[Download] Tải Bài giảng Kiểm toán – Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Kiểm toán – Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

Bài giảng Kiểm toán – Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính
Nội dung Text: Bài giảng Kiểm toán – Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

Download


“Bài giảng Kiểm toán – Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính” được biên soạn giúp người học nắm khái quát chung về trình tự thực hiện kiểm toán tài chính; kỹ thuật của kiểm toán tài chính; lập kế hoạch kiểm toán tài chính; thực hiện thủ tục phân tích; đánh giá trọng yếu và rủi ro; thiết kế chương trình kiểm toán.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Kiểm toán – Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Kiểm toán – Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính File Word, PDF về máy

Bài giảng Kiểm toán – Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Kiểm toán – Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

  1. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    BÀI 2: QUY TRÌNH KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

    Nội dung
     Khái quát chung về trình tự thực hiện kiểm
    toán tài chính.
     Kỹ thuật của kiểm toán tài chính.
     Lập kế hoạch kiểm toán tài chính.
     Thực hiện thủ tục phân tích.
     Đánh giá trọng yếu và rủi ro.
     Thiết kế chương trình kiểm toán.

    Mục tiêu Thời lượng học
    Sau khi học bài này, học viên sẽ nắm được:  10 tiết.
     Các kiến thức cơ bản về quy trình
    kiểm toán.
     Nội dung của bài xoay quanh các vấn đề
    mang tính kỹ thuật nhằm giúp học viên
    có thể tiếp thu kiến thức trong các bài
    tiếp theo.

    ACC509_Bai 2_v1.0011105219 17

  2. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI

    Tình huống dẫn nhập
    Công ty Kiểm toán APC tiếp tục nhận được hợp đồng
    kiểm toán với công ty Cổ phần Thái Bình Dương.
    Đây là năm thứ 2 Công ty APC kiểm toán báo cáo tài
    chính của Công ty Cổ phần Thái Bình Dương. Chủ
    phần hùn vốn của công ty APC quyết định vẫn giao cho
    kiểm toán viên Trọng Hiếu tiến hành kiểm toán báo cáo
    tài chính của Công ty khách hàng này. Trước đây,
    Trọng Hiếu đã tham gia vào cuộc kiểm toán niên độ
    trước với vai trò là trợ lý kiểm toán. Năm nay, anh được
    phân công làm trưởng nhóm kiểm toán đối với khách hàng này.
    Trọng Hiếu quyết định công việc lập kế hoạch kiểm toán không cần phải thực hiện do APC đã
    kiểm toán báo cáo tài chính của niên độ trước vì vậy hoàn toàn có thể sử dụng luôn kế hoạch
    kiểm toán của niên độ trước và điều chỉnh lại kế hoạch trong quá trình thực hiện kiểm toán.

    Câu hỏi
    Theo anh chị, cách thực hiện như vậy có được không? Tại sao?

    18 ACC509_Bai 2_v1.0011105219

  3. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    2.1. Khái quát về trình tự kiểm toán báo cáo tài chính
    Kiểm toán tài chính là một loại hình đặc trưng
    mang nhiều sắc thái của kiểm toán và là loại hình
    thể hiện rõ nét nhất các đặc trưng cơ bản cuả kiểm
    toán tài chính. Chính vì vậy, theo nguyên lý chung
    của kiểm toán, trình tự kiểm toán tài chính cũng trải
    qua 3 bước cơ bản: Chuẩn bị kiểm toán, thực hành
    kiểm toán và kết thúc kiểm toán.
    Tuy nhiên, do đặc điểm về đối tượng, về quan hệ
    giữa chủ thể với khách thể kiểm toán, nên trình tự
    kiểm toán tài chính cũng có những đặc điểm riêng.
    Chủ thể thực hiện kiểm toán tài chính có thể
    là kiểm toán độc lập, kiểm toán nhà nước hoặc
    kiểm toán nội bộ.
    Theo thông lệ quốc tế, trình tự thực hiện kiểm toán tài chính của kiểm toán độc lập
    thường được thực hiện theo 3 bước cơ bản là chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán
    và kết thúc kiểm toán. Đối với kiểm toán nhà nước và kiểm toán nội bộ, ngoài 3 bước kể
    trên có thể có bước cuối cùng là kiểm tra việc thực hiện kết luận và kiến nghị kiểm toán.
    Tuy nhiên, chung nhất quy trình kiểm toán thường bao gồm 3 bước, cụ thể:
    Bước I – Chuẩn bị kiểm toán:
     Từ thư mời (hoặc lệnh) kiểm toán, kiểm toán viên tìm hiểu khách hàng với mục đích
    hình thành hợp đồng hoặc kế hoạch chung cho cuộc kiểm toán. Để có thể hình thành
    hợp đồng hoặc kế hoạch chung, kiểm toán viên cần tiếp cận khách hàng. Đây là bước
    công việc quan trọng nhằm giúp kiểm toán viên đưa ra các quyết định kiểm toán.
    Về bản chất, bước công việc này giúp kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra
    quyết định có chấp nhận khách hàng kiểm toán hay không thông qua việc đánh giá
    nhu cầu của họ, đánh giá khả năng phục vụ khách hàng. Trên cơ sở này, công ty kiểm
    toán và khách hàng sẽ ký thư hẹn kiểm toán hoặc hợp đồng kiểm toán.
     Kiểm toán viên cần thu thập các thông tin về
    khách hàng, tìm hiểu và đánh giá hệ thống kiểm
    soát nội bộ (HT KSNB) của khách thể kiểm
    toán để xây dựng kế hoạch cụ thể và chương
    trình kiểm toán cho từng phần hành, đồng thời
    chuẩn bị các phương tiện cùng lực lượng giúp
    việc (nếu cần) cho việc triển khai kế hoạch và
    chương trình kiểm toán đã xây dựng.
    Bước II – Thực hiện công việc kiểm toán:
    Trong giai đoạn này, kiểm toán viên thực hiện kế hoạch kiểm toán để thu thập bằng
    chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp nhằm làm cơ sở cho ý kiến về báo cáo tài chính
    được kiểm toán.
    Thực chất, đây là quá trình sử dụng các trắc nghiệm vào việc xác minh các thông tin
    hình thành và phản ánh trên Bảng khai tài chính. Trình tự kết hợp giữa các trắc nghiệm
    này trước hết tuỳ thuộc vào kết quả đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ ở bước 1.
    Việc kết hợp các trắc nghiệm sẽ hình thành thử nghiệm trong kiểm toán tài chính và
    thường được thực hiện theo hai hướng tương ứng với hai loại thử nghiệm: thử nghiệm
    cơ bản và thử nghiệm tuân thủ (thử nghiệm kiểm soát).

    ACC509_Bai 2_v1.0011105219 19

  4. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

     Thử nghiệm cơ bản bao gồm các thủ tục để thu thập bằng chứng kiểm toán dựa trên
    việc thẩm tra các thông tin biểu hiện bằng tiền phản ánh trên các báo cáo tài chính.
     Thử nghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ thống kiểm soát) là loại thử nghiệm để thu thập
    bằng chứng về tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ để từ đó sử dụng thông
    tin từ hệ thống kiểm soát nội bộ. Cụ thể:
    o Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ được đánh giá là không có hiệu lực thì các trắc
    nghiệm vững chãi sẽ được thực hiện ngay với số lượng lớn. Ngược lại, nếu
    HTKSNB được đánh giá có hiệu lực thì trước hết trắc nghiệm đạt yêu cầu
    được sử dụng để xác định khả năng sai phạm và tiếp đó các trắc nghiệm vững
    chãi được ứng dụng (với số lượng ít) để xác minh những sai sót có thể có.
    o Nếu trắc nghiệm đạt yêu cầu lại cho kết quả là HTKSNB không có hiệu lực thì
    trắc nghiệm vững chãi sẽ lại thực hiện với số lượng lớn. Quy mô cụ thể của các
    trắc nghiệm cũng như trình tự và cách thức kết hợp giữa chúng phụ thuộc rất
    nhiều vào kinh nghiệm và khả năng phán đoán của kiểm toán viên với mục
    đích có được bằng chứng đầy đủ và tin cậy với chi phí kiểm toán thấp nhất.
    Bước III – Hoàn tất công việc kiểm toán
    Kết quả các trắc nghiệm trên phải được xem xét trong quan hệ hợp lý chung và kiểm
    nghiệm trong quan hệ với các sự việc bất thường,
    những nghiệp vụ phát sinh sau ngày lập Bảng khai
    tài chính. Chỉ trên cơ sở đó kiểm toán viên mới tổng
    hợp và đưa ra kết luận cuối cùng về báo cáo tài
    chính trên báo cáo kiểm toán. Tùy theo từng hợp
    đồng kiểm toán, kiểm toán viên có lập thư quản lý ở
    giai đoạn này và hoàn tất hồ sơ kiểm toán.

