[Download] Tải Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán
Nội dung Text: Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

Download


Mời các bạn cùng tham khảo “Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán” để nắm chi tiết nội dung phân biệt được đối tượng của kiểm toán và khách thể kiểm toán; phân tích được các đối tượng của kiểm toán; khái niệm về các phương pháp kiểm toán; áp dụng được các phương pháp kiểm toán vào phần bài tập vận dụng.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán File Word, PDF về máy

Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

  1. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    BÀI 4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP KIỂM TOÁN

    Hướng dẫn học
    Để học tốt bài này, sinh viên cần tham khảo các phương pháp học sau:
     Học đúng lịch trình của môn học theo tuần, làm các bài luyện tập đầy đủ và tham gia
    thảo luận trên diễn đàn.
     Đọc tài liệu:
    Chương 4, Chương 6, Chương 7 trong cuốn giáo trình “Lý thuyết kiểm toán” – Chủ
    biên: GS.TS Nguyễn Quang Quynh và PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa.
     Sinh viên làm việc theo nhóm và trao đổi với giảng viên trực tiếp tại lớp học hoặc
    qua email.
     Tham khảo các thông tin từ trang Web môn học.
    Nội dung
    Trong bài 4 “Đối tượng và phương pháp trong kiểm toán” tập trung làm rõ các khái niệm
    cơ bản về đối tượng, khách thể kiểm toán và phương pháp kiểm toán. Cụ thể bài học gồm 3
    nội dung chính:
     Phần thứ nhất, trình bày về đối tượng kiểm toán, khách thể kiểm toán và diễn giải chi
    tiết đối tượng chung của kiểm toán cũng như các đối tượng cụ thể của kiểm toán.
     Phần thứ hai, sẽ trình bày những căn cứ để kiểm toán xây dựng các phân hệ phương
    pháp chung cho kiểm toán. Bên cạnh đó, phần này còn đề cập đến hệ thống phương
    pháp trong kiểm toán gồm: Phương pháp kiểm toán chứng từ (như Kiểm toán cân đối,
    Đối chiếu trực tiếp, Đối chiếu logic) và Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ (Kiểm
    kê, Thực nghiệm, Điều tra).
     Phần thứ ba làm rõ các khái niệm cơ bản trong chọn mẫu kiểm toán và tìm hiểu các
    phương pháp chọn mẫu được ứng dụng cho thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ
    bản. Trong đó có trình bày cách thức tiến hành chọn mẫu dựa trên đặc điểm của đối
    tượng theo các phương pháp chọn mẫu khác nhau.
    Mục tiêu
     Phân biệt được đối tượng của kiểm toán và khách thể kiểm toán.
     Phân tích được các đối tượng của kiểm toán.
     Trình bày được khái niệm về các phương pháp kiểm toán.
     Áp dụng được các phương pháp kiểm toán vào phần bài tập vận dụng.

    TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212 59

  2. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    Tình huống dẫn nhập
    Tình huống thứ nhất: Kiểm toán tại Tập đoàn Viễn thông Việt Nam (VNPT)
    Kiểm toán Nhà nước đã tiến hành kiểm toán Tập đoàn Viễn thông Việt Nam (VNPT) từ ngày 4/4
    – 6/6/2013. Theo thông báo của Kiểm toán Nhà nước, báo cáo tài chính năm 2012 của VNPT,
    ngoại trừ phạm vi và giới hạn kiểm toán, sau khi điều chỉnh số liệu theo kết quả kiểm toán là
    phản ánh trung thực về tình hình tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh và thu nộp ngân sách
    Nhà nước. Năm 2012, VNPT cơ bản thực hiện quản lý tài chính và hạch toán kế toán theo luật
    pháp, các chính sách, chế độ tài chính – kế toán của Nhà nước. Kiểm toán Nhà nước cũng đã chỉ
    ra những tồn tại và giúp VNPT chấn chỉnh, hoàn thiện cơ chế quản lý trên các lĩnh vực quản lý
    tiền; các khoản phải thu, phải trả; thu nhập, chi phí, kết quả sản xuất kinh doanh; tăng cường rà
    soát vật tư thiết bị đầu tư xây dựng cơ bản, tránh tồn đọng vốn nhằm đảm bảo việc công khai
    minh bạch của các doanh nghiệp nhà nước về tài chính trong giai đoạn mới.
    Tình huống thứ hai: Kiểm toán khoản mục hàng tồn kho
    Kiểm toán viên Nam đã thực hiện kiểm toán cho Công ty TNHH Trang trí Nội thất Mai Lê trong
    2 năm liên tiếp và năm nay tiếp tục thực hiện hợp đồng kiểm toán cho công ty này. Khi kiểm
    toán về khoản mục hàng tồn kho, Kiểm toán viên Nam tiến hành một số công việc sau:
     Cộng lại số dư cuối kỳ của các tài khoản hàng tồn kho và đối chiếu với số dư trên sổ chi tiết
    hàng tồn kho.
     So sánh số dư hàng tồn kho (kể cả số dư dự phòng) và cơ cấu hàng tồn kho năm nay so với
    năm trước, giải thích những biến động bất thường.
     So sánh tỷ trọng hàng tồn kho với tổng tài sản ngắn hạn năm nay so với năm trước, đánh giá
    tính hợp lý của những biến động.
     So sánh thời gian quay vòng của hàng tồn kho với năm trước và kế hoạch, xác định nguyên
    nhân biến động và nhu cầu lập dự phòng.
     Đối chiếu số liệu giữa báo cáo nhập, xuất, tồn kho với số liệu Sổ Cái và Bảng cân đối phát sinh.
     Đối chiếu chọn mẫu số lượng thực tế từ Bảng tổng hợp kết quả kiểm kê với báo cáo nhập,
    xuất, tồn kho và ngược lại.
     Kiểm tra chọn mẫu các nghiệp vụ mua hàng có giá trị lớn với các chứng từ mua để đảm bảo
    các số dư hàng đang đi đường tại ngày khóa sổ đã được ghi chép chính xác, đúng kỳ.
     Tiến hành chứng kiến kiểm kê của công ty.
     Qua quá trình tiến hành kiểm toán, Kiểm toán viên Nam thấy khoản mục hàng tồn kho của
    Công ty được ghi chép đầy đủ, đúng đắn, việc kiểm kê được tiến hành rất tốt và Kiểm toán
    viên Nam không phát hiện sai sót nào về hàng tồn kho.

    Tình huống thứ nhất:
    1. Đối tượng của cuộc kiểm toán này là gì?
    2. Khách thể kiểm toán là đơn vị nào?
    Tình huống thứ hai:
    1. Kiểm toán viên Nam đã sử dụng phương pháp kiểm toán nào được áp dụng
    trong cuộc kiểm toán?
    2. Điều kiện để áp dụng các phương pháp đó như thế nào?

