[Download] Tải Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 5: Tổ chức kiểm toán – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 5: Tổ chức kiểm toán

Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 5: Tổ chức kiểm toán
Nội dung Text: Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 5: Tổ chức kiểm toán

Download


“Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 5: Tổ chức kiểm toán” giúp sinh viên hiểu được qui trình cuộc kiểm toán cụ thể thông qua nội dung tổ chức công tác kiểm toán; hiểu rõ về tổ chức bộ máy trong từng loại hình kiểm toán khác nhau; cơ sở pháp lý khi thực hiện kiểm toán thông qua chuẩn mực kiểm toán.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 5: Tổ chức kiểm toán – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 5: Tổ chức kiểm toán File Word, PDF về máy

Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 5: Tổ chức kiểm toán

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 5: Tổ chức kiểm toán

  1. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    BÀI 5 TỔ CHỨC KIỂM TOÁN

    Hướng dẫn học
    Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu: Giáo trình Lý thuyết kiểm toán – NXB Tài chính – GS.TS Nguyễn Quang
    Quynh và PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa.
     Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc
    qua email.
     Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
    Nội dung
    Bài học này giới thiệu các vấn đề về tổ chức công tác kiểm toán, tổ chức bộ máy kiểm toán
    và chuẩn mực kiểm toán. Cụ thể:
     Phần 1: Làm rõ về nội dung tổ chức công tác kiểm toán với một số nội dung cơ bản như
    mục tiêu tổ chức công tác kiểm toán, trình tự tổ chức công tác kiểm toán qua 3 giai
    đoạn: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và kết thúc kiểm toán;
     Phần 2: Làm rõ nội dung về tổ chức bộ máy kiểm toán: các nguyên tắc và nhiệm vụ tổ
    chức bộ máy kiểm toán từ đó đi sâu vào phân tích đặc điểm tổ chức bộ máy kiểm toán
    trong các loại hình kiểm toán cụ thể như đối với kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập
    và kiểm toán nội bộ;
     Phần 3: Làm rõ nội dung về chuẩn mực kiểm toán: khái quát chung về chuẩn mực kiểm
    toán với các hình thức biểu hiện cụ thể; tìm hiểu về chuẩn mực kiểm toán được chấp
    nhận phổ biến (GAAS) và đặc điểm xây dựng chuẩn mực kiểm trong từng bộ máy
    kiểm toán.
    Mục tiêu
     Giúp sinh viên hiểu được qui trình cuộc kiểm toán cụ thể thông qua nội dung tổ chức
    công tác kiểm toán.
     Giúp sinh viên hiểu rõ về tổ chức bộ máy trong từng loại hình kiểm toán khác nhau.
     Giúp sinh viên nắm được cơ sở pháp lý khi thực hiện kiểm toán thông qua chuẩn mực
    kiểm toán.

    86 TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212

  2. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    Tình huống dẫn nhập
    Công ty cổ phần đầu tư và xây lắp dầu khí Sài Gòn là doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cổ phần
    xây lắp dầu khí Việt Nam. Là doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khóan.
    Theo quy định của Ủy ban chứng khóan Nhà nước, đây là doanh nghiệp bắt buộc phải được kiểm
    toán hàng năm bởi kiểm toán độc lập.

    Vậy để thực hiện được cuộc kiểm toán cho báo cáo tài chính năm 2013 của doanh
    nghiệp này, quy trình kiểm toán cần được tiến hành như thế nào?

    TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212 87

  3. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    5.1. Tổ chức công tác kiểm toán
    5.1.1. Mục tiêu và trình tự tổ chức công tác kiểm toán
    Tổ chức nói chung là mối liên hệ giữa các yếu tố
    trong một hệ thống. Mức độ liên hệ này được xác
    định qua biên độ giao động từ 0 đến 1. Ở mức độ 0,
    các yếu tố trong hệ thống không tồn tại bất kỳ mối
    liên hệ nào. Khi đó hệ thống rơi vào tình trạng tan
    rã hay vô tổ chức. Ở độ 1, ngược lại, các yếu tố
    quan hệ chặt chẽ, khoa học và hệ thống hoạt động ở
    mức độ tối ưu. Như vậy, ở tất cả các tổ chức, các
    chủ thể luôn kì vọng tổ chức của mình đạt được cấp
    độ 1.
    Kiểm toán là một hệ thống, khi vận hành hệ thống
    này để thực hiện hai chức năng cơ bản là xác minh và bày tỏ ý kiến thì cần phải lưu ý
    đến mối liên hệ giữa các yếu tố để hệ thống đạt được mục tiêu một cách tốt nhất. Các
    yếu tố đó là các phương pháp kiểm toán thuộc 2 nhóm: kiểm toán chứng từ (gồm kiểm
    toán cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic) và kiểm toán ngoài chứng từ (gồm
    kiểm kê, điều tra, thực nghiệm). Tùy thuộc vào quan điểm của từng Kiểm toán viên
    mà cách kết hợp các yếu tố trong tổ chức có thể khác nhau khi kiểm toán các đối
    tượng cơ bản.
    Có thể theo dõi 2 trường hợp sau:
    Thứ nhất, với kiểm toán tài chính, cũng như mọi loại hình kiểm toán khác, để thực
    hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến, kiểm toán tài chính cũng sử dụng các
    phương pháp kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ. Tuy nhiên, do mỗi loại
    kiểm toán có chức năng cụ thể khác nhau, đối tượng cụ thể khác nhau và quan hệ chủ
    thể khách thể kiểm toán khác nhau nên trong kiểm toán tài chính cách thức kết hợp
    các phương pháp cơ bản trên cũng có những điểm đặc thù.
    Ở đây các phương pháp kiểm toán cơ bản được triển khai theo hướng kết hợp hoặc chi
    tiết thành các cách kiểm toán cụ thể tùy tình huống cụ thể trong suốt quá trình kiểm
    toán. Chẳng hạn, theo hướng chi tiết, phương pháp điều tra (cơ bản) có thể thực hiện
    thông qua các cách thức như quan sát, trao đổi hoặc phỏng vấn, gửi thư xác nhận…
    Ngược lại, theo hướng tổng hợp, các phương pháp đối chiếu logíc, đối chiếu trực tiếp,
    cân đối… có thể được thực hiện thông qua các thủ tục phân tích trong quá trình kiểm
    toán. Trong kiểm toán tài chính để bảo đảm tính hiệu quả trình tự phổ biến được
    thực hiện là tiến hành kiểm toán theo trình tự ngược với trình tự kế toán. Tuy nhiên,
    trong khu vực nhà nước, để nâng cao hiệu quả quản lý tài sản công, thì kiểm toán tài
    chính thường được kết hợp với kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động thì trình tự
    kiểm toán là ngược hay xuôi so với trình tự kế toán cũng cần được kết hợp một cách
    linh hoạt.
    Thứ hai, với kiểm toán hoạt động, đối tượng của loại hình kiểm toán này rất đa
    dạng, thậm chí có sự khác biệt lớn, chẳng hạn giữa hoạt động kinh doanh và hoạt động
    chi quỹ phúc lợi hay hoạt động sử dụng ngân sách theo những mục tiêu của nhà

