[Download] Tải Bài giảng Kiểm toán tài chính – Bài 3: Quy trình kiểm toán – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Kiểm toán tài chính – Bài 3: Quy trình kiểm toán

Bài giảng Kiểm toán tài chính – Bài 3: Quy trình kiểm toán
Nội dung Text: Bài giảng Kiểm toán tài chính – Bài 3: Quy trình kiểm toán

Download


“Bài giảng Kiểm toán tài chính – Bài 3: Quy trình kiểm toán” được biên soạn nhằm cung cấp các kiến thức về các giai đoạn của quy trình kiểm toán, bao gồm lập kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Kiểm toán tài chính – Bài 3: Quy trình kiểm toán – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Kiểm toán tài chính – Bài 3: Quy trình kiểm toán File Word, PDF về máy

Bài giảng Kiểm toán tài chính – Bài 3: Quy trình kiểm toán

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Kiểm toán tài chính – Bài 3: Quy trình kiểm toán

  1. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    BÀI 3 QUY TRINH KIỂM TOÁN

    Hướng dẫn học
    Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu:
     Giáo trình Kiểm toán tài chính (2014), NXB Đại học Kinh tế quốc dân – GS.TS.
    Nguyễn Quang Quynh và PGS.TS. Ngô Trí Tuệ.
     Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc
    qua email.
     Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
    Nội dung
    Bài học này giới thiệu các vấn đề về các giai đoạn của quy trình kiểm toán, bao gồm: lập
    kế hoạch kiểm toán, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán.
    Mục tiêu
     Giúp sinh viên hiểu được được các công việc và yêu cầu thực hiện từng công việc trong
    các giai đoạn của cuộc kiểm toán tài chính.
     Giúp sinh viên nắm bắt được yêu cầu của lập kế hoạch kiểm toán và các công việc thực
    hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
     Giúp sinh viên nhận thức được cách thức thực hiện các loại thủ tục kiểm toán trong giai
    đoạn thực hiện kiểm toán.
     Giúp sinh viên thấy rõ được các yếu tố cấu thành báo cáo kiểm toán và các dạng ý kiến
    kiểm toán khác nhau được kiểm toán viên sử dụng trong quá trình lập báo cáo kiểm toán.

    TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206 39

  2. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    Tình huống dẫn nhập
    Tình huống dẫn nhập 1
    Parmalat là công ty ở Ý được Calisto Tanzi lập ra vào năm 1961. Công ty một thời nổi tiếng và
    thịnh vượng này sụp đổ vào năm 2003 khi Tanzi biển thủ 800 triệu Euro từ chính công ty của
    mình và để lại một lỗ hổng trong bản kê kế toán với số tiền lên tới 20 tỷ USD, khiến Parmalat trở
    thành vụ phá sản lớn nhất từ trước đến nay ở Châu Âu.
    Theo những thông tin của cơ quan điều tra, Parmalat từng làm đẹp sổ sách cả mười năm nay để
    che giấu những khoản lỗ hay những khoản thâm hụt tiền công ty. Cựu giám đốc tài chính khai
    báo với nhà chức trách Ý rằng bản thân ông Tanzi bỏ túi khoảng 500 triệu euro tiền của công ty.
    Dù con số này là đúng, người ta vẫn chưa hiểu hàng tỉ euro còn lại biến đâu mất. Dĩ nhiên, dư
    luận cũng đặt câu hỏi công ty kiểm toán cho Parmalat đã làm việc như thế nào mà không phát
    hiện được những gian dối trong sổ sách kế toán. Grant Thormton là công ty kiểm toán cho
    Parmalat trong một thời gian dài (bây giờ vẫn còn kiểm toán cho Bonlat, một công ty con của
    Parmalat) còn Deloitte & Touche thực hiện kiểm toán từ năm 1999 đến 2004. Cả hai hãng này
    đều tuyên bố họ tuân thủ tiêu chuẩn kế toán của Ý và hợp tác với cơ quan điều tra vì bản thân họ
    cũng bị lừa. Chẳng hạn, Grant Thornton nói bức thư giả mạo từ Bank of America xác nhận
    Parmalat có 4 tỉ euro trong tài khoản của Bonlat trông giống thật đến nỗi họ không chút ngần
    ngại đưa khoản tiền này vào mục có của công ty.
    Cơ quan điều tra cho biết hằng năm Parmalat giả mạo hồ sơ khoảng bốn lần, cho thấy những
    khoản tiền lớn trong tài khoản của Bonlat, để đưa vào cân đối cho cả tập đoàn. Grant Thornton,
    chịu trách nhiệm kiểm toán những khoản này, nói họ bị lừa tinh vi quá nhưng dư luận Ý cho rằng
    hoặc nhân viên hãng này bị Parmalat mua chuộc hoặc quá yếu kém về nghiệp vụ mới không phát
    hiện những gian dối này. Ví dụ Grant Thormton chỉ dựa vào thông tin của Bonlat mà không chịu
    kiểm tra lại với các ngân hàng mà Bonlat nói có tiền gửi.

    Sự sụp đổ của tập đoàn thực phẩm danh tiếng Parmalat gây ra rất nhiều tranh
    cãi trong giới học thuật cũng như các nhà hoạch định chính sách. Với những
    dữ liệu trong tình huống nêu trên, hãy phân tích những sai lầm mà kiểm toán
    viên mắc phải khi tiến hành kiểm toán.

    40 TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206

  3. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    Tình huống dẫn nhập 2
    Halvorson Co., là một công ty kiểm toán nhỏ bắt đầu tạo dựng được ít nhiều danh tiếng. Năm
    nay Halvorson được công ty Machinetron mời thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính. Al Trent,
    giám đốc công ty, đang có ý định niêm yết cổ phần của Machinetron trên thị trường chứng khoán
    và tiếp cận với nhiều nhà đầu tư hơn.
    Sản phẩm của Machinetron đều là máy móc có kết cấu phức tạp, trọng tải và giá trị lớn. Mỗi giao
    dịch bán hàng đều được thực hiện trực tiếp bởi Al Trent và được khách hàng thanh toán làm
    nhiều kỳ. Việc khách hàng thanh toán làm nhiều kỳ dẫn đến khả năng các bút toán ghi nhận
    doanh thu có thể có sai phạm trọng yếu.
    Trưởng nhóm kiểm toán, Bob Lehman, là người có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực này, nhận
    ra những rủi ro tiềm ẩn trong quá trình ghi nhận doanh thu. Lehman yêu cầu tất cả các khoản
    phải thu cuối năm phải đối chiếu với khách hàng. Anh nhận ra rằng các khoản phải thu liên quan
    đến giao dịch bán hàng đều được đối chiếu và xác nhận bằng fax.
    Vào ngày kiểm toán cuối cùng, trước khi đưa ra ý kiến kiểm toán, Lehman khăng khăng yêu cầu
    việc xác nhận các khoản phải thu cần phải được thực hiện bằng văn bản. Al Trent vô cùng tức
    giận và không đồng ý với yêu cầu trên của kiểm toán viên. Luật sư của Machinetron đề nghị sẽ
    ban hành một văn bản trong đó cam kết rằng bản fax hoàn toàn đầy đủ giá trị pháp lý để xác
    nhận các khoản phải thu. Lehman cảm thấy quá áp lực, đành chấp nhận với đề nghị và đồng ý
    phát hành ý kiến chấp nhận toàn phần với báo cáo tài chính của Machintron.

    Với tình huống như trên, với danh nghĩa là kiểm toán viên, các bạn sẽ xử lý
    như thế nào trước khi đưa ra ý kiến (kết luận) kiểm toán.

    TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206 41

  4. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    3.1. Lập kế hoạch kiểm toán tài chính
    Trong môn học trước (Kiểm toán căn bản), chúng ta đã biết cuộc kiểm toán sẽ trải
    qua 3 giai đoạn: chuẩn bị kiểm toán, thực hành kiểm toán và kết thúc kiểm toán. Lập
    kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị các tiền
    đề và điều kiện vật chất cơ bản cho cuộc kiểm toán.
     Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên
    mà các KTV nhất thiết phải thực hiện trong mỗi
    cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp
    lý cũng như các điều kiện cần thiết khác cho
    cuộc kiểm toán.
    Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300 cũng
    quy định: KTV và Công ty kiểm toán cần lập kế
    hoạch kiểm toán để có thể đảm bảo cuộc kiểm
    toán được tiến hành một cách có hiệu quả.
    Như vậy, chúng ta thấy: việc lập kế hoạch kiểm
    toán không những xuất phát từ yêu cầu thực tế công việc mà còn được quy định thành
    chuẩn mực đòi hỏi các KTV và Công ty kiểm toán phải thực hiện để đảm bảo chất
    lượng và hiệu quả chung của cuộc kiểm toán.
     Các loại kế hoạch kiểm toán
    Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, kế hoạch kiểm toán bao gồm 3 loại:
    o Kế hoạch chiến lược bao gồm những định hướng, những nội dung trọng tâm và
    phương pháp tiếp cận chung của cuộc kiểm toán do cấp lãnh đạo trong công ty
    kiểm toán chỉ ra dựa trên hiểu biết về tình hình hoạt động và môi trường kinh
    doanh của bản thân đơn vị được kiểm toán.
    o Kế hoạch kiểm toán tổng quát là việc cụ thể hóa kế hoạch chiến lược và
    phương pháp tiếp cận chi tiết về nội dung, lịch trình và phạm vi dự kiến của
    các thủ tục kiểm toán. Mục tiêu của việc lập kế hoạch kiểm toán tổng thể là
    có thể thực hiện được công việc kiểm toán có hiệu quả và theo đúng thời gian
    dự kiến.
    o Kế hoạch kiểm toán chi tiết (chương trình kiểm toán) là những dự kiến chi tiết
    về các công việc kiểm toán, thời gian hoàn thành và sự phân công lao động
    giữa các KTV cũng như dự kiến về tư liệu, thông tin có liên quan cần sử dụng
    và thu thập.
    Kế hoạch chiến lược thường không phải công việc của KTV mà chủ phần hùn sẽ
    thực hiện.
    Trên thực tế, KTV thường chỉ lập kế hoạch kiểm toán tổng quát còn chương trình
    kiểm toán sẽ có mẫu sẵn  chỉ cần sửa đổi một chút cho phù hợp với từng đối tượng
    khách hàng.

    42 TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206

  5. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    3.1.1. Lập kế hoạch kiểm toán tài chính tổng quát
    3.1.1.1. Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
    Theo thông lệ quốc tế, hàng năm, các công ty kiểm toán sẽ gửi thư chào hàng cung
    cấp dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có liên quan tới khách hàng của mình. Nếu
    các công ty có nhu cầu kiểm toán sẽ gửi thư mời kiểm toán và sau đó, nếu công ty
    kiểm toán chấp nhận kiểm toán thì sẽ gửi thư hẹn kiểm toán. Thư mời và thư hẹn kiểm
    toán sẽ là căn cứ pháp lý ràng buộc hai phía. Tuy nhiên, ở Việt Nam, do bị chi phối
    bởi Luật doanh nghiệp nên các công ty sẽ thực hiện ký kết hợp đồng và cuộc kiểm
    toán bắt đầu từ khâu thực hiện ký kết hợp đồng kiểm toán.
    Tuy nhiên, trước khi thực hiện ký kết hợp đồng kiểm toán, các công ty kiểm toán phải
    thực hiện đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán. Do đó, bước công việc đầu tiên của
    khâu chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán đó là:
    a. Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
    KTV phải đánh giá xem việc chấp nhận một khách hàng mới hay tiếp tục một khách
    hàng cũ có làm tăng rủi ro cho hoạt động kiểm toán và có ảnh hưởng đến uy tín và
    danh tiếng của công ty kiểm toán hay không.
    Đánh giá khả năng kiểm toán bao gồm các công việc sau:
     Xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng
    Xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng khác với xem xét KSNB của khách hàng.
    Đây là việc các công ty kiểm toán tự xem xét, kiểm tra chất lượng hoạt động kiểm
    toán của mình. Cần xem xét xem mình có đủ khả năng để thực hiện kiểm toán hay
    không (vì trong một số lĩnh vực đặc thù đòi hỏi KTV phải có sự hiểu biết. Nếu
    KTV không có kiến thức về lĩnh vực của khách hàng thì sẽ không đủ khả năng
    thực hiện kiểm toán. Điều đó sẽ ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng của công ty).
    Ngoài ra, KTV cũng cần xem xét mình có đủ khả năng để đáp ứng được những
    yêu cầu của Ban Giám đốc doanh nghiệp hay không.
    Khi xem xét, KTV thường dựa trên các yếu tố:
    o Khả năng phục vụ tốt khách hàng của công ty kiểm toán.
    Thông thường, các công ty kiểm toán chỉ nên chọn kiểm toán cho những doanh
    nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực mà KTV và công ty kiểm toán có thế
    mạnh.  Trong các công ty kiểm toán, thường chia thành các phòng nghiệp vụ
    để chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó.
    Tính độc lập của KTV (độc lập về quan hệ xã hội; độc lập về quan hệ kinh tế;
    và có thái độ độc lập, khách quan trong quá trình thu thập bằng chứng).
    o Xem xét tính liêm chính của Ban Giám đốc khách hàng.

    Nếu nhân viên trong doanh nghiệp có hành vi gian lận  KTV có thể trao đổi
    với trưởng phòng.
    Nếu trưởng phòng gian lận  KTV có thể trao đổi với Ban Giám đốc.
    Còn nếu Ban Giám đốc gian lận  KTV có thể phải hỏi thêm ý kiến tư vấn
    của các chuyên gia pháp luật, có thể phải thông báo lại hành vi gian lận cho cơ
    quan pháp luận và trong nhiều trường hợp cần rút ra khỏi hợp đồng kiểm toán.

    TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206 43

  6. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    KTV cần dựa vào pháp đoán chủ quan của mình để đánh giá tính liêm chính
    của Ban Giám đốc. Nếu Ban Giám đốc thiếu liêm chính, KTV không nên dựa
    vào bất kỳ bản giải trình nào của Ban Giám đốc hoặc các tài liệu do doanh
    nghiệp cung cấp. Nếu những lo ngại về tính liêm chính của Ban Giám đốc quá
    nghiêm trọng, KTV có thể kết luận: không chấp nhận khách hàng kiểm toán.
     Liên lạc với KTV tiền nhiệm
    Có hai loại khách hàng:
    o Khách hàng truyền thống (khách hàng trong nhiều năm kiểm toán/ khách hàng
    cũ): KTV phải cập nhật các thông tin về khách hàng và KTV phải lưu ý tới
    những rủi ro kiểm toán và nếu rủi ro ở mức cao thì KTV nên đưa ra kết luận
    không tiến hành kiểm toán.
    Ví dụ: những năm trước khi mình kiểm toán, có bất đồng với Ban giám đốc và
    rất khó khăn mới đưa ra được kết luận kiểm toán.
    Năm nay xuống thấy không thể giải quyết được. Chẳng hạn: khách hàng không
    cho KTV tham gia chứng kiến kiểm kê vì sợ can thiệp quá sâu hoặc không
    cung cấp cho KTV danh mục khách hàng…
    Hoặc năm ngoái có bất đồng với KTV cũ. Năm nay, công ty kiểm toán cử một
    nhóm KTV mới đi nhưng vẫn không giải quyết được bất đồng.
     Tốt nhất nên rút khỏi hợp đồng kiểm toán.
    o Đối với khách hàng mới và khách hàng tiềm năng:
     Khách hàng trước kia chưa từng được kiểm toán bởi bất kỳ công ty kiểm
    toán nào: KTV cần thu thập các thông tin thông qua:
     Nghiên cứu tài liệu của ngành liên quan hoạt động của công ty.
     Liên hệ với các bên có liên quan: Ngân hàng, chủ nợ, nhà đầu tư…
     Liên hệ với cố vấn pháp luật của đơn vị khách hàng.
    Cố vấn pháp luật: tư vấn về pháp luật cho khách hàng và đối với các công ty
    nước ngoài bao giờ cũng có một nhóm tư vấn pháp luật.
    Ở Việt Nam, hiện nay có nhưng không phổ biến lắm và hoạt động tư vấn này
    có thể áp dụng với cá nhân.
    Cố vấn pháp luật của công ty giống như một “bộ não” cho các công ty. Cố vấn
    đưa ra những lời tư vấn ảnh hưởng tới các quyết định của công ty  KTV nên
    tham khảo và liên hệ với họ.
     Khách hàng trước đây đã được kiểm toán bởi một công ty khác: KTV kế
    nhiệm phải chủ động liên lạc với KTV tiền nhiệm. Việc thiết lập mối quan
    hệ này phải được sự cho phép của khách hàng và thậm chí KTV tiền nhiệm
    vẫn có thể hạn chế hoặc từ chối đưa ra thông tin mặc dù họ đã được khách
    hàng cho phép. Những thông tin liên quan cần tìm hiểu bao gồm:
     Lý do thay đổi KTV;
     Thông tin về tính liêm chính của Ban Giám đốc.
    Nếu khách hàng trước đây đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán khác
    thì KTV cần liên lạc với KTV tiền nhiệm để biết lý do thay đổi KTV của khách
    hàng. Liệu có những bất đồng gì xảy ra giữa khách hàng và KTV tiền nhiệm

