[Download] Tải Bài giảng Kế toán trong các doanh nghiệp – Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán – Tải về File Word, PDF

Bài giảng Kế toán trong các doanh nghiệp – Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

Bài giảng Kế toán trong các doanh nghiệp – Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán
Nội dung Text: Bài giảng Kế toán trong các doanh nghiệp – Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

Download


“Bài giảng Kế toán trong các doanh nghiệp – Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán” gồm 3 nội dung đó là bản chất của kế toán; đối tượng nghiên cứu của kế toán; các yêu cầu và nguyên tắc kế toán. Mời các bạn cùng tham khảo bài giảng để nắm chi tiết kiến thức phục vụ cho học tập và nghiên cứu.

Bạn đang xem: [Download] Tải Bài giảng Kế toán trong các doanh nghiệp – Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán – Tải về File Word, PDF

*Ghi chú: Có 2 link để tải biểu mẫu, Nếu Link này không download được, các bạn kéo xuống dưới cùng, dùng link 2 để tải tài liệu về máy nhé!
Download tài liệu Bài giảng Kế toán trong các doanh nghiệp – Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán File Word, PDF về máy

Bài giảng Kế toán trong các doanh nghiệp – Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

Mô tả tài liệu

Nội dung Text: Bài giảng Kế toán trong các doanh nghiệp – Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

  1. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

    Bài 1: BẢN CHẤT VÀ ĐỐI TƯỢNG CỦA KẾ TOÁN

    Trong buổi tuyển dụng nhân viên kế toán của
    công ty TNHH Thành Đạt, Trưởng phòng
    nhân sự đưa ra câu hỏi “Anh chị biết gì về kế
    toán?”. Câu hỏi tưởng như đơn giản, nhưng
    là một ứng cử viên tham gia dự tuyển, bạn sẽ
    trả lời thế nào để được nhà tuyển dụng đánh
    giá cao?
    Bài học này sẽ giúp học viên tìm hiểu về kế
    toán để trả lời câu hỏi của nhà tuyển dụng
    cũng như giúp bạn tìm hiểu về kế toán trong
    các doanh nghiệp, các tổ chức
    Mục tiêu Nội dung

    Học xong chương này, học viên phải Bài 1 gồm 3 nội dung chính sau:
    nắm được:  Bản chất của kế toán.
     Bản chất của kế toán, vai trò cung cấp  Đối tượng nghiên cứu của kế toán.
    thông tin cho các nhà làm quyết định và
     Các yêu cầu và nguyên tắc kế toán.
    các yêu cầu đối với thông tin kế toán.
     Phân biệt được kế toán tài chính và kế
    toán quản trị.
     Hiểu và phân biệt được các khái niệm
    sau: Tài sản ngắn hạn với tài sản dài
    hạn, nợ phải trả với nguồn vốn chủ sở
    hữu, doanh thu và thu nhập với chi phí.
     Nắm vững các nguyên tắc kế toán cơ
    bản và yêu cầu của thông tin kế toán.

    Thời lượng học Hướng dẫn học

    10 tiết học. Để học tốt bài này đòi hỏi học viên cần nắm
    được các yếu tố cần phải có cho hoạt động
    của một doanh nghiệp (nhân lực, vật lực và
    tài lực). Có kiến thức nền tảng về pháp luật
    và kinh tế vi mô, vĩ mô.

    ACC202_Bai 1_v2.0013107222 1

  2. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

    1.1. Bản chất của kế toán

    1.1.1. Khái niệm, vai trò và chức năng của kế toán
    Từ thời cổ xưa, người ta đã biết quan sát, tính toán,
    đo lường và ghi chép các hoạt động kinh tế của quá
    trình tái sản xuất xã hội nhằm nâng cao hiệu quả
    của quá trình này, đó chính là hạch toán. Hạch toán
    ra đời và phát triển gắn liền với quá trình phát triển
    của loài người từ thô sơ của thời nguyên thuỷ cho
    đến phức tạp như ngày nay. Hiện nay, hạch toán
    được xem như là một phương tiện không thể thiếu
    được trong cạnh tranh trên thị trường.
    Hạch toán là một hệ thống điều tra quan sát, tính toán, đo lường và ghi chép các quá
    trình kinh tế, nhằm quản lý các quá trình đó ngày một chặt chẽ hơn (Giáo trình lý
    thuyết Hạch toán kế toán – PGS.TS Nguyễn Thị Đông – ĐH Kinh tế quốc dân).
    Hạch toán có 3 loại: hạch toán nghiệp vụ, hạch toán thống kê và hạch toán kế toán.
    Hạch toán nghiệp vụ tiến hành ghi chép, đo lường, tính toán và cung cấp các thông tin
    về nghiệp vụ kinh tế cụ thể theo tiến độ thực hiện các nghiệp vụ đó. Do vậy, hạch toán
    nghiệp vụ sử dụng các thông số, có đặc điểm là nhanh, kịp thời, nhưng các thông tin
    này thường chưa qua xử lý nên hạch toán nghiệp vụ không phải là một môn khoa học.
    Hạch toán thống kê dùng cho các hiện tượng kinh tế xã hội số lớn theo thời gian và
    địa điểm cụ thể. Hạch toán thống kê có đối tượng nghiên cứu riêng (các hiện tượng
    kinh tế xã hội số lớn), có phương pháp nghiên cứu riêng nên là một môn khoa học.
    Hạch toán kế toán ghi chép các nghiệp vụ kinh tế tài chính trong một đơn vị kinh tế.
    Hạch toán kế toán có đối tượng nghiên cứu riêng (nghiệp vụ kinh tế tài chính) và
    phương pháp nghiên cứu riêng (chứng từ, tài khoản, tính giá, tổng hợp và cân đối) nên
    nó là một môn khoa học.
    Tiến trình lịch sử của kế toán cả về mặt lý luận và thực tiễn là một bộ phận không thể
    tách rời của lịch sử hạch toán. Vì thế, có thể khẳng định: Hạch toán kế toán là một
    khoa học xã hội ra đời và phát triển cùng với quá trình phát triển của nền sản
    xuất xã hội và phục vụ trực tiếp cho nền sản xuất xã hội.
    Vì kế toán là một khoa học nên trong một quốc gia, tất cả mọi doanh nghiệp với quy
    mô lớn hay nhỏ, thuộc khu vực kinh tế Nhà nước hay ngoài Nhà nước, hoạt động sản
    xuất hay kinh doanh thương mại, dịch vụ đều có cùng một quy trình kế toán căn bản
    giống nhau. Tuy nhiên, ở các quốc gia khác nhau thường xây dựng cho mình một hệ
    thống chuẩn mực kế toán riêng phù hợp với đặc trưng kinh tế, xã hội của nước đó,
    nhưng vẫn dựa trên nguyên lý kế toán chung, các thông lệ và chuẩn mực kế toán
    quốc tế.
    Trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay, xu hướng thống nhất và phù hợp
    hệ thống chuẩn mực kế toán của quốc gia với hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế là
    một điều tất yếu và đang được các quốc gia thực hiện.