    60 TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212

  3. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    4.1. Đối tượng của kiểm toán
    4.1.1. Khái quát chung về đối tượng và khách thể kiểm toán
    Đối tượng của kiểm toán là tất cả các vấn đề cần được kiểm toán trước hết và chủ yếu
    là thực trạng hoạt động tài chính trong các đơn vị.
    Đối tượng của kiểm toán trước hết là các tài liệu kế toán vì đây là đối tượng quan tâm
    trực tiếp của cả các nhà quản lý và những người quan tâm khác. Các tài liệu kế toán
    thường bao gồm bảng cân đối kế toán, bảng kết quả kinh doanh, các sổ sách, chứng từ
    kế toán… Nhưng với mọi người quan tâm, các con số và tài liệu kế toán không còn ý
    nghĩa nếu như không gắn liền với thực trạng tài chính của đơn vị kiểm toán. Có điều
    này là do tính phức tạp của quan hệ tài chính và giới hạn về trình độ, phương tiện xử
    lý thông tin nên kế toán không thể thu thập được tất cả các thông tin tài chính. Chính
    vì vậy, kiểm toán không chỉ giới hạn đối tượng ở tài liệu kế toán mà còn bao gồm cả
    thực trạng của hoạt động tài chính dù đã được phản ánh trong tài liệu kế toán hay
    chưa được phản ánh trong tài liệu kế toán. Hơn nữa để phù hợp với sự phát triển của
    kế toán và nhu cầu của quản lý, kiểm toán còn quan tâm tới các lĩnh vực khác của
    quản lý như hiệu quả sử dụng nguồn lực, hiệu năng của các chương trình, mục
    tiêu, dự án cụ thể…
    Như trong phần bài 1 đã giới thiệu các quan điểm
    về kiểm toán trong đó nhấn mạnh kiểm toán bao
    gồm 5 yếu tố cơ bản là chức năng, đối tượng, khách
    thể kiểm toán, chủ thể kiểm toán, cơ sở tiến hành.
    Trong đó cần phải phân biệt đối tượng kiểm toán
    với khách thể kiểm toán, theo đó khách thể kiểm
    toán có thể hiểu như sau:
    Khách thể kiểm toán là các đơn vị cụ thể mà đối tượng kiểm toán của kiểm toán
    được thực hiện trong đơn vị đó.
    Có 2 loại khách thể kiểm toán gồm:
     Khách thể kiểm toán bắt buộc là những đơn vị, tổ chức, cơ quan được các văn bản
    pháp quy của Nhà nước quy định phải được kiểm toán hằng năm bởi chủ thể
    kiểm toán.
     Khách thể tự nguyện: Các đơn vị không bắt buộc phải kiểm toán mà do bản thân
    đơn vị có nhu cầu và tự nguyện mời kiểm toán.
    Trong mối quan hệ với chủ thể kiểm toán có thể phân chia các khách thể kiểm toán
    như sau:
     Khách thể của kiểm toán Nhà nước: Thường là các đơn vị, cá nhân, có sử dụng
    ngân sách Nhà nước như: Các dự án, công trình do Ngân sách Nhà nước đầu tư,
    các doanh nghiệp Nhà nước, các đơn vị nghiệp công cộng, các cơ quan kinh tế, các
    đoàn thể xã hội, các cá nhân có nguồn từ Ngân sách Nhà nước…
     Khách thể của kiểm toán độc lập: Bao gồm các doanh nghiệp 100% vốn nước
    ngoài, các công ty liên doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn, các hợp tác xã và các
    chương trình dự án có nguồn kinh phí từ bên ngoài ngân sách Nhà nước…

    TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212 61

  4. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

     Khách thể của kiểm toán nội bộ: Bao gồm các bộ phận cấu thành trong đơn vị, các
    nghiệp vụ, các chương trình, dự án cụ thể trong đơn vị, các cá nhân trong đơn vị.
    Tóm lại, khách thể của kiểm toán có thể là đơn vị kế toán như các xí nghiệp, các đơn
    vị sự nghiệp hay cá nhân hoặc là một công trình, dự án cụ thể hoặc một bộ phận của
    một đơn vị nào đó…
    Khi một khách thể kiểm toán có quan hệ với một
    chủ thể kiểm toán nhằm thực hiện một nhiệm vụ
    xác định được gọi là một cuộc kiểm toán. Trong
    một cuộc kiểm toán thường bao gồm 5 yếu tố xác
    định sau:
     Đối tượng kiểm toán cụ thể.
     Chủ thể kiểm toán xác định.
     Khách thể kiểm toán tương ứng.
     Thời hạn kiểm toán cụ thể.
     Cơ sở tiến hành kiểm toán.

    4.1.2. Các yếu tố cấu thành đối tượng kiểm toán
    4.1.2.1. Thực trạng hoạt động tài chính – đối tượng chung của kiểm toán
     Khái niệm
    Hoạt động tài chính là dùng tiền để giải quyết các mối quan hệ kinh tế trong đầu
    tư, trong kinh doanh, trong phân phối và thanh toán nhằm đạt tới lợi ích kinh tế
    xác định.
    Ở đây, các mối quan hệ tài chính là nội dung bên trong của hoạt động tài chính và tiền
    chỉ là hình thức biểu hiện, là phương tiện để giải quyết các mối quan hệ kinh tế đó.
     Nguyên tắc thực hiện
    Để thực hiện tốt vấn đề này theo mục tiêu đã xác định, hoạt động tài chính phải
    tuân theo những nguyên tắc cơ bản sau:
    o Hoạt động tài chính phải có kế hoạch, mục tiêu, phương hướng cụ thể.
    Trong quan hệ kinh tế có liên quan tới nhiều khách thể khác nhau và từng giai
    đoạn cụ thể của hoạt động này đều có những hiệu quả khác nhau về kinh tế – xã
    hội, do đó, trong hoạt động tài chính phải có định hướng cho từng thời kỳ cụ thể,
    ở từng công việc cụ thể, đồng thời cần xác định và lựa chọn phương án tốt nhất.
    o Hoạt động tài chính phải đảm bảo đạt một lợi ích và tiết kiệm.
    Lợi ích là mục tiêu của hoạt động tài chính do đó trong các quan hệ kinh tế
    phải là các kết quả cụ thể đem lại như lợi nhuận trong kinh doanh hay kết quả
    thực hiện mục tiêu đề ra. Bên cạnh đó, việc tiết kiệm cần thực hiện để thu được
    lợi ích nhiều hơn.
    o Hoạt động tài chính phải đảm bảo tuân thủ pháp luật và thể lệ tài chính.
    Giải quyết các mối quan hệ kinh tế có liên quan đến nhiều khách thể đã được
    xác định trong pháp luật và được cụ thể hóa trong các chế độ tài chính cụ thể.
    Để giải quyết tốt mối quan hệ này nhất thiết hoạt động tài chính phải tuân thủ
    các chuẩn mực đã được xác định trong hệ thống pháp lý tại từng thời điểm cụ thể.

    62 TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212

  5. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

     Đặc điểm của hoạt động tài chính
    Thực trạng của hoạt động tài chính được phản ánh ở 2 phần rõ rệt:
    o Một phần được phản ánh trong tài liệu kế toán như: chứng từ gốc, sổ cái, sổ
    quỹ, sổ chi tiết, bảng tổng hợp…
    o Một phần khác chưa được phản ánh trong tài liệu kế toán.
    Do đó trong hệ thống phương pháp kiểm toán hình thành 2 phân hệ phương pháp
    kiểm toán để thích ứng với đối tượng của mình. Đó là phương pháp kiểm toán
    chứng từ (kiểm toán cân đối, đối chiếu trực tiếp, đối chiếu logic) nhằm kiểm toán
    phần thực trạng đã được phản ánh trên tài liệu kế toán. Còn phần chưa được thể
    hiện trên các tài liệu kế toán thì kiểm toán phải tạo lập các bằng chứng kiểm toán
    bằng phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ (kiểm kê, thực nghiệm và điều tra).

    4.1.2.2. Tài liệu kế toán – đối tượng cụ thể của kiểm toán
     Khái niệm
    o Tài liệu kế toán là hệ thống các chứng từ,
    sổ sách, các bảng biểu và báo cáo tài chính
    kế toán.
    o Theo Luật kế toán: Tài liệu kế toán là chứng
    từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính, báo cáo kế
    toán quản trị, báo cáo kiểm toán, báo cáo
    kiểm tra kế toán và các tài liệu khác có liên
    quan đến kế toán.
     Tài liệu kế toán trước hết là bảng khai tài chính được nhiều người quan tâm nên là
    đối tượng trực tiếp và thường xuyên của mọi cuộc kiểm toán. Vì:
    o Tài liệu kế toán (đặc biệt là các bảng khai tài chính) không chỉ là cơ sở để tổng
    kết các chỉ tiêu ở phạm vi rộng, cũng không chỉ để kiểm tra, lưu trữ tài liệu và
    bảo vệ tài sản mà là cơ sở cho mọi người quan tâm ra các quyết định về quản
    lý, về đầu tư, về thanh toán, về phân phối…
    o Mặt khác, trong cơ chế thị trường số lượng người quan tâm đến tài liệu kế toán
    cũng tăng lên song quan trọng là đòi hỏi của họ với chất lượng tài liệu kế toán
    cũng cao hơn…
    o Ngoài ra cũng phải kể đến tính phức tạp của quá trình xử lý thông tin kế toán
    cũng như kết cấu của các bảng khai tài chính làm cho những người quan tâm
    và các kế toán viên cũng gặp những khó khăn trong việc phản ánh các quan hệ
    phức tạp, đặc biệt là những quan hệ mới phát sinh.
    o Thêm vào đó phải kể đến sự cách biệt về chuẩn mực kế toán và các điều kiện
    thực hiện nó giữa các nước, giữa các thời kỳ… dẫn đến sự nhận thức khác nhau
    và tổ chức khác nhau, nhất là sự thay đổi của chế độ kế toán…
    Tất cả những thực tế đó đòi hỏi kiểm toán phải được thực hiện trước tiên đối với
    tài liệu kế toán để tạo niềm tin cho người quan tâm và thường xuyên hướng dẫn
    nghiệp vụ, củng cố nền nếp và cải tiến tổ chức… để nâng cao chất lượng kế toán.

    TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212 63

  6. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

     Khi kiểm toán các tài liệu kế toán thì kiểm toán viên cần hướng vào việc kiểm tra
    các đối tượng cụ thể:
    o Tính hiện thực của các con số (thông tin đã
    được lượng hóa).
     Tính hiện hữu: các nghiệp vụ được ghi
    chép trên sổ sách thực sự xảy ra trên
    thực tế.
     Tính trọn vẹn, đầy đủ: các nghiệp vụ đã
    xảy ra cần được ghi chép đầy đủ.
    o Tính hợp pháp của các biểu mẫu, của trình tự
    lập và luân chuyển các tài liệu kế toán.
    o Tính hợp lý của các đối tượng kế toán phù hợp với nội dung của các nghiệp vụ
    kinh tế phát sinh.
    o Tính pháp lý trong việc thực hiện các luật pháp, chuẩn mực và chế độ kế toán
    tài chính.

    4.1.2.3. Thực trạng tài sản và các nghiệp vụ tài chính – đối tượng cụ thể của kiểm toán
     Trong một đơn vị kinh doanh hay sự nghiệp, tài sản dược biểu hiện dưới nhiều
    hình thái vật chất khác nhau với yêu cầu về quy cách, phẩm chất, bảo quản, bảo
    dưỡng… khác nhau, lại được lưu trữ trên nhiều kho, bãi khác nhau với những
    người quản lý khác nhau.
    Mối liên hệ giữa những người quản lý với nhau cũng như giữa người quản lý với
    người sở hữu tài sản được thực hiện theo những xu hướng và phương thức khác
    nhau song có xu hướng ngày càng tăng dần sự cách biệt giữa người sở hữu với
    người bảo quản và sử dụng tài sản.
    Mặt khác, khi sản xuất phát triển, quy mô tài sản cũng tăng lên, quy mô kinh doanh
    mở rộng, các mối liên kết kinh tế ngày càng đa dạng, phức tạp… dẫn đến khả năng
    cách biệt giữa tài sản với sự phản ánh của nó trong thông tin kế toán…
    Thực tế đó đã thúc đẩy sự ra đời của kiểm toán cùng tính tất yếu phải đặt thực
    trạng của tài sản vào đối tượng kiểm toán.
     Tài sản trong kinh doanh có dạng vật chất và nguồn hình thành đa dạng, chúng
    luôn vận động và được thể hiện bởi các nghiệp vụ cụ thể. Dựa trên quá trình vận
    động này, đặc tính riêng của từng loại tài sản, mối quan hệ kinh tế của mỗi loại và
    sự đa dạng của các nghiệp vụ nên kiểm toán được chia thành các phần hành kiểm
    toán cụ thể phù hợp với đối tượng của mình. Các phần hành kiểm toán bao gồm:
    o Kiểm toán các nghiệp vụ về tiền mặt hoặc quỹ.
    Đặc điểm của phần hành này là tiền mặt có biên độ giao động lớn và khả năng
    rủi ro lớn nên cần phải tiến hành kiểm toán các nghiệp vụ tiền mặt thường
    xuyên và toàn diện.
    o Kiểm toán các nghiệp vụ về giao dịch và thanh toán.
    Có rất nhiều loại nghiệp vụ về giao dịch nên khi tiến hành kiểm toán thì tùy
    thuộc vào từng loại nghiệp vụ đó mà đưa ra phương pháp thích hợp.

    64 TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212

  7. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    o Kiểm toán các nghiệp vụ vật tư.
    Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh thì vật tư được luân chuyển
    kiên tục thông qua hoạt động nhập, xuất và tồn của vật tư. Khi thực hiện
    kiểm toán các nghiệp vụ này thì cần xem việc bảo quản và sử dụng vật tư như
    thế nào.
    o Kiểm toán các nghiệp vụ của quá trình kinh doanh.
    Quá trình kinh doanh thường qua 3 giai đoạn chủ yếu: cung cấp, sản xuất và
    tiêu thụ. Trong quá trình kiểm toán thì tùy thuộc vào từng giai đoạn mà tiến
    hành các thủ tục kiểm toán cụ thể.
    o Kiểm toán các nghiệp vụ tạo vốn và hoàn trả vốn.
    Các nghiệp vụ ảnh hưởng tới số dư thường phát sinh không nhiều lắm và
    không thường xuyên trong quá trình kinh doanh của đơn vị nhưng thông
    thường số tiền của các nghiệp vụ phát sinh lại rất lớn và trọng yếu. Do đó kiểm
    toán các nghiệp vụ này cần tập trung vào việc kế toán có hạch toán đầy đủ không,
    có thực hiện đúng đắn trong việc thực hiện huy động và sử dụng vốn không…
    Tùy theo đặc điểm của mỗi đơn vị về quy mô, về phương hướng hoạt động, về
    tổ chức kinh doanh và về tổ chức quản lý… và tùy thuộc vào yêu cầu kiểm toán
    cụ thể, có thể lược bỏ, tách riêng hay sáp nhập các loại nghiệp vụ cơ bản trên
    để có được những phần hành kiểm toán phù hợp với đơn vị cụ thể và mục tiêu
    kiểm toán.

    4.1.2.4. Hiệu quả và hiệu năng – đối tượng cụ thể của kiểm toán
    Tài liệu kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài
    chính là những đối tượng gắn liền với sự phát sinh
    và phát triển của kiểm toán. Song theo quan điểm
    hiện đại, đối tượng kiểm toán còn bao gồm cả hiệu
    năng và hiệu quả. Việc mở rộng đối tượng kiểm
    toán như vậy cũng xuất phát từ những đòi hỏi thực
    tế của quản lý trong điều kiện quy mô kinh doanh
    và hoạt động sự nghiệp ngày càng mở rộng, trong khi nguồn lực ngày càng bị giới
    hạn. Đặc biệt trong cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, để thực hiện tiết kiệm và
    giành lợi thế trong cạnh tranh thì vấn đề hiệu quả, hiệu năng cần được đặt ra cho từng
    nghiệp vụ cụ thể.
    Đặc điểm:
     Đây là đối tượng mới phát sinh của kiểm toán và nó bắt đầu phát triển mạnh mẽ từ
    thập kỷ 80 của thế kỷ XX trở lại đây.
     Hiệu quả và hiệu năng là một bộ phận của kiểm toán nghiệp vụ và gắn liền với một
    nghiệp vụ hay một dự án, một chương trình cụ thể.
     Trước khi tiến hành cuộc kiểm toán hiệu năng, hiệu quả thì cần phải đặt ra các
    chuẩn mực cụ thể và rõ ràng. Các chuẩn mực cụ thể ở đây có thể là mục tiêu, quy
    trình, nội quy, các thông số kỹ thuật hoặc các chỉ tiêu kinh tế…
     Thường thì việc đặt ra các chuẩn mực cho kiểm toán hiệu năng là khó hơn cho các
    chuẩn mực kiểm toán hiệu quả.

    TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212 65

  8. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

     Đối với việc đặt ra các chuẩn mực cho tính hiệu năng thì chúng luôn bao gồm các
    mục tiêu và mục đích cụ thể của tổ chức, còn các chuẩn mực cho tính hiệu quả thì
    thường được xác định bởi mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra.
    Tóm lại, thông qua nghiên cứu cụ thể về đối tượng kiểm toán có thể thấy đối tượng
    chung của kiểm toán là thực trạng hoạt động tài chính và hiệu quả thực hiện các nội
    dung, chương trình, dự án. Có thể phân chia đối tượng kiểm toán đó thành các đối
    tượng cụ thể khác nhau như thông tin kế toán, thực trạng tài sản và nghiệp vụ tài chính
    cùng hiệu quả, hiệu năng của các nghiệp vụ, các chương trình, các dự án.