    44 TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206

  7. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    không? Lý do vì sao năm nay lại không tiếp tục kiểm toán nữa? Liệu có vấn đề
    gì lo ngại về tính liêm chính của Ban Giám đốc hay không.
    Tuy nhiên, trước khi liên lạc thì phải được sự đồng ý của khách hàng và KTV
    tiền nhiệm cũng cần cân nhắc những thông tin có thể cung cấp. Trường hợp
    KTV tiền nhiệm từ chối không cung cấp thông tin cho KTV kế nhiệm thì phải
    đưa ra được lý do thỏa đáng.
    Chúng ta lưu ý: Chưa có chuẩn mực quy định về độ chính xác của thông tin
     nếu 2 công ty kiểm toán là đối thủ cạnh tranh nhau thì thông tin đưa ra
    không thể chính xác 100%  trách nhiệm của KTV kế nhiệm là phải đánh giá
    độ tin cậy của những thông tin này vì đây có thể là các bẫy.
    b. Nhận diện lý do kiểm toán của khách hàng
    Thực chất của việc nhận diện các lý do kiểm toán của công ty khách hàng là việc xác
    định người sử dụng BCTC và mục đích sử dụng của họ. Việc làm này sẽ giúp KTV
    xác định được số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập và mức độ chính xác của ý
    kiến kiểm toán.
    Lý do kiểm toán thường được thể hiện rõ trong thư mời kiểm toán hoặc kế hoạch kiểm
    toán và để nắm rõ lý do, KTV có thể phỏng vấn và trao đổi trực tiếp với Ban Giám
    đốc hoặc Ủy ban kiểm toán. Trong quá trình tiến hành kiểm toán, KTV sẽ thu thập
    thêm thông tin để nắm rõ hơn lý do kiểm toán của khách hàng.
    Lý do kiểm toán của khách hàng ảnh hưởng rất lớn đến số lượng bằng chứng kiểm
    toán cần thu thập và mức độ tin cậy của bằng chứng.
    Giả sử hàng năm, khách hàng kiểm toán theo luật đầu tư nước ngoài thì sẽ cần số
    lượng bằng chứng ít hơn kiểm toán để công khai trên thị trường chứng khoán vì khi
    đó, nhiều người quan tâm hơn tới kết quả kiểm toán  đòi hỏi kết luận kiểm toán phải
    chính xác hơn.
    c. Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán
    Có 4 tiêu chuẩn:
     Về chuyên môn;
     Về đạo đức;
     Về tính độc lập;
     Ít nhất một người phải có chứng chỉ hành nghề (người phụ trách bắt buộc có chứng
    chỉ còn các trợ lý kiểm toán có thể không cần).
    Các nguyên tắc để lựa chọn nhân viên:
     Trong nhóm kiểm toán phải có người có khả năng giám sát các nhân viên mới.
     Các công ty kiểm toán nên tránh thay đổi KTV trong các cuộc kiểm toán cho một
    khách hàng trong nhiều năm.
    Tuy nhiên, cũng phải lưu ý, Luật Kiểm toán độc lập có quy định: KTV không
    được ký báo cáo kiểm toán cho cùng một khách hàng trong 3 năm liên tục vì sẽ
    mất tính độc lập.
     Lựa chọn KTV có kiến thức và kinh nghiệm về ngành nghề kinh doanh của
    khách hàng.

    TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206 45

  8. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    d. Lập hợp đồng kiểm toán
    Theo thông lệ quốc tế, các bên có thể cam kết cung cấp dịch vụ kiểm toán qua thư hẹn
    kiểm toán. Thư hẹn kiểm toán thường do KTV lập và gửi cho khách hàng. Nếu khách
    hàng chấp nhận các điều khoản thì họ sẽ ký vào thư hẹn và gửi trả lại bản sao.
    Tuy nhiên, ở Việt Nam, theo quy định của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, các bên, giữa
    một bên cung cấp dịch vụ và một bên sử dụng dịch vụ kiểm toán phải thực hiện ký kết
    hợp đồng kiểm toán.
    Hợp đồng kiểm toán là sự thỏa thuận chính thức giữa công ty kiểm toán và khách
    hàng về việc thực hiện dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có liên quan.
    Nội dung chính của hợp đồng kiểm toán:
     Mô tả được mục tiêu và phạm vi kiểm toán
    Thường mục tiêu kiểm toán là khẳng định tính trung thực, hợp lý và hợp pháp của
    các thông tin tài chính.
    Phạm vi kiểm toán là giới hạn về không gian và thời gian của đối tượng kiểm toán.
     Trách nhiệm của các bên có liên quan (Ban giám đốc và KTV)
    Ban Giám đốc có trách nhiệm lập và trình bày thông tin trung thực trên BCTC.
    Sau đó có trách nhiệm cung cấp toàn bộ tài liệu mà KTV yêu cầu.
    KTV có trách nhiệm đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý của BCTC.
    KTV không chịu trách nhiệm về những sai sót thuộc về bản chất của hệ thống kế
    toán và KSNB trong doanh nghiệp.
    Đồng thời, KTV không thể và không phải chịu trách nhiệm (cam kết) là sẽ phát
    hiện ra mọi hành vi gian lận, KTV phải đưa ra giới hạn để giảm thiểu trách nhiệm.
     Hình thức thông báo kết quả kiểm toán: Báo cáo kiểm toán và Thư quản lý
    (nếu có).
     Thời gian tiến hành kiểm toán
    Phải chỉ rõ thời gian bắt đầu và kết thúc kiểm toán, thời hạn phát hành báo cáo
    kiểm toán.
     Căn cứ tính giá phí cho cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán
    Thông thường giá phí được tính trên giờ công làm việc của KTV. Ở Việt Nam, giá
    phí thường được xác định trước khi thực hiện kiểm toán.