    2.2. Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán

    2.2.1. Bằng chứng kiểm toán

    2.2.1.1. Bản chất của bằng chứng
    Quá trình kiểm toán báo cáo tài chính có thể được hiểu đơn giản là quá trình thu thập
    bằng chứng kiểm toán. Tính xác đáng và giá trị của báo cáo kiểm toán phụ thuộc vào
    bằng chứng mà kiểm toán viên thu thập.
    Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500, bằng chứng kiểm toán là tất cả các tài
    liệu, thông tin xác thực mà các kiểm toán viên thu thập được liên quan đến cuộc kiểm
    toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến của mình.
    Bằng chứng kiểm toán có ý nghĩa quan trọng ảnh hưởng quyết định tới thành công của
    cuộc kiểm toán. Đối với một số tổ chức kiểm toán như kiểm toán độc lập và kiểm toán
    Nhà nước, bằng chứng kiểm toán còn là cơ sở để giám sát chất lượng hoạt động của
    các kiểm toán viên trong thực hiện kiểm toán.
    Bằng chứng là cơ sở để minh chứng cho báo cáo kiểm toán do đó có những đòi hỏi bắt
    buộc đối với bằng chứng kiểm toán.
    Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 500 qui định: “Kiểm toán viên và Công ty kiểm toán
    phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của
    mình về báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán”. Như vậy, không phải mọi thông
    tin mà kiểm toán viên thu thập đều có thể được sử dụng làm bằng chứng kiểm toán. Bằng
    chứng kiểm toán phải đạt được những yêu cầu nhất định về mặt số lượng và chất lượng.

    20 ACC509_Bai 2_v1.0011105219

  5. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    2.2.1.2. Các quyết định về thu thập bằng chứng kiểm toán
    Để đạt được kết quả kiểm toán mong muốn trong
    giới hạn về thời gian, qui mô cũng như về chi phí
    kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định số lượng
    bằng chứng kiểm toán thích hợp cần thu thập để
    đánh giá toàn diện về đối tượng kiểm toán. Điều
    này chỉ có thể được thực hiện khi kiểm toán viên
    cân nhắc đến các quyết định trước khi bắt tay vào
    thu thập bằng chứng kiểm toán.
    Quyết định này của kiểm toán viên về thu thập bằng
    chứng kiểm toán có thể chia thành 4 loại:
     Quyết định về phương thức (thể thức) kiểm toán thực hiện.
    Phương thức kiểm toán là hướng dẫn chi tiết về quá trình thu thập một loại bằng chứng
    kiểm toán ở một điểm xác định với những điều kiện cụ thể trong một cuộc kiểm toán.
    Ví dụ, phương thức kiểm toán có thể là các hướng dẫn về chi tiết quá trình thu
    thập biên bản kiểm kê quỹ theo trình tự của cuộc kiểm kê. Quyết định này giúp
    kiểm toán viên xác định cụ thể những công việc cần làm khi quan sát kiểm kê quỹ.
     Quyết định về quy mô mẫu cần chọn đối với một phương thức nhất định
    Sau khi đã chọn được phương thức kiểm toán, kiểm toán viên xác định quy mô mẫu
    trong tổng thể. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 530 có qui định: “khi thiết kế các
    thủ tục kiểm toán, kiểm toán viên phải xác định các phương pháp thích hợp để lựa
    chọn các phần tử kiểm tra”. Mẫu được lựa chọn có thể là một vài phần tử hoặc thậm
    chí toàn bộ tổng thể. Việc quyết định qui mô mẫu chọn tùy thuộc vào nhiều yếu tố
    trong đó có đánh giá ban đầu về trọng yếu và rủi ro.
    Ví dụ trong khi kiểm toán các nghiệp vụ thu tiền từ bán hàng, kiểm toán viên nhận
    định hoạt động này có nhiều rủi ro do đơn vị được kiểm toán chưa thực hiện tốt
    việc cách ly trách nhiệm. Tổng thể có 1000 phiếu thu kiểm toán viên có thể chọn
    quy mô mẫu là 50 phiếu thu để kiểm toán chi tiết.
     Quyết định về việc lựa chọn các phần tử mẫu
    Xác định xong quy mô mẫu chọn cho từng thể thức kiểm toán, kiểm toán viên cần
    xác định các phần tử mẫu được lựa chọn. Thực chất đây là quá trình kiểm toán
    viên xác định cách thức kết hợp các phương pháp chọn mẫu nhằm đạt hiệu quả cao
    nhất khi thu thập bằng chứng kiểm toán.
    Ví dụ, sau khi quyết định 50 phiếu thu từ tổng thể 1000 phiếu thu để kiểm toán
    chi tiết, kiểm toán viên có thể chọn mẫu ngẫu nhiên. Tuy nhiên, các chọn này có
    thể khiến kiểm toán viên bỏ qua nhiều phiếu thu có số dư lớn bất thường. Vì vậy,
    kiểm toán viên có thể kết hợp cả chọn mẫu ngẫu nhiên và chọn mẫu theo phán
    đoán chủ quan của kiểm toán viên để có thể kiểm tra chi tiết 50 phiếu thu.
     Quyết định về thời gian thực hiện và thời gian hoàn thành: Quyết định này sẽ được
    thể hiện rõ trong chương trình kiểm toán. Quyết định này sẽ chỉ rõ thời gian bắt
    đầu và kết thúc đối với từng phương thức thu thập bằng chứng.

    2.2.1.3. Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán
    Dựa trên các quyết định, kiểm toán viên sẽ tiến hành thu thập bằng chứng kiểm toán.
    Bằng chứng kiểm toán phải thỏa mãn hai yêu cầu cơ bản là sự đầy đủ và tính thích hợp.

    ACC509_Bai 2_v1.0011105219 21

  6. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    Tính thích hợp của bằng chứng (Hiệu lực)
    Là khái niệm dùng để chỉ độ tin cậy hay chất lượng của bằng chứng kiểm toán.
    Câu hỏi 2.1:
    Theo bạn, tính thích hợp của bằng chứng phụ thuộc vào những yếu tố nào?
    Trả lời: Những yếu tố ảnh hưởng đến tính thích hợp hay tính hiệu lực của bằng chứng
    kiểm toán bao gồm:
     Thứ nhất là loại hình hay dạng của bằng chứng
    Thông thường, các bằng chứng thu được thông qua phỏng vấn sẽ có độ tin cậy thấp hơn
    bằng chứng tài liệu. Có thể hiểu một cách đơn giản là bằng chứng bằng tài liệu luôn được
    đánh giá cao về độ tin cậy hơn là bằng chứng bằng lời.
     Thứ hai là hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB)
    Bằng chứng thu được trong điều kiện hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu lực sẽ
    được đánh giá là có độ tin cậy cao hơn so với những bằng chứng thu được khi thiếu vắng
    các chính sách và thủ tục kiểm soát hữu hiệu.
     Thứ ba là nguồn gốc thu thập bằng chứng kiểm toán
    Nguồn gốc thu thập bằng chứng càng độc lập thì bằng chứng càng được đánh giá là có độ
    tin cậy cao. Chẳng hạn, bằng chứng thu được từ bên thứ ba (thư xác nhận của nhà cung
    cấp, thư xác nhận của ngân hàng) sẽ được đánh giá có độ tin cậy cao hơn là bằng chứng
    do khách thể kiểm toán cung cấp.
     Thứ tư là sự kết hợp các bằng chứng kiểm toán
    Một nhóm bằng chứng kiểm toán thu được ở các nguồn khác nhau cùng xác minh cho
    một vấn đề theo cùng một hướng kết luận sẽ được đánh giá là có độ tin cậy cao hơn một
    thông tin đơn lẻ.