    2 ACC202_Bai 1_v2.0013107222

  3. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

    1.1.1.1. Khái niệm kế toán
     Theo Ủy Ban thực hành Kiểm toán quốc tế:
    “Một hệ thống kế toán là hàng loạt các nhiệm vụ
    ở một doanh nghiệp mà nhờ hệ thống này các
    nghiệp vụ được xử lý như một phương tiện các
    ghi chép tài chính”.
     Theo Gene Allen Gohlke, theo Liên đoàn Kế
    toán quốc tế (IFAC): “Kế toán là nghệ thuật
    ghi chép, phản ánh, tổng hợp theo một cách
    riêng có bằng chứng về những khoản tiền, các
    nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình
    bày kết quả của nó”.
     Ở Việt Nam, Điều 4, Luật Kế toán Việt Nam năm 2003 có quy định: “Kế toán là
    việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính
    dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động”.

    1.1.1.2. Chức năng của kế toán
    Kế toán là kỹ thuật thu nhận, đánh giá, tính toán và ghi chép các dòng kinh tế nhằm
    mục đích thỏa mãn nhu cầu thông tin về tình hình của doanh nghiệp cho các đối tác
    quan tâm.
    Nói cách khác, kế toán là một công cụ đo lường kết quả của các nghiệp vụ kinh doanh
    và là công cụ truyền đạt các thông tin tài chính. Ngoài ra hệ thống thông tin kế toán
    còn phải cung cấp cho người ra quyết định các thông tin dự báo giúp họ ra quyết định
    kinh doanh quan trọng trong một thế giới luôn luôn biến đổi.
    Kế toán có 2 chức năng: Chức năng phản ánh và chức năng giám đốc
     Chức năng phản ánh (chức năng thông tin):
    Chức năng phản ánh được biểu hiện ở việc kế
    toán theo dõi toàn bộ các hiện tượng kinh tế, tài
    chính phát sinh trong quá trình hoạt động của
    đơn vị thông qua việc tính toán, ghi chép, phân
    loại, xử lý và tổng kết các dữ liệu liên quan đến
    hoạt động sử dụng vốn và tài sản của đơn vị. Từ
    đó, kế toán tiến hành cung cấp thông tin kinh tế
    cho các đối tượng kế toán để ra các quyết định Chức năng của kế toán
    quản lý, đầu tư, cho vay…
     Chức năng giám đốc (chức năng kiểm tra): Thể hiện ở việc thông qua các số
    liệu đã được phản ánh người sử dụng thông tin, kế toán sẽ nắm được một cách có
    hệ thống toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động của đơn vị, làm cơ sở cho việc
    đánh giá được đúng đắn, kiểm soát chặt chẽ tình hình chấp hành luật pháp,
    việc thực hiện các mục tiêu đã đề ra nhằm giúp cho hoạt động ngày càng mang lại
    hiệu quả cao.
    Chức năng phản ánh và chức năng giám đốc có mối quan hệ với nhau rất chặt chẽ:
    Phản ánh là cơ sở của giám đốc, đồng thời thông qua giám đốc sẽ giúp việc phản ánh

    ACC202_Bai 1_v2.0013107222 3

  4. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán
    được chính xác, rõ ràng và đầy đủ hơn. Hai chức năng này được thể hiện bởi một hệ
    thống các phương pháp của kế toán như: Chứng từ kế toán, tài khoản kế toán và ghi sổ
    kép, tính giá, tổng hợp – cân đối. Với hai chức năng này, kế toán đã trở thành một
    công cụ hết sức quan trọng trong quản lý của bản thân các đơn vị kế toán.
    Đơn vị kế toán là đơn vị có sử dụng kế toán trong hoạt động của mình. Theo Điều 2
    của Luật Kế toán Việt Nam năm 2003, đơn vị kế toán gồm: “Cơ quan Nhà nước, đơn
    vị sự nghiệp, tổ chức có sử dụng kinh phí, ngân sách Nhà nước; đơn vị sự nghiệp, tổ
    chức không sử dụng kinh phí Nhà nước; doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
    được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam; chi nhánh, văn phòng đại diện
    của doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; hợp tác xã; hộ kinh doanh cá
    thể, tổ hợp tác; cá nhân hành nghề kế toán”.

