điều kiện để hình thành tài sản của dự án. Trong trường hợp
    này, ngân hàng cần ràng buộc trách nhiệm trả nợ đối với Bộ và tỉnh.
     Ngân hàng xem xét cơ chế quản lý của chủ đầu tư đối với dự án. Trong nhiều
    trường hợp, ngân hàng kiến nghị thiết lập cơ chế quản lý thích hợp để tạo điều
    kiện cho ngân hàng kiểm tra hoạt động của chủ đầu tư. Ví dụ, cơ chế tham khảo ý
    kiến ngân hàng trước khi thay đổi hạng mục đầu tư, hoặc về chính sách tín dụng
    thương mại…

    78 TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226

  10. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    4.2.1.3. Xem xét các dự án liên quan chặt chẽ tới dự án mà ngân hàng tài trợ (các
    dự án phụ thuộc lẫn nhau)
    Dự án phát triển là dự án là dự án có tính liên kết. Nó hình thành dựa trên sự vận hành
    của một số dự án và là động lực để phát triển các dự án thương mại khác. Ví dụ dự án
    xây dựng nhà máy mía đường, trong nhiều trường hợp chỉ có hiệu quả khi dự án phát
    triển nguồn nguyên liệu thành công, đồng thời khuyến khích các dự án sử dụng sản
    phẩm phụ của nhà máy. Nếu tại địa điểm xây dựng nhà máy, nguồn nguyên liệu không
    đáp ứng đủ, ngân hàng cần có dự án bổ sung là dự án phát triển nguồn nguyên liệu.
    4.2.1.4. Xác định rủi ro của dự án và đặt ra hệ thống phát hiện sớm các dấu hiệu
    làm cho dự án trở nên tồi tệ
    Hệ thống này sẽ giúp cả ngân hàng và chủ dự án phát hiện sớm các sai lệch nhằm
    nhanh chóng tìm biện pháp khắc phục.
    4.2.2. Tìm kiếm nguồn tài trợ thích hợp
     Trên cơ sở nội dung cơ bản của dự án, Ngân hàng
    phát triển cần tìm các nguồn phù hợp. Như vậy tính
    chất của dự án quyết định tính chất của nguồn vốn.
    Nếu dự án có khả năng sinh lời thấp (chi phí cao
    hoặc giá bán phải thấp) thì ngân hàng phải tìm
    nguồn có lãi suất hỗn hợp (lãi suất thị trường và lãi
    suất ưu đãi). Ngược lại, các dự án có khả năng sinh
    lời cao, ngân hàng cho vay với lãi suất cao thì có
    thể tìm nguồn trên thị trường. Những dự án có thời
    gian dài, ngân hàng phải căn cứ vào khả năng chuyển hoán nguồn vốn để xác định
    thời gian huy động phù hợp.
     Huy động tiết kiệm trung và dài hạn, phát hành giấy nợ trung và dài hạn là hai
    nguồn cơ bản của Ngân hàng phát triển. ODA và các nguồn tài trợ của các thể chế
    tài chính quốc tế đóng vai trò quan trọng vì lãi suất thấp, thời gian dài. Bên cạnh
    đó Ngân hàng phát triển cũng có thể tìm nguồn cho dự án thông qua tổ chức đồng
    tài trợ với các ngân hàng thương mại khác, thông qua bảo lãnh vay vốn nước noài,
    ký hợp đồng hạn mức với các ngân hàng khác.
    4.2.3. Xác định phương thức tài trợ
    4.2.3.1. Ngân hàng phát triển cho vay toàn bộ nhu cầu vốn tín dụng
    Phương thức này áp dụng với dự án hầu như không có khả năng tiếp cận với các ngân
    hàng thương mại: Mục tiêu xã hội lớn, doanh lợi thấp, rủi ro rất cao.
    4.2.3.2. Ngân hàng phát triển tài trợ thông qua các Ngân hàng thương mại
    Những mục tiêu phát triển đã được hoạch định chi tiết, dự án đã được lập và thẩm
    định sơ bộ. Nếu xét thấy dự án có khả năng sinh lời cao và khá an toàn, Ngân hàng
    phát triển sẽ tiến hành tài trợ đối với một Ngân hàng thương mại để ngân hàng này
    cấp tín dụng cho dự án. Hình thức tài trợ cho Ngân hàng thương mại có thể là cho vay
    một phần nhu cầu vốn, bảo lãnh phát hành trái phiếu, cấp một phần chênh lệch lãi
    suất, hoặc chấp nhận một phần rủi ro… Hình thức này sẽ tận dụng lợi thế của Ngân
    hàng thương mại trong quá trình tài trợ dự án.

    TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226 79

  11. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    4.2.3.3. Ngân hàng phát triển tổ chức đồng tài trợ với tư cách là ngân hàng đầu mối
    Đồng tài trợ là phương thức để san sẻ rủi ro cho các ngân hàng, vì vậy phương thức tài
    trợ này thích hợp với các dự án lớn, thời gian dài, hoặc độ rủi ro cao. Ngân hàng phát
    triển có thể chấp nhận thu hồi vốn sau cùng và một số rủi ro nhất định. Ngân hàng
    phát triển ngoài ký hợp đồng tín dụng với dự án, còn phải ký hợp đồng với các tổ chức
    tín dụng khác.

    4.2.3.4. Ngân hàng phát triển cho vay một phần, phần còn lại là của các tổ chức tín
    dụng khác
    Phương thức này áp dụng đối với dự án (hoặc chương trình) tương đối hấp dẫn Ngân
    hàng thương mại. Dự án phát triển có thể được chia thành nhiều dự án (tiểu dự án) hay
    hạng mục có tính liên kết hữu cơ, hoặc nhiều dự án tập hợp lại thành Chương trình
    phát triển của Chính phủ. Ví dụ về Chương trình mía đường, Ngân hàng phát triển có
    thể cho vay để phát triển vùng nguyên liệu, làm đường vận chuyển, còn Ngân hàng
    thương mại cho vay để xây dựng nhà máy; hoặc Ngân hàng phát triển cho và trung và
    dài hạn còn các Ngân hàng thương mại cho vay ngắn hạn. Các Ngân hàng thương mại
    sẽ lựa chọn tài trợ cho các tiểu dự án hoặc hạng mục có khả năng thu hồi vốn, thời
    gian hoàn vốn ngắn, ít rủi ro, có tài sản đảm bảo, còn lại sẽ do Ngân hàng phát triển
    tài trợ.

    4.2.3.5. Ngân hàng phát triển bảo lãnh để dự án phát hành trái phiếu dài hạn trên thị
    trường trong nước hoặc quốc tế, hoặc vay của ngân hàng nước ngoài
    Nhiều nước có chính sách khuyến khích xuất khẩu
    thông qua tài trợ ưu đãi cho người nhập khẩu nước
    ngoài. Ví dụ Eximbank của Pháp sẽ cho vay với lãi suất
    thấp cho các doanh nghiệp nước ngoài mua máy của
    Pháp (với điều kiện phải có bảo lãnh của Chính phủ
    hoặc tổ chức tài chính có uy tín). Trong trường hợp
    này, Ngân hàng phát triển có thể bảo lãnh cho hãng
    hàng không vay của Eximbank Pháp nhằm phát triển
    đội bay…

    4.2.4. Ký kết hợp đồng tín dụng
    Hợp đồng tín dụng bao gồm thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng về quy mô, lãi
    suất của các khoản tín dụng, các khoản phí, thời hạn tín dụng và kỳ hạn trả nợ, quyền
    hạn và trách nhiệm của ngân hàng trong quá trình tài trợ, nghĩa vụ của khách hàng
    trong quá trình trả nợ ngân hàng, số tiền gốc và lãi phải trả hàng kỳ…