    4.2. Hệ thống phương pháp của kiểm toán
    4.2.1. Khái quát về hệ thống phương pháp kiểm toán
    4.2.1.1. Cơ sở hình thành của các phương pháp kiểm toán
    Hoạt động kinh tế xã hội nói chung và hoạt động tài chính nói riêng chứa đựng nhiều
    mối quan hệ kinh tế xã hội khác nhau và diễn ra ở phạm vi khác nhau. Thực trạng tài
    chính rất phức tạp, không được biểu lộ rõ ràng, trực diện và đầy đủ, chính vì vậy, việc
    xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng này rõ ràng không đơn giản và dễ dàng để
    thực hiện. Thực tế khách quan này đã và đang đòi hỏi kiểm toán phải hình thành một
    hệ thống phương pháp hoàn chỉnh và khoa học.
    Cũng như mọi nghành khoa học khác, kiểm toán có hệ thống phương pháp riêng để thực
    hiện chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến của mình phù hợp với đối tượng kiểm toán.
     Cơ sở phương pháp luận
    Cơ sở phương pháp luận là phép biện chứng duy
    vật đem lại khả năng nhìn nhận các hoạt động
    phức tạp thông qua tính quy luật biện chứng và
    xem xét các sự việc trong mối quan hệ biện chứng.
    Phép duy vật biện chứng là đi từ trực quan sinh
    động đến tư duy trừu tượng. Nếu xem xét mọi
    sự vật, hiện tượng chỉ trong sự vật, hiện tượng
    đó thì không phải là phép biện chứng, nhưng nếu đặt trong toàn bộ các sự vật, hiện
    tượng thì đó là phép biện chứng.
    Ví dụ: Khi xem xét các phiếu thu hoặc phiếu chi nếu chỉ xem xét đơn lẻ các phiếu
    thu đó thì không phải là phép biện chứng vì chúng không nói được gì cả nhưng
    nếu xem các phiếu thu đó với các chứng từ khác, các sổ sách có liên quan thì đó là
    phép biện chứng.
    Khi sử dụng phương pháp đối ứng tài khoản là xem xét tới phép biện chứng.
    Cơ sở phương pháp luận của kiểm toán là phép duy vật biện chứng chỉ ra tính
    logíc của quá trình nhận thức và các mối quan hệ quy luật vận động của mỗi sự
    vật, hiện tượng và thông qua các cặp phạm trù cụ thể như: cái chung – cái riêng,
    cái đơn nhất – cái phổ biến, ngẫu nhiên – tất nhiên, nội dung – hình thức, lượng –
    chất, nguyên nhân – kết quả.
    Trong quan hệ với phương pháp kiểm toán, cần quán triệt các mối quan hệ và quy
    luật khách quan sau:

    66 TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212

  9. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    o Mọi sự vật và hiện tượng cũng như giữa các mặt của sự vật hiện tượng đó có
    mối quan hệ chặt chẽ với nhau nên khi xác minh, phán định về một mặt hay sự
    vật hiện tượng nào đó phải xem xét nó trong mối quan hệ biện chứng với các
    mặt, các sự vật hiện tượng khác.
    o Mọi sự vật và hiện tượng đều vận động: vận động là tuyệt đối, đứng im là
    tương đối nên khi nghiên cứu và phán xét sự vật, hiện tượng tại thời điểm kiểm
    toán phải có phương pháp nghiên cứu trạng thái động của nó.
    o Nội tại mỗi sự vật, hiện tượng đều có tính thống nhất và đấu tranh giữa các mặt
    đối lập: thống nhất là tương đối, mâu thuẫn là tuyệt đối và đấu tranh giữa các
    mặt đối lập phá vỡ sự thống nhất tạm thời và tạo ra một thống nhất mới → là
    cơ sở cho phương pháp kiểm tra cân đối về lượng giữa tài sản với nguồn hình
    thành, giữa doanh số với thu nhập và chi phí, giữa phát sinh nợ và phát sinh có,
    đồng thời xem xét mặt chất của các mối quan hệ.
    o Mỗi sự vật và hiện tượng đều có bản chất riêng và được biểu hiện dưới những
    hình thức cụ thể khi nghiên cứu và kết luận về bản chất sự việc, hiện tượng
    phải xem xét trên những những hình thức thể hiện khác nhau và tính phổ biến
    của chúng.
     Cơ sở phương pháp kỹ thuật
    Kiểm toán phải sử dụng các phương pháp toán học như: tính toán, ước lượng, dự
    báo, chọn mẫu… Bên cạnh đó vì đối tượng của kiểm toán có quan hệ chặt chẽ với
    đối tượng của các môn kế toán, phân tích kinh doanh nên kỹ thuật kiểm toán phải
    dựa vào các phương pháp của kế toán, phân tích kinh doanh…

    4.2.1.2. Hệ thống phương pháp kiểm toán
    Trong quan hệ với đối tượng kiểm toán, thực trạng hoạt động tài chính được phản ánh
    thành 2 phần rõ rệt: một phần được phản ánh trong tài liệu kế toán và phần khác chưa
    được phản ánh trong tài liệu kế toán. Do đó, trong hệ thống phương pháp kiểm toán
    hình thành 2 phân hệ rõ rệt:
     Phương pháp kiểm toán chứng từ
    Đây là phương pháp kiểm toán mà trong đó kiểm toán viên dựa vào các thông tin
    kế toán đã được phản ánh trên các tài liệu kế toán và trên cơ sở các phương pháp
    của kế toán và của phân tích để xây dựng phương pháp riêng của mình đối với đối
    tượng này. Các phương pháp kiểm toán chứng từ thường bao gồm:
    o Phương pháp kiểm toán cân đối.
    o Phương pháp đối chiếu trực tiếp.
    o Phương pháp đối chiếu logic.

     Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ
    Đây là phương pháp mà trong đó kiểm toán viên chưa có cơ sở dữ liệu và phải
    dùng các phương pháp thích hợp để tạo bằng chứng kiểm toán. Các phương pháp
    bao gồm:
    o Phương pháp kiểm kê.
    o Phương pháp thực nghiệm.

    TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212 67

  10. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    o Phương pháp điều tra.

    Phương pháp Hệ thống phương pháp kiểm toán Phương pháp
    luận kỹ thuật

    Phương pháp kiểm toán chứng từ Phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ

    Cân đối Kiểm kê
    Đối chiếu trực tiếp Thực nghiệm
    Đối chiếu logíc Điều tra

    4.2.2. Các phương pháp kiểm toán chứng từ
    4.2.2.1. Kiểm toán cân đối
     Khái niệm
    Kiểm toán cân đối là phương pháp dựa trên các phương trình kế toán và các cân đối
    khác để kiểm tra các quan hệ nội tại của các yếu tố cấu thành quan hệ cân đối đó.
     Cơ sở hình thành phương pháp
    Giữa các sự vật hiện tượng tồn tại các mối liên hệ thống nhất và trong bản thân bất
    kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng đều tồn tại sự thống nhất của các mặt đối lập
    và đều bao hàm mâu thuẫn bên trong. Trong hoạt động tài chính cũng không nằm
    ngoài quy luật đó, cụ thể như các mối quan hệ cân đối giữa nguồn lực và kết quả,
    giữa phát sinh nợ và phát sinh có, giữa vốn và nguồn, giữa thu và chi…
     Các phương pháp kiểm tra tính cân đối
    o Kiểm tra cân đối tổng quát.
    Kiểm tra cân đối tổng quát là xem xét mối tương quan của một phương trình
    kế toán.
    Ví dụ: Tổng số tài sản = Tổng số nguồn vốn.
    Tài sản = Vốn chủ sở hữu + Công nợ.
    Thể hiện tương quan giữa 2 mặt đối lập.
    Trong thực tế, có trường hợp các mối quan hệ cân bằng này thường xuyên
    không được duy trì hay bị phá vỡ, do vậy kiểm toán viên cần phải xem xét các
    trường hợp này về bản chất riêng của mối quan hệ đó. Có 2 trường hợp xẩy ra:
     Trường hợp do bản thân các quy định, chế độ về kinh tế nói chung và về kế
    toán nói riêng làm cho quan hệ này không cân bằng về lượng.
    Ví dụ: Bảng tổng kết tài sản của các đơn vị kế toán cơ sở (độc lập) có liên
    hệ dọc theo ngành kinh tế – kỹ thuật, hoặc các đơn vị kế toán được phân
    cấp tài chính không đầy đủ hay chuyên sâu quá chặt chẽ tài chính như thu
    một nơi và chi một nơi…
     Trường hợp do lỗi về xử lý tài chính kế toán.