    1.1.2. Các loại kế toán
    Các nhà quản lý doanh nghiệp hàng ngày phải đưa ra các quyết định liên quan đến
    hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, họ cần rất nhiều thông tin kế toán.
    Các thông tin kế toán được cung cấp cho lãnh đạo dưới hình thức các báo cáo, bao
    gồm hai dạng: Báo cáo kế toán quản trị và báo cáo
    kế toán tài chính.
     Điều 6, Luật Kế toán Việt Nam năm 2003
    qui định: “Kế toán tài chính là việc thu thập,
    xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin
    kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối
    tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị
    kế toán”.
     Điều 7, Luật Kế toán Việt Nam năm 2003 qui định: “Kế toán quản trị là việc
    thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế – tài chính theo yêu cầu
    quản trị và quyết định kinh tế – tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
    Kế toán tài chính và kế toán quản trị cùng tồn tại trong mỗi doanh nghiệp, cả hai
    loại kế toán đều là hạch toán kế toán và có mối quan hệ chặt chẽ với thông tin kế
    toán. Tuy nhiên, do mục đích khác nhau nên chúng có nhiều điểm khác biệt. Để
    hiểu rõ hơn, chúng ta cùng xem xét những điểm giống và khác nhau giữa kế toán tài
    chính và kế toán quản trị.
    o Những điểm giống nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
    Hệ thống kế toán quản trị và kế toán tài chính có nhiều điểm giống nhau bởi vì
    cả hai hệ thống này đều dựa vào dữ liệu thu thập được từ hệ thống kế toán cơ
    bản của tổ chức.
     Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ
    chặt chẽ với thông tin kế toán, đều nhằm
    vào việc phản ánh kết quả hoạt động của
    doanh nghiệp, đều quan tâm đến doanh
    thu, chi phí và sự vận động của tài sản,
    tiền vốn.

    4 ACC202_Bai 1_v2.0013107222

  5. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

     Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ chặt chẽ về số liệu thông tin. Các số
    liệu của kế toán tài chính và kế toán quản trị đều được xuất phát từ chứng
    từ gốc. Một bên phản ánh thông tin tổng quát, một bên phản ánh thông tin
    chi tiết.
     Cả hai loại kế toán đều có mối quan hệ trách nhiệm của nhà quản lý.
    o Những điểm khác nhau giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

    a
    Tiêu thức phân biệt Kế toán tài chính Kế toán quản trị

    Đặc điểm của thông tin  Phản ánh quá khứ  Hướng về tương lai
     Chính xác  Linh hoạt
     Tuân thủ nguyên tắc kế  Thích hợp
    toán  Biểu hiện bằng giá trị, hiện
     Biểu hiện dưới hình thức vật và thời gian lao động
    giá trị

    Tính pháp lý Tính pháp lý cao Không mang tính pháp lý

    Cả giá trị và hiện vật, thời gian
    Thước đo sử dụng Chủ yếu là thước đo giá trị
    lao động

    Các nguyên tắc sử Phải tuân thủ các nguyên tắc Doanh nghiệp tự xây dựng, tự
    dụng trong việc lập kế toán chung đã được thừa triển khai, có tính linh hoạt, không
    báo cáo nhận, mang tính bắt buộc. mang tính pháp lệnh.

    Các thành phần bên ngoài Các thành phần bên trong công
    doanh nghiệp như các tổ chức ty: Hội đồng quản trị, Giám đốc,
    Người sử dụng tín dụng; đối thủ cạnh tranh; các cấp quản lý trung gian, các
    thông tin nhà cung cấp vật tư, hàng hóa, giám sát viên, quản đốc.
    nhà đầu tư tài chính; người lao
    động…

     Bảng cân đối kế toán  Các báo cáo cung cấp, dự
     Báo cáo kết quả kinh doanh trữ vật tư, hàng hóa…

     Báo cáo lưu chuyển tiền tệ  Các báo cáo về quá trình
    Các báo cáo kế toán
    sản xuất (tiến độ, chi phí,
    chủ yếu  Bản thuyết minh các báo
    kết quả)
    cáo tài chính
     Các báo cáo về bán hàng (chi
    phí giá vốn, doanh thu…)

    Kỳ báo cáo Quý, năm Ngày, tuần, tháng, quý, năm

    Gắn với các bộ phận trực thuộc
    Phạm vi thông tin Toàn doanh nghiệp
    doanh nghiệp

    Chính xác, khách quan, tổng Kịp thời, thích hợp, linh động, độ
    Trọng tâm thông tin
    thể chính xác tương đối

    1.2. Đối tượng nghiên cứu của kế toán
    Đối tượng kế toán nghiên cứu đó là: Tài sản, nguồn hình thành tài sản và sự vận động
    của tài sản và các mối quan hệ pháp lý ngoài vốn.

    ACC202_Bai 1_v2.0013107222 5

  6. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán
    1.2.1. Tài sản

    1.2.1.1. Khái niệm tài sản
    Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01, tài sản
    là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể
    thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Trong khái
    niệm này, chúng ta lưu ý một số điểm sau:
     Kiểm soát: Là việc doanh nghiệp có quyền định
    đoạt, quyền hưởng lợi và gánh chịu rủi ro liên
    quan đến nguồn lực kinh tế đó.
     Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài
    sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các
    khoản tương đương tiền của doanh nghiệp, hoặc
    làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp
    phải chi ra.