    Đầy đủ
    Đầy đủ: Là khái niệm chỉ số lượng hay quy mô cần thiết của bằng chứng kiểm toán để
    đưa ra ý kiến kết luận cho cuộc kiểm toán. Tính đầy đủ này liên quan trực tiếp đến
    kích cỡ mẫu và thời gian thực hiện.
    Câu hỏi 2.2:
    Theo bạn, có thể đưa ra qui định về số lượng bằng chứng cần thu thập tối thiểu cho mỗi
    cuộc kiểm toán không? Tại sao?
    Trả lời: Tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán là nói tới số lượng và chủng loại bằng
    chứng kiểm toán cần thu thập. Sẽ không có một qui định mang tính cứng nhắc về số lượng
    bằng chứng cần thu thập mà chỉ có sự xét đoán mang tính nghề nghiệp của kiểm toán viên.
    Sự xét đoán này căn cứ vào những yếu tố sau:
     Tính hiệu lực của bằng chứng
    Bằng chứng càng được đánh giá là có độ tin cậy cao thì càng cần thu thập ít bằng chứng
    kiểm toán. Điều này sẽ giúp kiểm toán viên đưa ra quyết định cho việc lựa chọn các thủ tục
    kiểm toán thay thế hoặc thủ tục kiểm toán bổ sung khi thu thập bằng chứng kiểm toán.
     Tính trọng yếu
    Đối với các đối tượng kiểm toán càng được đánh giá trọng yếu thì càng cần thu thập
    nhiều bằng chứng kiểm toán. Kiểm toán viên xác định mức trọng yếu càng thấp nghĩa là
    sai sót tối đa có thể chấp nhận được ở mức thấp thì số lượng bằng chứng càng phải thu
    thập nhiều hơn.
     Mức độ rủi ro
    Đối với khoản mục nghiệp vụ được đánh giá là có mức rủi ro cao cần thu thập nhiều
    bằng chứng kiểm toán. Ví dụ khi kiểm toán khoản mục tiền, tài khoản tiền mặt luôn được
    đánh giá có khả năng xảy ra rủi ro cao hơn.

    22 ACC509_Bai 2_v1.0011105219

  7. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    2.2.2. Kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán
    Quá trình thực hiện kiểm toán thực chất là quá trình
    sử dụng các kỹ thuật thu thập bằng chứng kiểm toán
    nhằm thu thập thông tin, dữ kiện làm cơ sở cho ý kiến
    về báo cáo tài chính. Các kỹ thuật thường được sử
    dụng bao gồm: kỹ thuật kiểm tra, kỹ thuật quan sát, kỹ
    thuật lấy xác nhận, tính toán, phỏng vấn và phân tích.

    2.2.2.1. Kiểm tra vật chất
    Là quá trình kiểm kê tại chỗ hay tham gia kiểm kê các loại tài sản mang hình thái vật
    chất của doanh nghiệp.
    Câu hỏi 2.3:
    Cho ví dụ về kiểm kê tại doanh nghiệp sản xuất.
    Trả lời:
    Kiểm kê nguyên vật liệu, tiền, hàng tồn kho, tài sản cố định…

     Ưu điểm của kỹ thuật kiểm kê là cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao nhất vì
    kiểm kê là quá trình xác minh sự hiện hữu của tài sản, mang tính khách quan do
    chính kiểm toán viên thực hiện hoặc chứng kiến.
    Hơn nữa cách thực hiện kỹ thuật này đơn giản, phù hợp với chức năng xác minh
    của kiểm toán. Kỹ thuật này chỉ gồm các thao tác đơn giản như cân, đo, đong,
    đếm… hoặc chứng kiến các thao tác này. Tuy nhiên, cần lưu ý với kiểm toán viên
    là không nhất thiết phải kiểm kê hoặc chứng kiến kiểm kê đối với toàn bộ hàng tồn
    kho, tiền hay tài sản cố định mà có thể lấy mẫu kiểm kê.
     Phương pháp kỹ thuật kiểm kê vật chất có nhiều ưu điểm song bao giờ cũng có
    những hạn chế nhất định:
    o Đối với một số tài sản cố định như đất đai, nhà xưởng, máy móc thiết bị hoặc
    hàng tồn kho… kỹ thuật kiểm kê chỉ cung cấp thông tin minh chứng về sự tồn
    tại của tài sản nhưng không cung cấp thông tin về quyền sở hữu của đơn vị đối
    với tài sản đó; hoặc tài sản có thể hiện hữu nhưng lại là tài sản thuê ngoài, tài
    sản tạm vay, hay đã đem thế chấp…
    o Kỹ thuật này chỉ cho biết sự tồn tại thực tế về số lượng, còn chất lượng, tình
    trạng kỹ thuật, phương pháp đánh giá đúng hay sai thì chưa thể hiện.
    o Nếu tài sản có qui mô lớn, đa dạng về chủng loại mẫu mã việc thực hiện kỹ
    thuật này sẽ tương đối mất thời gian và kinh phí.
    Chính vì vậy, kỹ thuật này thường không được thực hiện đơn lẻ mà phải kết hợp với
    các kỹ thuật khác để tăng hiệu quả của kiểm toán.

    2.2.2.2. Kiểm tra tài liệu
    Là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu các chứng từ sổ sách có liên quan sẵn có trong
    đơn vị. Các chứng từ, sổ sách có thể là hoá đơn bán hàng, phiếu nhập kho, xuất kho,
    Hoá đơn vận tải, sổ kế toán chi tiết, sổ cái, các bảng tổng hợp chi phí, bảng kê … Số
    lượng các chứng từ, sổ sách của các doanh nghiệp thường tương đối lớn và đa dạng,
    kiểm toán viên cần định hướng kiểm tra tài liệu.

    ACC509_Bai 2_v1.0011105219 23

  8. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    Định hướng kiểm tra tài liệu chính là quá trình xác định các mục tiêu kiểm toán gắn
    với từng khoản mục nghiệp vụ hoặc phần hành. Tùy theo từng mục tiêu mà kiểm toán
    viên sẽ triển khai kiểm tra tài liệu theo các hướng khác nhau.
    Chung nhất, phương pháp này thường được tiến hành theo hai cách:
     Từ một kết luận có trước, kiểm toán viên thu thập tài liệu làm cơ sở cho kết luận
    cần khẳng định.
    Ví dụ: kiểm toán viên kiểm tra các tài liệu, hồ sơ pháp lý về quyền định đoạt lâu
    dài đối với tài sản cố định thuê hoạt động.
     Kiểm tra các tài liệu của một nghiệp vụ từ khi phát sinh đến khi vào sổ sách. Quá
    trình này có thể tiến hành theo hai hướng:
    o Từ chứng từ gốc lên sổ sách: khi muốn
    chứng minh rằng nghiệp vụ phát sinh đã
    được ghi sổ đầy đủ tương ứng với mục tiêu
    trọn vẹn. Cách kiểm tra này thường gắn với
    những khoản mục nghiệp vụ có xu hướng bị
    bỏ sót như khoản mục thuế giá trị gia tăng
    phải nộp, các khoản thu tiền mặt…
    o Từ sổ sách kiểm tra ngược về chứng từ gốc:
    khi muốn thu thập bằng chứng về tính có
    thật của mọi nghiệp vụ được ghi sổ. Cách
    kiểm tra này thường gắn với những khoản
    mục nghiệp vụ mà có khả năng bị khai khống như thuế giá trị gia tăng được
    khấu trừ, các khoản chi tiền mặt…
    Ưu điểm và nhược điểm
     Ưu điểm
    Kỹ thuật này tương đối thuận tiện cho kiểm toán viên do tài liệu thường là có sẵn,
    chi phí để thu thập bằng chứng cũng ít hơn các kỹ thuật khác.
     Nhược điểm
    Kiểm tra tài liệu cũng có những hạn chế nhất định. Độ tin cậy của tài liệu minh
    chứng phụ thuộc vào nguồn gốc của bằng chứng (hay sự độc lập của tài liệu so với
    đơn vị được kiểm toán) mà các tài liệu này lại phần lớn có nguồn gốc từ khách thể
    kiểm toán; Chính vì thế sẽ có khả năng lớn là các tài liệu cung cấp có thể đã bị sửa
    chữa, giả mạo làm mất tính khách quan nên cần có sự kiểm tra, xác minh bằng các
    phương pháp kỹ thuật khác.