    3.1.1.2. Thu thập thông tin cơ sở
    Sau khi ký hợp đồng kiểm toán, KTV bắt đầu lập kế hoạch kiểm toán. Để có thể lập
    được kế hoạch kiểm toán, trước hết, KTV phải tìm hiểu những thông tin cơ sở về
    khách hàng.
    Thông tin cơ sở là những thông tin mang tính khái quát ban đầu, những thông tin này
    giúp cho việc ra quyết định kiểm toán (chứ không phải ra kết luận kiểm toán  không
    phải là bằng chứng kiểm toán)
    Quyết định kiểm toán: ví dụ sử dụng tư vấn của chuyên gia như thế nào.
    Những thông tin này bao gồm:
     Tìm hiểu về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng như: những
    hiểu biết chung về nền kinh tế, những hiểu biết về lĩnh vực hoạt động, dây truyền
    công nghệ, cơ cấu tổ chức,…

    46 TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206

  9. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    Hiểu biết về ngành nghề, lĩnh vực hoạt động giúp cho quá trình thực hiện các thủ
    tục phân tích của KTV.
     Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung. Công
    việc này giúp KTV theo dõi các chính sách của công ty, bản chất của các số liệu
    cũng như sự biến động của chúng trên BCTC và khi xem xét hồ sơ kiểm toán
    chung, KTV phải cập nhật thêm thông tin về sự thay đổi của đơn vị.
     Quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng: KTV sẽ
    nắm được quy trình sản xuất kinh doanh của khách hàng, bước đầu tiếp cận với
    các nhà quản lý và có được cái nhìn tổng thể về công việc kinh doanh của khách
    hàng. Từ đó đưa ra những nhận định ban đầu về phong cách quản lý, về tổ chức bộ
    máy và tổ chức hệ thống thông tin trong đơn vị.
    Ví dụ: nếu khách hàng tính giá thanh phân bước thì KTV cũng phải xuống tận đơn
    vị khách hàng để khảo sát, tìm hiểu tại sao người ta lại tính giá thành phân bước
    và phân bước như vậy có phù hợp hay không, phân bước có tính bán thành phẩm
    hay không…
     Nhận diện các bên hữu quan
    Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 550: Bên hữu quan được hiểu là các bộ
    phận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức của công ty khách hàng hay bất kỳ
    công ty chi nhánh, một cá nhân hay tổ chức nào mà công ty có quan hệ. Các cá
    nhân hay tổ chức đó có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc có ảnh hưởng đáng kể
    tới các chính sách kinh doanh hoặc chính sách quản trị của công ty khách hàng.
    Theo nguyên tắc kế toán, tất cả các quan hệ với các bên hữu quan cần phải được
    công khai cho những người sử dụng BCTC. Vì thế, KTV phải xác định được các
    bên liên quan và nhận định sơ bộ về mối quan hệ này nhằm dự đoán các vấn đề có
    thể phát sinh giữa các bên hữu quan để xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp.
    Ví dụ về bên hữu quan: công ty mẹ, khách hàng truyền thống…
     Dự kiến nhu cầu sử dụng chuyên gia
    Trong các cuộc kiểm toán, KTV có thể sử dụng ý kiến của chuyên gia đối với một
    số lĩnh vực riêng. Khi sử dụng chuyên gia bên ngoài, KTV phải đánh giá năng lực
    chuyên môn, tính độc lập của chuyên gia với khách hàng.
    Trong một số trường hợp đặc biệt, chẳng hạn đánh giá về các tác phẩm nghệ thuật,
    vàng bạc, đá quý,… KTV có thể sử dụng ý kiến chuyên gia.
    Khi sử dụng ý kiến chuyên gia để đưa ra kết luận, KTV hoàn toàn phải chịu trách
    nhiệm về các kết luận đó  KTV phải đánh giá được mức độ tin cậy về việc tư
    vấn của chuyên gia.

    3.1.1.3. Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
    Thông tin cơ sở được thu thập là giúp KTV hiểu được các mặt hoạt động sản xuất kinh
    doanh của khách hàng còn thông tin về nghĩa vụ pháp lý giúp cho KTV nắm bắt được
    các quy trình mang tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh.
    KTV sẽ thu thập những thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng, bao gồm:
     Giấy phép đăng ký kinh doanh và giấy phép thành lập để thu thập thông tin về lĩnh
    vực kinh doanh của khách hàng.

    TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206 47

  10. Bài 3: Quy trình kiểm toán

     Điều lệ công ty để nắm được các thông tin về cơ cấu tổ chức, về chức năng, nhiệm
    vụ của các phòng ban, thủ tục phát hành cổ phiếu, trái phiếu…
     BCTC, báo cáo kiểm toán, báo cáo thanh tra hay kiểm tra trong năm hiện hành hay
    trong các năm trước. Thu thập các thông tin này giúp KTV nắm được xu hướng
    phát triển của khách hàng, nhận thức rõ hơn về thực trạng hoạt động của đơn vị và
    dự kiến phương hướng kiểm tra.
    o BCTC giúp KTV nhận biết tổng quát và đánh giá xu hướng biến động tình hình
    tài chính của đơn vị.
    o Báo cáo kiểm toán, thanh tra hoặc kiểm tra: giúp KTV nắm bắt được các khả
    năng xảy ra sai phạm và dự kiến phương hướng kiểm tra.
     Thu thập các biên bản họp hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, Ban giám đốc. Các
    tài liệu này cung cấp những thông tin quan trọng của doanh nghiệp như công bố về
    cổ tức, hợp nhất, giải thể các đơn vị trực thuộc, xét duyệt mua bán,…
    Qua việc nghiên cứu các biên bản này, KTV sẽ xác định được những dữ kiện có
    ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành và trình bày trung thực các thông tin
    trên Báo cáo tài chính.
     Thu thập các hợp đồng và cam kết quan trọng khác giúp KTV hiểu rõ hoạt động
    kinh doanh chính của khách hàng.
    Các hợp đồng và cam kết quan trọng như: hợp đồng mua, bán hàng, các khế ước, các
    cam kết về việc thực hiện các hoạt động là mối quan tâm hàng đầu ở các bộ phận cá
    biệt của cuộc kiểm toán và trong suốt giai đoạn khảo sát chi tiết.
    Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, việc xem xét sơ bộ các hợp đồng đó sẽ
    giúp KTV tiếp cận với các hoạt động chính của khách hàng, hình dung những khía
    cạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị
    khách hàng.

    3.1.1.4. Thực hiện thủ tục phân tích
    Khái niệm: Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520, thủ tục phân tích là việc
    phân tích các số liệu, các thông tin, các tỷ suất quan trọng. Qua đó tìm ra những xu
    hướng biến động và những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác
    hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến.
    Mục đích của thủ tục phân tích trong giai đoạn này:
     Thu thập những thông tin về sự biến đổi quan trọng trong kế toán hoặc trong hoạt
    động kinh doanh của khách hàng vừa mới diễn ra kể từ lần kiểm toán trước.
     Nhằm tăng cường sự hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh của khách hàng,
    giúp KTV phát hiện những vấn đề nghi vấn và khả năng hoạt động liên tục của
    khách hàng.
    Ví dụ: khi kiểm toán chi phí quản lý doanh nghiệp, thấy chi phí năm nay là 500 triệu.
    Nhưng khi đối chiếu với các năm trước thấy nó khoảng 250 triệu thì có thể đưa ra
    nhận định là có dấu hiệu sai phạm. Sau đó phải tìm hiểu nguyên nhân tại sao lại tăng
    đột biến. Chẳng hạn, năm nay doanh nghiệp mở thêm một chi nhánh mới thì việc tăng
    chi phí quản lý doanh nghiệp là chuyện bình thường.