    68 TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212

  11. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    Ví dụ: Do không thực hiện các quy tắc tài chính dẫn tới việc xử lý không
    tương xứng giữa vốn và nguồn hoặc do mối quan hệ trong liên doanh liên
    kết qua hợp đồng chưa phân định được.
     Do thiếu năng lực chuyên môn để xảy ra tình trạng sai sót, nhầm lẫn.
     Hoặc do sơ ý, sao nhãng, làm tắt, áp lực tâm lý, hoặc các nghiệp vụ mới phát
    sinh, nghiệp vụ bất thường khó xử lý… đều có thể dẫn tới sự mất cân đối.
    o Kiểm tra cân đối cụ thể.
    Kiểm tra cân đối cụ thể là biểu hiện thông qua các định khoản kế toán và thể
    hiện trong các sổ sách kế toán.
    Khi tiến hành kiểm toán thì kiểm toán viên cần xem xét các đối ứng có hợp lý
    hay không, số tiền hay quy mô tiền tệ có hợp lý hay không và phải chú ý vào
    các khoản ghi thêm.
    Số dư cuối kỳ = Số dư đầu kỳ + Số phát sinh tăng trong kỳ – Số phát sinh giảm
    trong kỳ
    Số ghi Nợ = Số ghi Có (trong một nghiệp vụ)
    Khi kiểm toán bảng khai tài chính thì kiểm toán viên không thể kiểm tra tất cả
    các nghiệp vụ vì vậy phải phân vùng sai sót thường rơi vào các trường hợp sau:
     Các nghiệp vụ mới phát sinh như quan hệ về đầu tư dài hạn, thuê mua
    TSCĐ, trích dự phòng giảm giá…
     Ở những nơi các vấn đề về tài chính thường không rõ ràng như: xây dựng
    cơ bản, thu chi bất thường…
     Những nghiệp vụ xảy ra trước khi quyết toán.

    4.2.2.2. Đối chiếu trực tiếp
     Khái niệm
    Đối chiếu trực tiếp là so sánh, đối chiếu trị số (về mặt lượng) của cùng một chỉ tiêu
    trên các nguồn tài liệu khác nhau.
     Cơ sở hình thành phương pháp
    o Dựa vào mối quan hệ giữa các mặt đối lập như giữa tài sản và nguồn vốn, giữa
    thu và chi…
    o Dựa vào các quan hệ giữa các tài liệu, chứng từ, sổ sách trong kế toán.
     Các loại đối chiếu: Trong phương pháp này thường tiến hành một số loại
    đối chiếu như:
    – Loại 1: Đối chiếu giữa số cuối kỳ và số đầu năm hoặc đối chiếu giữa
    các kỳ trên các bảng cân đối để nghiên cứu sự biến động, xu hướng động
    thái của các mặt hoạt động tương ứng với chỉ tiêu đó (đối chiếu ngang).
    – Loại 2: Đối chiếu giữa các bộ phận của tổng thể với tổng thể để xem
    xét cơ cấu, sự phân bố của các quần thể (đối chiếu dọc).
    – Loại 3: Đối chiếu giữa số dự đoán, định mức, kế hoạch với số thực tế
    để đánh giá mức độ phấn đấu thực hiện các mục tiêu thể hiện trên các
    chỉ tiêu tương ứng.

    TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212 69

  12. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    – Loại 4: Đối chiếu trị số của cùng một chỉ tiêu trong cùng một thời kỳ
    trên các chứng từ, tài liệu khác nhau.
    – Loại 5: Đối chiếu các con số của cùng một chứng từ nhưng được bảo
    quản, lưu trữ ở các địa điểm khác nhau.
    – Loại 6: Đối chiếu trị số của các chỉ tiêu của đơn vị với trị số của các công
    ty khác cùng ngành, cùng quy mô để đánh giá tính hợp lý của chỉ tiêu.
    Kết luận: Phương pháp đối chiếu trực tiếp được sử dụng rất rộng rãi mặc dù chỉ được
    sử dụng trong trường hợp các chỉ tiêu được hạch toán theo cùng chuẩn mực (thước đo)
    như cùng nội dung, cùng phương pháp tính, cùng đơn vị tính và trong cùng một khoản
    thời gian và điều kiện thực hiện.

    4.2.2.3. Đối chiếu logic
     Khái niệm
    Đối chiếu logic là đối chiếu trị số của các chỉ tiêu có quan hệ với nhau theo xu
    hướng nhất định hay tỷ lệ nhất định.
    Nói cách khác đây là việc xem xét mức biến động tương ứng về trị số của các chỉ
    tiêu có quan hệ kinh tế trực tiếp song có thể có mức biến động khác nhau và có thể
    theo hướng khác nhau.
     Cơ sở hình thành phương pháp
    o Dựa vào mối quan hệ giữa các mặt đối lập như giữa tài sản và nguồn vốn, giữa
    thu và chi…
    o Dựa vào các quan hệ giữa các tài liệu, chứng từ, sổ sách trong kế toán.
    Các đối chiếu logic tập trung vào:
    1. Phân tích về xu hướng của các nghiệp vụ, các khoản mục:
    Đây là quá trình phân tích những thay đổi của một số dư tài khoản nhất
    định hoặc một loại nghiệp vụ giữa kỳ hiện tại và những kỳ trước hoặc trong
    suốt một vài kỳ kế toán. Dựa trên sự hiểu biết về yếu tố tạo ra xu hướng
    của số dư tài khoản và loại hình nghiệp vụ, ta có thể tính toán được giá trị
    dự toán của năm hiện tại dựa trên xu hướng năm trước và dựa trên sự hiểu
    biết về các nghiệp vụ của khách hàng.
    Có thể dự đoán:
    * Doanh thu dựa trên xu hướng doanh thu những năm trước đây.
    * Thu nhập đầu tư dựa trên xu hướng giá trị đầu tư.
    * Lãi gộp dựa trên xu hướng của tổng hợp các sản phẩm bán ra.
    Ví dụ: Các nghiệp vụ về TSCĐ: khi tăng TSCĐ thì có thể do một trong các
    trường hợp sau:
    – Vốn bằng tiền giảm: do mua TSCĐ.
    – Vốn kinh doanh tăng: TSCĐ được biếu tặng.
    – Nguồn vốn xây dựng cơ bản giảm: do xây dựng cơ bản hoàn thành.
    – Nợ dài hạn tăng: vay tiền mua TSCĐ.
    – …

    70 TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212

  13. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    2. Phân tích tỷ suất: nhằm đánh giá sự tương quan giữa các khoản mục với
    nhau và tính trọng yếu cũng như khả năng tài chính hoặc tính hợp lý của
    bản thân tỷ suất.
    Nếu phát sinh mâu thuẫn thì kiểm toán viên phải kiểm tra các phát sinh trên
    các chứng từ và kiểm tra từng nghiệp vụ một.
    Chẳng hạn:
    * Tỷ suất giữa loại hình nghiệp vụ với số dư tài khoản: Tỷ suất giữa chi
    phí khấu hao với tổng tài sản chịu khấu hao hoặc chi phí sửa chữa và
    bảo dưỡng đối với nhà xưởng, máy móc thiết bị liên quan.
    * Tỷ suất giữa loại nghiệp vụ này với loại nghiệp vụ khác: giữa lợi nhuận
    bán hàng và chiết khấu bán hàng so với tổng doanh thu.
    * Tỷ suất giữa số dư tài khoản này với số dư tài khoản khác: giữa dự
    phòng giảm giá hàng tồn kho với tổng giá trị hàng tồn kho; giữa hàng
    tồn kho với tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, hoặc các khoản phải thu…;
    giữa TSCĐ với vay dài hạn, phải trả nhà cung cấp hoặc chi phí xây lắp…
    * Tỷ suất giữa dữ liệu tài chính so với dữ liệu hoạt động: giữa số hàng
    hóa bán ra với diện tích bán hàng của công ty bán lẻ; giữa chi phí nhân
    công với tổng số nhân viên hoặc tổng số giờ lao động hao phí…
    * Các tỷ suất phân tích kinh doanh khác như tỷ suất khả năng thanh toán,
    tỷ suất lợi nhuận, tỷ suất cấu trúc tài chính… để suy ra tình hình tài
    chính, kết quả kinh doanh của đơn vị kiểm tra.
    Kết luận: Phương pháp đối chiếu lôgic được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong thực tế
    để xem xét khái quát các mối quan hệ kinh tế – tài chính để trên cơ sở đó định hướng
    cho việc kiểm toán khi phát hiện ra những mâu thuẫn trong mức và xu hướng biến
    động của các chỉ tiêu có liên quan.