    2.2.2.3. Kỹ thuật lấy xác nhận
     Là quá trình thu thập thông tin do bên thứ ba
    độc lập cung cấp để xác minh tính chính xác của
    thông tin mà kiểm toán viên nghi vấn. Thông
    thường kỹ thuật này được thực hiện chủ yếu đối
    với số dư của các khoản mục, tài khoản.
     Thư xác nhận (sau khi đã có ký, duyệt của đại
    diện đơn vị được kiểm toán) có thể được kiểm
    toán viên gửi trực tiếp đến người thứ ba để nhờ
    xác nhận thông tin theo yêu cầu và sau đó được
    gửi trở lại theo địa chỉ của kiểm toán viên.

    24 ACC509_Bai 2_v1.0011105219

  9. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    Thông thường, kiểm toán viên có thể thông qua khách thể kiểm toán để gửi thư xác
    nhận, nhưng kiểm toán viên phải đảm bảo thư trả lời vẫn phải gửi trực tiếp về địa
    chỉ của kiểm toán viên. Hơn nữa, kiểm toán viên phải kiểm soát được toàn bộ việc
    gửi, nhận các xác nhận và loại trừ được khả năng khách hàng sẽ can thiệp vào
    thông tin trong thư xác nhận. Xác nhận thường được thực hiện bằng văn bản (thư
    xác nhận của kiểm toán).
    Ưu điểm và nhược điểm
     Ưu điểm: Bằng chứng thu được từ kỹ thuật này có độ tin cậy cao nếu kiểm toán
    viên thực hiện đúng quy trình và đảm bảo các yêu cầu đã đề cập ở trên.
     Nhược điểm: Chi phí thực hiện xác nhận thường khá lớn và đặc biệt tốn kém chi
    phí đối với những khách hàng có quy mô lớn, quan hệ rộng, đa quốc gia … Kiểm
    toán viên cần thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung để đảm bảo tính độc lập của
    người cung cấp xác nhận với khách thể kiểm toán.
    Hình thức gửi thư xác nhận
    Kỹ thuật lấy xác nhận có thể được thực hiện theo hai hình thức, hình thức gửi thư xác
    nhận phủ định và thư xác nhận dạng khẳng định.
     Hình thức thư xác nhận dạng phủ định:
    Kiểm toán viên yêu cầu người xác nhận gửi thư phản hồi nếu có sai khác giữa thực
    tế với thông tin kiểm toán viên nhờ xác nhận.
     Hình thức thư xác nhận dạng khẳng định:
    Kiểm toán viên yêu cầu người xác nhận gửi thư phản hồi cho tất cả các thư xác
    nhận dù thực tế có trùng khớp với thông tin mà kiểm toán viên quan tâm.
    Dưới đây là một mẫu thư xác nhận kiểm toán sử dụng:
    PHỤ LỤC SỐ 01
    (Mẫu thư yêu cầu xác nhận số dư)
    Ngày…..tháng…..năm…..

    Kính gửi: Công ty ……………………………………………………………………………………..(Khách nợ)
    Địa chỉ: …………………………………………………………………………………………………………………..
    Fax: ……………………………………………………………………………………………………………………….
    Thư: Yêu cầu xác nhận số dư
    Theo yêu cầu kiểm toán, chúng tôi đề nghị Quý công ty đối chiếu số dư dưới đây với sổ của công ty
    tại thời điểm ngày ……………………… và xác nhận số dư này.
    (1/ Công ty phải thu và 2/ Công ty phải trả) là đúng, hoặc bằng bao nhiêu. Thư xác nhận gửi
    trực tiếp hoặc fax cho kiểm toán viên của chúng tôi theo địa chỉ trên mẫu xác nhận dưới đây:
    1/ Nợ phải trả …………………. (bằng chữ: ………………………………………………………………………………)
    2/ Nợ phải thu …………………. (bằng chữ: ………………………………………………………………………………)
    Thư xác nhận này không phải là yêu cầu thanh toán mà chỉ nhằm phục vụ mục đích kiểm toán.
    Các khoản nợ và các khoản thanh toán sau ngày nói trên không bao gồm trong số dư xác nhận.
    Giám đốc hoặc người đại diện
    (Đơn vị được kiểm toán)
    (Họ tên, chữ ký và đóng dấu)
    Kính gửi: Công ty kiểm toán ………………………………………………………………………………………..
    (Họ và tên kiểm toán viên:……………………………………………………………………………………………)
    Địa chỉ: …………………………………………………………………………………………………………………….
    Fax: Chúng tôi xác nhận số dư trên sổ sách kế toán ngày ………………….của chúng tôi là đúng với
    số dư nói trên, hoặc là:…………………………………………………………………………………………………
    Giám đốc hoặc người đại diện (Khách nợ)
    (Họ tên, chữ ký và đóng dấu)

    ACC509_Bai 2_v1.0011105219 25

  10. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính
    Bảng 3.1: Các loại thông tin thường cần phải xác nhận

    Thông tin Nơi xác nhận

    Xác nhận về các khoản mục trong phần tài sản:

     Tiền gửi ngân hàng  Ngân hàng, các tổ chức tín dụng

     Khoản phải thu  Khách hàng

     Phiếu nợ phải thu  Người phát hành phiếu nợ

     Hàng tồn kho gửi đại lý  Bên nhận đại lý

     Hàng tồn kho gửi trong công ty chuyên làm  Công ty lưu kho
    dịch vụ lưu kho

     Công nợ, khoản phải trả
     Chủ nợ, nhà cung cấp
     Phiếu nợ phải trả
     Nhà cung cấp
     Trả trước của khách hàng
     Khách hàng
     Các loại thông tin khác
     Luật sư của công ty, tư vấn pháp lý của công ty
     Nợ ngoài ý muốn

    (Trích: Bảng 6-2, arens và Loebbecke, NXB Thống kê, 1995, trang 133)

    2.2.2.4. Kỹ thuật quan sát
    Là phương pháp được sử dụng để đánh giá một thực trạng hay hoạt động của đơn vị
    được kiểm toán. Phương pháp này có thể hiểu một cách đơn giản là xem xét tận mắt
    các công việc. Ví dụ quan sát việc thực hiện thủ tục kiểm soát khi xuất hàng hóa ra
    khỏi doanh nghiệp.
     Ưu điểm: Kỹ thuật này rất hữu ích trong nhiều phần hành của cuộc kiểm toán;
    bằng chứng thu được tương đối tin cậy.
     Nhược điểm: Kỹ thuật này chỉ cung cấp bằng chứng mang tính thời điểm, thủ tục
    kiểm soát có thể được thực hiện tại thời điểm quan sát nhưng tại các thời điểm
    khác thì không chắc chắn được thực hiện. Bằng chứng thu được từ kỹ thuật quan
    sát chưa thể hiện tính đầy đủ nên cần đi kèm với kỹ thuật khác.

    2.2.2.5. Kỹ thuật điều tra (phỏng vấn)
    Là quá trình kiểm toán viên thu thập thông tin bằng văn bản hay bằng lời nói qua việc
    trao đổi với những người có liên quan.
    Khi phỏng vấn kiểm toán viên có thể dùng hai loại câu hỏi cơ bản là câu hỏi “đóng”
    hoặc câu hỏi “mở”.
    Câu hỏi “mở” giúp kiểm toán viên thu được câu trả lời chi tiết và đầy đủ; được sử
    dụng khi kiểm toán viên muốn thu thập thêm thông tin. Loại câu hỏi này thường có
    các cụm từ “thế nào”, “cái gì?”, “tại sao?”.
    Câu hỏi “đóng” giới hạn câu trả lời của người được phỏng vấn; được sử dụng khi
    kiểm toán viên muốn xác nhận một vấn đề đã nghe hay đã biết. Loại câu hỏi này
    thường có các cụm từ “có hay không”, “đúng hay sai”…

    26 ACC509_Bai 2_v1.0011105219

  11. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

     Ưu điểm: Giúp kiểm toán viên thu thập được những bằng chứng chưa hoặc thu
    thập những thông tin phản hồi để củng cố luận cứ của kiểm toán viên. Tính tin cậy
    và độ hữu dụng của thông tin thu được từ kỹ thuật này phụ thuộc rất lớn vào kỹ
    thuật của người phỏng vấn. Thông thường, kỹ thuật này đòi hỏi người phỏng vấn
    cần có nghệ thuật.
     Nhược điểm: Độ tin cậy của bằng chứng không cao do đối tượng được phỏng vấn
    chủ yếu là người trong đơn vị được kiểm toán nên thiếu tính khách quan; chất lượng
    của bằng chứng cũng phụ thuộc vào trình độ và sự hiểu biết của người được hỏi.