    48 TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206

  11. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    Có 2 loại phân tích:
     Phân tích ngang: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số của cùng một
    chỉ tiêu trên các BCTC như:
    o So sánh giữa kỳ này với kỳ trước hoặc giữa các kỳ với nhau.
    o So sánh giữa số thực tế với số kế hoạch hoặc số dự toán.
    o So sánh giữa số thực tế trên sổ sách với số liệu ước tính của KTV.
    o So sánh giữa số thực tế của đơn vị với các chỉ tiêu chung của ngành.
     Phân tích dọc: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của các
    chỉ tiêu hoặc các khoản mục khác nhau trên BCTC.
    Các tỷ suất tài chính thường dùng trong phân tích dọc bao gồm:
    o Nhóm tỷ suất về khả năng thanh toán
    TS ngắn hạn
    Tỷ suất thanh toán chung =
    Nợ ngắn hạn
    Tỷ suất này đo lường khả năng thanh toán bằng cách xem khả năng trả nợ ngắn
    hạn bằng toàn bộ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
    Khó có thể đưa ra một mốc cụ thể về tỷ suất này để được coi là hợp lý. Bởi vì
    với từng loại doanh nghiệp, từng ngành nghề kinh doanh khác nhau, mức hợp
    lý của tỷ suất này cũng khác nhau.
    Chẳng hạn: trong doanh nghiệp thương mại, tỷ suất này thường cao.
    Nhưng trong doanh nghiệp khai khoáng, tỷ suất này thường thấp.
    Tuy nhiên, ta có thể nói rằng:
     Nếu tỷ suất thanh toán hiện hành > 1: Doanh nghiệp vẫn duy trì được khả
    năng thanh toán bằng toàn bộ tài sản lưu động đối với Nợ ngắn hạn.
     Nếu tỷ suất thanh toán hiện hành < 1: Doanh nghiệp đang mất khả năng
    thanh toán bằng TSLĐ đối với Nợ ngắn hạn. Và nếu nó tiến dần đến 0
    thì có nghĩa là doanh nghiệp đang có nguy cơ phá sản do mất khả năng
    thanh toán.
    Tiền + Các khoản đầu tư ngắn hạn + Các khoản
    Tỷ suất phải thu
    thanh toán nhanh =
    Nợ ngắn hạn
    Tỷ suất này phản ánh khả năng thanh toán bằng tiền và các khoản dễ chuyển
    đổi thành tiền.
    Tương tự như với tỷ suất thanh toán hiện hành, có thể sử dụng mốc bằng 1 để
    kết luận doanh nghiệp có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn bằng tiền và các
    khoản dễ chuyển đổi thành tiền hay không.
    Vốn bằng tiền
    Tỷ suất thanh toán tức thời =
    Nợ ngắn hạn
    Tỷ suất này chỉ khả năng thanh toán ngay bằng tiền sẵn có trong doanh nghiệp.

    TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206 49

  12. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    Nếu tỷ suất này càng nhỏ thì chứng tỏ doanh nghiệp càng không có khả năng
    thanh toán ngay bằng tiền. Tuy nhiên, không có nghĩa là tỷ suất này càng lớn
    càng tốt. Vì nếu, tỷ suất này quá lớn thì chứng tỏ doanh nghiệp đang tồn quá
    nhiều tiền không cần thiết và gây ra hiện tượng ứ đọng vốn ngay tại két của
    doanh nghiệp.
    Ngoài ra, còn một số tỷ suất khác về khả năng thanh toán như: tỷ suất thanh
    toán nợ dài hạn,… Tuy nhiên, khi xem xét về khả năng thanh toán, người ta
    thường quan tâm tới 3 tỷ suất này.
    o Nhóm tỷ suất về cấu trúc tài chính
    Tỷ suất đầu tư TS dài hạn
    =
    vào TSCĐ Tổng tài sản
    Tỷ suất này phản ánh trình độ, năng lực hiện có của doanh nghiệp, đánh giá về
    trình độ trạng bị máy móc, thiết bị.
    Tỷ suất này luôn < 1, có mức độ cao hay thấp thì tùy thuộc vào từng loại hình
    doanh nghiệp:
    Đối với doanh nghiệp khai khoáng: 0,9 là hợp lý
    Đối với doanh nghiệp luyện kim: 0,7
    Đối với doanh nghiệp thương mại: 0,5
    Đối với doanh nghiệp dịch vụ: 0,1 – 0,3 là hợp lý
    Tổng Nợ phải trả
    Tỷ suất Nợ =
    Tổng Nguồn vốn
    Tuy nhiên, người ta thường sử dụng:
    Vốn chủ sở hữu
    Tỷ suất tự tài trợ = = 1 – Tỷ suất Nợ
    Tổng nguồn vốn
    Tỷ suất này phản ánh năng lực tự đảm bảo về tài chính và mức độ độc lập của
    doanh nghiệp đối với các chủ nợ hoặc những khó khăn mà doanh nghiệp phải
    đương đầu. Nếu tỷ suất này càng lớn thì chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn
    chủ sở hữu, hoạt động chủ yếu dựa trên nguồn vốn chủ sở hữu nên không phải
    lo lắng tới việc thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên, tỷ suất này lớn quá cũng
    không phải là tốt vì nó chứng tỏ doanh nghiệp không chiếm dụng được vốn từ
    bên ngoài trong kinh doanh.
    Ngoài ra, thuộc nhóm này còn có một số tỷ suất khác như: Tỷ suất thanh toán
    lãi vay,…
    o Nhóm tỷ suất về khả năng sinh lời
    Thuộc nhóm này, gồm có một số tỷ suất như:
     Tỷ suất lợi nhuận thuần/doanh thu
     Tỷ suất lợi nhuận gộp/doanh thu
     Tỷ suất lợi nhuận thuần/vốn chủ sở hữu
     …

    50 TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206

  13. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    3.1.1.5. Đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
    a. Đánh giá trọng yếu
    Khái niệm trọng yếu: Trọng yếu là khái niệm chỉ tầm cỡ và bản chất của các sai
    phạm hoặc là đơn lẻ hoặc là từng nhóm mà trong bối cảnh cụ thể nếu dựa vào các
    thông tin này để xét đoán sẽ không chính xác hoặc rút ra những kết luận sai lầm.
    Một thông tin được coi là trọng yếu nếu thiếu thông tin đó hoặc thiếu tính chính xác
    của thông tin đó thì sẽ ảnh hưởng tới các quyết định của những người sử dụng BCTC.
    Trình tự đánh giá trọng yếu
     Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
    Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là lượng tối đa mà KTV tin rằng ở mức
    đó, các BCTC có thể bị sai lệch nhưng chưa ảnh hưởng tới quyết định của người
    sử dụng thông tin.
    Ở đây thường hướng tới 2 loại BCTC chủ yếu là: Bảng cân đối kế toán và báo cáo
    kết quả kinh doanh.
    Việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho KTV lập kế hoạch thu thập
    bằng chứng kiểm toán thích hợp. Cụ thể là nếu KTV ước lượng mức trọng yếu
    càng thấp, nghĩa là độ chính xác của các số liệu trên BCTC càng cao thì số lượng
    bằng chứng phải thu thập càng nhiều và ngược lại.
    Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu không cố định mà có thể thay đổi trong suốt
    cuộc kiểm toán nếu KTV thấy rằng mức ước lượng ban đầu là quá cao hoặc quá
    thấp hoặc một trong các nhân tố dùng để xác định mức ước lượng ban đầu về tính
    trọng yếu bị thay đổi.
    Ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là một việc làm mang tính xét đoán nghề
    nghiệp của KTV. KTV sẽ căn cứ vào các nhân tố ảnh hưởng đến tính trọng yếu
    (xét cả về mặt định lượng và định tính) để đưa ra ước tính ban đầu về mức trọng
    yếu đối với toàn bộ BCTC.
    Trên thực tế, để hỗ trợ cho các KTV trong việc đánh giá mức trọng yếu này, các
    công ty kiểm toán thường đưa ra những hướng dẫn về việc lựa chọn các chỉ tiêu
    làm số gốc và tỷ lệ tính trong các trường hợp cụ thể. KTV dựa vào các hướng dẫn
    này để tính được mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu.
    Tổng tài sản, tổng doanh thu, thu nhập thuần trước thuế, tài sản lưu động, tổng vốn
    dài hạn, nợ ngắn hạn,… là những chỉ tiêu thường được KTV sử dụng để làm số
    gốc trong ước lượng mức trọng yếu.
    Ưu điểm của việc sử dụng tổng tài sản hoặc tổng doanh thu là những chỉ tiêu này
    thường ít biến động qua các năm tài chính. Chỉ tiêu thu nhập thuần hoặc bình quân
    thu nhập của mấy năm gần đây cũng được xem như một thông tin then chốt nhất
    đối với những người sử dụng BCTC. Tuy nhiên, trong một số trường hợp như
    doanh nghiệp làm ăn thua lỗ hoặc hòa vốn thì việc sử dụng chỉ tiêu này làm số gốc
    là không có ý nghĩa. Vì thế, việc lựa chọn chỉ tiêu nào làm số gốc còn tùy thuộc
    vào từng khách hàng trong các điều kiện cụ thể và nên là chỉ tiêu có tính ổn định
    qua các năm.

    TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206 51

  14. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, KTV có thể sử dụng phối hợp giữa các chỉ
    tiêu trên để xác lập mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC, ví dụ, mức trọng yếu được
    tính bằng một tỷ lệ phần trăm trên số lớn hơn giữa tài sản và doanh thu.
    Tuy nhiên, con số tính toán này sẽ được điều chỉnh tăng lên hoặc giảm xuống tùy
    thuộc vào các nhân tố định tính có liên quan tới cuộc kiểm toán. Chẳng hạn, mức
    trọng yếu này có thể được điều chỉnh tăng lên do các nhân tố định tính có lợi như:
    kết quả lần kiểm toán trước (lần kiểm toán trước phát hiện ít các sai phạm, không
    có biểu hiện của hành vi gian lận, không có các hoạt động phi pháp, vi phạm hợp
    đồng…); tình hình tài chính khả quan; doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh
    vực ngành nghề kinh doanh thuận lợi và phát triển;… Ngược lại, mức trọng yếu
    này sẽ được điều chỉnh giảm xuống nếu có các nhân tố định tính không thuận lợi
    như: kết quả lần kiểm toán trước có nhiều sai phạm trọng yếu; doanh nghiệp đang
    gặp khó khăn trong kinh doanh, ngành nghề kinh doanh đang suy thóai, xuất hiện
    thêm nhiều đối thủ cạnh tranh, môi trường kinh doanh bị thắt chặt; có các dấu hiệu
    của hành vi gian lận, vi phạm pháp luật, chế độ tài chính kế toán, vi phạm các điều
    khoản hợp đồng…
     Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục:
    o Sau khi ước lượng ban đầu về mức trọng yếu cho toàn bộ BCTC, KTV cần
    phân bổ mức ước lượng này cho từng khoản mục.
    Phân bổ ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục là cần thiết vì
    bằng chứng thường được thu thập theo các bộ phận hơn là theo toàn bộ BCTC
    nói chung. Việc phân bổ này sẽ giúp KTV xác định được số lượng bằng chứng
    kiểm toán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức chi phí thấp
    nhất có thể mà vẫn đảm bảo tổng hợp các sai sót trên BCTC không vượt quá
    mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu.
    Do kế toán thực hiện ghi sổ theo nguyên tắc ghi sổ kép nên nếu một sai phạm
    ảnh hưởng tới báo cáo kết quả kinh doanh thì hầu như cũng có ảnh hưởng
    tương tự như đối với bảng cân đối kế toán. Vì thế, khi thực hiện phân bổ ước
    lượng về tính trọng yếu cho các khoản mục trên BCTC, KTV có thể phân bổ
    hoặc cho các tài khoản trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, hoặc cho
    các tài khoản trên Bảng cân đối kế toán. Tuy nhiên, do hầu hết các thủ tục kiểm
    toán tập trung vào các tài khoản trên Bảng cân đối kế toán nên KTV thường
    phân bổ mức ước lượng cho các tài khoản trên Bảng cân đối kế toán.
    o Cơ sở để tiến hành phân bổ:
     Bản chất của các khoản mục, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát được đánh
    giá sơ bộ đối với các khoản mục
    Nếu khoản mục được đánh giá là có rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát cao
    thì mức trọng yếu được phân bổ cho khoản mục đó sẽ thấp và ngược lại.
     Kinh nghiệm của KTV về các sai phạm của khoản mục.
    Ví dụ, nếu KTV dự đoán rằng có ít hoặc không có sai phạm trong một
    khoản mục dựa theo kết quả của lần kiểm toán trước và một số nhân tố
    khác thì một giá trị trọng yếu lớn hơn có thể được phân bổ cho khoản

    52 TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206

  15. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    mục này. Do dự đoán của KTV về khả năng sai sót thấp nên phạm vi kiểm
    toán khoản mục đó có thể giảm đi.
     Chi phí kiểm toán đối với các khoản mục.
    Ví dụ, chi phí thu thập bằng chứng về hàng tồn kho cao hơn chi phí thu
    thập bằng chứng về công nợ (nợ phải thu, nợ phải trả), chi phí thu thập
    bằng chứng về công nợ lại cao hơn chi phí thu thập bằng chứng về các tài
    khoản khác (tiền, tài sản cố định, vốn chủ sở hữu,…) nên sai số có thể chấp
    nhận được đối với hàng tồn kho cao hơn sai số có thể chấp nhận được đối
    với công nợ, sai số có thể chấp nhận được đối với công nợ lại cao hơn đối
    với tài khoản khác. Không có sai số có thể chấp nhận được đối với lợi
    nhuận chưa phân phối vì chỉ tiêu này chỉ có thể suy ra từ sai số của các tài
    khoản khác…
    b. Đánh giá rủi ro kiểm toán
    Khái niệm: Rủi ro kiểm toán là rủi ro do KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến
    nhận xét không thích hợp khi BCTC đã được kiểm toán còn có những sai phạm
    trọng yếu.

    Các loại rủi ro kiểm toán:
     Rủi ro có sai phạm trọng yếu: là rủi ro khi BCTC chứa đựng những sai phạm trọng
    yếu trước khi kiểm toán. Tại cấp độ cơ sở dẫn liệu, rủi ro có sai phạm trọng yếu
    bao gồm hai bộ phận:
    o Rủi ro tiềm tàng (Inherent risk – IR): là khả năng tồn tại các sai phạm trọng yếu
    trong bản thân các đối tượng kiểm toán chưa kể đến sự tác động của bất cứ
    hoạt động kiểm toán nào kể cả kiểm soát nội bộ.
    o Ví dụ: Cùng là khoản mục tiền nhưng với hai loại tiền mặt và tiền gửi ngân
    hàng thì tiền mặt luôn tiềm ẩn một rủi ro nhiều hơn. Rủi ro với tiền mặt có thể
    là: tiền giả, mất mát, rách nát, cháy,… Tức là ngay trong bản thân đối tượng
    kiểm toán (tiềm mặt) đã tiềm ẩn những rủi ro đó rồi, chưa tính đến các quá
    trình kiểm tra, kiểm soát để tác động vào đối tượng đó.
    o Rủi ro kiểm soát (Control risk – CR): là khả năng hệ thống kiểm soát nội bộ
    của đơn vị được kiểm toán không phát hiện, ngăn ngừa và sửa chữa kịp thời
    các sai phạm trọng yếu.
    Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế ra chủ yếu là nhằm phát hiện, ngăn
    ngừa và sửa chữa kịp thời các sai phạm trọng yếu. Tuy nhiên, trong trường hợp
    có sai phạm trọng yếu mà KSNB vẫn không phát hiện ra thì đó chính là rủi ro
    kiểm soát.

    TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206 53

  16. Bài 3: Quy trình kiểm toán

     Rủi ro phát hiện (Detection Risk – DR): là khả năng mà các thủ tục kiểm toán
    không phát hiện được các sai phạm trọng yếu.
    Nguyên nhân:
    o Do phạm vi kiểm toán áp dụng không phù hợp.