    1.2.1.2. Phân loại tài sản

     Tài sản ngắn hạn
    Tài sản ngắn hạn là các tài sản thuộc quyền sở
    hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian
    sử dụng, luân chuyển, thu hồi (hay có thể
    chuyển đổi thành tiền) trong vòng một năm hay
    một chu kỳ kinh doanh như: Vốn bằng tiền, đầu
    tư ngắn hạn, phải thu và hàng tồn kho như
    nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, hàng hoá…
     Tài sản dài hạn
    Tài sản dài hạn của doanh nghiệp là các tài sản của doanh nghiệp có giá trị
    lớn, thời gian luân chuyển thu hồi dài, lớn hơn 1 năm hoặc hơn 1 chu kỳ
    kinh doanh như: Tài sản cố định, bất động sản đầu tư, khoản đầu tư dài hạn,
    phải thu dài hạn.

    1.2.2. Nguồn vốn (nguồn hình thành tài sản)
    Nguồn vốn hay còn gọi là nguồn hình thành tài
    sản của doanh nghiệp là toàn bộ nguồn lực
    doanh nghiệp huy động để hình thành nên tài sản
    của mình. Căn cứ vào nguồn hình thành (nguồn
    tài trợ) toàn bộ nguồn vốn của doanh nghiệp
    được chia thành 2 loại: Nợ phải trả và nguồn vốn
    chủ sở hữu.

    6 ACC202_Bai 1_v2.0013107222

  7. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

    VÍ DỤ

    Ông Vương Đăng Vũ và ông Nguyễn Quang Hưng góp tiền với nhau để thành lập công ty
    TNHH Thành Đạt vào ngày 12 tháng 2 năm N với thoả thuận mỗi người góp 400 triệu
    đồng bằng tiền mặt. Hai ông Vũ và Hưng đã góp đủ tiền. Doanh nghiệp mở tài khoản tiền
    gửi ngân hàng tại TECHCOMBANK và đã gửi vào đó 400 triệu. Tuy nhiên, để có nhiều
    tiền hơn cho đầu tư, kinh doanh, công ty đã vay thêm 500 triệu của ngân hàng và đã dùng
    nó mua một dây chuyền sản xuất trị giá 500 triệu đồng.
    Như vậy, tại ngày 12 tháng 2 năm N công ty TNHH Thành đạt có:
    Tổng giá trị tài sản = Tiền mặt + Tiền gửi ngân hàng + dây chuyền
    = 400 + 400 + 500 = 1.300 triệu đồng
    Số tài sản này được hình thành từ nguồn vốn chủ sở hữu (do ông Vũ, ông Hưng góp) (400
    triệu + 400 triệu) và nguồn vốn vay ngân hàng = Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp.
    Tổng nguồn vốn của doanh nghiệp = 400 triệu + 400 triệu + 500 triệu
    = 1.300 triệu đồng

    1.2.2.1. Nợ phải trả
    Theo đoạn 18, chuẩn mực kế toán số 01, nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh
    nghiệp phát sinh từ các giao dịch và sự kiện đã qua mà doanh nghiệp phải thanh toán
    bằng các nguồn lực của mình như trả bằng tiền, trả bằng tài sản khác, cung cấp dịch
    vụ hay thay thế nghĩa vụ này bằng nghĩa vụ khác hoặc chuyển đổi từ nghĩa vụ nợ phải
    trả thành vốn chủ sở hữu.
    Như vậy, nợ phải trả có thể hiểu là số tiền mà doanh nghiệp đi vay, đi chiếm dụng của
    các đơn vị, tổ chức cá nhân trong quá trình kinh doanh của mình. Do vậy, doanh
    nghiệp có trách nhiệm phải trả.

    1.2.2.2. Nguồn vốn chủ sở hữu
    Theo đoạn 18, chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01,
    vốn chủ sở hữu là giá trị vốn của doanh nghiệp,
    được tính bằng số chênh lệch giữa giá trị tài sản của
    doanh nghiệp trừ (–) nợ phải trả.
    Nguồn vốn chủ sở hữu được phản ánh trong Bảng
    cân đối kế toán, gồm: Vốn của nhà đầu tư, thặng dư
    vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại, lợi nhuận chưa phân
    phối, chênh lệch tỷ giá và chênh lệch đánh giá lại tài
    sản, các quỹ.
    Ví dụ: Ở ví dụ trên, ta có thể lập bảng cân đối tài
    sản và nguồn vốn của công ty TNHH Thành Đạt
    vào ngày 12 tháng 2 năm N như sau:
    Đơn vị tính: triệu đồng
    Tài sản Nguồn vốn
    Tiền mặt 400 Nợ phải trả (khoản vay ngân hàng) 500
    Tiền gửi ngân hàng 400
    Tài sản cố định (dây chuyền sản xuất) 500 Vốn chủ sở hữu 800
    Cộng 1.300 Cộng 1.300

    ACC202_Bai 1_v2.0013107222 7

  8. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

    Tóm lại
    Một tài sản có thể được hình thành từ một hay nhiều nguồn vốn khác nhau. Ngược lại,
    một nguồn vốn có thể tham gia hình thành nên một hay nhiều loại tài sản. Tuy nhiên,
    tài sản và nguồn vốn chỉ là hai mặt khác nhau của một nguồn lực. Do đó về mặt
    lượng, tổng giá trị tài sản bao giờ cũng bằng tổng nguồn vốn. Xuất phát từ đó ta có:
    Tài sản = Nguồn vốn, hay Tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
    Vốn chủ sở hữu = Tài sản – Nợ phải trả

    1.2.3. Sự vận động của tài sản
    Trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, tài sản luôn luôn vận động, quá
    trình vận động này sẽ làm phát sinh doanh thu, thu nhập khác và chi phí, làm cho tài
    sản không những thay đổi về hình thái mà còn thay đổi về giá trị. Vì vậy, kế toán phải
    theo dõi và phản ánh quá trình vận động này trên cơ sở các chỉ tiêu về doanh thu và
    chi phí.