    4.2.4.1. Quy mô và cơ cấu vốn
    Nhu cầu vay vốn = Nhu cầu đầu tư – Vốn đầu tư – Nguồn khác
    Nhu cầu vay Ngân hàng phát triển = Nhu cầu vay – Vay các tổ chức tín dụng khác
    Ngân hàng phát triển cho vay trong giới hạn về nguồn vốn. Tổng vốn đầu tư và cơ cấu
    vốn đầu tư được xác định dựa trên dự toán đầu tư. Nguồn vốn và cơ cấu vốn được dự
    tính thông qua các văn bản ghi nhớ hoặc các hợp đồng về hạn mức, hoặc trong nước

    80 TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226

  12. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    hoặc nước ngoài. Sau khi xác định hoặc yêu cầu các nguồn tài trợ khác, Ngân hàng
    phát triển mới xác định số vốn cần tham gia. Trong nhiều trường hợp khoản cho vay
    của Ngân hàng phát triển là vốn “mồi” để các Ngân hàng thương mại khác tham gia
    đầu tư. Vậy nên, cơ cấu vốn của một dự án có thể đến từ nhiều nguồn khác nhau.

    4.2.4.2. Lãi suất cho vay
    Lãi suất cho vay của Ngân hàng phát triển thường thấp hơn lãi suất cho vay trên thị
    trường, phản ánh hỗ trợ của Chính phủ cho dự án phát triển, thậm chí còn thấp hơn lãi
    suất huy động đầu vào của ngân hàng này. Ví dụ cho vay dự án phát triển kinh tế ở
    nông thôn kết hợp cả hai nguồn vốn gồm vốn tài trợ của Chính phủ hoặc các tổ chức
    xã hội cho phát triển nông thôn và vốn huy động trên thị trường, lãi suất đầu vào là lãi
    suất huy động bình quân. Tham khảo về lãi suất bình quân cho vay (đầu ra) của VDB
    trong đồ thị dưới đây:

    Nguồn: Báo cáo tổng kết hàng năm của VDB

    Đồ thị 4.1. Lãi suất của VDB (%/năm)

    Ngân hàng cũng phân biệt lãi suất cho các bộ phận khác nhau của dự án. Trong dự án
    có nhiều đối tượng được tài trợ, mỗi đối tượng có thể phải chịu lãi suất khác nhau phù
    hợp với khả năng sinh lời cụ thể. Cho vay đối với các hộ nghèo, hoặc các hộ kinh
    doanh còn nhiều khó khăn cần lãi suất thấp hơn cho vay các hộ giàu kinh doanh đang
    trong thời kỳ có thu hoạch lớn, tỷ suất lợi nhuận cao. Trong giai đoạn đầu tư hoặc vận
    hành ban đầu, khi số tiền vay lớn, sản phẩm chưa tiêu thụ nhiều, lãi suất có thể thấp,
    trong giai đoạn phát triển, tỷ lệ sinh lời cao, lãi suất cho vay sẽ được nâng lên. Việc
    phân biệt như trên sẽ hạn chế bao cấp của Nhà nước, làm cho lãi suất phù hợp với khả
    năng sinh lợi của dự án.
    Cho dù lãi suất cho vay của Ngân hàng phát triển thấp hơn lãi suất cho vay của các
    trung gian tài chính khác thì lãi suất này vẫn phải đảm bảo phản ánh chi phí vốn ở
    mức chấp nhận được nhằm mục tiêu hoạt động an toàn của ngân hàng. Trên cơ sở nỗ
    lực của ngân hàng đa dạng các nguồn vốn để giảm chi phí huy động bình quân – một
    cấu phần quan trọng của lãi suất cho vay – thì lãi suất cho vay phải đảm bảo bù đắp
    các chi phí hoạt động khác của ngân hàng và bù đắp được rủi ro của dự án ở mức độ
    ngân hàng chấp nhận được.

    TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226 81

  13. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    4.2.4.3. Đảm bảo tiền vay
     Các vấn đề khó khăn về đảm bảo tiền vay trong các dự án phát triển
    Đối với những nước mà thị trường tài sản (như đất, nhà cửa, máy móc…) chưa
    phát triển, hoặc tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, tổn thất của Ngân hàng rất khó
    được bù đắp bằng bán các tài sản thế chấp. Phần lớn dự án phát triển là dự án đầu
    tư mới, tài sản thế chấp chưa có. Tài sản hình thành sau đầu tư nhà máy, đường
    giao thông, bến cảng… rất khó định giá và khó bán.
     Đảm bảo tiền vay trong dự án phát triển
    Để hạn chế rủi ro, Ngân hàng phát triển cố gắng
    xem xét các khả năng đảm bảo khác nhau:
    Thứ nhất, đảm bảo của Chính phủ cho các dự
    án: ngân hàng chủ yếu cho vay chỉ dựa vào uy
    tín của chủ đầu tư, với quy mô vốn cho vay lớn,
    nếu tổn thất xảy ra, ngân hàng khó có thể bù đắp
    bằng quỹ dự phòng. Vì vậy, đảm bảo của Chính
    phủ rất quan trọng. Tuy nhiên đảm bảo của
    Chính phủ có thể làm giảm nỗ lực và trách nhiệm của ngân hàng trong việc thẩm
    định và cho vay dự án. Đấy là hai mặt của vai trò của Chính phủ đối với hoạt động
    của ngân hàng mà nếu không được giải quyết tốt thì hiệu quả cho vay của các dự
    án phát triển có thể bị giảm sút.
    Thứ hai, đảm bảo của chủ đầu tư: Chủ đầu tư có thể thuộc Bộ, Tổng công ty, các
    cấp chính quyền… Những đơn vị chủ quản của chủ đầu tư thường có tiềm lực tài
    chính nhất định, đứng ra bảo lãnh trả nợ cho Ngân hàng phát triển.

    4.2.4.4. Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ
    Các công cuộc đầu tư phát triển có thời gian dài (thường là trên 10 năm) bao gồm thời
    gian đầu tư, vận hành, có thể tách biệt hoặc đan xen. Có những công trình có thời gian
    sử dụng rất dài như nhà máy thủy điện, đường giao thông, sân bay, cảng biển, bệnh
    viện, khu công nghiệp… ngân hàng căn cứ vào đời sống kinh tế – kỹ thuật của những
    công trình, nguồn thu, khả năng huy động của ngân hàng để xác định thời hạn tín dụng
    và kỳ hạn nợ.
    Trên cơ sở nguồn thu dự tính, ngân hàng xác định kế hoạch trả nợ, bao gồm:
     Xác định nguồn trả nợ: từ thu nhập của dự án, thu nhập của Bộ, của Tổng công ty
    có dự án, hoặc từ nguồn thu ngân sách.
     Xác định thời điểm trả nợ, kỳ hạn nợ: Thời điểm trả nợ được xác định căn cứ vào
    kỳ hạn trả nợ, kỳ hạn trả nợ là khoảng thời gian mà kết thúc khoảng thời gian đó
    khách hàng phải thanh toán nợ cho ngân hàng theo thỏa thuận.
     Xác định số tiền trả nợ mỗi kỳ: Bao gồm một phần hay toàn bộ khấu hao, một
    phần hay toàn bộ lợi nhuận sau thuế, hoặc một phần thu ngân sách.
     Xác định loại tiền thanh toán (nội hoặc ngoại tệ) và tỷ giá chuyển đổi.
     Xác định điều kiện phát sinh nợ quá hạn, thanh toán gốc và lãi quá hạn.