    Ví dụ: Chỉ chọn mẫu một số ít cá thể  không thu thập đầy đủ thông tin  kết
    luận sai lầm về đối tượng kiểm toán.
    o Do áp dụng sai hệ thống phương pháp kiểm toán.
    Ví dụ: Khi kiểm toán tiền chỉ lựa chọn phương pháp kiểm toán chứng từ (đối
    chiếu, cân đối sổ sách), không thực hiện kiểm kê tiền để đối chiếu giữa số ghi
    sổ và thực tế.
     Mối quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán
    Quan hệ giữa các loại rủi ro kiểm toán được phản ánh qua mô hình rủi ro kiểm toán:
    Rủi ro mà KTV không
    Rủi ro Rủi ro có sai phạm
    = × phát hiện được sai
    kiểm toán trọng yếu
    phạm trọng yếu
    Rủi ro tiềm Rủi ro kiểm Rủi ro phát hiện
    = × ×
    tàng (IR) soát (CR) (DR)
    IR và CR luôn luôn tồn tại một cách khách quan, KTV không tạo ra và cũng không
    kiểm soát được chúng. Ngược lại, đối với DR, KTV phải có trách nhiệm thực hiện
    các thủ tục thu thập các bằng chứng kiểm toán nhằm quản lý và kiểm soát được rủi
    ro phát hiện.
    Thực tế, trong mỗi cuộc kiểm toán, người ta thường ấn định trước một mức AR
    mong muốn. Sau đó, trên cơ sở đánh giá IR và CR, KTV mới xác định mức DR
    cần đạt được. Từ mô hình rủi ro kiểm toán: AR = IR × CR × DR
    AR
     DR =
    IR × CR
    Đánh giá rủi ro kiểm toán
    Đánh giá rủi ro kiểm toán sẽ được thực hiện theo quy trình thể hiện qua sơ đồ sau:
    Xác định rủi ro kiểm toán
    mong muốn

    Đánh giá rủi ro có sai phạm
    trọng yếu

    Đánh giá rủi ro Đánh giá rủi ro
    tiềm tàng kiểm soát

    Tính toán rủi ro phát hiện

    Thiết kế thử nghiệm cơ bản

    Sơ đồ 3.1: Quy trình đánh giá rủi ro kiểm toán

    54 TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206

  17. Bài 3: Quy trình kiểm toán

     Xác định mức rủi ro kiểm toán mong muốn (AR)
    Rủi ro kiểm toán mong muốn được xác định ngay trong giai đoạn lập kế hoạch
    kiểm toán, nó được xác định một cách chủ quan và phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản:
    o Mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài tin tưởng vào BCTC.
    Trong cơ chế thị trường, có rất nhiều người quan tâm tới tình hình tài chính và
    sự phản ánh của nó trong tài liệu kế toán mà trực tiếp là BCTC. Những người
    quan tâm này có thể là: các cơ quan nhà nước (cần có thông tin trung thực để
    điều tiết vĩ mô nền kinh tế); các nhà đầu tư (cần có thông tin trung thực để có
    hướng đầu tư đúng đắn, điều hành sử dụng vốn đầu tư và ăn chia phân phối kết
    quả đầu tư); các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác (cần thông
    tin trung thực để có những quyết định kinh doanh đúng đắn); người lao động;
    khách hàng; nhà cung cấp…
    Khi nhiều người sử dụng bên ngoài đặt niềm tin vào các BCTC thì những sai
    lệch trọng yếu trên BCTC dễ gây tác hại trên phạm vi rộng. Do vậy, trong
    trường hợp này, KTV cần xác định một mức rủi ro kiểm toán thấp, từ đó tăng
    số lượng bằng chứng kiểm toán thu thập và tăng độ chính xác trong các kết
    luận đưa ra của mình.
    Một số yếu tố chỉ ra mức độ mà theo đó các BCTC được người sử dụng bên
    ngoài tin tưởng là:
     Quy mô của đơn vị được kiểm toán
    Quy mô của đơn vị có thể được đo bằng tổng tài sản; tổng doanh thu; hoặc
    tổng thu nhập. Quy mô càng lớn thì BCTC càng được sử dụng rộng rãi và
    rủi ro kiểm toán mong muốn cần đánh giá ở mức thấp hơn.
     Quyền sở hữu
    Nếu quyền sở hữu doanh nghiệp thuộc về nhiều bên tham gia hơn thì sẽ có
    nhiều người quan tâm tới BCTC hơn và rủi ro kiểm toán mong muốn cũng
    cần được đánh giá ở mức thấp hơn và ngược lại.
     Bản chất và quy mô của công nợ
    Các khoản công nợ là những khoản chắc chắn có liên quan tới một bên thứ
    ba cho vay, cho nợ. Các chủ nợ hiện tại và tiềm năng thường quan tâm đến
    tình hình tài chính của công ty, đặc biệt là khả năng thanh toán để xem xét
    có tiếp tục duy trì và cho doanh nghiệp vay tiếp hay không. Vì thế, khi
    BCTC bao gồm một số lượng lớn các khoản công nợ hoặc các khoản công
    nợ có quy mô lớn thì chúng có khả năng được sử dụng rộng rãi hơn.
    o Khả năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán
    công bố.
    Nếu khách hàng gặp khó khăn về tài chính sau khi báo cáo kiểm toán được
    công bố thì khả năng KTV sẽ liên quan tới các vụ kiện của các bên do sử dụng
    BCTC được kiểm toán là rất lớn. Chính vì thế, trong trường hợp này KTV phải
    thiết lập ngay từ đầu một mức rủi ro kiểm toán mong muốn thấp hơn để đề
    phòng các trường hợp bị các bên có liên quan kiện. Trường hợp này sẽ dẫn tới
    chi phí kiểm toán cao hơn nhưng KTV vẫn phải xác định rủi ro kiểm toán ở
    mức thấp hợp lý.

    TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206 55

  18. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    Việc dự đoán khả năng thất bại, khó khăn của đơn vị được kiểm toán trong
    tương lai là một vấn đề rất phức tạp. Tuy nhiên, KTV có thể dựa vào một số
    yếu tố sau để dự đoán sự kiện này:
     Khả năng hoán chuyển thành tiền mặt
    Nếu một doanh nghiệp thường xuyên thiếu tiền và vốn lưu động thì có thể
    doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong thanh toán. KTV cần phải đánh giá về
    khả năng thanh toán của khách hàng để dự đoán khả năng khách hàng sẽ
    gặp khó khăn trong tương lai và nếu trầm trọng hơn, doanh nghiệp mất khả
    năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn thì dễ dẫn đến nguy cơ phá sản.
     Các khoản lãi (lỗ) trong các năm trước
    Khi một doanh nghiệp giảm nhanh các khoản lãi hoặc tăng nhanh các
    khoản lỗ trong một số năm liên tục thì đây là dấu hiệu về việc kinh doanh
    đang có chiều hướng xấu. KTV cần phải đánh giá khả năng khách hàng sẽ
    gặp khó khăn về tài chính khi thấy có các dấu hiệu này xuất hiện.
     Các biện pháp nhằm gia tăng quá trình tài trợ
    Nếu doanh nghiệp càng phụ thuộc vào các khoản tài trợ, đặc biệt đang tìm
    mọi biện pháp để gia tăng khoản tài trợ này thì chứng tỏ doanh nghiệp
    không tự chủ được về mặt tài chính, do đó khả năng gặp khó khăn về mặt
    tài chính sẽ cao.
     Bản chất hoạt động của công ty khách hàng
    Trong một số lĩnh vực hoạt động kinh doanh thì khả năng gặp rủi ro dẫn
    đến phá sản rất cao, chẳng hạn ngành kinh doanh môi giới chứng khoán…
    Khi kiểm toán những ngành kinh doanh như vậy, KTV nên đề phòng khả
    năng khách hàng sẽ lâm vào tình trạng khó khăn, rủi ro trong kinh doanh để
    xác định mức rủi ro kiểm toán cho hợp lý.
    Việc thu thập thông tin và tìm hiểu về khách hàng, đặc biệt là hai yếu tố:
    mức độ mà theo đó người sử dụng bên ngoài tin tưởng vào BCTC và khả
    năng khách hàng sẽ gặp khó khăn về tài chính sau khi BCTC được công bố
    sẽ giúp KTV xác định được mức rủi ro kiểm toán mong muốn cho toàn bộ
    BCTC được kiểm toán.
    Sau khi thiết lập được mức rủi ro kiểm toán mong muốn, KTV sẽ đánh giá
    rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.
     Đánh giá rủi ro tiềm tàng (IR)
    Việc đánh giá rủi ro tiềm tàng sẽ được thực hiện trên cả hai phương diện: trên
    phương diện BCTC và trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ.
    o Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện BCTC:
    KTV thường dựa vào một số yếu tố ảnh hưởng sau:
     Đặc điểm của Ban Giám đốc
    Nếu các quyết định về kinh tế, tài chính trong đơn vị bị độc quyền bởi một
    cá nhân trong Ban Giám đốc thì sẽ dễ xảy ra các sai phạm trọng yếu hơn
    trường hợp các quyết định kinh tế, tài chính được soát xét và phê duyệt bởi
    một hội đồng thành viên Ban Giám đốc.