    1.2.3.1. Doanh thu, thu nhập khác
     Khái niệm:
    Theo đoạn 31 chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01: “Doanh thu và thu nhập khác
    là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh
    từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường và các hoạt động khác của
    doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn sở hữu, không bao gồm khoản góp vốn của
    cổ đông hoặc chủ sở hữu”.
    Ví dụ: Ngày 10 tháng 2 năm N, Công ty TNHH Thành Đạt mua một lô hàng trị
    giá 100 triệu, đã thanh toán bằng tiền gửi ngân hàng. Ngày 15 tháng 2 năm N,
    công ty xuất kho bán một nửa lô hàng trên với giá bán 75 triệu, người mua đã
    thanh toán bằng tiền gửi ngân hàng. Như vậy, trong nghiệp vụ, công ty đã bán
    được một lô hàng và thu về một lượng giá trị (= giá bán x số lượng) là 75 triệu
    bằng tiền gửi ngân hàng. Khoản trị giá 75 triệu này chính là doanh thu trong tháng 2
    của công ty TNHH Thành Đạt.
     Điểm khác biệt giữa doanh thu và thu nhập khác
    Doanh thu và thu nhập khác được thể hiện là khoản
    thu về hoặc sẽ thu về được khi hàng hóa, dịch vụ
    của doanh nghiệp thực hiện được giá trị hay khi
    doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hóa, dịch vụ. Tuy
    nhiên, giữa chúng có sự khác biệt sau:
    o Doanh thu: Là các khoản thu về hoặc sẽ thu về
    phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh
    của doanh nghiệp, bao gồm: Doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp dịch vụ,
    tiền lãi tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia.

    8 ACC202_Bai 1_v2.0013107222

  9. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

    o Thu nhập khác: Là các khoản thu về hoặc sẽ thu về phát sinh từ các hoạt động
    ngoài các hoạt động tạo ra doanh thu như: Thu từ thanh lý, nhượng bán tài sản
    cố định, thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng.
    Ví dụ: Công ty TNHH Thành Đạt không có chức năng cho thuê văn phòng
    nhưng do công ty có 1 gian phòng hiện công ty không có nhu cầu sử dụng và
    cho doanh nghiệp khác thuê làm văn phòng hoặc cửa hàng trong thời gian ngắn
    thì khoản thu này được gọi là thu nhập khác của công ty.

    1.2.3.2. Chi phí
     Khái niệm: Theo đoạn 31 chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01: “Chi phí là tổng
    giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các
    khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến
    làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ
    sở hữu”.
    Như vậy, chi phí được thể hiện là các khoản doanh nghiệp đã chi ra và đã sử dụng
    hết trong kỳ, liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập cho doanh nghiệp.
    Ví dụ: Khấu hao TSCĐ trong bộ phận sản xuất, bộ phận bán hàng, bộ phận quản
    lý doanh nghiệp, tiền lương trả cho công nhân viên trong kỳ, tiền điện, nước, điện
    thoại trong kỳ…
     Phân loại: Có 2 loại chi phí, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác.
    o Chi phí sản xuất kinh doanh là các khoản chi phí phát sinh trong quá trình
    hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp như: Giá vốn hàng bán,
    chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí lãi tiền vay và những
    chi phí liên quan đến hoạt động cho các bên khác sử dụng tài sản sinh ra lợi
    tức, tiền bản quyền được sử dụng. Những chi phí này phát sinh dưới dạng tiền
    và các khoản tương đương tiền, hàng tồn kho, khấu hao máy móc thiết bị.
    o Chi phí khác bao gồm các chi phí ngoài các chi phí sản xuất, kinh doanh phát
    sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh thông thường của doanh nghiệp như:
    Chi phí về thanh lý, nhượng bán tài sản cố định, các khoản tiền bị khách hàng
    phạt do vi phạm hợp đồng…

    1.2.3.3. Kết quả kinh doanh
    Lợi nhuận là thước đo kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các yếu tố
    liên quan trực tiếp đến việc xác định lợi nhuận là doanh thu, thu nhập khác, chi phí.
    Đây là các chỉ tiêu phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp.
     Doanh thu + Thu nhập khác – Chi phí
    = Kết quả > 0: Lãi – tăng nguồn vốn chủ sở hữu.
     Doanh thu + Thu nhập khác – Chi phí
    = Kết quả < 0: Lỗ – giảm nguồn vốn chủ sở hữu.
     Doanh thu + Thu nhập khác – Chi phí
    = Kết quả = 0: Hòa vốn – nguồn vốn chủ sở hữu không thay đổi.