    88 TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212

  4. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    nước… Vì vậy, tổ chức kiểm toán cho từng hoạt động này sẽ có những điểm khác
    biệt. Do mục tiêu của kiểm toán hoạt động là hướng đến việc đánh giá hiệu quả và
    hiệu năng của các nghiệp vụ hoạt động, nên trình tự kiểm toán (đối với nghiệp vụ tài
    chính) thường được thực hiện xuôi theo trình tự của kế toán.
    Từ những phân tích trên có thể thấy mục tiêu của tổ chức công tác kiểm toán hướng
    tới việc tạo ra mối liên hệ khoa học và nghệ thuật các phương pháp kỹ thuật kiểm toán
    dùng để xác minh và bày tỏ ý kiến về đối tượng kiểm toán.
    Dù trình tự của bản thân công tác kiểm toán khác nhau (công việc kiểm toán có thể
    thực hiện trong các doanh nghiệp có quy mô lớn, trung bình hoặc nhỏ, có hoạt động
    đơn giản hoặc phức tạp; các đơn vị kinh doanh hay đơn vị hành chính sự nghiệp…)
    song trong mọi trường hợp, tổ chức kiểm toán đều phải được thực hiện theo một quy
    trình chung với 3 bước cơ bản:
     Bước 1: Chuẩn bị kiểm toán bao gồm tất cả các công việc khác nhau nhằm tạo
    được cơ sở pháp lý, kế hoạch kiểm toán cụ thể và các điều kiện vật chất cho công
    tác kiểm toán.
     Bước 2: Thực hành kiểm toán bao gồm tất cả các công việc thực hiện chức năng
    xác minh của kiểm toán để khẳng định được thực chất của đối tượng và khách thể
    kiểm toán cụ thể.
     Bước 3: Kết thúc kiểm toán bao gồm các công việc đưa ra kết luận kiểm toán,
    lập báo cáo kiểm toán và giải quyết các công việc phát sinh sau khi lập báo cáo
    kiểm toán.
    Để thực hiện quy trình kiểm toán với 3 bước cơ bản nêu trên, khái niệm “Cuộc kiểm
    toán” phải bao hàm đầy đủ các yếu tố sau:
    a) Đối tượng kiểm toán.
    b) Mục tiêu và phạm vi kiểm toán.
    c) Chủ thể kiểm toán.
    d) Khách thể kiểm toán.
    e) Phương pháp áp dụng trong kiểm toán và cơ sở
    pháp lý thực hiện kiểm toán.
    f) Thời hạn kiểm toán.
    Trong phần diễn giải về quy trình kiểm toán có đề cập đến việc minh họa 2 cuộc kiểm
    toán sau:
     Cuộc kiểm toán 1: Kiểm toán báo cáo tài chính của Công ty cổ phần đầu tư và
    xây lắp dầu khí Sài Gòn cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2013, Kiểm toán
    viên cần xác định các yếu tố cơ bản sau:
    a. Đối tượng kiểm toán: Báo cáo tài chính năm 2013.
    b. Mục tiêu và phạm vi kiểm toán.
    – Mục tiêu kiểm toán: Xác minh sự trung thực, hợp lý của các thông tin trên các
    BKTC theo các chuẩn mực, quy định cụ thể có hiệu lực trong năm 2013.
    – Phạm vi kiểm toán: Báo cáo tài chính được lập cho năm tài chính từ 01/01/2013
    đến 31/12/2013.

    TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212 89

  5. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    c. Chủ thể kiểm toán: Công ty TNHH Dịch vụ kiểm toán, kế toán và tư vấn
    thuế AAT.
    d. Khách thể kiểm toán: Công ty cổ phần đầu tư và xây lắp dầu khí Sài Gòn.
    e. Phương pháp áp dụng trong kiểm toán và cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán.
    – Phương pháp áp dụng trong kiểm toán: thử nghiệm tuân thủ, thử nghiệm cơ
    bản và các phương pháp kiểm toán chung.
    – Cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán: hệ thống chuẩn mực kiểm toán, chuẩn mực
    kế toán, chế độ kế toán (doanh nghiệp) Việt Nam và các quy định pháp lý có
    liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính.
    f. Thời hạn kiểm toán: Căn cứ vào điều khoản trên hợp đồng (cuộc kiểm toán
    hoàn thành trước 08/04/2014)
     Cuộc kiểm toán 2: Kiểm toán hoạt động tại 1 chi nhánh của ngân hàng KT (các
    thông tin có liên quan xem ở các phần trình bày thuộc 5.1.2).

    5.1.2. Quy trình kiểm toán
    5.1.2.1. Chuẩn bị kiểm toán
    Chuẩn bị là bước công việc đầu tiên của tổ chức
    công tác kiểm toán nhằm tạo ra tất cả tiền đề và
    điều kiện cụ thể trước khi thực hành kiểm toán.
    Đây là công việc có ý nghĩa quyết định chất lượng
    kiểm toán.
    Chuẩn bị kiểm toán là giai đoạn đầu tiên, cần thiết
    cho mọi cuộc kiểm toán. Nếu thực hiện chu đáo,
    phù hợp sẽ giúp cho thực hiện tốt các giai đoạn sau.
    Hiện nay, Nhà nước Việt Nam và rất nhiều quốc gia trên thế giới đã ban hành cơ sở
    pháp lý đầy đủ cho hoạt động kiểm toán, đặc biệt là kiểm toán tài chính. Đây là cơ sở
    rất thuận lợi cho Kiểm toán viên có thể thực hiện tốt được giai đoạn này (điều này
    khác biệt hoàn toàn so với trước kia, khi mà khung pháp lý về kiểm toán chưa đầy đủ,
    thì việc chuẩn vị kiểm toán thực sự khó khăn do nguồn tài liệu thiếu về số lượng, về
    tính đồng bộ và cả chất lượng…).
    Tùy thuộc vào loại hình kiểm toán (kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm
    toán tuân thủ…), đối tượng kiểm toán (có thể là tài sản cá nhân, tài sản của nhà nước,
    các dự án, các nghiệp vụ…) khác nhau mà việc chuẩn bị sẵn sàng về điều kiện tiền đề
    và điều kiện cơ sở vật chất cụ thể có những điểm khác biệt, nhưng có thể quy về một
    số công việc cần thiết cần thực hiện như sau:
     Xác định mục tiêu, phạm vi kiểm toán
    o Mục tiêu kiểm toán là đích cần đạt tới đồng thời là thước đo kết quả kiểm toán
    cho mỗi cuộc kiểm toán cụ thể. Mục tiêu chung của kiểm toán phải gắn chặt
    với mục tiêu, yêu cầu của quản lý. Vì vậy, trước hết mục tiêu của kiểm toán
    phải tùy thuộc vào quan hệ giữa chủ thể với khách thể kiểm toán, tùy thuộc vào
    loại hình kiểm toán.
    Quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán biểu hiện trước hết ở bộ máy
    kiểm toán (chủ thể kiểm toán): Kiểm toán nhà nước, kiểm toán độc lập hay

    90 TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212

  6. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    kiểm toán nội bộ. Mỗi bộ máy có lĩnh vực và phạm vi hoạt động khác nhau,
    yêu cầu pháp lý khác nhau nên mục tiêu kiểm toán không thể trùng hợp cho dù
    cùng thực hiện ở một khách thể. Ngược lại, với cùng một chủ thể kiểm toán,
    mục tiêu kiểm toán cũng có thể khác nhau tùy quan hệ giữa khách thể đó với
    chủ thể kiểm toán: Khách thể trực tiếp hay gián tiếp, bắt buộc hay tự nguyện,
    cũ hay mới…
    Chẳng hạn:
     Với cuộc kiểm toán 1: Đây là cuộc kiểm
    toán tài chính (do Kiểm toán viên độc lập
    thực hiện) cho đối tượng là BCTC của 1
    doanh nghiệp đang niêm yết trên sàn giao
    dịch chứng khóan, mối quan hệ giữa chủ
    thể và khách thể kiểm toán là ngoại kiểm
    trên tinh thần tự nguyện. Mục tiêu kiểm
    toán sẽ được xây dựng như sau: Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo
    cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai lệch trọng yếu do
    gian lận hoặc sai sót hay không, từ đó giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến về
    việc liệu báo cáo tài chính có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình
    bày báo cáo tài chính được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không.
     Với cuộc kiểm toán 2: Đây là một cuộc kiểm toán hoạt động (do Kiểm toán
    viên nội bộ thực hiện) cho đối tượng là các hoạt động cụ thể phát sinh tại
    chi nhánh của 1 ngân hàng thương mại, mối quan hệ giữa chủ thể và khách
    thể là nội kiểm trên tinh thần bắt buộc và cưỡng chế, vì vậy, việc xác định
    mục tiêu có điểm khác biệt:
    – Kiểm tra việc tuân thủ các quy định nội bộ, pháp luật trong hoạt động
    tín dụng, kế toán, vận hành của Chi nhánh.
    – Đánh giá tính hiệu quả của công tác kiểm soát nội bộ tại Chi nhánh.
    – Trên cơ sở kiểm tra, nhận diện rủi ro/sai phạm, xác định nguyên nhân,
    trách nhiệm đối với những vi phạm/ hạn chế được phát hiện và kiến
    nghị cấp thẩm quyền có biện pháp cải thiện, giảm thiểu rủi ro.
    Cũng trong quan hệ với loại hình kiểm toán, cần phân định mục tiêu kiểm toán
    định kỳ với kiểm toán đột xuất, kiểm toán thường xuyên và thông thường.
    Kiểm toán thường xuyên hướng tới tạo lập nền nếp quản lý tài chính kế toán,
    kiểm toán đột xuất thường gắn với xử lý các vụ việc cụ thể; còn kiểm toán định
    kỳ thường gắn với những kết luận, đánh giá tổng quát các vấn đề theo yêu cầu
    quản lý chung.
    Để định hướng và đánh giá được kết quả, mục tiêu của một cuộc kiểm toán
    phải cụ thể và chính xác. Đây là yêu cầu đầu tiên đối với công việc chuẩn bị
    kiểm toán. Tùy thuộc vào các hoạt động kiểm toán nêu trên, mục tiêu kiểm
    toán có thể biểu hiện trong kế hoạch, hợp đồng hoặc lệnh kiểm toán.
    o Phạm vi kiểm toán là sự giới hạn về không gian và thời gian của đối tượng
    kiểm toán. Phạm vi kiểm toán thường được xác định đồng thời với mục tiêu
    kiểm toán và là một hướng cụ thể hóa mục tiêu này.

    TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212 91

  7. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    Với một khách thể kiểm toán cần xác định rõ
    đối tượng cụ thể của kiểm toán: chẳng hạn
    cũng là cuộc kiểm toán tài chính, nhưng ở
    khách thể này có thể chỉ kiểm toán Bảng Cân
    đối kế toán và Thuyết minh báo cáo tài chính
    (do cuộc kiểm toán thực hiện ở những ngày
    đầu khi doanh nghiệp mới đi vào hoạt động),
    ở khách thể khác lại là bộ Báo cáo tài chính
    bắt buộc (gồm 4 báo cáo: Bảng Cân đối kế
    toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ và Thuyết minh
    báo cáo tài chính), ở khách thể khác nữa thì ngoài 4 báo cáo bắt buộc còn có
    Báo cáo về tình hình biến động vốn chủ sở hữu (Dược Hậu Giang) hay ở một
    doanh nghiệp nhà nước thì Bảng khai tài chính còn chứa đựng các bảng kê khai
    tài sản của Nhà nước, tài sản cá nhân… ngoài 4 báo cáo tài chính bắt buộc
    Cùng với việc cụ thể hóa về đối tượng, phải cụ thể hóa về khoảng thời gian
    thuộc phạm vi kiểm toán (tháng, quý, năm). Trong điều kiện kiểm toán năm
    đầu tiên phải xét phạm vi kiểm toán trong cả quan hệ với thời kỳ trước có liên
    quan do thông tin tài chính của kỳ trước có ảnh hưởng đến số dư đầu kỳ này.
    Chẳng hạn:
    Với cuộc kiểm toán 1: Phạm vi kiểm toán là báo cáo tài chính năm 2013.
    Với cuộc kiểm toán 2: Hoạt động cấp tín dụng, kế toán, vận hành cho kỳ hoạt
    động từ ngày 01/09/2013 đến ngày 30/09/2014 của chi nhánh ngân hàng
    thương mại KT.
     Chỉ định người phụ trách công việc kiểm toán và chuẩn bị các điều kiện vật
    chất cơ bản
    o Tùy mục tiêu và phạm vi kiểm toán, cần chỉ định trước người chủ trì cuộc kiểm
    toán sẽ tiến hành lần này.
    Bộ máy kiểm toán cần nắm được thế mạnh của từng Kiểm toán viên để giao
    công việc phù hợp. Thực tế cho thấy, có sự luân chuyển liên tục về mặt nhân
    sự của các Bộ máy kiểm toán mà đặc biệt là kiểm toán độc lập, nên có thể có
    những Kiểm toán viên chưa có kinh nghiệm làm việc đã tham gia vào cuộc
    kiểm toán. Vì vậy, người trưởng nhóm cần có khả năng giám sát công việc của
    các Kiểm toán viên trong nhóm thích đáng và điều hành nhóm kiểm toán một
    cách phù hợp để tạo hiệu quả nhất định cho cuộc kiểm toán.
    o Cùng với việc chỉ định con người, cần chuẩn bị các thiết bị và điều kiện vật
    chất các khác kèm theo: Phương tiện tính toán và kiểm tra thích ứng với đặc
    điểm tổ chức kế toán, phương tiện kiểm kê thích ứng với từng loại vật tư, đá
    quý; các phần mềm hỗ trợ Kiểm toán viên trong quá trình phân tích, chọn mẫu;
    các phương tiện ghi hình…
     Thu thập thông tin
    Để có thể xây dựng được kế hoạch kiểm toán phù hợp và khả thi với mục tiêu và
    phạm vi kiểm toán đã được xác định thì Kiểm toán viên phải có đầy đủ hiểu biết
    về khách thể kiểm toán. Những hiểu biết này sẽ giúp Kiểm toán viên hoạch định

    92 TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212

  8. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    các thủ tục kiểm toán phù hợp với đặc điểm của đơn vị, nhất là giúp cho Kiểm
    toán viên khoanh vùng những vấn đề có rủi ro cao để có những phương pháp kiểm
    toán phù hợp.
    Ở giai đoạn này, việc thu thập thông tin trước
    hết cần tận dụng tối đa nguồn tài liệu đã có song
    khi cần thiết vẫn phải có những biện pháp điều
    tra bổ sung.
    Các nguồn tài liệu đã có thường bao gồm:
    o Các nghị quyết có liên quan đến hoạt động
    của đơn vị được kiểm toán.
    o Các văn bản có liên quan đến đối tượng và
    khách thể kiểm toán.
    o Các kế hoạch, dự toán, dự báo có liên quan.
    o Các báo cáo kiểm toán lần trước, các biên bản kiểm kê hoặc biên bản xử lý các
    vụ đã xảy ra trong kỳ kiểm toán.
    o Các tài liệu khác có liên quan.
    Trong nhiều trường hợp, nguồn thông tin đã có chưa đủ cần tiến hành khảo sát, điều
    tra bổ sung, song cũng ở mức khái quát phục vụ cho việc lập kế hoạch kiểm toán.
    Chẳng hạn, với Công ty cổ phần đầu tư và xây lắp dầu khí Sài Gòn, muốn cuộc
    kiểm toán BCTC cho năm 2013 đạt được mục tiêu như đã đề ra thì Kiểm toán viên
    phải có những hiểu biết nhất định về doanh nghiệp này như: hình thức sở hữu vốn,
    loại hình kinh doanh, các chính sách kế toán được sử dụng, cơ cấu tổ chức, các kế
    hoạch kinh doanh của năm tài chính hiện hành, những thay đổi trong cơ cấu tổ
    chức, thiết kế hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp… để có thể lập kế
    hoạch kiểm toán phù hợp.
     Lập kế hoạch kiểm toán
    Cũng như các kế hoạch khác, lập kế hoạch kiểm toán là quá trình cân đối tích cực
    giữa nhu cầu và nguồn lực đã có. Kế hoạch kiểm toán phải được lập một cách
    thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh quan trọng của cuộc kiểm
    toán, phát hiện được toàn bộ gian lận, rủi ro và những vấn đề tiềm ẩn. Mục tiêu
    chính của tổ chức kiểm toán và Kiểm toán viên trong lập kế hoạch kiểm toán là
    đảm bảo cuộc kiểm toán được tiến hành một cách chủ động và có hiệu quả.
    Trong kiểm toán, kế hoạch chung này gọi là kế hoạch chiến lược. Tuy nhiên giới
    hạn lập kế hoạch đề cập ở đây là kế hoạch tổng quát cho một cuộc kiểm toán.
    Do đó, việc xác định nhu cầu được thực hiện chủ yếu qua việc cụ thể hóa mục tiêu
    và phạm vi kiểm toán đã dự kiến ở trên (điểm 1 của phần này). Việc cụ thể hóa
    này trước hết ở xác định những công việc cụ thể phải làm (ổn định) và trên cơ sở
    đó lượng hóa quy mô từng việc và xác định thời gian kiểm toán tương ứng (định
    lượng). Để thực hiện được cả hai quá trình đó, cần thiết không chỉ cụ thể hóa và
    chính xác hóa mục tiêu và phạm vi kiểm toán mà còn cần thiết xác định các nguồn
    thông tin có thể có.

    TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212 93

  9. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    Trên cơ sở xem xét các quan hệ trên, cần xác định số người, kiểm tra phương tiện
    và xác định thời hạn thực hiện công tác kiểm toán.
    o Số người tham gia kiểm toán cần được xem xét cả về tổng số và cơ cấu. Tổng
    số người phải tương xứng với quy mô kiểm toán nói chung đã xác định ở phần
    trên; Cơ cấu của nhóm công tác phải thích ứng với từng việc cụ thể đã chính
    xác hóa mục tiêu, phạm vi ở phần xác định nhu cầu.
    o Thời hạn thực hiện công tác kiểm toán cần ấn định cụ thể cả về thời hạn chung
    cũng như thời hạn cần thiết và thời điểm thực hiện từng công việc cụ thể đã
    phân công cho từng người theo quan hệ lôgic giữa các công việc cụ thể.
    Chẳng hạn, trong việc xây dựng kế hoạch kiểm toán tổng quát cho kiểm toán tài
    chính, các Kiểm toán viên cần phải:
    o Xem xét các yếu tố quan trọng theo xét đoán nghề nghiệp của Kiểm toán viên
    trong việc xác định công việc trọng tâm của nhóm kiểm toán.
    o Xác định nội dung, lịch trình và nguồn lực cần thiết để thực hiện một cuộc
    kiểm toán.
    o Tùy thuộc vào kết quả đánh giá rủi ro mà Kiểm toán viên cần xác định:
     Nguồn lực cho các vùng kiểm toán đặc biệt, như bố trí các Kiểm toán viên
    có kinh nghiệm phù hợp tham gia vào các vấn đề phức tạp, chứa đựng rủi
    ro cao.
     Dự kiến nhu cầu chuyên gia (nếu cần thiết).
     Quy mô nguồn lực phân bổ cho các vùng kiểm toán đặc biệt, như số lượng
    Kiểm toán viên tham gia quan sát kiểm kê ở các khu vực quan trọng; phạm
    vi soát xét công việc của Kiểm toán viên khác trong trường hợp thực hiện
    kiểm toán cho đơn vị có quy mô lớn hoặc thời gian dành cho các khoản
    mục có rủi ro cao.
     …
    Kế hoạch từng cuộc kiểm toán cũng phải được xây dựng phù hợp với từng loại
    hình kiểm toán. Trong kiểm toán độc lập, kế hoạch kiểm toán cần được cụ thể hóa
    qua hợp đồng kiểm toán, trong đó quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn từng bên
    cả trong việc chuẩn bị và cả trong thực hiện kế hoạch kiểm toán.
     Xây dựng chương trình kiểm toán
    Sau khi hoàn thành kế hoạch kiểm toán tổng quát,
    chương trình kiểm toán cần được xây dựng để đưa
    ra hướng giải quyết các vấn đề đã được xác định ở
    kế hoạch này trên cơ sở đảm bảo đạt được mục
    đích của cuộc kiểm toán thông qua việc sử dụng
    có hiệu quả các nguồn lực của Kiểm toán viên.
    Do mỗi phần hành kiểm toán có vị trí, đặc điểm
    khác nhau nên phạm vi, loại hình kiểm toán cũng
    khác nhau dẫn đến số lượng và thứ tự các bước
    kiểm toán khác nhau. Xây dựng chương trình kiểm
    toán chính là việc xác định số lượng và thứ tự các bước kể từ điểm bắt đầu đến
    điểm kết thúc công việc kiểm toán.

    94 TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212

  10. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    Chẳng hạn, các nghiệp vụ về tiền mặt thường biến động lớn, tiền là phương tiện
    thanh toán gọn nhẹ, dễ di chuyển, dễ bảo quản, dự trữ. Do đó, khả năng gian lận,
    sai sót nhiều. Hơn nữa, các nghiệp vụ này lại phản ánh được thực chất quá trình
    hoạt động của đơn vị kiểm toán. Do đó nghiệp vụ tiền mặt thường là đối tượng
    thường xuyên, trực tiếp và toàn diện của kiểm toán.
    Trong khi đó, các loại tài sản khác như vật tư chẳng hạn, lại có khối lượng lớn với
    rất nhiều chủng loại, lại được bảo quản trên nhiều kho, bãi khác nhau nên nội dung
    và trình tự kiểm toán không giống như đối với tiền mặt. Cũng tương tự, nghiệp vụ
    bán hàng và thu tiền có đặc điểm riêng so với các nghiệp vụ về nguồn vốn, càng
    khác biệt với các nghiệp vụ sản xuất, dịch vụ… Do vậy cần xây dựng quy trình
    kiểm toán riêng cho từng loại nghiệp vụ.
    Mặt khác, sự khác nhau giữa các loại hình kiểm toán: kiểm toán tài chính, kiểm
    toán tuân thủ hay kiểm toán hoạt động cũng dẫn đến trình tự kiểm toán khác nhau
    ngay đối với mỗi loại nghiệp vụ.
    Có thể hình dung sự khác biệt giữa việc xây dựng chương trình cho cuộc kiểm
    toán tài chính và cuộc kiểm toán hoạt động (thông qua cuộc kiểm toán 1 và 2
    như sau).
    o Chương trình kiểm toán vốn bằng tiền cho cuộc kiểm toán 1.
    Ngoại lệ Người
    Tham
    Trình tự kiểm toán Có/ Đã thực
    chiếu
    không làm rõ hiện ký

    A/ Thủ tục phân tích
    1. Sự biến động chỉ tiêu tiền mặt, tiền gửi ngân hàng
    qua các năm.
    2. Tìm hiểu hệ thống thanh toán của đơn vị chủ yếu qua
    Ngân hàng hay bằng tiền mặt.
    3. Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ về phần vốn bằng
    tiền của đơn vị xem có đảm bảo các nguyên tắc sau:
    – Nguyên tắc phân công phân nhiệm.
    – Bất kiêm nhiệm.
    – Phê chuẩn, phân cấp quản lý đối với tiền mặt.
    B/ Thủ tục kiểm toán chi tiết
    I. Tiền mặt
    1. Đối chiếu giữa biên bản kiểm kê với Sổ Quỹ, sổ chi
    tiết và Sổ Cái để đảm bảo số dư đã được trình bày
    trên Bảng Cân đối kế toán là hợp lý.
    2. Đọc lướt qua Sổ Quỹ để phát hiện những nghiệp vụ
    bất thường và tiến hành kiểm tra, đối chiếu với các
    chứng từ gốc để đảm bảo việc trình bày là đúng và
    phù hợp.
    3a. Chọn… tháng bất kỳ và mỗi tháng chọn… nghiệp vụ
    trên Sổ Cái (hoặc sổ chi tiết) để đối chiếu sự khớp
    đúng giữa sổ kế toán và chứng từ gốc về nội dung,
    ngày, tháng, số tiền. Đồng thời kiểm tra sự chấp
    thuận của người có thẩm quyền của khách hàng.
    – Nếu kết quả tốt: Chấp nhận.
    – Nếu kết quả xấu: Mở rộng phạm vi kiểm tra chi tiết.

    TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212 95

  11. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    Ngoại lệ Người
    Tham
    Trình tự kiểm toán Có/ Đã thực
    chiếu
    không làm rõ hiện ký
    3b. Chọn ………….. tháng bất kỳ và mỗi tháng chọn
    ……….. chứng từ để đảm bảo việc ghi sổ (sổ quỹ, sổ
    chi tiết và Sổ Cái) là phù hợp.
    4. Chọn ………. nghiệp vụ trước ngày kết thúc niên độ
    và ………… nghiệp vụ sau ngày kết thúc niên độ để
    kiểm tra thủ tục phân chia niên độ của khách hàng là
    đúng đắn và phù hợp.