    56 TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206

  19. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    Ngoài ra, sự thiếu liêm khiết, kinh nghiệm và hiểu biết của Ban Giám đốc
    cũng như sự thay đổi thành phần Ban quản lý xảy ra trong niên độ kế toán
    dễ dẫn đến việc chỉ đạo, điều hành các hoạt động sai chế độ, quy định pháp
    luật… Vì thế, dễ có khả năng tồn tại sai phạm đối các nghiệp vụ kinh tế phát
    sinh. Hơn nữa, khi có nhiều sự thay đổi nhân sự trong Ban Giám đốc, KTV
    cũng cần xem xét đến trường hợp có nhiều người trung thực, không chấp
    nhận những gian lận xảy ra trong doanh nghiệp nên tự nguyện xin từ chức
    và khi đó, rủi ro tiềm tàng sẽ được đánh giá cao hơn.
     Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các nhân viên
    kế toán chủ yếu, của KTV nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của họ.
    Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, các nhân viên kế
    toán chủ yếu và của kiểm toán nội bộ sẽ ảnh hưởng tới công tác kế toán của
    đơn vị, ảnh hưởng tới sự ghi chép và kiểm tra kế toán và tính chính xác của
    các thông tin tài chính được ghi chép và trình bày trên BCTC. Nếu có sự
    thay đổi nhân sự của các vị trí này thì những người mới có thể chưa có kinh
    nghiệm nên dễ dẫn tới sai sót. Trong trường hợp đó, KTV nên đánh giá rủi
    ro tiềm tàng ở mức cao hơn.
     Những áp lực bất thường đối với Ban Giám đốc, đối với kế toán trưởng,
    nhất là những hoàn cảnh thúc đẩy Ban Giám đốc, kế toán trưởng phải trình
    bày BCTC không trung thực.
    Chẳng hạn, doanh nghiệp đang lâm vào tình trạng khó khăn về mặt tài
    chính và cần kêu gọi thêm vốn góp của các cổ đông để bổ sung vốn thì
    doanh nghiệp rất dễ gian lận trong việc khai các chỉ tiêu tài chính để làm
    bức tranh tài chính của doanh nghiệp sáng sủa hơn như ghi nhận những
    khoản doanh thu, thu nhập khi thực tế chưa xảy ra, hoặc không ghi nhận
    những khoản chi phí…
     Đặc điểm hoạt động của đơn vị, như: Quy trình công nghệ, cơ cấu vốn, các
    đơn vị phụ thuộc, phạm vi địa lý, hoạt động theo mùa vụ.
    Một doanh nghiệp nếu có quy trình công nghệ lạc hậu thì hàng hóa sản xuất
    ra rất có khả năng bị lỗi thời và khó tiêu thụ trên thị trường, có thể ảnh
    hưởng tới giá trị thuần của hàng tồn kho được trình bày trên BCTC; Một
    doanh nghiệp có cơ cấu phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn vay cũng có
    khả năng có rủi ro tiềm tàng trong việc trình bày các chỉ tiêu liên quan tới
    khả năng thanh toán; Một doanh nghiệp có nhiều đơn vị phụ thuộc sẽ làm
    tăng khả năng sai sót ở khâu tổng hợp; Một đơn vị có quy mô lớn có khả
    năng sai sót nhiều hơn một đơn vị có quy mô nhỏ hơn…
     Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị.
    Như các biến động về kinh tế, về cạnh tranh, sự thay đổi về thị trường mua,
    thị trường bán và sự thay đổi của hệ thống kế toán đối với lĩnh vực hoạt
    động của đơn vị.
     Hợp đồng kiểm toán lần đầu và hợp đồng kiểm toán dài hạn.
    Trong các hợp đồng kiểm toán lần đầu, KTV thường thiếu hiểu biết và kinh
    nghiệm về các sai sót của đơn vị khách hàng nên họ thường đánh giá rủi ro
    tiềm tàng cao hơn so với hợp đồng kiểm toán những lần sau.

    TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206 57

  20. Bài 3: Quy trình kiểm toán

    o Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ
    Đánh giá rủi ro tiềm tàng trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp vụ
    phụ thuộc vào các yếu tố: Mức rủi ro tiềm tàng đã đánh giá đối với toàn bộ
    BCTC, tính chất của khoản mục, các nhân tố tác động tới rủi ro tiềm tàng trên
    số dư tài khoản và loại nghiệp vụ trên cơ sở hiểu biết của KTV, bao gồm các
    nhân tố sau:
     Bản chất kinh doanh của khách hàng
    Rủi ro tiềm tàng bị tăng lên bởi những đặc thù của ngành nghề kinh doanh
    mà nó có thể tạo nên những khó khăn cho kiểm toán do tồn tại những khoản
    không chắc chắn hoặc khả năng tồn tại một cách tiềm tàng những gian lận
    hoặc sai sót trên BCTC. Chẳng hạn, khách hàng kinh doanh trong lĩnh vực
    tiền tệ tín dụng thường có nhiều rủi ro trong việc quản lý tiền mặt và các
    phương tiện thanh toán, do đó việc kiểm toán vốn bằng tiền sẽ khó khăn
    hơn đối với các doanh nghiệp sản xuất thông thường.
     Kết quả các lần kiểm toán trước
    Đối với tài khoản được phát hiện có sai phạm trong các lần kiểm toán của
    năm trước, rủi ro tiềm tàng được xác định ở mức cao. Lý do là nhiều loại
    sai phạm có tính chất hệ thống và các đơn vị thường chưa kịp tiến hành các
    biện pháp sửa chữa nên các sai phạm đã xảy ra trong năm trước có thể vẫn
    tiếp tục xảy ra trong các năm sau.
     Các nghiệp vụ kinh tế không thường xuyên
    Các nghiệp vụ này có khả năng được vào sổ sai nhiều hơn là các nghiệp vụ
    diễn ra hàng ngày do khách hàng thiếu kinh nghiệm trong hạch toán các
    nghiệp vụ đó, do đó rủi ro tiềm tàng đối với các tài khoản chứa nghiệp vụ
    này thường được đánh giá cao.
     Các ước tính kế toán
    Rủi ro tiềm tàng của các tài khoản phản ánh các ước tính kế toán (dự phòng
    các khoản phải thu khó đòi, dự phòng giảm giá hàng tồn kho,…) thường được
    đánh giá là cao vì việc vào sổ đúng đắn các khoản mục này không những đòi
    hỏi sự hiểu biết về bản chất các khoản mục, về lý thuyết liên quan mà còn cả
    kinh nghiệm và sự phán xét chủ quan của người có trách nhiệm.
     Quy mô của các số dư tài khoản
    Các tài khoản có số dư bằng tiền lớn thường được đánh giá là rủi ro tiềm
    tàng cao hơn so với tài khoản có số dư bằng tiền nhỏ.
     Đánh giá rủi ro kiểm soát: Việc đánh giá rủi ro kiểm soát phụ thuộc vào kết quả
    đánh giá về Kiểm soát nội bộ.
     Xác định rủi ro phát hiện (DR)
    Rủi ro phát hiện được xác định từ ba loại rủi ro: rủi ro kiểm toán mong muốn, rủi
    ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát. Ba loại rủi ro này thay đổi theo từng khoản mục
    do đó rủi ro phát hiện cũng cần được xác định cho từng khoản mục và là căn cứ để
    KTV xác định nội dung, lịch trình và phạm vi thử nghiệm cơ bản sẽ thực hiện.

    58 TXKTKI02_Bai3_v1.0016101206

Download tài liệu Bài giảng Kiểm toán tài chính – Bài 3: Quy trình kiểm toán File Word, PDF về máy