    82 TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226

  14. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    Xác định nguồn trả nợ là công việc phức tạp đối với Ngân hàng phát triển. Quy mô tài
    trợ lớn, dự án sinh lời chậm, nguồn vốn ngắn hạn và trung hạn của ngân hàng tài trợ
    cho dự án chiếm tỷ trọng lớn… gây sức ép đối với ngân hàng trong việc tính toán
    nguồn thu nợ và thời gian thu nợ.
    Trước hết, về lý thuyết, thu nhập của dự án (khấu hao TSCĐ và lợi nhuận sau thuế)
    được dùng để trả nợ gốc và doanh thu từ tiêu thụ sản phẩm từ dự án được dùng để
    thanh toán nợ lãi. Nếu dự án không tạo nguồn thu trực tiếp, thì thu nhập khác của chủ
    đầu tư (hoặc người hưởng lợi) sẽ được sử dụng để trả nợ. Ví dụ dự án phát triển
    đường giao thông, hoặc không thu phí, hoặc nếu thu phí thì thời gian trả rất lâu; chủ
    đầu tư có thể bán quyền sử dụng đất hai bên đường (số tiền rất lớn do con đường
    mang lại) và sử dụng số tiền này để trả nợ. Tuy nhiên, các nguồn ngoài dự án để trả nợ
    của chủ đầu tư được sử dụng để trang trải cho rất nhiều khoản chi khác mang tính chất
    thường xuyên, do vậy cần được ngân hàng thẩm định kỹ và có kế hoạch và cam kết cụ
    thể của bên đi vay.
    Thứ hai, Ngân hàng phát triển cho vay ứng trước
    cho ngân sách, hoặc dự án có nguồn thu thấp nhằm
    tạo lợi thế cho các ngành khác thì thu ngân sách là
    nguồn trả nợ cho ngân hàng. Những dự án này là
    đối tượng cấp phát của ngân sách. Tuy nhiên, do
    ngân sách chưa bố trí đủ, kịp thời, Ngân hàng phát
    triển sẽ ứng trước cho Ngân sách. Hoạt động của
    Ngân hàng phát triển cần các dòng tiền để vận hành
    liên tục nên nếu các khoản này chậm trả lại sẽ ảnh
    hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
    Thứ ba, những dự án nguồn trả nợ không đủ, Ngân hàng phát triển sẽ thiết kế nguồn
    trả nợ cũ bằng phát triển các khoản nợ mới. Cách làm này mang tính chất tình thế và
    nếu khách hàng không có ý thức nhanh chóng trả nợ cho ngân hàng thì nợ xấu thực tế
    của ngân hàng sẽ bị đội lên rất nhiều cho dù trên giấy tờ các khoản nợ vẫn có vẻ tốt.

    4.3. Giải ngân, giám sát dự án, thu nợ và điều chỉnh dự án
    Tài trợ dự án phát triển diễn ra trong thời gian tương đối dài. Phần vốn tham gia của
    ngân hàng thường chiếm tới trên 50% tổng vốn đầu tư. Vì vậy theo dõi và đánh giá dự
    án là điều kiện để ngân hàng tài trợ một cách có hiệu quả.
     Quá trình giải ngân là quá trình ngân hàng giám sát tiến độ đầu tư. Ngân hàng
    giải ngân theo các điều kiện giải ngân như tiến độ xây dựng, tiến độ nhập máy móc
    thiết bị, kết quả thực hiện các chỉ tiêu… Cơ sở để giải ngân là chứng từ hóa đơn
    nhập máy móc thiết bị, mua vật liệu xây dựng, chi phí giải phóng mặt bằng. Giải
    ngân đối với tài sản hình thành từng phần phải dựa trên biên bản nghiệm thu giữa
    chủ đầu tư và nhà thầu có sự chứng kiến của ngân hàng. Giải ngân đảm bảo đúng
    mục đích.
     Kiểm soát giai đoạn đầu tư có vai trò quan trọng. Đây là giai đoạn hình thành
    tài sản cố định, quyết định chất lượng của công cuộc đầu tư. Đây cũng là giai đoạn
    phát sinh chi phí “vượt trội” so với dự toán, do chủ đầu tư khi lập dự toán thường

    TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226 83

  15. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    không lường hết mọi chi phí, hoặc cố tình tính toán thấp để gọi vốn. Kiểm soát quá
    trình đầu tư bao gồm:
    o Kiểm soát chi phí (thông qua định mức, chứng từ, hóa đơn nhập hàng, hợp
    đồng thầu, hợp đồng cung cấp…).
    o Kiểm soát tiến độ thực hiện.
    o Kiểm soát chất lượng hạng mục công trình.
    Ngân hàng thiết kế chương trình giám sát chặt chẽ và đào tạo đội ngũ giám sát có
    chất lượng để hạn chế tình trạng tiêu cực giữa nhà thầu và chủ đầu tư, giữa nhà
    cung cấp thiết bị với nhà thầu, giữa nhân viên ngân hàng với chủ đầu tư.
     Ngân hàng thu nợ gắn với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp –
    chủ đầu tư, bao gồm thu lãi và gốc. Đây là giai đoạn thường xảy ra các biến cố:
    sản phẩm không tiêu thụ được hoặc giá giảm, nguyên liệu không đáp ứng được
    yêu cầu, chi phí tăng mạnh, tài sản cố định bị hỏng, tốn thất… Những biến cố này
    có thể dẫn đến việc trì hoãn trả nợ cho ngân hàng tạm thời hoặc trong dài hạn. Đối
    với dự án phát triển, việc sử dụng các biện pháp “phạt tài chính” thường không
    mang lại hiệu quả tốt. Ngân hàng cần có đánh giá từng bước tình hình hoạt động
    của doanh nghiệp, phân tích nguyên nhân nảy sinh sự cố, cùng doanh nghiệp tìm
    biện pháp giải quyết.
     Khi dự án kết thúc, ngân hàng đánh giá dự án
    o Đánh giá việc thực hiện các mục tiêu của dự án.
    o Phân tích các nhân tố tác động tới dự án, góp phần tạo nên thành công, hoặc
    gây nên thất bại của dự án.
    o Rút kinh nghiệm cho các dự án tiếp theo: Nhiều dự án phát triển có quy mô rất
    lớn và không có khuôn mẫu sẵn, việc xác định các định mức trong dự án
    thường rất khó khăn và rủi ro. Đánh giá các dự án đã thực hiện sẽ tạo ra các chỉ
    tiêu tham chiếu có ích cho các dự án kế tiếp.

    84 TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226

  16. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    Tóm lược cuối bài
     Nội dung chính trước khi tài trợ là thẩm định dự án, thiết kế hợp đồng tài trợ, tìm nguồn vốn
    thích hợp.
     Ngân hàng có thể tài trợ toàn bộ hoặc 1 phần nhu cầu vốn đầu tư. Trong quá trình tài trợ ngân
    hàng thực hiện giải ngân, kiểm soát, điều chỉnh hoạt động, thu hồi vốn. Sau khi kết thúc dự
    án ngân hàng đánh giá kết quả đầu tư.

    TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226 85

  17. Bài 4: Tài trợ dự án tại Ngân hàng phát triển

    Câu hỏi ôn tập
    1. Thế nào là thẩm định dự án?
    2. Tại sao ngân hàng phải thẩm định dự án?
    3. “Ngân hàng thẩm định dự án là ngân hàng tính toán các chỉ tiêu hiệu quả của dự án”, đúng
    hay sai? Tại sao?
    4. “Ngân hàng dựa vào các thông tin do chủ đầu tư cung cấp để thẩm định dự án”, đúng hay
    sai? Tại sao?
    5. Thẩm định dự án bao gồm các nội dung gì?
    6. “Vì dự án phát triển nhằm mục tiêu thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của quốc gia nên
    hoạt động thẩm định của Ngân hàng phát triển chỉ là hình thức”, đúng hay sai? Tại sao?
    7. Sự khác biệt giữa quyết định tài trợ của Ngân hàng phát triển và quyết định bỏ vốn của chủ
    đầu tư đối với dự án là gì?
    8. Các hình thức đảm bảo tiền vay của dự án phát triển là gì?
    9. Căn cứ để Ngân hàng phát triển xác định quy mô và cơ cấu vốn cho vay là gì?
    10. “Ngân hàng phát triển cho vay với lãi suất thấp hơn lãi suất cho vay của các Ngân hàng
    thương mại”, đúng hay sai? Tại sao?

    86 TXNHTM07_Bai4_v1.0015105226

Download tài liệu Bài giảng Ngân hàng phát triển – Bài 4: Tài trợ dự án tại ngân hàng phát triển File Word, PDF về máy