    4.2.3. Các phương pháp kiểm toán ngoài chứng từ
    4.2.3.1. Kiểm kê
     Khái niệm
    Kiểm kê là phương pháp kiểm tra tại chỗ các
    loại tài sản trong kho và trong két nhằm cung
    cấp các bằng chứng về sự tồn tại, tình trạng tài
    sản, số lượng và cũng có thể là giá trị của tài sản.
    Kiểm kê tài sản không chỉ tạo điều kiện cho
    kiểm toán viên kiểm tra thực tế tài sản mà còn
    giúp quan sát được hoạt động của những thủ tục
    kiểm soát trong quá trình kiểm kê và từ đó kiểm toán viên sẽ thu thập được các
    bằng chứng kiểm toán về tính hiệu lực của hệ thống kiểm soát nội bộ.
     Phương pháp kiểm kê là phương pháp kiểm tra đơn giản, phù hợp với chức năng
    xác minh và kiểm kê luôn gắn liền với ngoại kiểm. Song để phát huy tác dụng và
    nâng cao hiệu quả kiểm kê, công tác kiểm kê cần được tổ chức chặt chẽ và phù hợp

    TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212 71

  14. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    với quy trình chung của kiểm toán. Công tác kiểm kê có thể thực hiện định kỳ, đột xuất
    hay thường xuyên và phải được thực hiện theo quy trình chung sau:
    o Chuẩn bị kiểm kê:
    Đây là khâu đầu và có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả kiểm kê. Trong khâu
    này cần xác định rõ mục tiêu, xác định quy mô kiểm kê, thời gian kiểm kê,
    phân bổ nhân lực, chuẩn bị các thiết bị đo lường phù hợp và chính xác cũng
    như các yêu cầu cần thiết khác.
    o Thực hiện kiểm kê:
    Kiểm kê phải tiến hành theo trình tự, kế hoạch đã xác định và phải ghi chép
    đầy đủ trên các phiếu kiểm kê, lập bảng kê cho từng loại tài sản, tiền, vật tư
    hay hàng hóa. Các bảng kê sẽ trở thành các chứng từ kiểm toán để hình thành
    nên kết luận kiểm toán.
    o Kết thúc kiểm kê:
    Phải lập biên bản kiểm kê trong đó ghi rõ mục tiêu, nội dung, trình tự tiến hành,
    các chênh lệch đã được phát hiện và kiến nghị về cách xử lý các chênh lệch.
    Hạn chế của phương pháp: Không chỉ rõ được ai là chủ sở hữu tài sản và không
    đưa ra được thực trạng kỹ thuật và chất lượng của tài sản.

    4.2.3.2. Thực nghiệm
    Thực nghiệm là phương pháp thực hiện lại hoặc nghiên cứu, phân tích từng yếu tố cấu
    thành của một tài sản, một quá trình đã có, đã diễn ra và cần xác minh lại.
    Ví dụ: Để xác minh tính hợp lý của mối tương quan giữa hao phí và kết quả sản xuất
    thì phải tiến hành làm lại một lô hành để làm sáng tỏ điều nghi vấn.
    Để tiến hành phương pháp này cần tiến hành các khâu sau:
     Chuẩn bị: là phải chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về vật chất kỹ thuật, về nhân lực,
    về thời gian và các điều kiện pháp lý khác.
     Thực hiện: triển khai thực nghiệm theo kế hoạch đã định, cần quan sát và ghi chép
    đầy đủ để tạo bằng chứng kiểm toán.
     Kết thúc: đưa ra được biên bản thực nghiệm và phải nêu rõ kết luận về vấn đề cần
    xem xét.
    Trong nhiều trường hợp do chi phí thực nghiệm quá cao hay thời gian thực nghiệm
    kéo dài khiến kiểm toán viên không thể tiến hành thực nghiệm được.

    4.2.3.3. Điều tra
    Điều tra là phương pháp xác định lại một tài liệu
    hay một thực trạng để đi đến những quyết định hay
    kết luận cho kiểm toán.
    Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 500: “Điều
    tra là việc tìm kiếm thông tin từ những người có
    hiểu biết ở bên trong hoặc bên ngoài đơn vị.”
    Đây là phương pháp thu thập bằng chứng thông qua
    quan sát, tiếp xúc, phỏng vấn, nói chuyện và xác nhận.

    72 TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212

  15. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

     Quan sát: Đây là việc kiểm toán viên quan sát trực tiếp qua các giác quan về các
    loại hoạt động của đơn vị được điều tra để đánh giá và phát hiện các vấn đề nghi
    vấn hoặc đưa ra được nhận thức chung về các nghiệp vụ, sự kiện, quy trình kiểm
    soát cũng như cơ cấu của khách hàng. Phương pháp này cần kết hợp với các
    phương pháp khác để đạt hiệu quả hơn.
     Phỏng vấn, tiếp xúc: Đây là bước điều tra sơ bộ nhằm tìm hiểu, làm quen với
    khách thể kiểm toán và cũng là để xem xét nhằm đưa ra quyết định chấp nhận hay
    không chấp nhận thư hẹn kiểm toán và để lập kế hoạch kiểm toán.
     Chọn mẫu hoặc chọn điển hình các đối tượng kiểm toán, xác minh làm rõ vấn đề
    cần kiểm toán.
     Xác minh bằng văn bản qua thư xác nhận của các bên có liên quan: Đây là việc
    xác minh các vấn đề liên quan tới các tổ chức độc lập nhằm cung cấp bằng chứng
    về sự tồn tại, quyền sở hữu và giá trị thực của tài sản. Kiểm toán viên thường chỉ
    hạn chế việc xác minh với các nghiệp vụ và tài khoản chủ yếu mà đã được các bên
    hữu quan cung cấp các thông tin hữu dụng.
    Để bảo đảm hiệu quả kiểm toán, điều tra cần được kết hợp với hàng loạt kỹ thuật dự
    báo, dự đoán cụ thể như chi tiết, phân loại, tổng hợp đối tượng kiểm toán, chọn mẫu…
    và cả những kinh nghiệm trong việc tiếp cận và tìm hiểu những đối tượng có liên quan.

    4.3. Phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán
    4.3.1. Khái quát về chọn mẫu trong kiểm toán
     Chọn mẫu kiểm toán là lựa chọn một số phần tử (gọi là mẫu) từ một tập hợp các
    phần tử (gọi là tổng thể) và dùng các đặc trưng của mẫu để rút ra các suy đoán về
    đặc trưng của toàn bộ tổng thể.
     Tổng thể là một tập hợp bao gồm tất cả các phần tử hoặc đơn vị thuộc đối tượng
    nghiên cứu.
     Mẫu đại diện là mẫu mang những đặc trưng của tổng thể mà mẫu được chọn ra.
    Yêu cầu của chọn mẫu:
    Mẫu chọn là mẫu đại diện, tức là các đặc trưng của
    mẫu phải tương đồng với đặc trưng của tổng thể mà
    mẫu được chọn ra. Tính đại diện của mẫu càng cao
    thì số lượng mẫu kiểm toán sẽ càng ít, chi phí kiểm
    toán càng giảm trong khi vẫn bảo đảm yêu cầu chất
    lượng kiểm toán.
    Thông thường có 2 nguyên nhân sau dẫn tới những
    đặc trưng từ kết quả kiểm toán mẫu không đại diện cho tổng thể là do: (rủi ro) sai lầm
    do chọn mẫu và sai lầm không do chọn mẫu.
     Rủi ro chọn mẫu (do bản chất của chọn mẫu). Loại rủi ro này vốn có trong chọn
    mẫu do không khảo sát trắc nghiệm tất cả các chứng từ, nghiệp vụ. Khả năng này
    luôn tồn tại do hạn chế vốn có của chọn mẫu, dù sai lầm không do chọn mẫu bằng
    0 thì vẫn có khả năng có mẫu chọn không tiêu biểu.

    TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212 73

  16. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    Ví dụ: Trong một quần thể chứng từ gốc lấy ra 3% chứng từ để làm mẫu nếu quần
    thể chứng từ có tỷ lệ khác biệt là 3% thì kiểm toán viên vẫn có thể chọn mẫu có
    chứa ít hơn hoặc nhiều hơn 3%.
    Cách giải quyết:
    o Tăng lượng phần tử được chọn vào mẫu (tối đa chỉ chọn tới 12% phần tử để
    kiểm toán) cách này ít được sử dụng do tăng chi phí kiểm toán.
    o Áp dụng các phương pháp chọn mẫu có hệ thống theo các bước sau:
     Bước 1: Phân loại tổng thể (tập hợp) theo nhiều tiêu thức khác nhau như
    theo vị trí, tính chất, quy mô…
     Bước 2: Phân bổ vào mẫu chọn các phàn tử đã được phân loại theo các tiêu
    thức ở trên.
     Rủi ro không do chọn mẫu: Rủi ro này do người tiến hành chọn mẫu mắc sai lầm
    do không nhận ra được đặc trưng của quần thể.
    Ví dụ: Nếu trong 3% mẫu lấy ra từ quần thể trên mà kiểm toán viên không thấy có
    những biểu hiện khác biệt thì rủi ro không phải do mẫu tạo ra.
    Có hai nguyên nhân dẫn đến sai lầm không do chọn mẫu:
    o Thứ nhất: Kiểm toán viên không thừa nhận có khác biệt do nội dung, phạm vi
    cụ thể của kiểm toán.
    o Thứ hai: Trình tự kiểm toán không thích hợp trước hết là mục tiêu và bước đi
    không rõ ràng.
    Cách giải quyết: Nâng cao trình độ của kiểm toán viên.
    Các loại chọn mẫu
    Có nhiều phương pháp chọn mẫu kiểm toán:
     Căn cứ vào hình thức biểu hiện của kiểm toán (đặc tính của tổng thể):
    o Chọn mẫu theo đơn vị hiện vật.
    o Chọn mẫu theo đơn vị tiền tệ.

     Căn cứ vào cách thức cụ thể để chọn mẫu:
    o Chọn mẫu ngẫu nhiên.
    o Chọn mẫu hệ thống.

     Căn cứ vào cơ sở của chọn mẫu:
    o Chọn mẫu xác suất.
    o Chọn mẫu phi xác suất.

    4.3.2. Các phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán
    4.3.2.1. Chọn mẫu xác suất theo đơn vị hiện vật
    A. Khái niệm
    Chọn mẫu ngẫu nhiên là cách chọn khách quan theo phương pháp xác định, bảo
    đảm cho mọi phần tử cấu thành tổng thể đều có khả năng như nhau trong việc hình
    thành mẫu chọn.
    Đặc trưng:

    74 TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212

  17. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên là phương pháp khách quan, máy móc cả trong
    cách nhìn nhận, đánh giá các phần tử của tổng thể lẫn trong chọn mẫu.
    Chọn mẫu ngẫu nhiên theo nguyên tắc là mọi phần tử trong tổng thể đều có cơ hội
    bằng nhau để chọn vào mẫu.
    Trong chọn mẫu ngẫu nhiên có các loại hình cụ thể:
     Chọn mẫu ngẫu nhiên theo bảng số ngẫu nhiên.
     Chọn mẫu ngẫu nhiên theo chương trình vi tính.
     Chọn mẫu ngẫu nhiên theo khoảng cách (hệ thống).
    B. Chọn mẫu ngẫu nhiên theo bảng số ngẫu nhiên
    Bảng số ngẫu nhiên là bảng kê các con số độc lập được xếp ngẫu nhiên phục vụ
    cho chọn mẫu. Bảng số ngẫu nhiên bao gồm 105000 số ngẫu nhiên do Hội đồng
    Thương mại Liên quốc gia ban hành. Các con số ngẫu nhiên đều là các số có 5 chữ
    số và được xếp theo hình bàn cờ.
    Bảng số ngẫu nhiên bao gồm 8 cột (chẵn và lẻ) và bảng trích có 31 dòng từ dòng
    1000 đến dòng 1030.
    Trình tự tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên:
     Bước 1: Định dạng các phần tử hay định lượng đối tượng kiểm toán bằng các con
    số duy nhất.
     Bước 2: Xác định mối quan hệ giữa các phần tử đã định dạng với số ngẫu nhiên
    trong bảng.
    o Trường hợp 1: Số chữ số của các phần tử đã định dạng bằng 5 thì lấy nguyên
    số ngẫu nhiên trong bảng.
    Ví dụ: lấy số 25145 thì sẽ lấy cả 5 chữ số đó ở trên bảng.
    o Trường hợp 2: Số chữ số của phần tử đã định dạng nhỏ hơn 5.
     Có 4 chữ số (4/5): có 2 cách chọn: ví dụ: 2514, 5145.
     Có 3 chữ số (3/5): có 3 cách chọn: ví dụ: 251, 514, 145.
     Có 2 chữ số (2/5): có 2 cách chọn: ví dụ: 25, 51, 14, 45.
    o Trường hợp 3: Nếu số chữ số lớn hơn 5 thì sẽ lấy sang cột bên cạnh, các số lớn
    hơn 5 chữ số bao nhiêu thì lấy thêm đủ số ở cột tiếp theo.
    Ví dụ: như có 6 chữ số (6/5): lấy nguyên cột 1 và thêm số đầu của cột thứ 2:
    Số: 251458 – Lấy ở cột 1 số: 25145 và lấy sang cột 2 số: 8 thì được số: 251458.
     Bước 3: Xác định lộ trình.
    o Chọn từ trên xuống hoặc chọn từ dưới lên theo chiều dọc.
    o Chọn từ phải qua trái hay từ trái qua phải theo chiều ngang.
    o Hoặc chọn dọc chéo.

     Bước 4: Xác định điểm xuất phát.
    Phải đảm bảo tính ngẫu nhiên cho điểm xuất phát (chọn điểm xuất phát từ hàng
    nào, cột nào).
    Ví dụ: Chọn 5 Phiếu chi từ tập hợp các Phiếu chi có số hiệu từ 2564 đến 6839 theo
    cách chọn mẫu sử dụng bảng số ngẫu nhiên, với điểm xuất phát là Dòng 1 Cột 3.

    TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212 75

  18. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    Bài giải:
    Bước 1: Định dạng các phần tử: (2564 – 6839)
    Do yêu cầu chỉ lựa chọn các Phiếu chi có số hiệu từ 2564 đến 6839 nên các Phiếu chi
    có số hiệu nhỏ hơn 2564 và Phiếu chi số hiệu lớn hơn 6839 sẽ bị loại, không được
    lựa chọn.
    Bước 2: Xác định mối quan hệ: Quan hệ 4/5
    Do số hiệu của các phiếu chi chỉ có 4 chữ số nhưng số ngẫu nhiên trên Bảng số ngẫu
    nhiên có 5 chữ số nên có 2 cách lựa chọn là chọn 4 chữ số đầu tiên hoặc 4 chữ số cuối
    của số ngẫu nhiên.
    Giả sử chọn 4 chữ số đầu của số ngẫu nhiên trên bảng số.
    Bước 3: Xác định lộ trình sử dụng Bảng số ngẫu nhiên: Cần phải chọn cách di chuyển
    theo cả 2 hướng của Bảng số là theo cột và theo hàng. Giả sử bài này lựa chọn theo
    hướng sau:
     Di chuyển theo cột: Đi theo chiều từ trên xuống dưới.
     Di chuyển theo hàng: Đi theo chiều từ trái qua phải.
    Bước 4: Xác định điểm xuất phát:
    Theo đề bài cho điểm xuất phát là Dòng 1, cột – tại điểm đó có số ngẫu nhiên là: 01536.
    Theo quy định trong bước 2 là lấy 4 chữ số đầu của số ngẫu nhiên do đó số ngẫu nhiên
    bắt đầu được sử dụng để lựa chọn là: 0153.
    Số ngẫu nhiên đầu tiên được dùng để lựa chọn là 0153 không nằm trong khoảng từ
    (2564 – 6839) theo quy định tại bước 1 do đó bị Loại.
    Sau đó sẽ di chuyển xuống dòng 2, cột 3 sẽ lựa chọn được số 2559 và cũng không
    nằm trong khoảng từ (2564 – 6839) nên cũng bị Loại.
    Tương tự như vậy đến dòng 7, cột 3 lựa chọn được số 5642 và số này nằm trong
    khoảng từ (2564 – 6839) nên được Chọn hay Phiếu chi số 5642 sẽ được rút ra để
    kiểm tra.
    Với cách chọn như trên, tại dòng 9, dòng 10, dòng 12 và dòng 13 của cột 3, sẽ chọn
    được các số 6366, 5334, 4823, 5263 cũng nằm trong khoảng từ (2564 – 6839) và
    các Phiếu chi có số hiệu tương ứng sẽ được lựa chọn rút ra để kiểm tra.
    Trong quá trình chọn mẫu có thể xảy ra các trường hợp sau:
     Nếu chọn mẫu lặp lại: một phần tử có thể lặp lại trong mẫu lớn hơn một lần.
     Chọn mẫu không lặp lại: mỗi phần tử chỉ xuất hiện một lần trong chọn mẫu.
    C. Chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống
     Khái niệm: Chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống là quá trình chọn máy móc theo
    khoảng cách xác định trên cơ sở kích cỡ của quần thể và số lượng mẫu cần chọn.
    Nguyên tắc của phương pháp này là kể từ một điểm xuất phát ngẫu nhiên được
    chọn, sẽ lựa chọn các phần tử cách nhau một khoảng cách cố định.
    Các bước tiến hành lấy mẫu:
    o Bước 1: Xác định quy mô tổng thể (N).
    Nếu là dẫy số liên tục thì quy mô tổng thể được xác định như sau:
    N = (Phần tử cuối – Phần tử đầu) + 1

    76 TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212

  19. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    o Bước 2: Xác định quy mô mẫu (M).
    M = Số lượng mẫu cần chọn
    o Bước 3: Xác định khoảng cách cố định (K).
    K= N/M
    o Bước 4: Xác định điểm xuất phát (M1).
    Mi = M(i – 1) + K hoặc Mi = M1 + (i – 1) × K
    Ví dụ: Chọn 5 Phiếu chi từ tập hợp các Phiếu chi có số hiệu từ 2564 đến 6839 theo
    cách chọn mẫu hệ thống, với điểm xuất phát là M1= 2800.
    Bài giải:
    Bước 1: Xác định quy mô tổng thể.
    Đây là một dẫy liên tục các Phiếu chi do đó quy mô tổng thể được xác định như sau:
    N = (6839 – 2564) + 1= 4276.
    Bước 2: Xác định kích cỡ mẫu.
    Theo yêu cầu đề bài cần phải chọn 5 Phiếu chi do đó M = 5.
    Bước 3: Xác định khoảng cách cố định.
    K = 4276/ 5 = 855,2  Tuy nhiên không có Phiếu chi số 855,2 do đó sẽ lựa chọn số
    nguyên là 855.
    Bước 4: Xác định điểm xuất phát.
    M1= 2800 (đã cho trong đề bài).
    Phần tử thứ 2 được xác định theo công thức:
    M2 = M1 + (2 – 1) × K  M2 = 2800 + (2 – 1) × 855 = 3655
    Hoặc M2 = M1 + K  M2 = 2800 + 855 = 3655
    Tương tự: M3 = 2800 + (3 – 1) × 855 = 4510
    = 3655 + 855 = 4510
    M4 = 5365
    M5 = 6220
     Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm và bảo đảm phân bố đều đặn các phần tử trong chọn mẫu.
     Nhược điểm: Tính tiêu biểu của mẫu chọn bị phụ thuộc vào việc ấn định phần tử
    đầu tiên. Mẫu bị thiên lệch nếu các phần tử trong tổng thể không được sắp xếp một
    cách hoàn toàn ngẫu nhiên.

    4.3.2.2. Chọn mẫu phi xác suất.
    A. Khái niệm
    Chọn mẫu phi xác suất là cách chọn mẫu theo phán đoán chủ quan và không dựa theo
    phương pháp máy móc, khách quan.
    Trong chọn mẫu phi xác suất thường sử dụng các phương pháp:
     Chọn mẫu theo khối.
     Chọn mẫu theo nhận định.

    TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212 77

  20. Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán

    B. Chọn mẫu theo khối
     Khái niệm: Chọn mẫu theo khối là việc chọn một tập hợp các mẫu liên tục trong
    một dẫy nhất định.
     Nguyên tắc: Trong trường hợp này, phần tử đầu tiên trong khối đã được chọn thì
    phần còn lại cũng được chọn tất yếu.
    Phương pháp này được sử dụng nếu sai sót trọng yếu phân bố tập trung theo những
    khối quần thể nhất định hoặc được áp dụng với đám đông với kích cỡ nhỏ.
    Ví dụ: Chọn 10 phiếu thu bắt đầu từ số 3472.
    Vậy 10 phiếu thu liên tiếp là 3472 – 3481.
    Nhận xét: Mẫu được chọn sẽ có tính đại diện không cao nếu số lượng khối được
    chọn nhỏ.
    C. Chọn mẫu theo nhận định
     Khái niệm: Chọn mẫu theo nhận định là việc chọn mẫu hoàn toàn dựa trên những
    xét đoán chủ quan của nhà nghề.
    Trong nhiều trường hợp, khi có kích cỡ mẫu nhỏ hoặc có tính huống không bình
    thường… chọn mẫu theo nhận định sẽ tạo cơ hội tốt cho sự xuất hiện của những
    mẫu đại diện.
     Điều kiện tiến hành:
    Kiểm toán viên phải nắm được đặc điểm cơ bản của khách thể kiểm toán và ấn
    định được mẫu đại diện trước khi chọn mẫu.
    Ví dụ: Chọn các phiếu thu hay phiếu chi vào các thời điểm thay đổi nhân sự, xem
    xét việc ghi sổ kế toán khi chuyển đổi cơ chế kinh tế hoặc chế độ kế toán.
     Để tăng được khả năng của phương pháp nhận định thường phải tập trung chú ý
    vào phân bố mẫu chọn theo các hướng khác nhau:
    o Theo loại nghiệp vụ kinh tế chủ yếu:
    Ví dụ khi xem xét các nghiệp vụ cung ứng và dịch vụ, không nên chỉ xem xét
    các nghiệp vụ mua nguyên vật liệu mà phải quan tâm đến các nghiệp vụ quảng
    cáo, sửa chữa.
    o Theo phần việc do các nhân viên khác nhau phụ trách: số lượng nghiệp vụ do
    mỗi người thực hiện phải được kiểm toán. Nếu có thay đổi nhân viên sẽ dễ có
    mẫu chọn không đại diện khi giới hạn phạm vi chọn mẫu.
    o Theo quy mô: khi chọn các mẫu có quy mô tiền tệ khác nhau thì các khoản
    mục, nghiệp vụ, tài khoản… có số dư lớn cần được chọn để kiểm toán.
     Ưu điểm: Chi phí cho kiểm toán thấp, do không phải tiến hành các bước chọn mẫu
    theo các cách trên.
     Nhược điểm: Rủi ro lớn, nếu kiểm toán viên không ấn định được mẫu điển hình.

    4.3.3. Kỹ thuật phân tầng (phân tổ) trong chọn mẫu kiểm toán
    Kiếm toán viên thường phân tổng thể thành các tầng trước khi xác định quy mô mẫu
    cũng như thực hiện chon mẫu.
     Khái niệm: Phân tầng là kỹ thuật phân chia một tổng thể thành nhiều nhóm nhỏ
    hơn mà các đơn vị trong cùng một nhóm có đặc tính khá tương đồng với nhau.

    78 TXKTKI03_Bai4_v1.0015105212

Download tài liệu Bài giảng Kiểm toán căn bản – Bài 4: Đối tượng và phương pháp kiểm toán File Word, PDF về máy