    ACC202_Bai 1_v2.0013107222 9

  10. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán
    1.2.4. Các mối quan hệ pháp lý ngoài vốn
    Các quan hệ kinh tế thuộc vốn của một đơn vị được gọi là quan hệ kinh tế tài chính.
    Trong hoạt động kinh tế, doanh nghiệp phần lớn sử dụng các tài sản thuộc quyền sở
    hữu của chính mình. Ngoài ra, có ít các hoạt động kinh tế liên quan đến việc sử dụng
    tài sản không thuộc quyền sở hữu và quyền kiểm soát của doanh nghiệp được gọi là
    quan hệ kinh tế pháp lý ngoài vốn. Các quan hệ này như:
     Các mối quan hệ phát sinh do hợp đồng kinh tế chuyển giao quyền sử dụng như
    nguyên vật liệu nhận gia công chế biến hộ.
     Các mối quan hệ gắn với nghĩa vụ, trách nhiệm của các tổ chức kinh tế như: Trách
    nhiệm bảo hành sản phẩm, hàng hoá, trách nhiệm trong chuyển giao vật liệu, bán
    thành phẩm đúng kỳ hạn và chất lượng; trách nhiệm trong bảo vệ tài sản, bản vẽ,
    kim loại quý hiếm, trách nhiệm trong việc mở rộng và sử dụng tài khoản tiền vay
    hoặc cấp phát đầu tư…
     Các mối quan hệ trong hạch toán kinh doanh nội bộ, đặc biệt là đánh giá cống hiến
    và hưởng thụ từng nhóm, từng người lao động trong các lĩnh vực hoạt động thuộc
    các thành phần kinh tế khác nhau.
     Đi thuê hoặc đi mượn tài sản, sản phẩm, hàng hoá giữa hộ đơn vị khác.
     Các mối quan hệ thuần tuý về nghĩa vụ của đơn
    vị trước xã hội trong việc sử dụng của cải xã hội
    như: Trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường
    thiên nhiên (nước, không khí, sự yên tĩnh…) của
    môi trường, trách nhiệm trong việc sử dụng tài
    nguyên và cơ sở vật chất – kỹ thuật của xã hội,
    trách nhiệm trong việc sử dụng lao động xã hội.
    Các quan hệ này không đưa vào phương trình kế toán cơ bản vì phương trình này chỉ
    bao gồm các tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.

    1.3. Các yêu cầu và nguyên tắc kế toán

    1.3.1. Các yêu cầu kế toán
    Để kế toán có thể cung cấp được các thông tin kinh tế tài chính cần thiết cho các đối
    tượng có nhu cầu sử dụng thì các thông tin này phải thỏa mãn các yêu cầu bắt buộc.
    Các yêu cầu này là:
     Trung thực: Các thông tin và số liệu phải được ghi chép vào báo cáo trên cơ sở
    các bằng chứng đầy đủ, khách quan đúng với thực tế hiện trạng, bản chất nội dung
    và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
     Khách quan: Các thông tin và số liệu kế toán
    phải được ghi chép và báo cáo đúng thực tế,
    không xuyên tạc, bóp méo.
     Đầy đủ: Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát
    sinh liên quan đến kỳ thanh toán phải được ghi
    chép và báo cáo đầy đủ, không bỏ sót.

    10 ACC202_Bai 1_v2.0013107222

  11. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

     Kịp thời: Các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép kịp thời, đúng và
    trước thời hạn quy định, không được chậm trễ.
     Dễ hiểu: Các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ
    ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng. Người sử dụng ở đây được hiểu là có hiểu
    biết về kinh doanh, kinh tế, tài chính, kế toán tài chính ở mức trung bình. Thông
    tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong
    phần thuyết minh.
     Có thể so sánh: Các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một
    doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và
    trình bày nhất quán. Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần
    thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh được thông tin giữa
    các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa các thông tin thực hiện thông tin
    dự toán, kế hoạch.
    Lưu ý: Sáu yêu cầu trên của công tác kế toán phải được thực hiện đồng thời.

    1.3.2. Các nguyên tắc kế toán
    Mục tiêu của các nguyên tắc kế toán này là chuẩn hoá mọi việc ghi nhận các nghiệp
    vụ kinh tế phát sinh trong công tác kế toán, tạo ra sự thống nhất, có thể so sánh được
    về thông tin kế toán. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01, có 7 nguyên tắc kế
    toán sau:
     Cơ sở dồn tích (Accrual Basic)
    Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải
    trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí được ghi vào sổ kế toán vào thời
    điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc
    tương đương tiền.
    Báo cáo tài chính lập trên cơ sở dồn tích phản ánh tình hình tài chính của doanh
    nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
    VÍ DỤ

    Ngày 12 tháng 3 năm N công ty TNHH Thành Đạt bán được 250 triệu đồng tiền hàng,
    nhưng khách hàng chưa thanh toán và sẽ thanh toán vào ngày 10 tháng 4 năm N.
    Thời điểm phát sinh nghiệp vụ ở đây là nghiệp vụ bán hàng vào ngày 12/03/N, theo
    nguyên tắc cơ sở dồn tích, doanh nghiệp phải ghi nhận doanh thu tại ngày 12/03/N là 250
    triệu đồng (mặc dù khách hàng chưa thanh toán tiền hàng). Như vậy, doanh nghiệp đã
    cho người mua sử dụng tiền của mình đến tận ngày 10/4/N nên doanh nghiệp có trách
    nghiệm phải thu khoản tiền này về. Đến 10/4/N khi khách hàng thanh toán tiền hàng thì
    khoản phải thu này sẽ không còn nữa.

     Hoạt động liên tục (Going concern)
    Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt
    động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần;
    nghĩa là doanh nghiệp không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt
    động hoặc thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình. Trường hợp thực tế khác
    với giả định hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên một cơ sở khác
    và giải thích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo.