    2.2.2.6. Kỹ thuật tính toán (kiểm tra chính xác về kỹ thuật)
    Là quá trình kiểm toán viên kiểm tra chính xác về
    mặt số học của số liệu trên chứng từ, sổ sách kế
    toán. Kỹ thuật này chỉ quan tâm đến tính chính xác
    thuần tuý về mặt số học, không chú ý đến sự phù
    hợp của phương pháp tính và nội dung tính. Do đó,
    kỹ thuật này thường được sử dụng kết hợp với các
    kỹ thuật khác trong quá trình thu thập bằng chứng.
     Ưu điểm: Cung cấp bằng chứng có độ tin cậy cao, xét về mặt số học.
     Nhược điểm: Thông tin để phục vụ cho việc tính toán được lấy từ doanh nghiệp
    sẽ không đảm bảo tính khách quan; Các phép tính và phân bổ đôi khi khá phức
    tạp, tốn thời gian đặc biệt khi đơn vị được kiểm toán có qui mô lớn, loại hình kinh
    doanh đa dạng, luồng tiền ra vào rất lớn…

    2.2.2.7. Kỹ thuật phân tích
    Là quá trình so sánh, đối chiếu, đánh giá các mối quan hệ giữa các thông tin tài chính
    với nhau hoặc giữa thông tin tài chính và thông tin phi tài chính để xác định tính hợp
    lý của các số dư trên tài khoản.
    Kỹ thuật phân tích được sử dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán có hiệu lực gồm
    ba loại: kiểm tra tính hợp lý, phân tích xu hướng và phân tích tỉ suất.
    Kiểm tra tính hợp lý
    Thường bao gồm những so sánh cơ bản như:
     So sánh giữa số liệu thực tế và số liệu kế hoạch, dự toán…
    Từ kết quả so sánh, việc điều tra những sai khác lớn giữa số thực tế và số kế hoạch
    sẽ giúp kiểm toán viên phát hiện những sai sót trong báo cáo tài chính hoặc các
    biến động lớn trong tình hình sản xuất kinh doanh của đơn vị.
     So sánh giữa các chỉ tiêu của đơn vị và các chỉ tiêu bình quân trong ngành.
    Việc xác định chỉ tiêu của đơn vị với chỉ tiêu bình quân ngành có những mối quan
    hệ tương đồng trong phạm vi nhất định. Tuy nhiên, việc xác định chỉ tiêu trung bình
    ngành thường tương đối khó khăn đối với kiểm toán viên khi điều kiện để hoạt động
    kinh doanh của mỗi doanh nghiệp là khác nhau. Hơn nữa, theo xu hướng hiện nay
    các doanh nghiệp thường hoạt động đa ngành chứ ít hoạt động đơn ngành.
     So sánh số liệu của đơn vị được kiểm toán và kết quả dự kiến của kiểm toán viên.

    ACC509_Bai 2_v1.0011105219 27

  12. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    Phân tích xu hướng
    Là sự phân tích những thay đổi theo thời gian của số dư tài khoản, hay nghiệp vụ. Phân
    tích xu hướng thường được kiểm toán viên sử dụng qua so sánh thông tin tài chính kỳ
    này với thông tin tài chính kỳ trước hay so sánh thông tin tài chính giữa các tháng trong
    kỳ hoặc so sánh số dư (số phát sinh) của các tài khoản cần xem xét giữa các kỳ, nhằm
    phát hiện những biến động bất thường để tập trung kiểm tra, xem xét. Việc xem xét thay
    đổi theo thời gian của các chỉ tiêu thường phải được thực hiện khi dãy số thời gian có từ
    3 kỳ trở lên thì phân tích sẽ đáng tin cậy hơn. Tuy nhiên, khi phân tích biến động cần
    lưu ý và loại bỏ những nhân tố mang tính biến động đương nhiên.
    Phân tích tỉ suất
    Là cách thức so sánh những số dư tài khoản hoặc những loại hình nghiệp vụ. Phân tích
    tỉ suất cũng giúp so sánh tính hợp lý về tình hình tài chính của một công ty nào đó với
    công ty khác trong cùng tập đoàn hay với ngành đó. Thông thường, khi phân tích tỉ
    suất cũng phải xem xét xu hướng của tỉ suất đó.

    2.2.3. Hồ sơ kiểm toán với bằng chứng kiểm toán
    Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 230, hồ sơ kiểm toán là các tài liệu do kiểm
    toán viên lập, phân loại, sử dụng và lưu trữ trong một cuộc kiểm toán.
    Hồ sơ kiểm toán bao gồm mọi thông tin cần thiết
    liên quan đến cuộc kiểm toán đủ làm cơ sở cho việc
    hình thành ý kiến của kiểm toán viên và chứng
    minh rằng cuộc kiểm toán đã được thực hiện theo
    đúng các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (hoặc
    chuẩn mực quốc tế được chấp nhận). Tài liệu trong
    hồ sơ kiểm toán được thể hiện trên giấy, trên phim
    ảnh, phương tiện tin học hay bất cứ phương tiện lưu
    trữ nào khác theo quy định của pháp luật hiện hành. Hồ sơ kiểm toán không bao hàm
    tất cả tài liệu, thông tin liên quan đến cuộc kiểm toán. Việc lưu trữ tất cả các tài liệu,
    thông tin liên quan này sẽ trở thành không hiệu quả và thực tế là không thể.
    Phạm vi và nội dung của từng hồ sơ kiểm toán do kiểm toán viên xác định tuỳ theo sự
    đánh giá của kiểm toán viên.
    Yêu cầu cơ bản là hồ sơ kiểm toán phải bảo đảm đầy đủ cơ sở cho kiểm toán viên đưa
    ra ý kiến kết luận, bảo đảm cho kiểm toán viên khác và những người không tham gia
    vào cuộc kiểm toán cũng như người kiểm tra, soát xét công việc kiểm toán hiểu được
    công việc kiểm toán và cơ sở ý kiến của kiểm toán viên.
    Câu hỏi 2.4:
    Hồ sơ kiểm toán có cần thiết phải lập cho mọi cuộc kiểm toán không? Tại sao?
    Trả lời:
    Lập hồ sơ kiểm toán là một yêu cầu bắt buộc đối với mọi cuộc kiểm toán.

     Hồ sơ kiểm toán mang ý nghĩa quan trọng trên nhiều giác độ. Hồ sơ kiểm toán có
    thể được xem xét theo các ý nghĩa sau:
    o Là căn cứ để lập kế hoạch kiểm toán.