    II. Tiền gửi Ngân hàng và Tiền đang chuyển
    1. Xem xét có tài khoản nào được xác nhận mà đã hết
    số dư từ năm trước không. Bất kỳ tài khoản nào
    cũng đều phải được xác nhận.
    2. Lập bảng đối chiếu số dư ngân hàng.
    a. Kiểm tra cộng dồn. Xem xét các khoản bất thường
    (có giá trị lớn).
    b. Đối chiếu số dư trên sổ chi tiết với Sổ Cái và sổ phụ
    ngân hàng vào ngày kết thúc năm tài chính.
    c. Kiểm tra bảng đối chiếu của 2 tháng bất kỳ đối với
    từng tài khoản để xem xét các khoản bất thường và
    xác định lại thời gian, tính chính xác. Đồng thời, kiểm
    tra sự chấp thuận của người có thẩm quyền.
    3. Thu thập thư xác nhận của ngân hàng và kiểm tra ghi
    nhận trong sổ kế toán của đơn vị.
    – Giải thích các khoản chênh lệch nếu có tại thời điểm
    khóa sổ.
    – Kiểm tra lại tất cả các khoản tiền gửi chưa được
    ghi vào ngày cuối kỳ với sổ phụ ngân hàng sau ngày
    khóa sổ.
    4. Xem xét khoản tiền đang chuyển được liệt kê phản
    ánh trong “Tiền đang chuyển” là hợp lý (xem xét
    khoản tiền có giá trị lớn).
    a. Đối chiếu với sổ Tiền gửi ngân hàng, phiếu chuyển
    tiền ngân hàng về ngày, số tiền, diễn giải.
    b. Đối chiếu với sổ phụ ngân hàng cuối năm, phân chia
    niên độ về ngày, số tiền, diễn giải. Ghi chú các khoản
    tiền gửi được ngân hàng phản ánh sau ngày kết thúc
    năm tài chính.
    c. Xem xét các khoản tiền gửi được ngân hàng ghi
    chép trong khoảng thời gian hợp lý (1 – 2 ngày sau
    ngày đơn vị ghi sổ).
    d. Xem xét báo cáo tài chính năm trước và giấy tờ làm
    việc năm nay để thấy được các dữ liệu đối chiếu đã
    có trong hồ sơ.
    C. Thủ tục kiểm toán bổ sung
    – Xem xét các khoản số dư ngoại tệ đã được đánh giá
    theo tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng tại
    ngày kết thúc năm tài chính.
    – Các thủ tục khác (nếu có).
    ………………………………………………………………….

    96 TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212

  12. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    o Cuộc kiểm toán 2: Chương trình kiểm toán Hoạt động tín dụng, bảo lãnh, L/C:
    Đoàn kiểm tra thực hiện các nội dung kiểm tra chọn mẫu các nghiệp vụ cấp tín
    dụng, bảo lãnh, L/C theo các quy định pháp luật hiện hành và Ngân hàng
    TMCP KT, bao gồm và không hạn chế ở các điểm sau:
     Kiểm tra tính đầy đủ, tính pháp lý của các hồ sơ tín dụng, bảo lãnh, L/C
    trong thời hiệu kiểm tra (hồ sơ pháp lý, hồ sơ tài chính, hồ sơ vay vốn, hồ
    sơ giải ngân, hồ sơ TSBĐ).
     Đánh giá việc chấp hành các quy trình nghiệp vụ cấp tín dụng, các quy định
    về sản phẩm tín dụng.
     Đánh giá việc tuân thủ thẩm quyền phê duyệt tín dụng.
     Đánh giá việc thực hiện, tuân thủ các điều kiện cấp tín dụng theo phê duyệt.
     Đánh giá việc thu lãi, điều chỉnh lãi suất định kỳ theo quy định.
     Đánh giá tình hình kiểm tra, giám sát khoản vay, TSBĐ sau khi cho vay;
    công tác định giá và định giá lại TSBĐ; sự phối hợp quản lý TSBĐ sau khi
    cho vay giữa Chi nhánh và các bộ phận có liên quan; công tác lưu trữ TSBĐ.
     Kiểm tra trực tiếp tình hình sử dụng vốn vay, tình hình sản xuất kinh doanh,
    tình hình tài chính, tình trạng TSBĐ của khách hàng (nếu thấy cần thiết).
     Đánh giá công tác đôn đốc thu nợ quá hạn và sự phối kết hợp giữa các bộ
    phận có liên quan (nếu có).
     Đánh giá việc tuân thủ quy trình quản lý, phát hành thẻ tín dụng cho khách
    hàng (phát hành, giao thẻ, kích hoạt, lưu hồ sơ).
    Mặc dù, xét về mặt tổng thể, tất cả các kế hoạch kiểm toán đã được hình thành
    trong giai đoạn đầu của cuộc kiểm toán, nhưng khi cần thiết (chẳng hạn, khi có
    những sự kiện quan trọng chưa được thu thập trước khi lập kế hoạch kiểm toán),
    kiểm toán viên phải cập nhật và điều chỉnh kế hoạch kiểm toán tổng thể và chương
    trình kiểm toán trong suốt quá trình thực hiện cuộc kiểm toán.

    5.1.2.2. Thực hành kiểm toán
    Thực hành kiểm toán là quá trình thực hiện đồng bộ các công việc đã ấn định trong kế
    hoạch, chương trình kiểm toán. Thực chất của quá trình này là Kiểm toán viên áp
    dụng các phương pháp kiểm toán để thu thập, đánh giá các bằng chứng kiểm toán theo
    kế hoạch và chương trình kiểm toán đã thiết kế. Để đảm bảo thực hiện hiệu quả các
    mục tiêu đã đề ra, Kiểm toán viên phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
    Thứ nhất: Kiểm toán viên phải tuyệt đối tuân thủ chương trình kiểm toán đã được xây
    dựng. Trong mọi trường hợp, kiểm toán viên không được tự ý thay đổi chương trình.
    Chương trình kiểm toán là sản phẩm của giai đoạn 1 của cuộc kiểm toán, nó đã được
    chuẩn bị kỹ lưỡng bởi các Kiểm toán viên có trình độ tương xứng dựa vào mục tiêu và
    đặc điểm của đối tượng kiểm toán, vì vậy nó là sự chỉ dẫn rất tốt cho những người
    thực hiện, đồng thời là cơ sở đảm bảo cuộc kiểm toán đạt được yêu cầu đã đề ra.
    Thứ hai: Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thường xuyên ghi chép
    những phát giác, những nhận định về các nghiệp vụ, các con số các sự kiện… nhằm
    tích luỹ bằng chứng, nhận định cho những kết luận kiểm toán và loại trừ những ấn
    tượng, nhận xét ban đầu không chính xác về nghiệp vụ, các sự kiện thuộc đối tượng
    kiểm toán.

    TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212 97

  13. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    Nội dung của Chương 5 – Giáo trình Lý thuyết kiểm toán đã đề cập đến Bằng chứng
    kiểm toán. Đây là cơ sở để chứng minh cho các kết luận kiểm toán. Vì vậy, để có thể
    đưa ra kết luận kiểm toán xác đáng, Kiểm toán viên phải tích lũy các bằng chứng kiểm
    toán (BCKT) đảm bảo đạt được 2 tiêu chuẩn: đầy đủ và có giá trị. Mỗi một tiêu chuẩn
    đều bị chi phối bởi các nhân tố, chẳng hạn: giá trị của BCKT chịu ảnh hưởng bởi loại
    hình bằng chứng kiểm toán, nguồn gốc thu thập BCKT, kiểm soát nội bộ của khách
    thể kiểm toán, sự kết hợp giữa các bằng chứng; hay số lượng bằng chứng thì lại phụ
    thuộc vào mức độ rủi ro, mức trọng yếu và tính hiệu lực của BCKT. Như vậy, để có
    được ý kiến một cách thuyết phục thì Kiểm toán viên cần cân nhắc đầy đủ các yếu tố
    trên khi thu thập các bằng chứng.
    Ví dụ:
     Để đánh giá về sự tồn tại thực tế của tài sản hữu
    hình thì Biên bản kiểm kê (do Kiểm toán viên
    trực tiếp tham gia kiểm kê) có giá trị cao.
     Để xác định số dư tiền gửi ngân hàng có phù
    hợp so với số liệu do doanh nghiệp cung cấp thì
    thư xác nhận tiền gửi ngân hàng do Kiểm toán
    viên lập và gửi cho ngân hàng đề nghị xác nhận
    là bằng chứng được cho là có giá trị. Tuy nhiên, tùy vào khả năng kiểm soát từ
    khâu lập đến khâu thu hồi thư của Kiểm toán viên mà giá trị của bằng chứng là
    khác nhau.
    Thứ ba: Định kỳ tổng hợp kết quả kiểm toán (trên các bảng tổng hợp) để nhận rõ mức
    độ thực hiện so với khối lượng công việc chung.
    Trong kế hoạch kiểm toán tổng thể, người phụ trách chung công tác kiểm toán sẽ nêu
    rõ thời hạn kiểm toán cho từng phần hành. Vì vậy, để đảm bảo tiến độ chung cho cuộc
    kiểm toán, các Kiểm toán viên cần phải tổng hợp kết quả kiểm toán định kỳ để đảm
    bảo kế hoạch kiểm toán được diễn ra đúng theo kế hoạch
    Thứ tư: Mọi điều chỉnh về nội dụng, phạm vi, trình tự kiểm toán… đều phải có ý kiến
    thống nhất của người phụ trách chung công việc kiểm toán (chủ thể) và người ký
    thư mời và hợp đồng kiểm toán (khách hàng) – nếu có. Mức độ pháp lý của những
    điều chỉnh này phải tương ứng với tính pháp lý trong lệnh kiểm toán hoặc hợp đồng
    kiểm toán.
    Khi các Kiểm toán viên trong đoàn kiểm toán nhận thấy có các sự kiện không mong
    muốn hay không phát hiện được khi lập kế hoạch kiểm toán thì các Kiểm toán viên
    phải thông báo cho người phụ trách công tác kiểm toán. Sự khác biệt này có thể dẫn
    tới việc phải điều chỉnh từ kế hoạch chiến lược cho tới kế hoạch tổng thể và theo đó
    dẫn tới sự thay đổi trong nội dung, lịch trình phạm vi của các thủ tục kiểm toán đã
    được lập.
    Ví dụ: Khi thu thập thông tin ban đầu cho cuộc kiểm toán tài chính năm 2013 tại ngân
    hàng VPB, Kiểm toán viên không có thông tin về việc từ chức của Tổng giám đốc
    ngân hàng. Đây là dấu hiệu thể hiện ngân hàng có thể không còn hoạt động liên tục
    được. Vì vậy, Kiểm toán viên đã thông báo cho người phụ trách chung công tác kiểm
    toán. Nội dung của cuộc kiểm toán đã được sửa đổi, trong đó có bổ sung những thủ
    tục kiểm toán nhằm đánh giá sự việc đó có ảnh hưởng như thế nào đến ngân hàng, tìm
    hiểu nguyên nhân của sự từ chức và khoanh vùng các rủi ro có thể có từ sự việc này.

    98 TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212

  14. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    5.1.2.3. Kết thúc kiểm toán
    Tùy thuộc vào cuộc kiểm toán với những loại hình
    và đối tượng cụ thể mà các công việc cơ bản có thể
    khác nhau.
    Ví dụ: Đối với một loại hình kiểm toán cụ thể như
    kiểm toán tài chính, để có thể đưa ra kết luận kiểm
    toán và lập báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải
    tiến hành hàng loạt công việc sau: xem xét các khoản nợ ngoài dự kiến; xem xét các
    sự kiện xảy ra sau ngày kết thúc niên độ; xem xét giả thuyết về tính liên tục trong hoạt
    động của đơn vị; thu thập thư giải trình của Ban giám đốc đơn vị; tổng hợp kết quả
    kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán.
    Ví dụ: Đối với kiểm toán hoạt động, để có thể đưa ra kết luận kiểm toán và lập báo
    cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải tiến hành lập dự thảo báo cáo, thu thập bình luận
    của người có trách nhiệm, dựa vào những bình luận này để đưa ra báo cáo chính thức.
    Nội dung và hình thức cụ thể của kết luận hay báo cáo kiểm toán rất đa dạng tùy theo
    mục tiêu, phạm vi, loại hình kiểm toán. Tuy nhiên về mặt khoa học cũng cần khái quát
    các yêu cầu và nội dung cơ bản của kết luận và báo cáo hoặc biên bản kiểm toán.
    Kết luận kiểm toán là sự khái quát kết quả thực hiện các chức năng kiểm toán trong
    từng cuộc kiểm toán cụ thể. Vì vậy để kết luận kiểm toán phải bảo đảm yêu cầu cả về
    nội dung cũng như tính pháp lý.
    Về nội dung, kết luận kiểm toán phải phù hợp và đầy đủ. Sự phù hợp của kết luận
    kiểm toán là sự nhất quán giữa kết luận nêu ra với mục tiêu kiểm toán (đã nêu trong
    kế hoạch hoặc hợp đồng hay lệnh kiểm toán). Sự đầy đủ của kết luận kiểm toán tức là
    kết luận kiểm toán phải bao hàm toàn bộ yêu cầu, phạm vi kiểm toán đã xác định và
    được điều chỉnh (nếu có): mọi khía cạnh khác nhau về nội dung đã xác định trong yêu
    cầu và mọi bộ phận thuộc phạm vi kiểm toán đã nêu trong kế hoạch kiểm toán hoặc
    được điều chỉnh (nếu có) đều phải được bao hàm trong kết luận kiểm toán.
    Tính pháp lý của kết luận trước hết đòi hỏi những bằng chứng tương xứng theo yêu
    cầu của các quy chế, chuẩn mực và luật pháp. Đồng thời, tính pháp lý này cũng đòi
    hỏi các kết luận phải chuẩn xác trong từ ngữ và văn phạm. Chẳng hạn, kết luận kiểm
    toán không được dùng các cụm từ “nói chung là…” “tương đối là…”.
    Chẳng hạn: hiện nay trong kiểm toán tài chính, kết luận kiểm toán được chia thành 2
    nhóm: ý kiến chấp nhận toàn phần và ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần
    (gồm ý kiến kiểm toán ngoại trừ, ý kiến kiểm toán trái ngược, và ý kiến từ chối).
    Ý kiến chấp nhận toàn phần: Là ý kiến được đưa ra khi kiểm toán viên kết luận rằng
    báo cáo tài chính đã được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về
    lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng (Đoạn 35 – 36 Chuẩn mực này quy
    định các mẫu câu được sử dụng để trình bày ý kiến kiểm toán trong trường hợp đơn vị
    được kiểm toán áp dụng khuôn khổ về trình bày hợp lý và khuôn khổ về tuân thủ).
    Ý kiến kiểm toán ngoại trừ:
    Kiểm toán viên phải trình bày “ý kiến kiểm toán ngoại trừ” khi:
    a) Dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp đã thu thập được, kiểm toán
    viên kết luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại, có ảnh hưởng trọng yếu
    nhưng không lan tỏa đối với báo cáo tài chính; hoặc

    TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212 99

  15. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    b) Kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp
    để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán, nhưng kiểm toán viên kết luận rằng những
    ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện (nếu có) có thể là trọng
    yếu nhưng không lan tỏa đối với báo cáo tài chính.
    Ý kiến kiểm toán trái ngược:
    Kiểm toán viên phải trình bày “ý kiến kiểm toán trái
    ngược” khi dựa trên các bằng chứng kiểm toán đầy
    đủ, thích hợp đã thu thập được, kiểm toán viên kết
    luận là các sai sót, xét riêng lẻ hay tổng hợp lại,
    có ảnh hưởng trọng yếu và lan tỏa đối với báo cáo
    tài chính.
    Từ chối đưa ra ý kiến:
    Kiểm toán viên phải từ chối đưa ra ý kiến khi kiểm toán viên không thể thu thập được
    đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán và kiểm
    toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót chưa được phát hiện
    (nếu có) có thể là trọng yếu và lan tỏa đối với báo cáo tài chính.
    Ví dụ: Có thể hình dung được yêu cầu về nội dung và tính pháp lý qua ý kiến kiểm
    toán trái ngược của Kiểm toán viên công ty TNHH Dịch vụ kiểm toán, kế toán và tư
    vấn thuế AAT sau khi tiến hành kiểm toán BCTC của Công ty cổ phần đầu tư và xây
    lắp dầu khí Sài Gòn cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2013.
    Theo ý kiến của chúng tôi, do ảnh hưởng quá trọng yếu của các vấn đề nêu trên,
    BCTC không phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu tình hình tài
    chính của Công ty cổ phần đầu tư và xây lắp dầu khí Sài Gòn tại thời điểm 31/12/2013,
    cũng như kết quả kinh doanh và luồng lưu chuyển tiền tệ cho năm tài chính kết thúc
    cùng ngày, không phù hợp với chuẩn mực kế toán, và chế độ kế toán doanh nghiệp
    Việt Nam hiện hành.
    Báo cáo hoặc biên bản kiểm toán là hình thức biểu hiện các chức năng kiểm toán và
    thể hiện kết luận kiểm toán.
    Biên bản kiểm toán thường được sử dụng trong kiểm toán nội bộ hoặc trong từng
    phần kiểm toán báo cáo tài chính (biên bản kiểm tra tài sản, biên bản xác minh tài liệu
    hay sự việc…).
    Biên bản kiểm toán thường cần có những yếu tố cơ bản sau:
    1. Khái quát lý do (mục tiêu) kiểm toán.
    2. Nêu cụ thể cơ cấu, chức trách của những người tham gia.
    3. Khái quát quá trình kiểm toán đặc biệt những diễn biến không bình thường.
    4. Tổng hợp kết quả kiểm toán.
    5. Kết luận kiểm toán (kèm theo các bằng chứng kiểm toán).
    6. Nêu kiến nghị.
    7. Ghi rõ thời gian lập biên bản.
    8. Tên và chữ ký của những người phụ trách.
    Báo cáo kiểm toán là hình thức biểu hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về báo
    cáo tài chính được kiểm toán phục vụ yêu cầu của những người quan tâm cụ thể. Nội
    dung cơ bản của một báo cáo cũng cần có những yếu tố cơ bản:

    100 TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212

  16. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    1. Nơi gửi.
    2. Đối tượng kiểm toán.
    3. Cơ sở thực hiện kiểm toán.
    4. Kết luận kiểm toán.
    5. Nơi lập và ngày lập báo cáo.
    6. Chữ ký của kiểm toán viên.
    Kèm theo báo cáo kiểm toán có thể có “Thư quản lý” gửi cho người quản lý để nêu
    lên những kiến nghị của kiểm toán viên trong công tác quản lý.
    Ví dụ: Xem nội dung của Thư quản lý.

    5.2. Tổ chức bộ máy kiểm toán
    Tổ chức kiểm toán bao gồm 2 phân hệ: tổ chức công tác kiểm toán và tổ chức bộ máy
    kiểm toán. Tổ chức bộ máy kiểm toán với những mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động
    linh hoạt nhằm thích ứng với đặc điểm của đối tượng và khách thể kiểm toán trong các
    cuộc kiểm toán cụ thể và hướng tới việc thực hiện các chức năng của kiểm toán. Phần
    này giới thiệu từ ý nghĩa, nguyên tắc và nhiệm vụ của tổ chức bộ máy kiểm toán đồng
    thời đề cập chi tiết các nội dung về tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ, tổ chức bộ máy
    kiểm toán độc lập và tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nước.
    Nội dung chính:
     Nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức bộ máy kiểm toán.
     Tổ chức các bộ máy kiểm toán: tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ, tổ chức bộ máy
    kiểm toán độc lập, tổ chức bộ máy kiểm toán nhà nước.

    5.2.1. Nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức bộ máy kiểm toán
    Nguyên tắc
     Phải xây dựng đội ngũ kiểm toán viên đủ về số
    lượng và bảo đảm yêu cầu, chất lượng phù hợp
    với từng bộ máy kiểm toán.
     Hệ thống bộ máy kiểm toán phải bao gồm các
    phân hệ chứa đựng các mối liên hệ trong – ngoài
    khác nhau phù hợp với nguyên tắc chung của lý
    thuyết tổ chức và phù hợp với quy luật của phép
    biện chứng về mối liên hệ.
     Tổ chức bộ máy kiểm toán phải quán triệt nguyên
    tắc chung của mọi hệ thống tổ chức bộ máy: tập trung, dân chủ thích ứng với từng
    bộ phận kiểm toán.
    Nhiệm vụ
     Xây dựng mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán phù hợp với từng đơn vị kiểm toán.
     Xác định kiểu liên hệ trong từng mô hình kiểm toán.
     Xác định mối liên hệ giữa các yếu tố cơ bản cấu thành hệ thống bộ máy kiểm toán
    – kiểm toán viên.

    TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212 101

  17. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    5.2.2. Tổ chức các bộ máy kiểm toán
    Tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập
    Bộ máy kiểm toán độc lập là tổ chức của các kiểm toán viên chuyên nghiệp kinh
    doanh dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có liên quan. Đây là tổ chức duy nhất có
    thu phí kiểm toán.
    Mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán độc lập:
     Văn phòng kiểm toán tư được hình thành bởi một hoặc vài kiểm toán viên độc lập
    để kinh doanh dịch vụ kiểm toán và các dịch vụ khác có liên quan (ở Việt Nam
    chưa có mô hình văn phòng kiểm toán tư.)
     Công ty kiểm toán là mô hình tổ chức bộ máy chủ yếu, thu hút số lượng lớn các
    kiểm toán viên độc lập, dưới hình thức là các công ty TNHH, công ty tư nhân và
    công ty hợp danh.
    Tổ chức bộ máy kiểm toán Nhà nước
    Bộ máy kiểm toán nhà nước là hệ thống tập hợp những viên chức nhà nước để thực
    hiện chức năng kiểm toán ngân sách và tài sản công.
     Trong quan hệ với bộ máy nhà nước, kiểm toán nhà nước có thể độc lập với hệ
    thống lập pháp và hệ thống hành pháp hoặc trực thuộc 1 trong 2 hệ thống trên.
    o Mô hình kiểm toán nhà nước độc lập với Quốc hội và Chính phủ.

    Bộ máy Nhà nước

    Ban hành luật
    Kiểm toán Quốc Chính Toà
    Nhà nước hội phủ án
    Bổ Duyệt Ngân sách
    nhiệm Giám sát

    Các bộ của
    Các ban của quốc hội chính phủ

    Ghi chú:
    : Liên hệ trong tổ chức
    : Quan hệ chỉ đạo
    : Quan hệ đặt hàng kiểm tóan
    : Quan hệ kiểm toán

    Sơ đồ 5.1: Kiểm toán Nhà nước tổ chức độc lập với Quốc hội và Chính phủ

    o Mô hình kiểm toán nhà nước thuộc Quốc hội.
    o Mô hình kiểm toán nhà nước thuộc Chính phủ.

    102 TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212

  18. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

     Trong quan hệ nội bộ, kiểm toán nhà nước lại có thể liên hệ theo chiều dọc và theo
    chiều ngang.
    o Liên hệ ngang: là mối liên hệ nội bộ trong cơ quan kiểm toán cùng cấp (trung
    ương hoặc địa phương). Liên hệ này có thể trực tuyến hoặc chức năng.
    o Liên hệ dọc: có 2 mô hình chủ yếu:
     Mô hình 1: Cơ quan kiểm toán nhà nước trung ương có mạng lưới ở tất cả
    các địa phương.
     Mô hình 2: Cơ quan kiểm toán nhà nước trung ương có mạng lưới kiểm toán ở
    từng khu vực.
    Tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ
    Bộ máy kiểm toán nội bộ là hệ thống tổ chức của các kiểm toán viên do đơn vị tự lập
    ra theo yêu cầu quản trị nội bộ và thực hiện nề nếp, kỷ cương quản lý trong đơn vị.
    Thông thường, kiểm toán nội bộ được lập ra do 1 tập thể thường bao gồm thành viên
    của hội đồng quản trị (không kiêm nhiệm chức vụ quản lý) và các chuyên gia am hiểu
    trong từng lĩnh vực. Kiểm toán nội bộ vừa có trách nhiệm trong tổ chức hoạt động
    kiểm toán nội bộ (nội kiểm), vừa có trách nhiệm tạo lập mối quan hệ với chủ thể kiểm
    toán từ bên ngoài (ngoại kiểm).
    Mô hình tổ chức bộ máy kiểm toán nội bộ:
     Bộ phận kiểm toán nội bộ: thích hợp với các tổng công ty hoặc các doanh nghiệp
    có quy mô lớn.
     Giám định viên: Một chuyên gia – thích hợp với các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
    HỘI ĐỒNG
    QUẢN TRỊ

    UỶ BAN
    KIỂM SOÁT
    TỔNG
    GIÁM ĐỐC

    KIỂM TOÁN
    NỘI BỘ

    ĐƠN VỊ PHÒNG BAN
    SẢN XUẤT CHỨC NĂNG

    Sơ đồ 5.2: Mô hình tổ chức có bộ phân kiểm toán nội bộ

    5.3. Chuẩn mực kiểm toán
    Kiểm toán cũng được xem như một nghề cùng với các nghề khác. Mà trong tất cả mọi
    ngành nghề đều tồn tại các quy tắc, chuẩn mực nhằm điều tiết hành vi của các thành
    viên trong nghề theo một hướng nhất định bảo đảm uy tớn nghề nghiệp nói chung và
    để kiểm soát chất lượng công việc của các thành viên nói riêng.
    Nội dung chính:
    1. Khái quát chung về chuẩn mực kiểm toán.
    2. Chuẩn mực kiểm toán được thừa nhận rộng rãi.
    3. Xây dựng chuẩn mực kiểm toán.

    TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212 103

  19. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    5.3.1. Khái quát chung về chuẩn mực kiểm toán
    Chuẩn mực: là những nguyên tắc hay tiêu chuẩn tối thiểu để các thành viên tuân theo
    và làm cơ sở đánh giá chất lượng công việc.
    Chuẩn mực kiểm toán: là những quy phạm pháp lý, là thước đo chung về chất lượng
    công việc kiểm toán và cơ sở điều tiết hành vi của kiểm toán viên và các bên liên quan
    theo hướng đạo và mục tiêu xác định.
    Chuẩn mực kiểm toán có nhiều hình thức biểu hiện khác nhau, biểu hiện chủ yếu ỏ 2
    hình thức cơ bản:
     Luật kiểm toán: là những chế định cụ thể do Quốc hội ban hành, và chính phủ sẽ
    ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể.
     Hệ thống chuẩn mực kiểm toán cụ thể: bao gồm những nguyên tắc cơ bản về
    nghiệp vụ và về việc xử lý các mối quan hệ phát sinh trong quá trình kiểm toán.
    Ngoài ra, chẩn mực kiểm toán cụ thể là những hướng dẫn, những giải thích về
    những nguyên tắc cơ bản để kiểm toán viên có thể áp dụng trong thực tế, để đo
    lường và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán.

    5.3.2. Những chuẩn mực kiểm toán được chấp nhận phổ biến (Generally accepted
    auditing standards – GAAS)
    Chuẩn mực kiểm toán chung được thừa nhận rộng
    rãi gồm mười chuẩn mực. Mười chuẩn này được
    chia thành 3 nhóm: nhóm chuẩn mực chung, nhóm
    chuẩn mực thực hành và nhóm chuẩn mực báo cáo.
     Nhóm chuẩn mực chung: Nhóm này gồm 3
    chuẩn mực và được áp dụng trong tất cả các giai
    đoạn của một cuộc kiểm toán. Chúng bao gồm
    các chuẩn mực đào tạo nghiệp vụ và sự thành
    thạo chuyên môn, tính độc lập, cũng như sự thận trọng nghề nghiệp thích đáng.
    Cụ thể:
    o Việc kiểm toán phải do một người hay một nhóm được đào tạo nghiệp vụ
    tương xứng và thành thạo chuyên môn như một kiểm toán viên thực hiện.
    o Trong tất cả các vấn đề liên quan tới cuộc kiểm toán kiểm toán viên phải giữ
    một thái độ độc lập
    o Kiểm toán viên phải duy trì sự thận trọng nghề nghiệp đúng mực trong suốt
    cuộc kiểm toán (lập kế hoạch, thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán).
     Nhóm chuẩn mực thực hành: Ba chuẩn mực thực hành này yêu cầu kiểm toán
    viên phải tuân thủ khi thực hiện công việc kiểm toán thực tế. Những chuẩn mực
    này đề cập tới việc lập kế hoạch và giám sát công việc kiểm toán, đánh giá hệ
    thống kiểm soát nội bộ và thu thập đầy đủ các bằng chứng có hiệu lực. Cụ thể:
    o Phải lập kế hoạch chu đáo cho công việc kiểm toán và giám sát chặt chẽ những
    người giúp việc nếu có.
    o Phải hiểu biết đầy đủ về hệ thống kiểm toán nội bộ để lập kế hoạch kiểm toán
    và xác định nội dung, thời gian và quy mô của các thử nghiệm sẽ thực hiện.

    104 TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212

  20. Bài 5: Tổ chức kiểm toán

    o Phải thu được đầy đủ bằng chứng có hiệu lực thông qua việc kiểm tra, quan sát,
    thẩm vấn và xác nhận để có được những cơ sở hợp lý cho ý kiến về báo cáo tài
    chính được kiểm toán.
     Các chuẩn mực báo cáo: Bốn chuẩn mực báo cáo cung cấp cho kiểm toán viên
    những chỉ dẫn để lập báo cáo kiểm toán. Những chuẩn mực này nhấn mạnh về việc
    báo cáo kiểm toán phải đưa ra được những vấn đề có liên quan tới tuân thủ các
    nguyên tắc kế toán được thừa nhận rộng rãi, tính nhất quán, sự trình bày khai báo,
    và việc đưa ra ý kiến trên báo cáo kiểm toán. Cụ thể:
    o Báo cáo kiểm toán phải xác nhận bảng khai tài chính có được trình bày phù
    hợp với những nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi hay không.
    o Báo cáo kiểm toán phải chỉ ra các trường hợp không nhất quán về nguyên tắc
    giữa kỳ này với các kỳ trước.
    o Phải xem xét các khai báo trên bảng khai tài chính có đầy đủ một cách hợp lý
    không tra những trường hợp khác được chỉ ra trong báo cáo.
    o Báo cáo kiểm toán phải đưa ra ý kiến về toàn bộ bảng khai tài chính hoặc
    khẳng định không thể đưa ra ý kiến được kiến theo việc nêu ra lý do. Trong
    mọi trường hợp ký tên vào báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải nêu ra trong
    báo cáo đặc điểm cuộc kiểm toán và mức độ trách nhiệm của kiểm toán viên.

    5.3.3. Đặc điểm của hệ thống chuẩn mực kiểm toán cụ thể trong các bộ máy
    kiểm toán
    Trong phân hệ Kiểm toán độc lập, các chuẩn mực
    nghề nghiệp cụ thể được dựa trên nguyên tắc chỉ
    đạo của kiểm toán quốc tế và các chuẩn mực được
    chấp nhận phổ biến (GAAS). Tuy nhiên, cũng còn
    tùy thuộc vào đặc điểm của từng quốc gia để từ đó
    hình thành hệ thống chuẩn mực kiểm toán cụ thể
    đối với kiểm toán độc lập của từng nước.
    Ngược lại, với Kiểm toán nhà nước, ngoài tính nghề nghiệp của kiểm toán viên còn
    đặc tính tổ chức của các cơ quan kiểm toán nhà nước. Cụ thể trong bộ máy nhà nước,
    ở những nước đã hình thành cơ quan Kiểm toán nhà nước (SAI) và hầu hết các cơ
    quan này đã gia nhập Tổ chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán nhà nước (INTOSAI).
    Trong tình hình đó, trách nhiệm và quyền hạn của Kiểm toán nhà nước trong bộ máy
    nhà nước trước hết đặt lên vai cơ quan kiểm toán nhà nước có gắn với trách nhiệm cá
    nhân của kiểm toán viên. Do đó, hệ thống chuẩn mực của kiểm toán nhà nước phải thể
    hiện trên cả 2 phía: Cơ quan Kiểm toán nhà nước và cá nhân kiểm toán viên. Cụ thể,
    với các chuẩn mực chung được chấp nhận phổ biến (GAAS), INTOSAI đã cụ thể hóa
    trong chuẩn mực của mình thành 2 loại:
    Loại I: Những chuẩn mực chung cho kiểm toán viên và cơ quan Kiểm toán nhà nước (SAI):
    1. Kiểm toán viên và cơ quan Kiểm toán nhà nước phải có năng lực đáp ứng yêu cầu
    kiểm toán.
    2. Kiểm toán viên và cơ quan Kiểm toán nhà nước phải độc lập.
    3. Kiểm toán viên và cơ quan Kiểm toán nhà nước phải thận trọng trong lập kế hoạch,
    trong thu thập và đánh giá các bằng chứng, trong kết luận và lập báo cáo kiểm toán.

    TXKTKI03_Bai5_v1.0015105212 105

Download tài liệu Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 5: Tổ chức kiểm toán File Word, PDF về máy