    ACC202_Bai 1_v2.0013107222 11

  12. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán
    Nguyên tắc này nhằm thể hiện tính kế thừa, phát triển liên tục của doanh nghiệp
    trong báo cáo tài chính. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc sử
    dụng các báo cáo tài chính để đánh giá tình hình hoạt động của doanh nghiệp khi
    quyết định đầu tư, liên doanh, hợp tác kinh doanh… Từ nguyên tắc này, pháp luật
    về kế toán sẽ quy định cụ thể về cơ sở lập báo cáo trong các trường hợp doanh
    nghiệp không hoạt động liên tục như: Giải thể, phá sản, hợp nhất, chia, tách.
     Giá gốc (Historical Cost)
    Tài sản được ghi nhận theo giá gốc:
    o Giá gốc của tài sản được tính theo số tiền hoặc
    khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc
    tính theo giá trị hợp lý của tài sản đó vào thời
    điểm tài sản được ghi nhận.
    o Giá gốc của tài sản không được thay đổi trừ khi
    có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể.
    Nguyên tắc này nhằm ghi nhận đúng thực tế khách
    quan của giá trị tài sản khi hình thành. Vì vậy, cần
    phân biệt giữa giá gốc của tài sản và giá trị thực tế
    của tài sản.
    VÍ DỤ
    Tháng 4 năm N, công ty TNHH Thành Đạt mua một máy photocopy tại Hải Phòng với
    giá 75 triệu đồng, tiền thuê vận chuyển chiếc máy trên từ Hải Phòng về Hà Nội là
    2 triệu đồng.
    Như vậy giá trị ghi sổ của máy photocopy này là tổng số tiền mà doanh nghiệp chi để
    có được máy photocopy: 75 triệu đồng + 2 triệu đồng = 77 triệu đồng.
     Nguyên tắc phù hợp (Matching principle)
    Nguyên tắc này đòi hỏi việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau.
    Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận một khoản chi phí tương ứng
    có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó.
    VÍ DỤ
    Ngày 10 tháng 5 năm N công ty TNHH Thành Đạt bán một lô hàng có giá vốn là 100
    triệu với giá bán là 150 triệu đồng. Tuy nhiên, khi bán lô hàng này, khách hàng yêu cầu
    công ty chuyển hàng đến cho họ. Vậy kế toán ghi nhận thế nào với nghiệp vụ này?
    Theo nguyên tắc phù hợp: Việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải phù hợp với nhau.
    Do vậy, tại thời điểm ngày 10/5/N, kế toán ghi nhận doanh thu bán hàng 150 triệu đồng,
    đồng thời sẽ ghi nhận chi phí để tạo ra khoản doanh thu này. Khoản chi phí đầu tiên mà
    doanh nghiệp phải bỏ ra là giá vốn của lô hàng đã tiêu thụ – Giá vốn hàng bán (100
    triệu đồng) và chi phí vận chuyển (1 triệu đồng) nhằm mục đích chuyển hàng đi bán
    được ghi nhận là chi phí bán hàng.
     Nguyên tắc nhất quán (Consistency)
    Các chính sách và phương pháp kế toán doanh nghiệp đã chọn phải được áp dụng
    thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm. Khi doanh nghiệp bắt đầu một kỳ kế
    toán năm, doanh nghiệp cần phải xác định rõ các khái niệm, chính sách, các
    nguyên tắc, các chuẩn mực, các phương pháp… mà kế toán sử dụng. Điều này
    đảm bảo tính liên tục, nhất quán, không thay đổi từ kỳ này sang kỳ khác.

    12 ACC202_Bai 1_v2.0013107222

  13. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

    Mọi thay đổi và ảnh hưởng của nó qua các thời kỳ kế toán đều phải được giải trình
    lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minh bài báo cáo tài chính.
    Nguyên tắc này tạo điều kiện sử dụng các tài liệu, báo cáo kế toán và đưa ra nhận
    xét, đánh giá sự vận động về tài chính của doanh nghiệp, làm căn cứ để đưa ra các
    quyết định quản lý.
     Nguyên tắc thận trọng (Prudence)
    Thận trọng là việc xem xét, cân nhắc, phán đoán
    cần thiết để lập các ước tính kế toán trong các
    điều kiện không chắc chắn. Nguyên tắc này đòi
    hỏi có đảm bảo, ở mức độ có thể, rằng các rủi ro
    liên quan đến một doanh nghiệp được phản ánh
    trong các thông tin kế toán của doanh nghiệp đó.
    Khi lập dự phòng, nguyên tắc thận trọng đòi hỏi:
    o Phải lập các khoản dự phòng nhưng không
    lập quá lớn;
    o Không đánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu nhập;
    o Doanh thu và thu nhập chỉ được ghi nhận khi có các bằng chứng chắc chắn về
    khả năng thu được lợi ích kinh tế, còn chi phí phải được ghi nhận khi có bằng
    chứng về khả năng phát sinh.
     Nguyên tắc trọng yếu (Materiability)
    Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thiếu
    chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể báo cáo tài chính, làm ảnh
    hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng báo cáo tài chính. Tính trọng yếu
    phụ thuộc vào độ lớn và tính chất của thông tin hoặc các sai sót được đánh giá
    trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu phải được xem xét trên cả phương diện
    định lượng và định tính. Như vậy, theo nguyên tắc này thì kế toán phải tiến hành
    ghi nhận các yếu tố trọng yếu còn các yếu tố không trọng yếu thì kế toán có thể bỏ
    qua hoặc tập hợp lại để phản ánh chung.
    Yếu tố trọng yếu là các yếu tố mà sự thiếu sót, sai lệch hoặc không chính xác sẽ
    làm ảnh hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin. Còn các yếu tố không
    trọng yếu là các yếu tố mà sự không chính xác hoặc sai lệch của nó không làm ảnh
    hưởng đến quyết định của người sử dụng thông tin.