    28 ACC509_Bai 2_v1.0011105219

  13. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    Trong hồ sơ kiểm toán có lưu những thông tin cần thiết về khách thể kiểm
    toán. Để lập kế hoạch kiểm toán đầy đủ cho năm hiện hành, kiểm toán viên cần
    tham khảo thông tin sẵn có đó và bổ sung những thông tin thay đổi để có cơ sở
    cho việc lập kế hoạch kiểm toán.
    o Hồ sơ kiểm toán ghi chép những bằng chứng thu được và ghi chép kết quả của
    các thử nghiệm.
    Khi thực hiện kiểm toán, kiểm toán viên tích lũy bằng chứng kiểm toán vào hồ
    sơ kiểm toán. Hồ sơ kiểm toán là phương tiện chủ yếu để chứng minh với cơ
    quan pháp luật là cuộc kiểm toán được hoạch định và giám sát đầy đủ, thu thập
    đầy đủ các bằng chứng thích hợp và báo cáo kiểm toán đã đánh giá đúng đắn
    các kết quả kiểm toán.
    o Là dữ kiện cho việc lập báo cáo kiểm toán
    Hồ sơ kiểm toán là nguồn tư liệu quan trọng giúp kiểm toán viên lựa chọn loại
    báo cáo kiểm toán phù hợp trong từng tình huống cụ thể. Hồ sơ kiểm toán lưu
    giữ toàn bộ bằng chứng kiểm toán thích hợp làm cơ sở cho ý kiến kết luận của
    kiểm toán viên nên có tác dụng minh chứng cho phạm vi kiểm toán đúng đắn
    và tính trung thực của báo cáo tài chính.
    o Là căn cứ để các giám sát viên kiểm toán (supervisors) và các chủ phần hùn
    (partners) kiểm tra.
    Hồ sơ kiểm toán là hệ thống tài liệu căn bản để giúp cấp lãnh đạo công ty kiểm
    toán kiểm tra tính đầy đủ của những bằng chứng thích hợp làm cơ sở cho kết
    luận kiểm toán.
     Hồ sơ kiểm toán thường được phân làm 2 loại chính: hồ sơ kiểm toán chung
    (permanent file), hồ sơ kiểm toán năm (current file).
    o Hồ sơ kiểm toán chung (tài liệu bất biến)
    Hồ sơ này còn được gọi là hồ sơ thường trực.
    Đây là hồ sơ kiểm toán chứa đựng các thông tin
    chung về khách hàng liên quan tới hai hay
    nhiều cuộc kiểm toán trong nhiều năm tài chính
    của một khách hàng. Hồ sơ kiểm toán chung do
    đó thường bao gồm các dữ kiện có tính lịch sử
    hay mang tính liên tục qua các năm tài chính.
    Hồ sơ kiểm toán chung giúp công ty kiểm toán có được thông tin mang tính hệ
    thống về khách hàng giúp giảm thiểu thời gian và chi phí kiểm toán đối với
    những khách hàng kiểm toán mà công ty thực hiện cho nhiều năm.
    Cụ thể hồ sơ kiểm toán chung thường bao gồm:
     Các thông tin chung về khách hàng. Bao gồm các ghi chép hay bản sao các tài
    liệu pháp lý, thoả thuận và biên bản quan trọng như: Quyết định thành lập,
    Giấy phép đăng ký kinh doanh, Điều lệ Công ty, Biên bản họp Hội đồng quản
    trị, họp Ban giám đốc, bố cáo…
     Các tài liệu về thuế: các văn bản, chế độ thuế riêng trong lĩnh vực hoạt
    động của khách hàng, các tài liệu về việc thực hiện chế độ thuế hàng năm;
     Các tài liệu về nhân sự: các thoả ước lao động, các qui định riêng của đơn vị
    được kiểm toán về lao động, các qui định về quản lý và sử dụng quỹ lương…

    ACC509_Bai 2_v1.0011105219 29

  14. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

     Các tài liệu về kiểm toán (các nguyên tắc kiểm toán áp dụng, báo cáo tài
    chính…), các phân tích về các tài khoản quan trọng như: TSCĐ, nợ dài hạn,
    vốn chủ sở hữu để xem xét tính biến động qua các kỳ, và kết quả kiểm toán
    những năm trước.
     Các hợp đồng hoặc thoả thuận với bên thứ ba có hiệu lực trong thời gian
    dài (ít nhất hai năm tài chính): Hợp đồng kiểm toán, Hợp đồng cho thuê,
    Hợp đồng bảo hiểm, thoả thuận vay…
     Các tài liệu về chính sách kế toán, các tài liệu khác.
    Hồ sơ kiểm toán chung được cập nhật hàng năm khi có sự thay đổi liên quan
    đến các tài liệu đề cập trên đây.
    o Hồ sơ kiểm toán năm (Hồ sơ kiểm toán hiện hành): là hồ sơ kiểm toán chứa
    đựng các thông tin về khách hàng chỉ liên quan đến cuộc kiểm toán một năm tài
    chính. Hồ sơ kiểm toán năm bao gồm các dữ liệu áp dụng cho năm kiểm toán:
     Các thông tin về những người tham gia cuộc kiểm toán.
     Các văn bản quy định về tài chính, kế toán, thuế,… của cơ quan có thẩm
    quyền liên quan đến năm tài chính.
     Báo cáo kiểm toán, thư quản lý, báo cáo tài
    chính của niên độ được kiểm toán.
     Các văn bản làm căn cứ pháp lý của cuộc
    kiểm toán như hợp đồng kiểm toán, thư
    hẹn kiểm toán, phụ lục hợp đồng (nếu có)
    và Biên bản thanh lý hợp đồng.
     Kế hoạch chiến lược, chương trình kiểm
    toán và những thay đổi (nếu có).
     Những thông tin bổ sung về sự thay đổi hệ thống kiểm toán, hệ thống kiểm
    soát nội bộ của khách hàng.
     Đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm soát và các
    đánh giá khác.
     Các sự kiện phát sinh sau khi kết thúc niên độ.
     Những ghi chép về nội dung, chương trình và phạm vi của những thủ tục kiểm
    toán được thực hiện và kết quả thu được.
     Các điều chỉnh của kiểm toán viên.
     Bản giải trình của Giám đốc hay người đứng đầu đơn vị được kiểm toán.
     Các bằng chứng kiểm toán, các tài liệu khác.

    2.3. Lập kế hoạch kiểm toán

    2.3.1. Ý nghĩa của lập kế hoạch kiểm toán
    Kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai quan trọng,
    chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm toán. Ý nghĩa của
    giai đoạn này được thể hiện qua một số điểm sau:
     Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu trách
    nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín nghề nghiệp đối

    30 ACC509_Bai 2_v1.0011105219

  15. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    với khách hàng. Kế hoạch kiểm toán là căn cứ để các kiểm toán viên hình dung được
    lộ trình thực hiện cũng như nắm được trách nhiệm của mình trong cuộc kiểm toán.
     Kế hoạch kiểm toán giúp các kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau cũng như
    phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các chuyên
    gia bên ngoài và bộ phận kế toán của đơn vị.
     Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để công ty kiểm toán tránh xảy ra những
    bất đồng đối với khách hàng về thời gian, về nội dung công việc cần thực hiện.
     Ngoài ra, kế hoạch kiểm toán giúp bản thân kiểm toán viên tự đánh giá chất lượng
    công việc, giúp công ty kiểm toán kiểm soát chất lượng kiểm toán.

    2.3.2. Chuẩn bị kế hoạch kiểm toán
    Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên thu nhận một khách hàng. Thu nhận
    khách hàng là một quá trình gồm 2 bước:
     Phải có sự liên lạc giữa kiểm toán viên với khách hàng tiềm năng mà khách hàng
    này yêu cầu được kiểm toán.
     Khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá liệu có chấp nhận yêu cầu
    đó hay không. Còn đối với những khách hàng hiện tại, kiểm toán viên phải quyết
    định liệu có tiếp tục kiểm toán hay không?
    Trên cơ sở đã xác định được đối tượng khách hàng có thể phục vụ trong tương lai, công ty
    kiểm toán sẽ tiến hành các công việc cần thiết sau:
     Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán
    Kiểm toán viên phải đánh giá xem việc chấp nhận hay tiếp tục một khách hàng có
    làm tăng rủi ro cho hoạt động của kiểm toán viên hay làm hại đến uy tín và hình
    ảnh của công ty kiểm toán hay không? Để làm được điều đó, kiểm toán viên phải
    tiến hành các công việc như sau:
    o Xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng:
    Để đưa ra quyết định chấp nhận hay giữ một
    khách hàng thì kiểm toán viên phải xem xét
    tính độc lập, khả năng phục vụ tốt khách hàng.
    Đôi khi công ty kiểm toán phải chấp nhận từ
    bỏ các khách hàng lớn nếu xét thấy công ty
    của mình không đủ nhân lực hoặc không đảm
    bảo được tính độc lập khi tiến hành kiểm toán.
    Chất lượng của cuộc kiểm toán đối với từng
    khách hàng ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn tại và
    phát triển của cả công ty kiểm toán.
    o Xem xét tính liêm chính của ban quản trị công ty khách hàng
    Đặc thù quản lý là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến môi trường kiểm soát, ảnh
    hưởng đến việc xây dựng và đề xuất các chính sách và thủ tục kiểm soát. Vì
    vậy, tính liêm chính của ban quản trị là bộ phận cấu thành then chốt của môi
    trường kiểm soát, ảnh hưởng trực tiếp tới qui trình kiểm soát, môi trường kiểm
    soát, ảnh hưởng tới sai phạm trong báo cáo tài chính. Nếu ban quản trị của
    công ty khách hàng thiếu liêm chính, kiểm toán viên nên thận trọng khi chấp
    nhận hợp đồng kiểm toán hoặc có thể từ bỏ khách hàng tiềm năng đó nếu
    những nghi ngại về tính liêm chính ở mức cao.

    ACC509_Bai 2_v1.0011105219 31

  16. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    o Liên lạc với kiểm toán viên tiền nhiệm
    Nếu khách hàng này trước đây đã được kiểm toán bởi một công ty kiểm toán
    khác thì kiểm toán viên phải chủ động liên lạc với kiểm toán viên cũ vì đây là
    nguồn thông tin đầu tiên để đánh giá khách hàng. Kiểm toán viên nên trao đổi
    với kiểm toán viên cũ về các vấn đề liên quan đến quyết định chấp nhận khách
    hàng kiểm toán, bao gồm:
     Những thông tin về tính liêm chính của ban quản trị.
     Những bất đồng giữa ban quản trị với kiểm toán viên tiền nhiệm về các
    nguyên tắc kế toán, thủ tục kiểm toán hoặc các vấn đề quan trọng khác,…
    và lý do tại sao khách hàng thay đổi kiểm toán viên.
    Đối với các khách hàng đã từng được kiểm toán bởi chính công ty kiểm toán,
    hàng năm kiểm toán viên cập nhật các thông tin về khách hàng và đánh giá liệu
    có rủi ro nào khiến kiểm toán viên phải ngừng cung cấp các dịch vụ kiểm toán
    cho họ hay không? Kiểm toán viên có thể ngừng cung cấp dịch vụ kiểm toán cho
    khách hàng trong trường hợp hai bên có những mâu thuẫn về các vấn đề như:
     Phạm vi thích hợp của cuộc kiểm toán.
     Loại báo cáo kiểm toán phải công bố.
     Tiền thù lao.
     Giữa hai bên có những vụ kiện tụng.
     Trong trường hợp kiểm toán viên cho rằng khách hàng thiếu liêm chính…
    Từ những thông tin thu được, kiểm toán viên có thể cân nhắc đánh giá khả
    năng chấp nhận hay tiếp tục kiểm toán cho khách hàng.
     Nhận diện các lí do kiểm toán của công ty khách hàng
    Thực chất việc nhận diện lý do kiểm toán là xác định người sử dụng và mục đích
    sử dụng báo cáo tài chính. Xác định đúng lý do kiểm toán của khách hàng giúp
    công ty kiểm toán nhận diện và xác định đúng trọng yếu và rủi ro đối với toàn bộ
    báo cáo tài chính và đối với từng khoản mục. Nếu các báo cáo tài chính cần được
    sử dụng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lí của các thông tin trên báo cáo tài
    chính được đòi hỏi càng cao và do đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập
    cũng như quy mô và độ phức tạp của cuộc kiểm toán sẽ càng tăng lên. Điều này lại
    càng đòi hỏi phải có một số lượng và cơ cấu kiểm toán viên thích hợp để thực hiện
    cuộc kiểm toán.
    Chú ý

    Ở Việt Nam hiện nay, theo Thông tư số 22 (ngày 19/03/1994) của Bộ Tài chính hướng
    dẫn thực hiện quy chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân chỉ có các doanh
    nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn
    nước ngoài) và các hợp đồng hợp tác kinh doanh với nước ngoài là phải kiểm toán trước
    khi công khai báo cáo tài chính và gửi báo cáo tài chính này tới các bộ ngành chức năng,
    tổng cục thuế và các cổ đông… Tuy nhiên trong thực tế, do sự phát triển nền kinh tế, khi
    các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hóa rộng rãi và thị trường chứng khoán phát
    triển thì số lượng các khách hàng tìm đến với công ty kiểm toán ngày càng đa dạng hơn
    với nhiều mục đích khác nhau.
     Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán
    Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán thích hợp cho hợp đồng kiểm toán không
    những đạt được hiệu quả của cuộc kiểm toán mà còn tuân thủ các chuẩn mực kiểm
    toán chung được thừa nhận.

    32 ACC509_Bai 2_v1.0011105219

  17. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    Việc lựa chọn này được tiến hành trên yêu cầu về số người, trình độ khả năng và
    yêu cầu chuyên môn kĩ thuật và thường do ban giám đốc công ty kiểm toán trực
    tiếp chỉ đạo (thông thường nhóm kiểm toán có một hoặc hai trợ lí kiểm toán, một
    kiểm toán viên cao cấp và một chủ nhiệm kiểm toán).
    Với các hợp đồng lớn đội ngũ kiểm toán viên thường ở các mức kinh nghiệm khác
    nhau và có sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực thống kê, vi tính… còn đối
    với những hợp đồng nhỏ thì chỉ cần một hoặc hai thành viên trong nhóm kiểm toán.
     Hợp đồng kiểm toán
    Khi đã quyết định chấp nhận kiểm toán cho khách hàng và xem xét các vấn đề trên,
    bước cuối cùng trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán mà công ty kiểm toán phải đạt
    được là một hợp đồng kiểm toán. Đây là sự thoả thuận chính thức giữa công ty kiểm
    toán và khách hàng về việc thực hiện kiểm toán và các dịch vụ liên quan khác.
    Theo thông lệ quốc tế của kiểm toán, công ty kiểm toán có thể lập thư hẹn kiểm
    toán. Thư hẹn kiểm toán thường do kiểm toán viên soạn thảo và gửi cho khách
    hàng, nếu khách hàng chấp thuận các điều khoản trong hợp đồng thì họ sẽ kí vào
    thư hợp đồng và gửi trả lại một bản sao đã kí cho công ty kiểm toán. Còn ở Việt
    Nam, công ty kiểm toán và khách hàng thường gặp gỡ trực tiếp, thoả thuận các
    hợp đồng và kí một hợp đồng kiểm toán.
    Thư hợp đồng (hoặc hợp đồng kiểm toán) là cơ sở pháp lí để kiểm toán viên thực
    hiện các bước tiếp theo của cuộc kiểm toán và có thể ảnh hưởng đến trách nhiệm
    pháp lí của kiểm toán viên đối với khách hàng, nó đảm bảo cho một cuộc kiểm
    toán được thực thi. Sau khi hợp đồng kiểm toán được kí kết, công ty kiểm toán trở
    thành chủ thể kiểm toán chính thức của công ty khách hàng.
    Thư hẹn kiểm toán hoặc hợp đồng kiểm toán bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
    o Mục đích và phạm vi kiểm toán.
    o Trách nhiệm ban giám đốc công ty khách hàng và kiểm toán viên.
    o Hình thức thông báo kết quả kiểm toán.
    o Thời gian tiến hành.
    o Căn cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán.

    Sơ đồ 2.1: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán

    Thu thập thông tin cơ sở

    Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý
    của khách hàng

    Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán, rủi ro
    kinh doanh và rủi ro cố hữu

    Tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ và đánh giá
    rủi ro kiểm soát

    Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo
    chương trình kiểm toán