    VÍ DỤ

    Các tài sản có hình thái vật chất đều có sự hao mòn – hao mòn do sử dụng hoặc hao
    mòn do thời gian và sự phát triển của công nghệ. Tuy nhiên, do TSCĐ của doanh
    nghiệp có giá trị lớn nên giá trị hao mòn TSCĐ là lớn và là yếu tố trọng yếu và được thể
    hiện thành một chỉ tiêu riêng biệt trên bảng Cân đối kế toán trong khi đó hao mòn của
    tài sản hàng tồn kho – với giá trị nhỏ, thời gian chuyển đổi thành tiền ngắn với giá trị
    được chuyển dịch một lần vào giá trị hàng hóa, sản phẩm nên được xem xét là yếu tố
    không trọng yếu.

    ACC202_Bai 1_v2.0013107222 13

  14. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

    TÓM LƯỢC CUỐI BÀI
    Bài 1 chúng ta đã tìm hiểu về bản chất và đối tượng của kế toán, bài học đã giới thiệu khái quát
    về kế toán, từ lịch sử ra đời đến bản chất, các nguyên tắc, yêu cầu của kế toán. Bên cạnh đó, bài
    học còn giới thiệu và phân biệt kế toán tài chính, kế toán quản trị, khái niệm về tài sản, nợ phải
    trả, vốn chủ sở hữu và các vấn đề khác có liên quan cũng như các ví dụ thực tế để minh hoạ.

    14 ACC202_Bai 1_v2.0013107222

  15. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

    BÀI TẬP

    Bài tập 1.1.
    Hãy cho biết khoản mục nào là tài sản, khoản mục nào là nguồn vốn?
    Tiền mặt Vay dài hạn ngân hàng
    Nợ phải trả cho người bán Thuế phải nộp nhà nước
    Thành phẩm tồn kho Khoản tạm ứng
    Phải thu của khách hàng Nguồn vốn kinh doanh
    Quỹ khen thưởng phúc lợi Tài sản cố định hữu hình
    Vay ngắn hạn ngân hàng Lãi chưa phân phối
    Tiền gửi ngân hàng Tiền lương phải trả cho cán bộ
    Nguyên vật liệu ở trong kho Công cụ, dụng cụ ở trong kho

    Bài tập 1.2.
    Có số liệu về tình hình tài sản và nguồn vốn tại một doanh nghiệp vào thời điểm 1/1/N như sau:
    Đơn vị tính: 1.000đ
    Chỉ tiêu Số tiền

    Tiền mặt tại quỹ 60.000

    Vay dài hạn 1.650.000

    Phải thu của khách hàng 480.000

    Phải trả cho người bán 370.000

    Vay ngắn hạn 870.000

    Phải trả khác 380.000

    Nguyên vật liệu tồn kho 213.000

    Hàng hoá tồn kho 4.400.000

    Nguồn vốn kinh doanh 5.400.000

    Quỹ đầu tư phát triển 960.000

    Tiền gửi ngân hàng 2.250.000

    Quỹ khen thưởng và phúc lợi 630.000

    Lợi nhuận chưa phân phối 330.000

    Đầu tư chứng khoán ngắn hạn 580.000

    Chi phí trả trước ngắn hạn 37.000

    Hàng mua đang đi đường 370.000

    Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản 1.530.000

    Phải trả công nhân viên 470.000

    Tài sản cố định hữu hình 4.200.000

    Yêu cầu:
    a. Hãy phân loại tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp?
    b. Xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp ở đầu kỳ kinh doanh?

    ACC202_Bai 1_v2.0013107222 15

  16. Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán

    Bài tập 1.3.
    Có tình hình vốn kinh doanh của doanh nghiệp A vào ngày 1/1/N như sau:
    Đơn vị tính: 1.000đ
    Tiền mặt 25.000 Hàng hóa tồn kho 150.000
    Tiền gửi ngân hàng 70.000 Hàng gửi bán 60.000
    Phải trả người bán 120.000 Nguồn vốn kinh doanh 600.000
    Thuế phải nộp nhà nước 10.000 Lãi chưa phân phối 70.000

    Phải thu của khách hàng 330.000 Phải trả công nhân viên 15.000
    Vay ngắn hạn 85.000 TSCĐ hữu hình 650.000

    Vay dài hạn 400.000 Công cụ, dụng cụ 15.000

    Yêu cầu :
    a. Hãy phân loại tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp?
    b. Xác định số liệu của phương trình:
    Tài sản ngắn hạn + Tài sản dài hạn = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
    Bài tập 1.4.
    Có các số liệu tổng hợp tình hình kinh doanh quý IV của doanh nghiệp thương mại B vào ngày
    31/12/N như sau:
    Đơn vị tính: 1.000đ
    Tiền gửi ngân hàng 100.000 Vay ngắn hạn 40.000

    Phải trả công nhân viên 70.000 Nợ dài hạn 100.000

    Tiền mặt 115.000 Hàng hóa tồn kho 220.000

    Nguồn vốn kinh doanh 800.000 Tài sản cố định hữu hình 600.000

    Quỹ đầu tư phát triển 20.000 Phải trả người bán 230.000

    Đầu tư chứng khoán ngắn hạn 75.000 Lợi nhuận chưa phân phối X

    Phải thu của khách hàng 260.000

    Hao mòn tài sản cố định 36.000

    Yêu cầu :
    Phân loại tài sản, nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp B vào ngày 31/12/N và xác định
    giá trị của X.

    16 ACC202_Bai 1_v2.0013107222

Download tài liệu Bài giảng Kế toán trong các doanh nghiệp – Bài 1: Bản chất và đối tượng của kế toán File Word, PDF về máy