    ACC509_Bai 2_v1.0011105219 33

  18. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    2.3.3. Thu thập thông tin cơ sở
    Trong giai đoạn này kiểm toán viên đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu, đưa
    ra đánh giá ban đầu về mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân tích để xác định
    thời gian cần thiết để thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác.
    Tìm hiểu ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng
     Thể hiện trong CMKTVN số 300 đòi hỏi kiểm toán viên phải tìm hiểu ngành nghề và
    hoạt động kinh doanh của khách hàng và trong đoạn 2 của CMKT Việt Nam 310 cũng
    như đoạn 2 của CMKT Quốc tế 310 (ISA 310) đã hướng dẫn: “để thực hiện được kiểm
    toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có hiểu biết về tình hình kinh doanh đủ để
    nhận thức và xác định các dữ kiện, nghiệp vụ và thực tiễn hoạt động của đơn vị được
    kiểm toán mà đánh giá của kiểm toán viên có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài
    chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc đến báo cáo kiểm toán.
     Khi tìm hiểu về ngành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng cần lưu ý:
    o Thông tin thu thập
    Hiểu biết chung về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị và sự hiểu biết
    cụ thể hơn về tổ chức và hoạt động của đơn vị kiểm toán. Kiểm toán viên còn
    phải hiểu cả những khía cạnh đặc thù của một tổ chức cụ thể như:
     Cơ cấu tổ chức.
     Dây chuyền và các dịch vụ sản xuất.
     Cơ cấu vốn.
     Chức năng.
     Vị trí của kiểm toán nội bộ…
    Để hiểu rõ các sự kiện, các nghiệp vụ và các hoạt động có thể tác động đến báo
    cáo tài chính và để thực hiện quá trình so sánh khách hàng này với các đơn vị
    khác trong ngành đó.
    o Phương pháp
    Có nhiều phương pháp thu thập thông tin, nhưng phương pháp thường được sử
    dụng nhiều nhất là trao đổi với các kiểm toán viên tiền nhiệm hoặc các kiểm
    toán viên đã kiểm toán cho khách hàng khác trong cùng ngành nghề kinh
    doanh hoặc trao đổi trực tiếp với nhân viên, ban giám đốc của khách hàng.
     Ngoài ra, kiểm toán viên có thể có được những hiểu biết đó qua việc nghiên cứu
    các sách báo, tạp chí chuyên ngành và ở Việt Nam, kiểm toán viên có thể lấy các
    thông tin từ niên giám thống kê do Tổng cục Thống kê phát hành hàng năm.
    Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán chung
    Việc cập nhật và xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó kiểm toán
    viên có thể xác định được các quyết định của nhà quản lý có phù hợp với luật pháp
    của nhà nước, với các chính sách hiện hành của công ty hay không mà còn giúp kiểm
    toán viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúng trên
    các báo cáo tài chính được kiểm toán.
    Tham quan nhà xưởng
    Một vòng tham quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp hoạt động sản xuất kinh doanh của
    khách hàng sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những điều mắt thấy tai nghe về quy trình
    sản xuất kinh doanh của khách hàng và nó cũng cho phép kiểm toán viên gặp các nhân
    vật chủ chốt và cung cấp cho kiểm toán viên một cái nhìn tổng thể về công việc kinh

    34 ACC509_Bai 2_v1.0011105219

  19. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    doanh của khách hàng (đặc biệt là công tác bảo vệ tài sản). Điều này tạo điều kiện cho
    việc thuyết minh số liệu kế toán, phát hiện những vấn
    đề cần quan tâm như sản xuất trì trệ, sản phẩm ứ
    đọng, máy móc lạc hậu hay không được phát huy hết
    công suất…, do đó kiểm toán viên dự đoán được
    những tài khoản trọng yếu trên báo cáo tài chính.
    Ngoài ra, kiểm toán viên cũng có được những nhận
    định ban đầu về phong cách quản lý của ban giám
    đốc, tính hệ thống trong việc sắp đặt công việc…
    Nhận diện các bên hữu quan
     Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên nên xác định tất cả các
    bên có liên quan với khách hàng.
    Theo cách hiểu thông thường, các bên có liên quan là các tổ chức hoặc cá nhân có
    tác động ảnh hưởng tới khách hàng (theo CMKTVN số 550 các bên liên quan
    được hiểu là: các bộ phận trực thuộc, các chủ sở hữu chính thức của công ty khách
    hàng hay bất kỳ công ty, chi nhánh, một cá nhân hay tổ chức nào mà công ty khách
    hàng có quan hệ và các cá nhân tổ chức đó có khả năng điều hành, kiểm soát hoặc
    có ảnh hưởng đáng kể tới các chính sách kinh doanh hoặc chính sách quản trị của
    công ty khách hàng).
     Kiểm toán viên quan tâm tới sự hiện hữu của các bên liên quan trên 2 khía cạnh:
    o Tất cả các nghiệp vụ giao dịch quan trọng đã được công bố đầy đủ.
    o Tất cả các vụ giao dịch giữa khách hàng và các bên liên quan được ghi chép lại
    để phản ánh bản chất kinh tế hơn là để phản ánh hình thức kinh tế của nghiệp vụ.
     Kiểm toán viên phải xác định các bên liên quan và nhận định sơ bộ về mối quan hệ
    này thông qua phỏng vấn ban giám đốc, xem sổ theo dõi cổ đông, sổ theo dõi
    khách hàng… từ đó bước đầu dự đoán các vấn đề có thể phát sinh giữa các bên liên
    quan để có thể hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp.
    Dự kiến nhu cầu chuyên gia bên ngoài
    Theo Chuẩn mực Kiểm toán quốc tế 620, khi kiểm
    toán viên có kế hoạch sử dụng tư liệu của chuyên
    gia thì kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải
    xem xét các yếu tố sau:
     Kiểm toán viên phải đánh giá khả năng chuyên
    môn, hiểu mục đích và phạm vi công việc của họ
    cũng như sự phù hợp của việc sử dụng tư liệu đó
    cho các mục tiêu dự định.
     Kiểm toán viên cũng nên xem xét mối quan hệ giữa chuyên gia với khách hàng,
    những yếu tố có thể ảnh hưởng tới tính khách quan của chuyên gia đó.
    Nhận xét: Trong giai đoạn này, kiểm toán viên cần xác định các vấn đề cần có sự tư
    vấn của chuyên gia, nhờ đó kiểm toán viên có thể chắc chắn rằng khi cần thiết, anh ta
    sẽ nhận được sự tư vấn của chuyên gia có năng lực và độc lập với công ty khách hàng.

    ACC509_Bai 2_v1.0011105219 35

  20. Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính

    2.3.4. Thu thập thông tin về các nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
     Mục đích thu thập: Giúp cho kiểm toán viên nắm bắt được các quy trình mang tính
    pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng.
     Cách thức thu thập: Tiếp xúc với ban giám đốc công ty khách hàng.
     Thông tin thu thập bao gồm bốn loại sau:
    o Giấy phép thành lập và điều lệ công ty.
    Việc nghiên cứu những tài liệu này giúp kiểm toán viên hiểu được về quá trình
    hình thành, mục tiêu hoạt động và các lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn
    vị cũng như nắm bắt được những vấn đề mang tính chất nội bộ của đơn vị như
    cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ các phòng ban, thủ tục phát hành cổ
    phiếu, trái phiếu…
    o Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, thanh tra hay kiểm tra của năm hiện
    hành hay trong vài năm trước.
    Giúp kiểm toán viên nhận thức được tổng quát về vấn đề và dựa trên cơ sở đó,
    áp dụng các kỹ thuật phân tích các báo cáo này để nhận thức được xu hướng phát
    triển của khách hàng. Đây là tài liệu quan trọng nhất trong một cuộc kiểm toán
    báo cáo tài chính. Ngoài ra, việc xem xét các báo cáo kiểm toán, các biên bản
    kiểm tra, thanh tra (nếu có) sẽ giúp kiểm toán viên nhận thức rõ hơn về thực
    trạng hoạt động của đơn vị khách hàng và dự kiến phương hướng kiểm tra.
    o Biên bản các cuộc họp cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc
    Đây là những tài liệu chính thức và tóm lược
    về những vấn đề quan trọng nhất đã được
    thảo luận và quyết định chính thức trong các
    cuộc họp. Các biên bản này thường chứa
    đựng những thông tin quan trọng như: công
    bố về cổ tức, phê chuẩn việc hợp nhất hoặc
    giải thể các đơn vị trực thuộc, xét duyệt mua
    bán, chuyển nhượng các tài liệu quan trọng…
    Qua việc nghiên cứu các biên bản này, kiểm toán viên sẽ xác định được những
    dữ kiện có ảnh hưởng quan trọng đến việc hình thành và trình bày trung thực
    các thông tin trên báo cáo tài chính.
    Trước khi cuộc kiểm toán hoàn thành, kiểm toán viên cần phải kiểm tra, đối
    chiếu các kết quả thu được trong quá trình kiểm toán với các quyết định đưa ra
    trong các cuộc họp để đảm bảo là ban giám đốc đã tuân thủ các biện pháp đã
    được hội đồng quản trị và các cổ đông đề ra và yêu cầu ban giám đốc cung cấp
    thư giải trình trong đó cam kết là đã gửi đầy đủ các biên bản của các cuộc họp
    trên cho kiểm toán viên.
    o Các hợp đồng và cam kết quan trọng
    Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, việc xem xét sơ bộ các hợp đồng đó sẽ
    giúp kiểm toán viên tiếp cận với các hoạt động chính của khách hàng, hình
    dung những khía cạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả
    hoạt động của đơn vị khách hàng.

    36 ACC509_Bai 2_v1.0011105219

Download tài liệu Bài giảng Kiểm toán – Bài 2: Quy trình kiểm toán báo cáo tài chính File Word, PDF về máy